Tải bản đầy đủ (.pdf) (150 trang)

Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của từ tượng thanh từ tượng hình trong tiếng việt và tiếng nhật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.53 MB, 150 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
------------

NGUYỄN THỊ VĨNH TÚ

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA TỪ TƯỢNG THANH, TỪ TƯỢNG HÌNH
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

THỪA THIÊN HUẾ, 2021


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
------------

NGUYỄN THỊ VĨNH TÚ

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA TỪ TƯỢNG THANH, TỪ TƯỢNG HÌNH
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 8222024

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


TS. NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRÀ

THỪA THIÊN HUẾ, 2021


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
cơng bố trong bất kỳ một cơng trình nào khác.
Thừa Thiên Huế, ngày 14 tháng 12 năm 2021
Tác giả

Nguyễn Thị Vĩnh Tú

i


TĨM TẮT
Từ tượng thanh, từ tượng hình đóng vai trị khá đặc biệt trong các ngơn
ngữ, nó giúp thể hiện những đặc trưng riêng biệt của mỗi ngôn ngữ trên thế
giới, phản ánh tư duy bản địa đặc sắc, và bản sắc văn hóa độc đáo của mỗi một
quốc gia. Hai lớp từ này đều chiếm một vị trí khá quan trọng trong tiếng Nhật
và tiếng Việt. Đề tài “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của từ tượng thanh, từ
tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật” tiến hành đối chiếu các đặc điểm
ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của các lớp từ này trong hai ngôn ngữ.
Ở đặc điểm ngữ pháp, luận văn tập trung đối chiếu các hình thức từ loại
và các chức năng cú pháp của các từ tượng thanh, từ tượng hình được tìm thấy
ở hai tác phẩm văn học trong hai ngôn ngữ. Ở đặc điểm ngữ nghĩa, luận văn
tiến hành đối chiếu các đặc điểm về trường nghĩa của nhóm từ mơ phỏng tiếng
cười, tiếng khóc hay gợi tả các trạng thái của hành động khóc, cười trong các

từ điển tiếng Việt và tiếng Nhật. Ở đặc điểm ngữ dụng, luận văn tiến hành đối
chiếu các nghĩa hàm ẩn mà các từ tượng thanh, từ tượng hình mơ phỏng các
âm thanh, gợi tả các trạng thái của hành động cười, khóc trong hai tác phẩm
văn học đó biểu hiện tùy vào các ngữ cảnh.
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên
cứu chung, phương pháp thu thập ngữ liệu; phương pháp thống kê, phân loại;
phương pháp miêu tả; phương pháp so sánh, đối chiếu.
Luận văn đã tiến hành khảo sát 86 từ tượng thanh, 1562 từ tượng hình
được tìm thấy trong tác phẩm “Mắt biếc” và 106 từ tượng thanh, 446 từ tượng
hình được tìm thấy trong tác phẩm 「そのときは彼によろしく」và tìm ra
khuynh hướng từ loại và chức năng cú pháp mà các từ này thực hiện trong câu.
Ngoài ra, luận văn tiếp tục khảo sát các từ tượng thanh mô phỏng tiếng cười,
tiếng khóc và các từ tượng hình gợi tả các trạng thái khóc, cười trong hai tác
phẩm để tìm ra các nghĩa hàm ẩn, từ đó xác định những điểm tương đồng và dị
biệt về các đặc điểm ngữ pháp, ngữ dụng trong hai ngôn ngữ. Mặt khác, luận
văn cũng tiến hành khảo sát các từ tượng thanh, từ tượng hình thuộc trường
nghĩa mơ phỏng âm thanh, hay gợi tả các trạng thái của hành động khóc, cười
được tìm thấy ở một số từ điển tiếng Việt và tiếng Nhật, để tìm thấy những
điểm tương đồng và dị biệt về đặc điểm ngữ nghĩa trong hai ngôn ngữ.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp một phần vào việc nghiên
cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật tập trung
vào nội dung các đặc điểm ngơn ngữ, giúp người học có thể vận dụng chúng
một cách phù hợp khi giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt hoặc tiếng Nhật.

ii


ABSTRACT
Onomatopoeic words and mimetic words play a rather special role in
languages, they help to express the distinct characteristics of each language in

the world, reflecting the unique indigenous thinking and unique cultural
identity of each country. This class of those words occupies an important
position in Japanese and Vietnamese. The topic "Comparison of linguistic
characteristics of onomatopoeic words and mimetic words in Vietnamese
and Japanese" proceeds to compare the grammatical, semantic and pragmatic
characteristics of these word classes in the study of two languages.
In terms of grammar, the thesis focuses on word-typed and syntax
functions in sentences of onomatopoeic words and mimetic words appearing
in two literary works in two languages. In terms of semantic characteristics,
the thesis compares the characteristics of the meaning field of the group of
words simulating laughter, crying, or describing states of crying and laughing
in Vietnamese and Japanese dictionaries. In terms of pragmatics, the thesis
compares the implications that onomatopoeic words simulate sounds, and
mimetic words describe the states of laughing and crying actions in those two
literary works depending on contexts.
The thesis uses these following research methods: General research
method, Corpus collection method, Statistical analysis method, Comparatative
and contrastive method.
The thesis has conducted a survey of 86 onomatopoeic words, 1562
mimetic words found in the book “Mắt biếc”, and 106 onomatopoeic words,
446 mimetic words found in the book 「そのときは彼によろしく」, found
out the word-typed and syntax functional tendency of those words. Besides,
this study also continues surveying the onomatopoeic words that stimulate
laughter, cry, and the mimetic words that describe states of crying, laughing,
in these two books to find out the implication of them and define the
similarities and differences in grammatical and pragmatic features of the two
mentioned languages. Moreover, the thesis also includes the survey of words
that are under the meaning field of simulating laughter, crying, or describing
states of crying and laughing in Vietnamese and Japanese dictionaries, so that
the similarities and differences in the two languages can be found.

The research results will contribute partly to studies on onomatopoeic
and mimetic words focusing on linguistic features in Vietnamese and Japanese
in order to help learners apply these kinds of words appropriately in
communication contexts.
iii


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn này, tơi xin trân trọng bày tỏ lịng biết ơn đến
các Thầy, Cơ giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học chuyên ngành “Ngơn ngữ
học so sánh đối chiếu” niên khóa 2019 - 2021, các Thầy, Cơ thuộc phịng Đào
tạo (Bộ phận Sau đại học), khoa Việt Nam Học, trường Đại học Ngoại Ngữ Đại học Huế đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi
học tập tại trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên hướng dẫn, TS.
Nguyễn Thị Hương Trà, người đã trực tiếp hướng dẫn tơi một cách tận tình và
tạo những điều kiện tốt nhất để tơi có thể hồn thành luận văn của mình.
Cuối cùng, xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến cơ quan tơi đang cơng tác,
Khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Nhật Bản, trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học
Huế, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và các học viên đã cùng chia sẻ, động viên,
giúp đỡ tơi trong suốt q trình hồn thành luận văn.

