Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

Báo Cáo Công Chứng Điều Kiện Bổ Nhiệm Công Chứng Viên.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.14 KB, 19 trang )

Đề tài 6: Điều kiện bổ nhiệm công chứng viên theo quy định của Luật công
chứng, những hạn chế bất cập và hướng kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
việc bổ nhiệm cơng chứng viên.

Mở đầu.
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Công chứng ở nước ta xuất hiện từ thời kỳ Pháp thuộc, trải qua nhiều giai đoạn
lịch sử gắn liền với cơng cuộc giải phóng dân tộc, hoạt động cơng chứng nước
ta gặp rất nhiều khó khăn, thăng trầm. Phải đến năm 1987, tức là sau khi Đại
hội lần thứ VI của Đảng thông qua chủ trương đổi mới tồn diện đất nước, hoạt
động cơng chứng ở nước ta mới chính thức được củng cố và phát triển, các
phịng cơng chứng Nhà nước được thành lập, bắt đầu từ thành phố Hồ Chí
Minh, Hà Nội và mở rộng ra cả nước. Trải qua hàng chục năm hình thành và
phát triển, hoạt động công chứng đã được xã hội, người dân ghi nhận Trong
những năm qua, hoạt động cơng chứng đã góp phần đáng kể vào đời sống kinh
tế, xã hội của đất nước, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường, bảo đảm
an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các tổ chức, cá nhân
trong và ngồi nước, góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với các lĩnh
vực. Để đạt được những thành tựu trên không thể không đề cao vai trị của
Cơng chứng viên – Những “Thẩm phán phòng ngừa” “Người gác cổng cho các
hợp đồng giao dịch”. Như vậy, chúng ta có thể thấy cơng chứng viên giữ một
vị trí và vai trị chủ chốt để đảm bảo trật tự về pháp lý, có vai trị bổ trợ cho các
hoạt động về tư pháp, phòng ngừa những tranh chấp khơng đáng có xảy ra và
hạn chế rủi ro khi chứng thực trong các văn bản đúng quy định. Nhằm để lựa
chọn những người ưu tú nhất, có đủ năng lực, phẩm chất và kỹ năng hành nghề
để đảm nhiệm vai trò này, pháp luật đã đề ra những điều kiện nhất định bổ
nhiệm công chứng viên vàPAGE
khơng
ngừng hồn
\* MERGEFORMAT
18 thiện cơ chế này. Tuy nhiên xét


các quy định về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên hiện nay cịn một số hạn
chế. Vì vậy việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về điều kiện bổ nhiệm


công chứng viên và thực tiễn áp dụng nhằm đưa ra các định hướng hoàn thiện
pháp luật về vấn đè này là cấp thiết
2. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của đề tài.
a. Mục đích
Mục đích của đề tài làm rõ những điều kiện để bổ nhiệm một công
chứng viên dựa trên các quy định của Luật công chứng 2014. Dựa
trên việc nghiên cứu sự áp dụng của những quy định của pháp luật
về điều kiện để bổ nhiệm một công chứng viên vào thực tiễn, đề
xuất, định hướng nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn
đề trên
b. Nhiệm vụ
● Tìm hiểu các quy định có liên quan về điều kiện bổ nhiệm công chứng
viên theo quy định của Luật cơng chứng 2014, trong đó chú ý những
điểm tiến bộ của Luật công chứng 2014 so với luật cơng chứng 2006.
● Dựa trên góc nhìn khách quan, khoa học và sự nghiên cứu thực tiễn, đưa
ra những điểm hạn chế của các quy định có liên quan về điều kiện bổ
nhiệm công chứng viênvà những bất cập trong thực tiễn về vấn đề này.
● Đề xuất những phương hướng để hồn thiện hơn về mặt pháp luật trong
cơng tác bổ nhiệm công chứng viên.
c. Đối tượng của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của báo cáo điều kiện bổ nhiệm công chứng viên
theo quy định của pháp luật, trong đó tập trung xác định rõ khái niệm
cơng chứng viên; làm rõ các quy định của pháp luật điều kiện bổ nhiệm
công chứng viên theo quy định và nghiên cứu việc thực hiện các quy
định trên vào quá trình bổ nhiệm cơng chứng viên, từ đó đưa ra một vài
góp ý để góp phầnPAGE

hồn\* MERGEFORMAT
thiện hơn về18 mặt pháp luật trong công tác bổ
nhiệm công chứng viên.