Thừa Thiên Huế, ngày 14 tháng 12 năm 2021
Tác giả

Nguyễn Thị Vĩnh Tú

iv


DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1: Bảng thống kê từ tượng thanh mơ phỏng âm thanh tiếng cười,
tiếng khóc, từ tượng hình gợi tả các trạng thái của hành động
cười, khóc tiếng Việt .............................................................. 41
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp từ tượng thanh, từ tượng hình mơ phỏng âm
thanh và gợi tả các trạng thái của hành động khóc, cười trong
tác phẩm “Mắt biếc” .............................................................. 45
Bảng 3.3: Một số ví dụ về nghĩa hàm ẩn của các từ tượng thanh mô
phỏng tiếng cười, tiếng khóc trong tác phẩm “Mắt biếc” ...... 46
Bảng 3.4: Một số ví dụ về nghĩa hàm ẩn của các từ tượng hình gợi tả
các trạng thái của hành động cười, khóc trong tác phẩm
“Mắt biếc” .............................................................................. 47
Bảng 3.5: Thống kê từ tượng thanh mô phỏng âm thanh tiếng cười, tiếng
khóc, từ tượng hình gợi tả các trạng thái của hành động cười
khóc tiếng Nhật ...................................................................... 56
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp từ tượng thanh, từ tượng hình mơ phỏng âm
thanh và gợi tả các trạng thái của hành động khóc, cười trong
tác phẩm 「そのときは彼によろしく」 ............................ 62
Bảng 3.7: Một số ví dụ về nghĩa hàm ẩn của các từ tượng thanh mơ
phỏng tiếng cười, tiếng khóc trong tác phẩm 「そのときは彼
によろしく」 ........................................................................ 63
Bảng 3.8: Một số ví dụ về nghĩa hàm ẩn của các từ tượng hình gợi tả các
trạng thái của hành động cười, khóc trong tác phẩm 「そのと
きは彼によろしく」............................................................ 64
Bảng 4.1: Bảng thống kê từ tượng thanh trong tiếng Nhật và tiếng Việt
theo từ loại và chức năng cú pháp qua hai tác phẩm “Mắt
biếc” và 「そのときは彼によろしく」 ............................. 67
Bảng 4.2: Bảng thống kê từ tượng hình trong tiếng Nhật và tiếng Việt
theo từ loại và chức năng cú pháp qua hai tác phẩm “Mắt
biếc” và 「そのときは彼によろしく」 ............................. 71


v


Bảng 4.3: Bảng thống kê số lượng từ tượng thanh mơ phỏng tiếng cười,
tiếng khóc trong tiếng Nhật và tiếng Việt .............................. 74
Bảng 4.4: Bảng thống kê số lượng từ tượng hình mơ phỏng tiếng cười,
tiếng khóc trong tiếng Nhật và tiếng Việt .............................. 78
Bảng 4.5: Bảng tổng hợp về số lượng từ tượng thanh mơ phỏng tiếng
cười, tiếng khóc trong hai tác phẩm “Mắt biếc” và 「そのと
きは彼によろしく」............................................................ 81
Bảng 4.6: Bảng tổng hợp từ tượng hình gợi tả các trạng thái của hành
động khóc, cười trong hai tác phẩm “Mắt biếc” và 「そのと
きは彼によろしく」............................................................ 83

vi


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
TÓM TẮT ......................................................................................................... ii
ABSTRACT ..................................................................................................... iii
LỜI CẢM ƠN.................................................................................................. iv
DANH SÁCH BẢNG ....................................................................................... v
MỤC LỤC ...................................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3
4. Ý nghĩa của đề tài ...................................................................................... 5
5. Bố cục của luận văn................................................................................... 5

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
THUYẾT........................................................................................................... 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu............................................................. 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Việt ................................................................................................... 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Nhật .................................................................................................. 7
1.2 Cơ sở lý thuyết ........................................................................................ 9
1.2.1 Bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng trong nghiên cứu ngôn
ngữ............................................................................................................. 9
1.2.2 Từ tượng thanh, từ tượng hình và phương thức cấu tạo ................ 11
1.2.3 Từ tượng thanh, từ tượng hình và từ loại ....................................... 22
1.3 Tiểu kết .................................................................................................. 29
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................... 30
2.1 Phương hướng triển khai của luận văn .................................................. 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu chung ............................................................ 30
2.2.1 Phương pháp định lượng ................................................................ 30
2.2.2 Phương pháp định tính ................................................................... 31
2.3 Phương pháp thu thập ngữ liệu.............................................................. 31
2.4 Thủ pháp thống kê – phân loại: ............................................................. 32
2.5 Phương pháp miêu tả ............................................................................. 32
2.5.1 Thủ pháp trường nghĩa ................................................................... 32
vii


2.5.2 Thủ pháp phân tích ngơn cảnh ....................................................... 33
2.5.3 Thủ pháp bóc tách .......................................................................... 33
2.5.4 Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp ............................................ 33
2.6 Phương pháp so sánh đối chiếu ............................................................. 33
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TỪ TƯỢNG THANH, TỪ

TƯỢNG HÌNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT ..................... 35
3.1 Trong tiếng Việt .................................................................................... 35
3.1.1 Đặc điểm ngữ pháp ........................................................................ 35
3.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa ....................................................................... 40
3.1.3 Đặc điểm ngữ dụng ........................................................................ 45
3.2 Trong tiếng Nhật ................................................................................... 50
3.2.1 Đặc điểm ngữ pháp ........................................................................ 50
3.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa ....................................................................... 55
3.2.3 Đặc điểm ngữ dụng ........................................................................ 62
3.3 Tiểu kết .................................................................................................. 66
CHƯƠNG 4. ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TỪ TƯỢNG
THANH, TỪ TƯỢNG HÌNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT ... 67
4.1 Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp ................................................................ 67
4.1.1 Từ tượng thanh ............................................................................... 67
4.1.2 Từ tượng hình................................................................................. 70
4.2 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa ............................................................... 73
4.2.1 Từ tượng thanh ............................................................................... 74
4.2.2 Từ tượng hình................................................................................. 78
4.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ dụng................................................................ 81
4.3.1 Từ tượng thanh ............................................................................... 81
4.3.2 Từ tượng hình................................................................................. 83
4.4 Tiểu kết .................................................................................................. 86
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ........................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 92
PHỤ LỤC........................................................................................................ P1

viii


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ tượng thanh, từ tượng hình là một cơng cụ hỗ trợ đắc lực cho quá
trình giao tiếp một cách linh hoạt bởi vì lớp từ này được hình thành bởi mối
tương quan giữa âm và nghĩa, chỉ với âm thanh ngôn ngữ, người tham gia
giao tiếp có thể nhận thức một cách rõ ràng, tinh tế về thế giới tự nhiên và
hiện thực. Đối với cùng một âm thanh tự nhiên, mỗi ngôn ngữ có các kiểu mơ
phỏng riêng, thơng qua những phương tiện và quy tắc ngữ âm của mình.
Tương tự, các hình ảnh, trạng thái của hiện thực khách quan cũng được miêu
tả, tái hiện một cách sinh động thông qua khả năng biểu trưng của từ tượng
hình. Mỗi quốc gia đều có những đặc điểm ngơn ngữ riêng, các đặc điểm ấy sẽ
phản ánh những nét đặc trưng về văn hố, đời sống của con người ở đó. Từ
tượng thanh và từ tượng hình khơng chỉ được sử dụng với tần suất lớn trong
đời sống hàng ngày mà còn xuất hiện nhiều trong báo chí, thơ ca, truyện tranh,
các tác phẩm văn học. Vì thế, chúng có vai trị rất quan trọng đối với đời sống
ngôn ngữ của người Việt và người Nhật.
Từ trước đến nay, cũng có một số tác giả tiến hành nghiên cứu, so sánh
từ tượng thanh, tượng hình trong tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng
Trung Quốc, tiếng Anh…, tuy nhiên nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Việt và
tiếng Nhật còn khá hạn chế. Cho đến nay, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu
ở các bậc khác nhau về từ tượng thanh, từ tượng hình, tuy nhiên, các nghiên
cứu chỉ mới dừng lại ở việc đối chiếu các đặc điểm chung chung, thơng qua
các ví dụ được trích ra từ các tác phẩm văn học, qua hội thoại hàng ngày …
Cũng có tác giả tiến hành nghiên cứu khuynh hướng dịch thuật các từ tượng
hình, từ tượng thanh được sử dụng ở các truyện tranh “manga” của Nhật, hay
ở tác phẩm văn học tiếng Nhật sang tiếng Việt. Chưa có một nghiên cứu nào
thực hiện đối chiếu về các đặc điểm ngôn ngữ của từ tượng thanh, từ tượng
hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật, đặc biệt đối với lớp từ này trong các tác
phẩm văn học để tìm ra những nét tương đồng dị biệt của chúng.
Thông qua tác phẩm văn học, người học sẽ gián tiếp được tiếp xúc, tìm
hiểu về từ tượng thanh, từ tượng hình, từ đó sẽ có hứng thú hơn với việc học

tập, sử dụng lớp từ này. Luận văn đã tiến hành nghiên cứu các đặc điểm ngữ
pháp, ngữ dụng của nhóm từ tượng thanh, từ tượng hình chủ yếu thông qua tác
phẩm văn học tiếng Việt và tiếng Nhật. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một
số nguồn ngữ liệu từ các từ điển trong hai ngôn ngữ để giải thích một số đặc
điểm ngữ nghĩa của những lớp từ này.

1


Trong quá trình giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt, có thể nhận thấy
việc học và lĩnh hội từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật là một khó
khăn đối với người học. Trên thực tế, nhiều học viên, thậm chí cả giảng viên là
người Việt vẫn chưa sử dụng được một cách linh hoạt các từ này. Một nguyên
nhân lớn là do người học chưa nắm bắt được ý nghĩa và cách dùng của từ
tượng thanh, tượng hình trong tiếng Nhật, và chưa tìm ra được các hình thức
liên tưởng tương ứng với chúng trong tiếng Việt. Hay ngược lại, người học
mặc dù có sự liên tưởng về lớp từ này trong tiếng Việt, nhưng chưa liên hệ
được các biểu hiện tương ứng trong tiếng Nhật, hoặc có khuynh hướng né
tránh sử dụng chúng.
Chính bởi các lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ
của từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật.” làm đề tài
luận văn với hy vọng kết quả nghiên cứu có thể giúp ích cho việc dạy và học
tiếng Nhật hoặc tiếng Việt, giúp cho người học thêm tự tin khi lựa chọn sử
dụng từ tượng thanh, từ tượng hình trong giao tiếp hàng ngày.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu với các mục tiêu như sau:
- Phân tích và đối chiếu các đặc điểm ngơn ngữ của từ tượng thanh, từ
tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật tập trung vào các đặc điểm ngữ pháp,
ngữ nghĩa, ngữ dụng.
- Làm rõ đặc điểm ngữ pháp của từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng

Việt và tiếng Nhật thông qua việc khảo sát, thống kê, miêu tả diện mạo của chúng
khi được sử dụng trong các tác phẩm văn học về hình thức từ loại và chức năng
cú pháp mà các từ này thực hiện trong câu đồng thời tiến hành đối chiếu đặc điểm
này trong hai ngơn ngữ để tìm ra những tương đồng và dị biệt giữa chúng.
- Làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Việt và tiếng Nhật thông qua việc khảo sát, thống kê, miêu tả các đặc
điểm về ý nghĩa của những từ tượng thanh mơ phỏng tiếng cười, tiếng khóc, từ
tượng hình gợi tả các trạng thái của hành động cười, khóc được thu thập từ
một số từ điển trong hai ngôn ngữ đồng thời tiến hành đối chiếu để tìm ra
những tương đồng, dị biệt về đặc điểm ngữ nghĩa.
- Làm rõ đặc điểm ngữ dụng của từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Việt và tiếng Nhật thơng qua việc khảo sát, thống kê, miêu tả về nghĩa
hàm ẩn của các từ tượng thanh mô phỏng tiếng cười, tiếng khóc, từ tượng hình
gợi tả các trạng thái của hành động cười, khóc được thu thập từ các tác phẩm
văn học đồng thời tiến hành đối chiếu các đặc điểm này để tìm thấy những
2


tương đồng và dị biệt về khuynh hướng sử dụng những từ này trong tiếng Việt
và tiếng Nhật. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành lí giải một số nguyên nhân
tạo ra các điểm tương đồng và dị biệt đó, nhờ vậy người học sẽ có những hiểu
biết sâu sắc hơn về lớp từ này trong cả hai ngôn ngữ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữ
nghĩa, đặc điểm ngữ dụng của từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt
và tiếng Nhật.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các từ tượng thanh, từ tượng hình
được thống kê ở các từ điển: “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê, 2019); “Từ

điển từ láy tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành, 2003) và “Sổ tay từ tượng thanh
tượng hình tiếng Việt” (Nguyễn Khánh Hà, 2016) ; 「擬音語・擬態語辞
典」[Từ điển từ tượng thanh, từ tượng hình] (Asano Tsuruko [浅野 鶴子] &
Kindaichi Haruhiko [金田一春彦], 1978);「擬音語擬態語辞典」 [Từ điển
từ tượng thanh, từ tượng hình] (Yamaguchi (Yamaguchi Nakami [山口 仲美],
2015);「擬音語・擬態語 (外国人のための日本語例文・問題シリー
ズ) 」[Từ điển từ tượng thanh, từ tượng hình (Tập hợp các câu ví dụ, bài tập
dành cho người nước ngoài)] (Hinata Shigeo [日向 茂男] & Hibiya Junko [日
比谷 潤子], 1989) và các tác phẩm văn học “Mắt biếc” (Nguyễn Nhật Ánh,
2019); 「そのときは彼によろしく」(Ichikawa Takuji [市川拓司], 2007).
Các nguổn ngữ liệu trên được lựa chọn theo các tiêu chí như sau:
- Tiêu chí lựa chọn nguồn ngữ liệu từ điển:
Các từ điển được sử dụng để thống kê và tổng hợp các từ tượng thanh
mô phỏng tiếng cười, tiếng khóc; từ tượng hình gợi tả trạng thái cười khóc và
các giải thích ý nghĩa của những từ này nhằm mục đích phân tích và đối chiếu
đặc điểm ngữ nghĩa của chúng trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Việc mô tả đặc
điểm ngữ nghĩa được tiến hành dựa vào ý nghĩa của các từ này được giải thích
trong các từ điển. “Sổ tay từ tượng thanh tượng hình tiếng Việt” (Nguyễn
Khánh Hà, 2016) là tác phẩm duy nhất trong tiếng Việt có tập hợp danh sách
và giải thích ý nghĩa các từ tượng thanh tượng hình trong tiếng Việt. Ngồi ra,
phần lớn các từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt là từ láy, vì thế
“Từ điển từ láy tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành, 2003) được lựa chọn khảo sát.
3