3. Cơ cấu của bài báo cáo.
Gồm 4 phần:


Mở đầu

⮚ Nội dung, bao gồm 6 mục:
1. Công chứng viên là ai?
2. Quy định của pháp luật về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên.
3. Những điểm tiến bộ về quy định điều kiện bổ nhiệm công chứng
viên của Luật công chứng 2014 so với Luật công chứng 2006
4. Những điểm hạn chế của quy định điều kiện bổ nhiệm công chứng
viên của Luật công chứng 2014
5. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật và ví dụ minh họa.
6. Hướng kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các điều kiện bổ nhiệm
công chứng viên.


Kết luận

⮚ +Danh mục tài liệu tham khảo
Nội dung.
1. Công chứng viên là ai?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật công chứng 2014 Công chứng viên là
“người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Bộ trưởng Bộ Tư

pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng”.
Như vậy, công chứng viên là nhà chun mơn về pháp luật, có đủ tiêu chuẩn
theo quy định của pháp luật, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành
nghề công chứng. Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy
nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp
PAGE tranh
\* MERGEFORMAT
18 phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp
đồng, giao dịch; phịng ngừa
chấp; góp

pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.


Để phân biệt rõ chức danh công chứng viên với các chức danh tư pháp khác
như luật sư, thừa phát lại, Luật Công chứng năm 2014 quy định rõ thẩm quyền
của Cơng chứng viên bao gồm:
- Chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác
bằng văn bản;
- Chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch
giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài
sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân,
tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
- Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản
được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực.
Như vậy, với vai trò là một bổ trợ viên tư pháp, nhiệm vụ của công chứng
viên là phải rất thận trọng trước khi thực hiện hợp đồng để đảm bảo tính hợp
pháp của hợp đồng, sự cơng bằng trong hợp đồng và cả việc bảo quản hợp
đồng1. Như vậy, công chứng viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật và
người u cầu cơng chứng về tính chính xác, tính hợp pháp của văn bản cơng

chứng, giữ vai trò chủ chốt trong việc tạo ra hành lang an toàn pháp lý cho các
giao dịch. , hoàn toàn khác với công việc của một luật sư, luôn phải nghiêng về
bảo vệ lợi ích của thân chủ, cơng chứng viên có chức năng như một “thẩm phán
phịng ngừa”, một người thứ ba tham gia chứng kiến giao dịch một cách khách
quan, trung thực không thiên vị bất cứ bên nào. Từ đó cơng chứng viên giúp
các bên soạn thảo hợp đồng và ghi nhận ý chí của họ trong giao kết một cách
chính xác, rõ ràng, đúng pháp, ngăn chặn thỏa thuận bất công hay bất hợp pháp
của các bên tham gia nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên, đảm bảm sự
nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời công chứng viên là người nhân danh
nhà nước chứng minh tính hợp pháp của các hợp đồng giao dịch đã được công
chứng ( văn bản công chứng)
chịu trách nhiệm
Để thực hiện được điều đó,
PAGE và
\* MERGEFORMAT
18
1

/>

một người công chứng viên không chỉ cần kiến thức pháp luật vững vàng, kinh
nghiệm và kỹ năng hành nghề mà cịn phải có nhân phẩm, đạo đức. Nếu cơng
chứng viên không đảm bảo được các yêu cầu trên, nhất là về đạo đức hành
nghề, dẫn đến các hành vi cơng chứng sai nhằm vụ lợi, có thể dẫn đến nhiều hệ
lụy, nhất là đối với các bên liên quan đến giao dịch, và trên đó là trật tự an tồn
pháp lý của xã hội. Vì vậy pháp luật đã đưa ra những điều kiện rất chặt chẽ để
bổ nhiệm một công chứng viên.
2. Quy định của pháp luật về điều kiện bổ nhiệm công chứng
viên.
Việc bổ nhiệm công chứng viên theo luật công chứng năm 2014, được quy

định chặt chẽ. Cụ thể, việc bổ nhiệm công chứng viên được thực hiện theo một
thủ tục chung cho cả hai đối tượng được miễn đào tạo và không được miễn đào
tạo nghề công chứng; các giấy tờ trong thành phần hồ sơ cũng được quy định
phù hợp hơn nhằm đảm bảo người đề nghị bổ nhiệm chỉ phải nộp những giấy
tờ thực sự cần thiết.
Các trường hợp không được bổ nhiệm và các trường hợp miễn nhiệm công
chứng viên cũng được quy định cụ thể, rõ ràng hơn làm cơ sở cho việc thực
hiện các thủ tục tương ứng. Bên cạnh đó, lần đầu tiên việc bổ nhiệm lại đối với
người đã từng làm công chứng viên cũng được quy định rõ trong luật. Theo đó
người được miễn nhiệm cơng chứng viên được xem xét bổ nhiệm lại công
chứng viên khi có đề nghị bổ nhiệm lại.
Xét các điều kiện bổ nhiệm công chứng viên, theo quy định tại Điều 8 của
Luật Công chứng năm 2014, để trở thành Công chứng viên phải đáp ứng các
điều kiện sau:
● Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật, đạo đức tốt;
PAGE \* MERGEFORMAT 18

● Có bằng cử nhân Luật;

● Có thời gian cơng tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các
cơ quan tổ chức sau khi có bằng cử nhân Luật;


● Tốt nghiệp khóa đào tạo hành nghề cơng chứng: Sau khi
có bằng cử nhân Luật thì tham gia khóa đào tạo kéo dài 12
tháng tại Cơ sở đào tạo Nghề công chứng;
● Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công
chứng;
● Bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng.