Bên cạnh đó, từ tượng thanh là từ đơn, từ ghép, từ ngẫu hợp cũng thuộc đối
tượng nghiên cứu, vì vậy “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê, 2019) cũng được
lựa chọn để khảo sát, đây là một từ điển đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn
ngữ tiếng Việt tin tưởng lựa chọn nghiên cứu ở các cơng trình khác nhau. Đối
với tiếng Nhật, có nhiều từ điển về từ tượng thanh, từ tượng hình đã được xuất

bản, luận văn đã lựa chọn 3 từ điển của 3 tác giả có uy tín trong lĩnh vực
nghiên cứu về ngơn ngữ tiếng Nhật tương đương với 3 từ điển tiếng Việt để
khảo sát các đặc điểm ngữ nghĩa của từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng
Nhật là các từ điển 「擬音語・擬態語辞典」[Từ điển từ tượng thanh, từ
tượng hình] (Asano Tsuruko [浅野 鶴子] & Kindaichi Haruhiko [金田一春彦],
1978);「擬音語擬態語辞典」 [Từ điển từ tượng thanh, từ tượng hình]
(Yamaguchi (Yamaguchi Nakami [山口 仲美], 2015);「擬音語・擬態語 (外
国人のための日本語例文・問題シリーズ) 」[Từ điển từ tượng thanh, từ
tượng hình (Tập hợp các câu ví dụ, bài tập dành cho người nước ngoài)]
(Hinata Shigeo [日向 茂男] & Hibiya Junko [日比谷 潤子], 1989).
- Tiêu chí lựa chọn nguồn ngữ liệu tác phẩm văn học:
Đối với đặc điểm ngữ pháp, ngữ dụng của từ tượng thanh, từ tượng hình,
luận văn đã khảo sát trong hai tác phẩm văn học với các lí do sau:
+ Luận văn khảo sát đặc điểm ngữ pháp tập trung vào đặc điểm về hình
thức từ loại và chức năng cú pháp trong câu của các từ tượng thanh, từ tượng
hình, vì vậy, chỉ khi đặt vào câu, vào văn bản thì việc phân tích chức năng cú
pháp mới phát huy hiệu quả. Ngoài ra, những từ xuất hiện trong câu văn, trong
hội thoại, trong văn bản là những từ phổ biến, thể hiện khuynh hướng sử dụng
phổ biến của ngôn ngữ.
+ Luận văn khảo sát đặc điểm ngữ dụng tập trung vào đặc điểm về
nghĩa hàm ẩn của từ tượng thanh, từ tượng hình trong các ngữ cảnh nhất
định, vì vậy những từ đó phải được sử dụng trong các câu, các ngữ cảnh thì
người đọc mới có thể lý giải được các nghĩa hàm ẩn được biểu thị trong các
tình huống, ngữ cảnh đó.
Luận văn đã tiến hành lựa chọn 1 tác phẩm văn học tiếng Việt, 1 tác
phẩm văn học tiếng Nhật là truyện dài về chủ đề tình yêu nhẹ nhàng với mục
đích giúp cho đối tượng là người học ngoại ngữ phần lớn tập trung ở lứa tuổi
trẻ, là học sinh, sinh viên dễ tiếp cận các tác phẩm này. Hai tác phẩm này
tương đương về chủ đề (nội dung tình u học trị, hơi buồn, mang khuynh
hướng hiện đại), và tương đương về độ dài của văn bản. Trong tiếng Việt, luận

4


văn lựa chọn tác phẩm “Mắt biếc” (Nguyễn Nhật Ánh, 2019) bởi đây là một
tác phẩm được nhiều người biết đến của tác giả này, ông là một tác giả nổi
tiếng trong nền văn học Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được dịch sang
tiếng Nhật, tác phẩm này cũng được dịch sang tiếng Nhật và được nhiều độc
giả người Nhật yêu thích. Trong tiếng Nhật, luận văn lựa chọn tác phẩm「そ
の と き は 彼 に よ ろ し く 」 (“Nếu gặp người ấy, cho tôi gửi lời chào”
(Ichikawa Takuji [市川拓司], 2007) bởi lý do ông cũng là một tác giả nổi
tiếng với chủ đề này ở Nhật, có nhiều tác phẩm của ơng đã được dịch sang
tiếng Việt, được các độc giả Việt Nam ủng hộ. Tác phẩm này cũng đã được
dịch sang tiếng Việt. Hai tác phẩm này đều là truyện dài, có độ dài khá dài,
qua đó có thể xác định được tần suất các từ này xuất hiện khá lớn, vì vậy có
thể xác định được khuynh hướng chung của các lớp từ này trong hai ngôn ngữ.
4. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp một phần nào vào việc
nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật tập
trung vào nội dung các đặc điểm ngôn ngữ. Nhờ vậy, người Việt học tiếng
Nhật và người Nhật học tiếng Việt sẽ có nhận thức cụ thể, rõ ràng hơn trong
việc sử dụng từ tượng thanh, từ tượng hình, từ đó có thể vận dụng chúng một
cách phù hợp trong giao tiếp. Qua đó, việc nghiên cứu cụ thể, sâu sắc về
những từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật, nhận định
được những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng có thể giúp ích cho việc
giảng dạy, học tập tiếng Việt và tiếng Nhật trở nên sinh động và hiệu quả hơn,
phù hợp để người học ngôn ngữ tiếng Việt hoặc tiếng Nhật có thể hiểu rõ hơn
về tư duy, văn hóa của con người hai nước này một cách thấu đáo hơn, từ đó
có sự ứng xử phù hợp hơn khi giao tiếp.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận và đề xuất, nội dung của luận văn gồm

4 chương:
- Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ của từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Việt và tiếng Nhật.
- Chương 4: Đối chiếu đặc điểm ngơn ngữ của từ tượng thanh, từ tượng
hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật.

5


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ở chương 1 luận văn tập trung đề cập khái quát về tình hình nghiên cứu
về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật đồng thời nêu
lên các cơ sở lý thuyết về các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Ngoài
ra chương này còn giới thiệu các phương thức cấu tạo của các lớp từ này và
mối quan hệ của chúng với từ loại trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật.
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Việt
Trong tiếng Việt, khái niệm từ tượng thanh, từ tượng hình ít được đề cập
đến một cách chính thức mà hầu như chỉ được các nhà nghiên cứu đề cập đến
khi miêu tả từ láy, nếu có tác giả đề cập đến thì cũng chỉ được tập trung khảo
sát ở nhóm từ tượng thanh (Hồ Lê, Hoàng Văn Hành).
Hoàng Văn Hành (1985) đã tiến hành khảo sát về từ láy, trong đó có đề
cập đến nhóm những từ láy mơ phỏng âm thanh gồm những từ láy tượng thanh
và những từ “tiếng vang” như leng keng, tí tách, róc rách,… và nhóm từ biểu
thị thuộc tính, trạng thái, q trình như luộm thuộm, la cà, bâng khuâng, mênh

mông,… Tuy nhiên, tác giả khơng nghiên cứu mảng “từ láy tượng hình” mặc
dù ông cũng có nhắc đến các loại nghĩa của từ tượng hình nói chung, là miêu
tả “thuộc tính”, “phương thức của hành động hay quá trình”, “cách thức diễn
ra quá trình”, “mức độ khác nhau của phẩm chất, trạng thái”, “mức độ khái
quát hóa, tổng hợp của sự vật, hiện tượng”.
Hồ Lê (1976) thì tập trung nghiên cứu sâu hơn về mảng từ tượng thanh.
Ơng phân nhóm từ này thành từ tượng thanh thực (là những từ mô phỏng tiếng
động như: cách, bụp, cúc cu…) và tượng thanh giả (là từ sinh ra từ những từ
tượng thanh thực nhưng không trực tiếp mơ phỏng tiếng động như: líu lo, râm
ran, thút thít…). Thế nhưng, nhóm từ tượng hình cũng khơng được tác giả tiến
hành khảo sát. Tác giả có miêu tả nghĩa của các từ thuộc mơ hình lắp láy đơn
có khả năng biểu thị một trạng thái hoặc một hành động với tính chất, mức độ
như thế nào đó (từ tượng hình).
Đỗ Hữu Châu (1997) khi tiến hành nghiên cứu về từ láy có đề cập đến từ
tượng thanh và từ tượng hình như là những từ tượng thanh có hình thức láy, như
rả rích, róc rách, cọc cạch,… có thể xem là những từ láy (láy cái âm cần mô
6