Các trường hợp được miễn đào tạo nghề cơng chứng( Điều 10 Luật Cơng
chứng 2014):
● Đã có thời gian làm Thẩm phán, Kiểm sát viên, điều tra
viên từ 05 năm trở lên;
● Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên;
● Giáo sư, Phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật;
● Người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra
viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên
cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp
luật.
Những trường hợp được miễn đào tạo nghề công chứng kể trên phai
tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc đạo
đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi
đề nghị bổ nhiệm công chứng viên. Thời gian bồi dưỡng nghề công
chứng là 03 tháng.
a. Quy định về tập sự hành nghề công chứng:
Tập sự hành nghề công chứng được quy định tại Điều 14 Luật Công chứng
2014, cụ thể:
● Người Tập sự có thể tự liên hệ với một tổ chức hành nghề
công chứng nhận tập sự hoặc đề nghị Sở tư pháp địa
PAGE \* MERGEFORMAT 18

phương bố trí tập sự.

● Phải đăng ký tập sự tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có tổ
chức hành nghề cơng chứng nhận tập sự;


● Thời gian tập sự là 12 tháng đối với người có giấy chứng
nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề cơng chứng và 06 tháng

đối với người có giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công
chứng
● Khi hết thời gian tập sự, người tập sự hành nghề cơng
chứng phải có báo cáo bằng văn bản về kết quả tập sự có
nhận xét của công chứng viên hướng dẫn và xác nhận của
tổ chức hành nghề công chứng nhận tập sự gửi đến Sở Tư
pháp nơi mình đã đăng ký tập sự;
b. Bổ nhiệm công chứng viên:
Theo quy định tại Điều 12 Luật Cơng chứng 2014 thì điều kiện bổ nhiệm cơng
chứng viên là:
“Điều 12. Bổ nhiệm công chứng viên
1. Người đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 của Luật này có quyền đề
nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên. Hồ sơ đề nghị bổ
nhiệm công chứng viên được gửi đến Sở Tư pháp nơi người đề nghị bổ nhiệm
công chứng viên đã đăng ký tập sự hành nghề công chứng.”
Như vậy Khi đáp ứng đủ các điều kiện đã nêu tại mục (a), người đề nghị bổ
nhiệm công chứng viên gửi hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên đến Bộ
trưởng Bộ Tư pháp.
– Hồ sơ đề nghị bao gồm:
+ Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quy định;
+ Phiếu lý lịch tư pháp;
PAGE \* MERGEFORMAT 18
+ Bản sao bằng cử nhân luật
hoặc thạc sĩ, tiến sĩ luật;

+ Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác pháp luật;


+ Bản sao giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng. Đối với

người được miễn đào tạo nghề cơng chứng thì phải có bản sao giấy chứng nhận
hồn thành khóa bồi dưỡng nghề cơng chứng và giấy tờ chứng minh là người
được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật
này;
+ Bản sao giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng;
+ Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp.
c. Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên ( Điều 13 Luật
Công chứng 2014)
– Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết tội bằng bản án đã có
hiệu lực pháp luật của Tịa án về tội phạm do vơ ý mà chưa được xóa án tích
hoặc về tội phạm do cố ý.
– Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính.
– Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
– Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, công chức, viên chức bị kỷ luật
bằng hình thức buộc thơi việc hoặc sỹ quan, qn nhân chuyên nghiệp, công
nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ
quan, công nhân, viên chức trong đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật
bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân, danh hiệu Công an nhân dân hoặc
đưa ra khỏi ngành.
– Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình
thức xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, người bị tước quyền sử dụng
chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết
định thu hồi chứng chỉ hành
nghề luật sư có hiệu lực hoặc kể từ ngày chấp
PAGE \* MERGEFORMAT 18
hành xong quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư.
d) Bổ nhiệm lại công chứng viên



Theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 Luật Công chứng 2014 thì người bị miễn
nhiệm cơng chứng viên theo các trường hợp trên đây được xem xét bổ nhiệm
lại công chứng viên khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn công chứng viên được quy định
tại Điều 8 của Luật Công chứng 2014 và lý do miễn nhiệm khơng cịn.
Trừ trường hợp người bị miễn nhiệm công chứng viên do bị kết tội bằng bản án
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do cố ý, bị xử phạt vi phạm
hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề cơng chứng mà cịn tiếp
tục vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai
mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc thì khơng được bổ
nhiệm lại cơng chứng viên.
Thủ tục bổ nhiệm lại công chứng viên được thực hiện theo quy định tại Điều 12
của Luật này. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên gồm:
● Đơn đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp quy định;
● Phiếu lý lịch tư pháp;
● Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp;
● Bản sao quyết định miễn nhiệm công chứng viên;

3. Những điểm tiến bộ về quy định điều kiện bổ nhiệm công chứng viên
của Luật công chứng 2014 so với Luật công chứng 2006
- Về thời gian đào tạo nghề công chứng: Luật công chứng năm 2014 kéo dài
thời gian đào tạo nghề công chứng viên lên thành 12 tháng thay vì 6 tháng như
quy định tại Luật công chứng năm 2006. Đây là thời gian cần thiết để trang bị
kiến thức, rèn luyện kỹ năng hành nghề cơng chứng cho những cơng chứng
viên tương lai, góp phần nâng
cao chất lượng hoạt động công chứng ở nước ta.
PAGE \* MERGEFORMAT 18


- Về điều kiện được miễn đào tạo nghề công chứng: Do đội ngũ cơng chứng

viên cịn mỏng trước u cầu xã hội hóa cơng chứng, nên Luật Cơng chứng
năm 2006 quy định đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, miễn thời
gian tập sự hành nghề công chứng có phần dễ dãi, do đó, chất lượng một bộ
phận cơng chứng viên tại các văn phịng cơng chứng cịn chưa đáp ứng được
yêu cầu, nhất là những người không qua đào tạo, tập sự nghề công chứng dẫn
đến sự non kém hoặc tắc trách về chuyên môn nghiệp vụ. Theo quy định của
Luật công chứng năm 2006, người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra
viên, luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên có thể được miễn đào tạo nghề
cơng chứng thì Luật cơng chứng năm 2014 đã siết chặt hơn điều kiện này bằng
cách quy định tăng thời hạn hành nghề lên 5 năm, cụ thể: Điểm a, b Khoản 1
Điều 10 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Những người sau đây được
miễn đào tạo nghề cơng chứng:
a) Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm
trở lên;
b)

Luật



đã

hành

nghề

từ

05


năm

trở

lên”.

Ngoài ra, Luật này vẫn kế thừa Luật công chứng năm 2006 khi tiếp tục quy
định: giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; người đã là thẩm tra
viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên
cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật


những

đối

tượng

được

miễn

đào

tạo

nghề

công


chứng.

Bên cạnh việc kéo dài thời gian cơng tác thực tế của các nhóm đối tượng
được miễn đào tạo nghề công chứng (từ 3 năm lên 5 năm), Luật Công chứng
năm 2014 cũng bổ sung quy định người được miễn đào tạo nghề công chứng
phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề cơng chứng và Quy tắc đạo
đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị
PAGE \* MERGEFORMAT 18

bổ nhiệm công chứng viên. Mặt khác, người được miễn đào tạo nghề cơng
chứng phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc
đạo đức hành nghề công chứng trong thời gian ba tháng trước khi đề nghị bổ


nhiệm công chứng viên. Người được miễn đào tạo nghề công chứng chỉ được
giảm một phần hai thời gian tập sự (phải tập sự 6 tháng) chứ khơng được miễn
hồn toàn việc tập sự như trước. Tuy nhiên điều kiện để được miễn đào tạo
nghề công chứng theo luật công chứng năm 2014, cũng được thắt chặt hơn,
theo đó người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên , điều tra viên từ 5
năm trở lên, luật sư phải hành nghề từ 5 năm trở lên mới được miễn đào tạo
nghề công chứng.
Luật công chứng năm 2014 được ban hành đã tạo nên bước ngoặt lớn trong
lịch sử hoạt động cơng chứng của nước ta vì đã khắc phục những hạn chế, bất
cập của Luật công chứng năm 2006, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới
của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và
tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công
chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế.
4. Những điểm hạn chế của quy định điều kiện bổ nhiệm công chứng viên
của Luật cơng chứng 2014
Luật cơng chứng đã có những quy định tạo điều kiện để những người có đủ