phỏng để đưa vào ngôn ngữ), hoặc các từ mô phỏng vận động. Ngồi ra, Diệp
Quang Ban (2004) có đề cập đến “từ láy phỏng thanh (là từ láy mô phỏng âm
thanh)”, “từ láy sắc thái hóa”, “từ láy cách điệu” khi nghiên cứu về từ láy.
Hoàng Anh Thi (2005) đã đề cập đến một số quan niệm và cách phân
loại của từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật, phân tích phương thức
cấu tạo, đặc trưng ngữ âm – ngữ nghĩa, chức năng ngữ pháp của lớp từ này, và
đưa ra một vài sự so sánh với từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt.
Ngồi ra, đề tài về từ tượng thanh, từ tượng hình cũng được một số học
viên cao học Việt Nam lựa chọn để làm luận án, luận văn. Chẳng hạn, Hoàng
Thiên Thanh (2015) nghiên cứu đối chiếu từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Hàn và tiếng Việt đã giới thiệu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong

hai ngơn ngữ về các đặc điểm cấu tạo, chức năng cú pháp cũng như về mặt
ngữ dụng để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ
này. Lai Huyền Tôn Nữ Khánh Quỳnh (2017) nghiên cứu về từ tượng thanh,
từ tượng hình trong tiếng Nhật và khuynh hướng dịch thuật các lớp từ này
trong các truyện tranh manga của Nhật sang tiếng Việt.
Ngô Thị Huệ (2017) khi nghiên cứu “Về sự thụ đắc từ tượng thanh và
tượng hình ở trẻ tiền học đường”, có giới thiệu về từ tượng thanh, từ tượng
hình trong tiếng Việt, và cách cấu tạo nên chúng và đi sâu khảo sát về quá
trình thụ đắc từ tượng thanh, từ tượng hình của trẻ từ 0 đến 3 tuổi.
Nhìn chung, thơng qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về từ tượng
thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt cho đến nay, có khá ít tài liệu của Việt
Nam tiến hành nghiên cứu một cách chính thức, chuyên sâu và riêng biệt về từ
tượng thanh, từ tượng hình. Và nguồn tài liệu có đề cập rõ ràng, chi tiết về các
lớp từ này trong tiếng Việt cũng rất hạn hẹp. Những nghiên cứu trước chỉ mới
đề cập đến một số nét chung về cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng chứ
chưa chú trọng đến nghiên cứu sâu hơn về các đặc điểm ngôn ngữ này của các
từ tượng thanh, từ tượng hình thơng qua ngữ liệu các tác phẩm văn học, nơi
thể hiện sinh động một thế giới tương tự như thế giới thực tế để có thể giúp
hiểu rõ hơn được đặc điểm này của từ tượng thanh, từ tượng hình.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Nhật
So với tiếng Việt, các cơng trình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng
hình trong tiếng Nhật khá phong phú.
Masuno Nao [増野奈央] (2007) đã khảo sát khuynh hướng sử dụng từ
tượng thanh, từ tượng hình trong các tác phẩm văn học Nhật Bản, phân tích về
7


mặt cú pháp học, âm vị học, sử dụng từ điển để khảo sát liệu có khuynh hướng
từ vựng hố các từ tượng thanh, từ tượng hình hay khơng, và làm sáng tỏ lập

luận “Từ tượng thanh, từ tượng hình là để nói về những từ như thế nào?”.
Kasai Kenji [葛西健治] (2012) đã khảo sát các từ tượng thanh, từ tượng
hình trong các bài hát dành cho trẻ em Nhật Bản, và xác định vai trò của từ
tượng thanh, từ tượng hình trong bài hát đối với việc giáo dục trẻ em.
Huang Hui [黄慧] (2016) đã nghiên cứu cách sử dụng từ tượng thanh, từ
tượng hình trong tiếng Nhật với vai trò là phụ từ, cụ thể tác giả đã khảo sát
trên tồn bộ 40,988 ví dụ thu thập được, có bao nhiêu từ tượng thanh, từ tượng
hình được sử dụng kết hợp với trợ từ 「に」 hay với trợ từ「と」 hoặc bổ
nghĩa trực tiếp cho động từ mà không kết hợp với trợ từ nào, từ đó tính tần
suất sử dụng của chúng và vai trò bổ nghĩa cho động từ. Trong nghiên cứu này,
tác giả cũng đề cập đến mối tương quan giữa từ tượng thanh, tượng hình và
yếu tố thời gian trong tiếng Nhật.
Kim Mong Yeong [金夢瑩] (2017) tập trung nghiên cứu đặc trưng ý
nghĩa của các âm tiết đặc biệt /-Q/ (âm ngắt), /-N/ (âm /n/), /-ri/ khi góp phần
cấu tạo nên từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật.
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ [グエン・ティ・タイン・トゥイ] (2017) đã
tiến hành tìm hiểu các học viên Việt Nam học tiếng Nhật đang học từ mô
phỏng tiếng Nhật bằng phương pháp như thế nào, và làm sáng tỏ lập luận liệu
rằng cùng một tình huống khi miêu tả hiện tượng giống nhau, có sự tồn tại của
từ mơ phỏng tương ứng với tiếng Nhật hay không.
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ [グエン・ティ・タイン・トゥイ] (2018) tập
trung nghiên cứu mức độ sử dụng một cách hợp lý từ tượng thanh, từ tượng
hình tiếng Nhật của học viên Việt Nam, và năng lực sử dụng chúng khác nhau
như thế nào tùy theo kinh nghiệm sống ở Nhật và năng lực tiếng Nhật. Bên
cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu vấn đề khi học viên Việt Nam khơng biết
được từ tượng thanh, từ tượng hình phù hợp thì họ sẽ biểu đạt các ý tưởng
bằng ngơn ngữ với cách thức như thế nào.
Nakazato Michiko [中里理子] (2018) đã tiến hành khảo sát tất cả các từ
tượng thanh, từ tượng hình được sử dụng trong các tác phẩm trung đại tập
trung vào nhóm các tác phẩm truyền thuyết được ghi chép lại là“Kokon

Chomonjū” và “Shasekishū”, từ đó tổng hợp các đặc trưng của từ tượng thanh,
từ tượng hình của các câu chuyện truyền thuyết này.

8


Yoshinaga Nao [吉永尚] (2019) đã đưa ra cách phân loại từ tượng thanh,
từ tượng hình trong tiếng Nhật theo phương thức cấu tạo, và nêu lên các đặc
trưng của mỗi loại tương ứng.
Ono Masahiro [小野正弘] (2019) tìm ra sự thay đổi của ý nghĩa từ tượng
thanh, từ tượng hình trong tác phẩm văn học hiện đại.
Ngồi ra, cũng có học viên cao học đã nghiên cứu các đề tài về từ tượng
thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Chẳng hạn, Bùi Thị Hoa
[ブイ・ティ・ホア] (2014) đã nghiên cứu về hình thái của lớp từ này trong
hai ngơn ngữ, mối quan hệ về ngữ âm và ý nghĩa của chúng trong tiếng Việt
và tiếng Nhật, và tiến hành phân tích tình trạng chuyển dịch lớp từ này từ tiếng
Nhật sang tiếng Việt ở một số truyện tranh và một tác phẩm văn học của Nhật.
Ngoài ra tác giả cũng đã khảo sát các vấn đề khó khăn của học viên Việt Nam
khi học từ tượng thanh, từ tượng hình tiếng Nhật. Lương Thị Thùy Dương [ル
オン・ティ・トウー・ズオン] (2014) ngoài việc giới thiệu từ tượng thanh
trong tiếng Nhật, tập trung làm rõ mối tương quan giữa ý nghĩa và hình thái,
và tiến hành đối chiếu với lớp từ này ở tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng
và dị biệt của chúng trong hai ngơn ngữ, và tìm ra các đặc trưng về tư tưởng,
tình cảm của con người ở cả hai dân tộc.
Như vậy, mặc dù các tác giả ở Việt Nam và Nhật Bản có tiến hành
nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong hai ngơn ngữ tiếng Nhật và
tiếng Việt, nhưng chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về đặc điểm ngôn
ngữ của hai lớp từ này, đặc biệt đối với nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm
ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng) thông qua nguồn ngữ liệu các từ
điển hoặc các tác phẩm văn học của hai ngơn ngữ, qua đó có thể xác định