tiêu chuẩn và trình độ muốn hành nghề cơng chứng được chủ động hơn trong
việc trở thành công chứng viên..Dựa trên tiêu chuẩn công chứng viên, pháp luật
quy định một cách rất cụ thể người thực hiện công chứng và nói chung các quy
định đó cũng khá đúng đắn và hợp lý. Tuy nhiên, tiêu chuẩn bổ nhiệm công
chứng viên vẫn còn một số điểm hạn chế như:
Thứ nhất, quy định về thời hạn công tác pháp luật (05 năm) gây khó khăn
cho việc phát triển nguồn cơng chứng viên. Vì để được bổ nhiệm cơng chứng
viên thì ứng viên phải mất một khoản thời gian quá dài, 4 năm học đại học luật,
5 năm làm thư ký nghiệp vụ, 1 năm học lớp công chứng viên, 1 năm thực tập,
trải qua kỳ thi sát hạch, tổng thời gian ngắn nhất có thể ra hành nghề là 10 đến
11 năm. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc thiếu nguồn cơng chứng viên.
Dẫn đến tình trạng nhiều cơng chứng viên (được miễn đào tạo nghề công
PAGE \* MERGEFORMAT 18

chứng) yếu về năng lực chuyên môn, kỹ năng hành nghề nhưng vẫn phải được
các Văn phịng cơng chứng sử dụng để đảm bảo u cầu về nhân sự của Văn
phịng cơng chứng (có 02 cơng chứng viên hợp danh) theo quy định của Luật


Công chứng 2014. Những đối tượng này đều là những người có chức danh
chun ngành, có trình độ pháp luật tương đối cao. Tuy nhiên, nghề công
chứng là một nghề đặc thù , ngồi việc địi hỏi những kiến thức về pháp luật và
xã hội còn đặc biệt cần kỹ năng chuyên biệt về công chứng. Thực tế đã chứng
minh những trường hợp được bổ nhiệm công chứng viên miễn đào tạo khi hành
nghề gặp rất nhiều lúng túng, dẫn tới đội ngũ công chứng viên chất lượng
không cao và “sản phẩm” đi theo là các văn bản công chứng chất lượng thấp,
kéo theo nó là nhiều hệ lụy khác nhau.

Thứ hai, thời gian cơng tác pháp luật được tính cụ thể là khoản thời gian
người được bổ nhiệm công chứng viên hành nghề tại các tổ chức hành nghề

luật như các cơng ty luật, các văn phịng luật sư hoặc các tổ chức công chứng
hay các tổ chức, cơ quan khác. Tuy nhiên quy đinh về thời gian công tác pháp
để được bổ nhiệm công chứng viên hiện rất mơ hồ, chưa có quy định hướng
dẫn xác định thời gian công tác pháp luật là như thế nào để đảm bảo cho việc tổ
chức thực hiện. Những vị trí, công việc nào được xem là làm công tác pháp luật
đến nay vẫn chưa được hướng dẫn, quy định cụ thể. Chẳng hạn, thời gian làm
kế toán doanh nghiệp hay Lãnh đạo cơ quan tài nguyên và môi trường, văn hóa
thể thao và du lịch... có được xem là thời gian công tác pháp luật không? hay
thời gian làm chuyên viên văn phịng của cơ quan, đơn vị có được xem là thời
gian công tác pháp luật không? hay thời gian làm nhân viên của văn phịng luật
sư có được xem là thời gian công tác pháp luật không?... Các nghị định và
thông tư hướng dẫn Luật Công chứng 2014 hiện nay chưa có một sự giải thích
cụ thể về vấn đề thời gian cơng tác pháp luật, đây có thể được xem là một lỗ
hổng của pháp luật.
Thứ ba, theo quy định của Luật Công chứng, để được bổ nhiệm CCV thì
phải bảo đảm nhiều tiêu chuẩn, trong đó có điều kiện “phải hồn thành tập sự
\* MERGEFORMAT
hành nghề CCV theo thờiPAGE
gian
quy định là18 12 tháng đối với người có giấy

chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề cơng chứng và 6 tháng đối với người
có giấy chứng nhận bồi dưỡng công chứng”. Thế nhưng, theo quy định tại


Thông tư số 04/2015/TT-BTP (hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng),
người đang là cán bộ, công chức, viên chức (trừ viên chức làm việc tại phịng
cơng chứng) thuộc diện không được đăng ký tập sự. Ngay cả khi được phép,
các trường hợp đang công tác tại các cơ quan khác cũng khó bố trí thời gian để
tập sự tại các tổ chức hành nghề công chứng trong thời gian dài như vậy. Đây

là vướng mắc đang nảy sinh trong thực tế.