được nét tương đồng và dị biệt về khuynh hướng sử dụng các lớp từ này trong
hai ngôn ngữ và hiểu rõ hơn các yếu tố về văn hố, tâm lý ... của người Việt và
người Nhật thơng qua việc sử dụng từ tượng thanh, từ tượng hình. Vì thế, luận
văn này sẽ thực hiện đối chiếu các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng
của các lớp từ này trong hai ngôn ngữ để làm sáng tỏ các vấn đề trên.
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng trong nghiên
cứu ngôn ngữ
1.2.1.1 Bình diện ngữ pháp
Diệp Quang Ban & Hồng Văn Thung (1996) quan niệm rằng “Ngữ
pháp học” bao gồm “Từ pháp học” hay “Hình thái học” và “Cú pháp học”, vì
vậy đặc điểm ngữ pháp bao gồm đặc điểm về từ pháp hay hình thái và đặc
9


điểm cú pháp. Trong đó, “Từ pháp học” nghiên cứu cấu trúc nội tại của từ và
việc phân loại từ thành các lớp ngữ pháp (từ loại). Bên cạnh đó, “Cú pháp
học” nghiên cứu cách thức tổ chức các đơn vị lớn hơn từ và mối quan hệ của
chúng trong lời nói, nghiên cứu những cách kết hợp các yếu tố ngơn ngữ và
thường quy ước tính từ “từ” trở lên. Cú pháp học bao gồm ba bậc: cú pháp
cụm từ, cú pháp câu, cú pháp văn bản. Luận văn chỉ tập trung phân tích cú
pháp câu, tức là phân tích các đặc điểm cú pháp của đối tượng là câu. Cú pháp
câu nghiên cứu việc xác định câu và cấu tạo ngữ pháp bên trong của câu.
Ngoài ra, Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán (2007) nhận định rằng khi xét
về bình diện ngữ pháp, là bình diện của các mối quan hệ ngữ pháp trong câu,
các thành phần ngữ pháp của câu thường được quan tâm. Các thành phần ngữ
pháp của câu bao gồm các thành phần chính là chủ ngữ, vị ngữ, và các thành
phần phụ là định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ. Các thành phần chính là trung tâm
cấu trúc ngữ pháp của câu, trong khi đó các thành phần phụ hầu hết khơng thể
tự bản thân mình cấu tạo nên một câu độc lập. Theo Đỗ Hữu Châu & Bùi

Minh Toán (2007, tr.55), các thành phần ngữ pháp thông thường được định
nghĩa như sau:
- “Chủ ngữ là thành phần độc lập (tuyệt đối) về ngữ pháp và biểu hiện
đối tượng của thông báo, nghĩa là cái mà nội dung thơng báo trong câu
hướng tới nó”.
- “Vị ngữ là thành phần bán phụ thuộc về ngữ pháp (nó chỉ phụ thuộc
vào chủ ngữ) và thơng báo đặc trưng của đối tượng mà chủ ngữ biểu hiện”.
- “Định ngữ là thành phần phụ thuộc về ngữ pháp vào một danh từ và
biểu hiện đặc trưng của sự vật do danh từ biểu thị”.
- “Bổ ngữ là thành phần phụ thuộc về ngữ pháp vào động từ vị ngữ và
biểu hiện đối tượng của hoạt động do động từ vị ngữ biểu hiện”.
- “Trạng ngữ là thành phần phụ thuộc về ngữ pháp và biểu hiện đặc
trưng của đặc trưng”.
Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (2007) cũng xác định các thành phần
ngữ pháp của câu cũng là các phạm trù chức năng cú pháp. Ở đặc điểm ngữ
pháp, luận văn tập trung phân tích các đặc điểm về hình thức từ loại và các
chức năng cú pháp của các từ đó thực hiện trong câu.
1.2.1.2 Bình diện ngữ nghĩa
Theo Vũ Đức Nghiệu & Nguyễn Văn Hiệp (2009, tr. 319), “nghĩa của
ngôn ngữ được gọi là ngữ nghĩa. Nếu nói tắt thì gọi là nghĩa”. “Ngữ nghĩa
học” quan tâm đến các vấn đề về bản chất ngữ nghĩa, phân biệt các thành phần
và các kiểu loại nghĩa khác nhau, cấu trúc nghĩa của từ và cấu trúc nghĩa của
câu, các quan hệ ngữ nghĩa trong từ, trong hệ thống từ vựng và trong câu.
10


Nghĩa của từ có thể được xem xét ở góc độ nghĩa của từ và nghĩa của
câu. Ở góc độ nghĩa của từ, có thể xem xét các nội dung sở chỉ và sở thị, cơ
cấu nghĩa của từ, ngữ cảnh và nghĩa của từ. Ngồi ra, cịn có thể xem xét ở
góc độ quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng như đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng

âm, trường ngữ nghĩa, quan hệ bao nghĩa (Vũ Đức Nghiệu & Nguyễn Văn
Hiệp, 2009). Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa ở nội
dung trường ngữ nghĩa.
Theo định nghĩa của Vũ Đức Nghiệu & Nguyễn Văn Hiệp (2009, tr. 339),
“Trường ngữ nghĩa (còn được gọi là trường từ vựng) là những tiểu hệ thống,
những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về nghĩa với nhau
một cách có hệ thống. Ví dụ, các từ: bố, mẹ, ông, bà, cụ, kị, tổ, anh, chị, em,
cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, cháu, chắt… lập thành trường ngữ nghĩa những từ
chỉ quan hệ thân tộc. Như vậy, mỗi trường (ngữ) nghĩa có thể được coi như
một bộ phận của hệ thống từ vựng được xác định bằng một khái niệm chung
nào đó”, vì vậy, mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa.
Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
1.2.1.3 Bình diện ngữ dụng
Vũ Đức Nghiệu & Nguyễn Văn Hiệp (2009, tr. 358) đã định nghĩa “Ngữ
dụng học” là “bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ
trong giao tiếp, trong đó, nó đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa câu – phát
ngôn – với văn cảnh và tình huống mà phát ngơn được sử dụng. Nói một cách
vắn tắt thì ngữ dụng học quan tâm đến việc những nhân tố của tình huống
(người nói, người nghe, ý định của người nói, khơng gian, thời gian của giao
tiếp…) ảnh hưởng đến việc giải thích (hiểu) nghĩa của câu như thế nào cũng
như chi phối việc chọn lựa hình thức diễn đạt của câu như thế nào”. Những
nội dung mà ngữ dụng học chủ yếu quan tâm là: quy chiếu, hành động ngôn từ,
hội thoại, nghĩa hàm ẩn. Ở đặc điểm ngữ dụng, luận văn chỉ tập trung phân
tích nội dung nghĩa hàm ẩn của từ biểu thị ở các ngữ cảnh khác nhau.
“Nghĩa hàm ẩn” là “nghĩa khơng có sẵn trong câu chữ, có tính gián tiếp,
người nghe hay người đọc phải viện đến một sự suy luận nào đó mới hiểu
được” (Vũ Đức Nghiệu & Nguyễn Văn Hiệp, 2009, tr. 387).
1.2.2 Từ tượng thanh, từ tượng hình và phương thức cấu tạo
1.2.2.1 Từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt
a. Từ tượng thanh

Theo Đinh Trọng Lạc (1994, tr. 89), “Tượng thanh” là “biện pháp tu từ
ngữ âm, trong đó người ta cố ý bắt chước mô phỏng, biểu hiện một âm hưởng
trong thực tế khách quan, ngồi ngơn ngữ, bằng cách dùng phối hợp những
yếu tố ngữ âm có dạng vẻ tương tự”. Từ tượng thanh được dùng làm phương
tiện của biện pháp tượng thanh mô phỏng các âm thanh.
11