Thứ tư, về vấn đề bảo đảm sức khỏe để hành nghề cơng chứng. Đây có thể
được xem là kẽ hở của pháp luật nếu quy định như vậy về điều kiện sức khỏe
của công chứng viên. Trong trường hợp tại thời điểm được bổ nhiệm, cơng
chứng viên có sức khỏe khơng ổn định nhưng có thể giả mạo giấy tờ về sức
khỏe để được bổ nhiệm, làm việc trong điều kiện không đảm bảo về sức khỏe
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả công việc của công chứng viên. Trong khi quy
định của pháp luật đối với vấn đề này còn chung chung.
5. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật và ví dụ minh họa.
Theo báo cáo của Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam, đến nay, cả nước có
tổng số 1.003 tổ chức hành nghề công chứng với hơn 2.400 công chứng viên
đang hành nghề. Con số này sẽ tăng nhanh hơn nữa trong những năm tiếp theo.
Thực hiện các quy định pháp luật về việc đào tạo khóa đào tạo về cơng chứng,
Học viện tư pháp đã mở các lớp đào tạo nghề công chứng tại hai thành phố lớn,
nơi Học viện tư pháp đặt trụ sở, là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngồi
ra để tạo thuận lợi cho các học viênở các tỉnh, Học viện còn mở ác lớp đào tạo
nghề công chứng tại các tỉnh, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng
giảng dạy, những giảng viên tại học viện được tuyển chọn kỹ lưỡng, đều là
những nhà giáo – cơng chứng viên có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, đảm
bảo chất lượng đào tạo.
PAGE \* MERGEFORMAT 18


Tuy nhiên từ hạn chế còn tồn tại trong quy định về bổ nhiệm công chứng viên,
trên thực tiễn vần tồn tại nhiều hạn chế. Xin trích dẫn một số bài báo về thực
trangj bổ nhiệm công chứng viên của một số tỉnh trên cả nước
Bài viết của Báo điện tử Bình Định
“Khó phát triển đội ngũ cơng chứng viên
Trước năm 2015, tồn tỉnh có 22 cơng chứng viên, đến nay cũng chỉ có 29

cơng chứng viên đang hành nghề trong các tổ chức hành nghề công chứng.
Nhiều rào cản khiến đội ngũ công chứng viên chưa thể mở rộng.
“Khủng hoảng” thiếu
Theo đánh giá của Sở Tư pháp, tất cả các cơng chứng viên (CCV) đều có trình
độ cử nhân Luật, được bổ nhiệm theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
đội ngũ CCV được bổ nhiệm trong tổ chức hành nghề công chứng đa phần
thuộc diện được miễn đào tạo nghề và tập sự hành nghề công chứng. Do đó,
khó tránh khỏi những bỡ ngỡ, sai sót khi thực hiện cơng chứng.
Trưởng phịng Bổ trợ tư pháp (Sở Tư pháp) Lê Minh Tài cho hay, theo quy
định tại Luật Cơng chứng năm 2014, văn phịng cơng chứng (VPCC) phải có từ
2 CCV trở lên, được tổ chức và hoạt động theo loại hình cơng ty hợp danh và
người đại diện VPCC phải hành nghề công chứng từ 2 năm trở lên. Để đảm bảo
số CCV cho quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng theo lộ trình
giai đoạn 2016 - 2020, tồn tỉnh cần phát triển thêm 24 CCV. Với 29 CCV hiện
có, việc đáp ứng đủ lượng CCV để thành lập mơ hình VPCC theo loại hình
cơng ty hợp danh là rất khó khăn.
Thiếu CCV cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm bảo quy hoạch đủ số lượng
tổ chức hành nghề công chứng. Theo Quyết định số 2104/QĐ-TTg của Thủ
PAGE Quy
\* MERGEFORMAT
18 triển tổ chức hành nghề cơng
tướng Chính phủ phê duyệt
hoạch phát

chứng đến năm 2020, đến mốc thời gian này tại tỉnh Bình Định sẽ có 24 tổ
chức hành nghề cơng chứng. Trong đó, giai đoạn 2011 - 2015 quy hoạch 15 tổ


chức, giai đoạn 2016 - 2020 quy hoạch 9 tổ chức. Thực hiện lộ trình phát triển
giai đoạn 2011- 2015, tỉnh Bình Định đã thực hiện quy hoạch được 14 tổ chức