Theo Hồ Lê (1976, tr. 166), “Từ tượng thanh” là “một hiện tượng phổ
biến trong rất nhiều ngôn ngữ (nếu khơng phải là tất cả). Đó là những đơn
vị ngữ ngơn, có khả năng phản ánh hiện thực ngồi ngơn ngữ (cụ thể là
phản ánh trực tiếp những tiếng động trong hiện thực), và có thể hoạt động
tự do trong lời nói”.Theo sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập một (2011, tr.49),
từ tượng thanh là “từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người”.
Nguyễn Như Ý (1999) chỉ ra rằng từ tượng thanh từ phỏng theo âm thanh
trong tự nhiên, thực tế.
Ngoài những định nghĩa trên, Nguyễn Hữu Quỳnh (2001, tr. 93) định
nghĩa “Từ tượng thanh” là “những từ mô phỏng theo tiếng động của thiên
nhiên và các vật”, Đỗ Hữu Châu (1962) quan niệm từ tượng thanh được tạo ra
trước tiên để mô phỏng các âm thanh trong tự nhiên, trên cơ sở mô phỏng ấy,
các từ tượng thanh tạo ra cái vỏ ngữ âm để gọi tên sự vật, hiện tượng, Hồ Lê
(1976) lại cho rằng từ tượng thanh có khả năng mơ phỏng tiếng động một cách
sinh động và biểu cảm, vì thế sự mơ phỏng làm cho người nghe có thể liên
tưởng trực tiếp đến tiếng động tự nhiên – là nội dung ngữ nghĩa của nó qua
tiếng phát ra từ cơ quan phát âm và cách thức hoạt động của cơ quan phát âm.
Hoàng Văn Hành (2003) cho rằng từ tượng thanh gồm có những “từ
tiếng vang” thực sự, là những từ mơ phỏng trực tiếp, gần đúng âm thanh tự
nhiên, là những từ bắt chước, mô phỏng, gợi tả âm thanh tự nhiên (Ví dụ: kính
coong, thùng thùng, lộc cộc, ái ái, oai ối, í ới, nheo nhéo). Ngồi ra, từ tượng
thanh cịn bao gồm những từ mà sự mơ phỏng âm thanh chỉ là “hình thức bên

trong”, cịn chức năng chính của nó là gọi tên sự vật hay hiện tượng q trình
phát ra âm thanh do từ mơ phỏng. Trên thực tế, những từ này vốn dĩ là những
“từ tiếng vang”, từ “tượng thanh” nhưng chúng đã được chuyển nghĩa theo
phép hoán dụ để biểu trưng cho bản thân sự vật, hiệu quả, hay q trình phát
ra âm thanh đó (Ví dụ: chim bìm bip, xe cút kít, xe bình bịch, con cheo cheo
(danh từ), lục đục, rì rầm (động từ), chao chát, chát chúa (tính từ)). Những từ
tượng thanh biểu hiện quá trình phát ra âm thanh mà từ mô phỏng vốn dĩ bản
thân chúng không phải là từ mô phỏng những tiếng vang hiện thực.
Như vậy, trong tiếng Việt, phần lớn các tác giả đều thống nhất rằng từ
tượng thanh là những từ mô phỏng âm thanh, tiếng động của con người hay sự
vật, chúng được thành lập dựa trên sự mô phỏng âm thanh trong thế giới hiện
thực bằng ngơn ngữ, hay đó là lớp từ có vỏ ngữ âm mô phỏng theo lối trực
tiếp các âm thanh trong thực tế khách quan, trong đó mối liên hệ giữa đối
tượng mô phỏng (âm thanh hiện thực) với vỏ âm thanh của từ tương đối rõ
ràng, chất liệu âm thanh là đồng nhất (Diệp Quang Ban & Hoàng Văn Thung,
1996). Những từ này xuất hiện rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Đó có thể
là những tiếng nói, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng thở dài, tiếng động cơ, tiếng
12


động vật kêu. Từ tượng thanh đảm nhận chức năng thể hiện tất cả những âm
thanh ấy bằng ngôn ngữ. Chỉ bằng lời nói, người nghe cũng có thể hình dung
được những âm thanh ấy một cách rõ ràng và sinh động. Ngoài ra, theo quan
điểm của Hoàng Văn Hành (2003), nhóm từ biểu hiện q trình phát ra âm
thanh mà từ mô phỏng cũng thuộc về lớp từ tượng thanh. Luận văn đã dựa
theo quan điểm này của Hoàng Văn Hành để tiến hành phân tích.
b. Từ tượng hình
Theo định nghĩa của sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập một (2011, tr.49), “Từ
tượng hình” là “từ gợi hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật”. Nguyễn Như Ý
(1999) nhận định rằng các từ tượng hình phỏng theo hình ảnh, dáng vẻ của sự vật;

gợi lên hình ảnh làm liên tưởng tới sự vật cụ thể (Ví dụ: lom khom, gập ghềnh…).
Ngoài ra, Diệp Quang Ban & Hoàng Văn Thung (1996) quan niệm từ tượng hình
được hiểu là những từ ngữ mô phỏng “gián tiếp”, âm thanh hiện thực chỉ là
phương tiện đắc lực có thể gợi ra sự liên tưởng về hình ảnh đối tượng phản ánh
trong nhận thức và tư duy. Đây là những từ có cấu tạo theo lối biểu trưng âm –
nghĩa, mô phỏng gián tiếp đặc trưng hình thể của sự vật, hành động hoặc tính chất
(Ví dụ: lè tè, lênh khênh…). Các từ này thông qua mối liên hệ âm – nghĩa để
phản ánh các khái niệm và biểu tượng của sự vật... Theo Nguyễn Như Ý (1999),
từ tượng hình là những từ gợi lên hình ảnh làm liên tưởng đến các sự vật cụ thể.
Vì thế, có thể hiểu từ tượng hình là những từ mơ tả hình dáng, trạng thái nào đó
hay sự chuyển động, cách thức hành động… của người hoặc vật, qua đó có thể
khiến cho người nghe dễ dàng hình dung ra hình ảnh, trạng thái… của sự vật một
cách rõ nét. Vì thế từ tượng hình khác với từ tượng thanh, không mô phỏng các
âm thanh trong thực tế, mà từ tượng hình thơng qua âm thanh để gợi tả, mơ
phỏng các hình ảnh, trạng thái, thuộc tính… của hiện thực.
Ngồi ra, trong nghiên cứu của Hồng Văn Hành và nnk. (2001) về từ
láy cũng có đề cập đến các loại nghĩa của từ tượng hình nói chung là miêu tả
“phương thức của hành động hay quá trình”, “mức độ khác nhau của phẩm
chất, trạng thái như đo đỏ, xanh xanh, buồn bã...”, “mức độ khái quát, tổng
hợp của sự vật, hiện tượng”.
Theo Diệp Quang Ban (1989, tr.121), mối liên hệ quy chiếu của từ tượng
hình “có thể là hình ảnh cụ thể tri giác được và được phản ánh vào từ, nhưng
cũng có thể là một thứ ấn tượng tâm lý, thậm chí trạng thái tâm lý có được do
một hình ảnh nào đó gây ra ở con người và được con người phản ánh vào từ”.
Có rất ít các tác giả nghiên cứu về từ tượng hình trong tiếng Việt, tuy
nhiên, thơng qua các định nghĩa ở trên, trong nhóm các từ tượng hình, có thể
nhận thấy được tính có lý do của các từ tượng hình thể hiện dưới dạng phỏng
hình, phỏng lại hình ảnh của sự vật, từ tượng hình thường gợi lên hình ảnh
giống nhau của một số hoặc nhiều sự vật có cùng hình dáng, dáng vẻ, động tác,
13