hành nghề công chứng phân bổ tại 8/11 đơn vị hành chính cấp huyện. Trong
đó, TP Quy Nhơn có 2 phòng và 3 văn phòng, TX An Nhơn 2 văn phịng,
huyện Hồi Nhơn 1 phịng và 1 văn phịng; Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn, Tuy
Phước, Hoài Ân mỗi huyện 1 văn phòng.
Tuy nhiên, đến tháng 7.2015 VPCC huyện Hoài Ân đã xin chấm dứt hoạt động;
đến tháng 5.2017 tới lượt VPCC Đất Võ (tại huyện Phù Mỹ) cũng xin chấm dứt
hoạt động do không đủ số lượng 2 CCV để chuyển đổi loại hình cơng ty hợp
danh theo quy định Luật Cơng chứng. Vì vậy, trên địa bàn tỉnh hiện chỉ cịn 12
tổ chức hành nghề cơng chứng, so với lộ trình phát triển giai đoạn 2011 - 2015
còn thiếu 3 tổ chức tại huyện Tây Sơn, Phù Mỹ và Hoài Ân. Từ năm 2016 đến
nay, tỉnh cũng chưa phát triển được VPCC nào vì khó khăn về số lượng CCV
và nguồn để bổ nhiệm CCV.”2
Trích dẫn từ báo Vĩnh Phúc: “Đội ngũ cơng chứng viên cịn thiếu về số
lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu công chứng, chứng
thực của công dân và các tổ chức, doanh nghiệp, tính chuyên nghiệp chưa cao,
hầu hết các cơng chứng viên của các Văn phịng cơng chứng đều chưa qua đào
tạo hoặc đào tạo không đáp ứng so với yêu cầu của nghề công chứng. Việc quy
hoạch, sắp xếp các tổ chức hành nghề công chứng dàn trải và phân bố khơng
đều gây khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu công chứng. Công tác quản
lý nhà nước về hoạt động công chứng chưa thường xuyên, liên tục, chưa sát sao
do thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác bổ trợ tư pháp.”3
Như vậy, một trong những khó khăn trong phát triển tổ chức hành nghề
công chứng hiện nay là thiếu nguồn để bổ nhiệm cơng chứng viên. Điều đáng
nói là, trong số 178.000 sinh viên hiện đang thất nghiệp chiếm tỷ lệ không nhỏ
PAGEnhân
\* MERGEFORMAT
18
là những người có bằng cử
luật hệ chính
quy. Trên thực tế thì những

2

3

/>
/>

người có gia đình khá giả, những người ở thành phố ít khi chọn con đường về
các huyện hành nghề cơng chứng. Trong khi đó những người ở các huyện thì
nghèo, khơng có điều kiện để tiếp tục theo học nghiệp vụ và tập sự hành nghề
cơng chứng..4 Tình trạng này dẫn đến nơi thừa nguồn nhân lực, nơi thiếu cơng
chứng viên. theo Bộ Tư pháp, tính đến hết ngày 31/12/2016, thời hạn phải hoàn
thành chuyển đổi VPCC theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Luật Công
chứng năm 2014, trong tổng số 825 VPCC có 647 VPCC hợp danh (chiếm
78% tổng số VPCC) và 178 VPCC do một CCV thành lập (khoảng 22%).
Theo báo cáo của các địa phương, các VPCC không chuyển đổi được đúng thời
hạn chủ yếu do khơng có nguồn CCV để tiến hành hợp danh, tập trung chủ yếu
tại những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội chưa phát triển, số lượng
CCV trên địa bàn ít, như Điện Biên (2/2 VPCC chưa chuyển đổi), Lào Cai (4/6
VPCC chưa chuyển đổi)... Thực trạng thiếu CCV là do một số nguyên nhân
như: Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm CCV được nâng lên so với Luật Công
chứng năm 2006 dẫn đến số lượng CCV bổ nhiệm mới giảm mạnh so với
những năm gần đây; Tình hình kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động công chứng và sự thu hút của nghề công chứng; Đội
ngũ CCV hành nghề phân bố không đồng đều, tập trung tại những tỉnh, TP trực
thuộc T.Ư có điều kiện kinh tế - xã hội cũng như nghề công chứng phát triển.
Trong bối cảnh đó, thời hạn 24 tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của
Luật Công chứng năm 2014 không đủ để nhiều địa phương tạo nguồn CCV
mới; việc thu hút CCV về những địa phương đang thiếu CCV cũng cịn hạn
chế, vì hoạt động cơng chứng phát triển tập trung ở địa bàn có điều kiện kinh tế

- xã hội tương đối phát triển.
6. Hướng kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các điều kiện bổ nhiệm công
chứng viên.
Thứ nhất, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn các quy định về điều kiện bổ
nhiệm công chứng viên
4

PAGE \* MERGEFORMAT 18

/>

⮚ Quy định cụ thể về thời gian công tác pháp luật: quy định cụ thể những
vị trí, cơng việc nào được xem là làm công tác pháp luật, cách xác định
thời gian công tác pháp luật là 5 năm như thế nào, liên tục hay cộng dồn.
⮚ Nên quy một cách cụ thể hơn nữa về điều kiện về sức khỏe để được bổ
nhiệm. Điều kiện này cần phải xem xét để điều chỉnh cho hợp lý với tình
hình kinh tế, xã hội hiện nay và phải quy định rõ phải đảm bảo sức khỏe
tại thời điểm bổ nhiệm và sau bao nhiêu năm sau khi được bổ nhiệm.
⮚ Nên thu hẹp các đối tượng được miễn đào tạo, tập sự hành nghề công
chứng: Thực tế vừa qua cho thấy cịn nhiều sai phạm trong hoạt động
cơng chứng do những cơng chứng viên thuộc nhóm được miễn đào tạo
nghề công chứng thực hiện. Hiện tại, số lượng công chứng viên trên
toàn quốc đã tăng lên rất nhiều, cùng với công tác đào tạo nghề công
chứng ngày càng được chú trọng, chuyên sâu và bài bản hơn thì việc
giới hạn lại phạm vi những người được miễn đào tạo nghề công chứng
là cần thiết để bảo đảm nâng cao hơn nữa chất lượng của công chứng
viên được bổ nhiệm. Do vậy, để bảo đảm tương đương về trình độ cũng
như thời gian cơng tác thực tế giữa các nhóm đối tượng được miễn đào
tạo nghề công chứng, giới hạn số lượng người được miễn đào tạo Các
đối tượng này có thể quy định rút ngắn thời hạn tập sự nhưng không

được miễn tập sự hành nghề công chứng. Đồng thời, cần quy định CCV
đang hành nghề có nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc hàng năm.
Nếu không tham gia bồi dưỡng trong hai năm liên tiếp mà khơng có lý
do chính đáng sẽ bị thu hồi Thẻ cơng chứng viên.
Thứ hai, khắc phục hạn chế về số lượng và chất lượng công chứng viên
⮚ Thứ nhất, tập trung nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức hành nghề
của công chứng viên và hiệu quả hoạt động của các tổ chức hành nghề
cơng chứng hiện có, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống tổ chức hành
PAGE \* nghiệp,
MERGEFORMAT
nghề công chứng chun
bền18vững, chất lượng cao. Vì vậy phải

khơng ngừng nâng cao chất lượng và chỉ tiêu đào tạo, hướng tới mục
tiêu hát triển đội ngũ công chứng viên đủ về số lượng, giỏi về chuyên


mơn nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề
nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội về công chứng, phục
vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế.
⮚ Thứ hai, Có chính sách hỗ trợ kinh phí khuyến khích các sinh viên tốt
nghiệp cử nhân luật tiếp tục học nghiệp vụ công chứng và tập sự hành
nghề công chứng vừa để giải quyết việc làm vừa đảm bảo phát triển đội
ngũ công chứng, nhất là ở các tỉnh cịn thiếu nguồn cơng chứng viên,
đáp ứng theo lộ trình và theo địa bàn quy hoạch phát triển tổ chức hành
nghề công chứng đã phê duyệt.

III. Kết luận
Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được
của Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các quy định

hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã
hội, thành hành vi sử xự theo đúng pháp luật giúp cho người dân có thể tin
tưởng lựa chọn công chứng, chứng thực như một sự đảm bảo của nhà nước về
mặt an toàn pháp lý đối với các giao dịch của mình. Từ đó thúc đẩy sự tăng
trưởng về số lượng giao dịch, hợp đồng góp một phần rất lớn vào sự phát triển
đất nước. Trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu công
chứng ngày càng tăng Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy sai phạm trong hoạt
động công chứng của công chứng viên dẫn đến thiệt hại lớn cho các chủ thể
tham gia giao dịch ngày càng nhiều, đặt ra yêu cầu phát triển đội ngũ công
chứng viên khơng chỉ về lượng mà cịn về chất, Mà biện pháp quan trọng, cơ
bản nhất là hoàn thiện cơ chế quy định của pháp luật về điều kiện bổ nhiệm
cơng chứng viên, từ đó tạo cơ sở xây dựng đội ngũ công chứng viên đủ về số
lượng, giỏi về chun mơn nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về
đạo đức nghề nghiệp, hoànPAGE
thành
tốt sứ mệnh
\* MERGEFORMAT
18 là bổ trợ viên tư pháp được giao
phó.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Luật công chứng 2006
2. Luật công chứng 2014
3. Để nâng cao chất lượng các hoạt động công chứng - Báo Vĩnh Phúc
4. Phát triển tổ chức hành nghề công chứng, từ chính sách và cơng tác phổ
biến, giáo dục pháp luật - Trang thông tin điện tử hội đồng nhân dân tỉnh
Quảng Bình
5. Cơng chứng viên với vai trị bổ trợ viên tư pháp – Thông tin pháp luật

dân sự
6. Khó phát triển đội ngũ cơng chứng viên – Báo điện tử Bình Định
7. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên - Báo điện tử
Đảng Cộng Sản Việt Nam

PAGE \* MERGEFORMAT 18



×