trạng thái. Từ tượng hình có thể gợi tả hình dáng (Ví dụ: lom khom, lịng
khịng); gợi tả động tác (Ví dụ: thập thị, nhấp nhổm); gợi tả trạng thái (Ví dụ:
bâng khuâng, thấp thỏm); gợi tả hoạt động (Ví dụ: hủ hỉ, lê la); gợi tả màu sắc
(đo đỏ, tim tím, au au,)…
c. Phương thức cấu tạo từ tượng thanh, từ tượng hình
Theo Nguyễn Khánh Hà (2016), từ tượng thanh, từ tượng hình trong
tiếng Việt tồn tại dưới hai hình thức: từ đơn tiết và từ láy. Tuy nhiên dựa theo
các định nghĩa của hai lớp từ này, và thông qua kết quả khảo sát các “từ điển
tiếng Việt” (Hoàng Phê, 2019), “từ điển từ láy tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành,
2003) và “sổ tay từ tượng thanh tượng hình” (Nguyễn Khánh Hà, 2016), có
thể nhận thấy từ tượng thanh, từ tượng hình tiếng Việt được được tạo thành từ
1 âm tiết (từ đơn tiết), hoặc 2 âm tiết trở lên (từ đa tiết, có thể là từ ghép, từ láy
hoặc từ ngẫu hợp). Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc rất chặt chẽ, ở dạng đầy đủ
nhất bao gồm 5 phần: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu. Tiếng
Việt là ngơn ngữ đơn lập, vì vậy đa số âm tiết, hay tiếng thường trùng với hình
vị, đa số âm tiết trong tiếng Việt đều có khả năng biểu hiện ý nghĩa, và có thể
hoạt động như từ đơn (Đoàn Thiện Thuật, 2007).
Từ tượng thanh, từ tượng hình là từ đơn tiết được hình thành bằng
phương thức dùng một tiếng tạo thành, còn các từ đa tiết thì do phương thức tổ
hợp các tiếng lại với nhau theo quan hệ ngữ nghĩa hoặc quan hệ ngữ âm, các
phương thức được sử dụng có thể là phương thức ghép hoặc láy.
Đối với từ đơn tiết là từ tượng thanh, theo một số tác giả (Nguyễn Hữu
Quỳnh (2001), Hữu Đạt và nnk. (1998), Hồ Lê(1976)), có một bộ phận từ
tượng thanh là từ đơn tiết, những từ này là các từ mơ phỏng âm thanh, tiếng
động tự nhiên (cịn gọi là từ đơn tượng thanh) như là bịch, meo, ọ, ẹ,… Bên
cạnh đó, cịn có một số từ tượng thanh như là cục tác, cà um, um ma…, những
từ này giữa các âm tiết hồn tồn khơng có mối quan hệ ngữ âm cũng như ngữ
nghĩa, cho nên có thể xếp chúng vào nhóm từ ngẫu hợp. Những từ này có số

lượng khơng lớn, nhưng cũng có vai trị quan trọng trong lớp từ tượng thanh,
chúng thường được sử dụng để mô phỏng âm thanh, tiếng động ngắn do người
hoặc động vật… phát ra.
Đối với từ đơn tiết là từ tượng hình, đa số các nhà nghiên cứu khơng đề
cập đến một cách rõ ràng trong các cơng trình nghiên cứu, Nguyễn Khánh Hà
(2016) tuy có đề cập đến từ đơn tiết là từ tượng thanh tượng hình nhưng đối với
từ tượng hình, tác giả chỉ thống kê một từ “bủng” duy nhất trong cơng trình của
mình. Tuy nhiên, trong từ điển tiếng Việt có tồn tại các từ có tác dụng gợi tả
những hình ảnh, màu sắc, trạng thái… của sự vật, hiện tượng (Ví dụ: chói, rực,
cịng, queo, au, lè,…), những từ đơn tiết như thế này có thể được nhận định là từ
tượng hình thơng qua cách lý giải của Hoàng Văn Hành. Tuy vậy, rất nhiều từ
14


trong số những từ này thường được sử dụng như là yếu tố phụ của danh từ, tính
từ…, hoặc kết hợp với một số yếu tố chính khác trong một số tổ hợp (là từ ghép,
từ láy…) như là đỏ chói, xanh lè, đỏ rực, cong vắt,… cho nên hầu hết chúng
thường được đề cập đến ở các trường hợp từ ghép, từ láy.
So với từ đơn tiết, từ tượng thanh, từ tượng hình là từ đa tiết có số lượng
lớn hơn nhiều. Các từ đa tiết có thể được tạo nên bởi phương thức ghép (là từ
chứa hai (hoặc hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung khơng có hiện tượng hồ
phối ngữ âm tạo nghĩa (Diệp Quang Ban & Hoàng Văn Thung, 1996)). Hầu
hết các nhà nghiên cứu đều phân loại từ ghép thành hai kiểu chính là từ ghép
đẳng lập (từ ghép có các từ tố trong tổ hợp có giá trị bình đẳng với nhau như là
gầm rú, hò hét, xiêu vẹo, ngả nghiêng) và từ ghép chính phụ (từ ghép trong đó
có một từ tố giữ vai trị chính cịn từ tố thứ hai có vai trị phụ bổ nghĩa cho nó
(Ví dụ:cười khà, cười khì, cười ồ, đỏ lịm, xanh lè, sáng chói, mềm nhũn)
(Hữu Đạt và nnk., 1998).
Từ tượng thanh, từ tượng hình là từ đa tiết có thể được tạo ra bởi phương
thức láy. Trong từ láy các tiếng láy vừa phải đồng nhất (điệp), vừa phải khác đi

(đối) ít hay nhiều so với tiếng gốc. Sự khác biệt này về mặt ngữ âm có thể xảy ra
ở hai bộ phận của âm tiết tiếng Việt (phụ âm đầu và vần), hoặc xảy ra ở thanh
điệu, hoặc ở trọng âm (Đỗ Hữu Châu, 1997). Các yếu tố này của âm tiết đều có
một vai trị quan trọng trong việc hình thành nên sự hòa phối ngữ âm khi cấu tạo
từ láy. Cũng như các từ láy thông thường, từ tượng thanh, từ tượng hình được
hình thành bởi phương thức láy tồn tại ở các dạng từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư.
Đối với dạng láy đôi, nhiều tác giả tiến hành phân chia theo hai loại: từ
láy toàn bộ và từ láy bộ phận, từ láy đôi bao gồm 6 kiểu:
+Kiểu 1: điệp phụ âm đầu, vần và thanh (đối trọng âm1 ở tiếng gốc và
tiếng láy) (Ví dụ: âm âm, au au).
+Kiểu 2: điệp phụ âm đầu và khuôn vần (đối thanh điệu2 ở tiếng gốc và
tiếng láy theo quy tắc hài thanh (đối trắc bằng cùng âm vực3)) (Ví dụ: chiu
chíu, anh ánh).
+Kiểu 3: điệp phụ âm đầu, đối khn vần và thanh (có sự chuyển đổi âm
cuối theo quy luật dị hoá âm cuối, các âm tiết gốc có phụ âm tận cùng bằng
các âm tắc –p, -t, -k4 được láy lại và chúng dị hóa thành các âm mũi ở tiếng
láy (-p thành –m, -t thành –n, -k thành –ng5)) (Ví dụ: chiêm chiếp, bàng bạc).
Trọng âm là sự phát âm nhấn mạnh vào một âm tiết hay một từ nào đó hơn những âm tiết hoặc từ
khác trong cùng chuỗi lời nói ra để làm nổi bật nó lên. Trọng âm trong tiếng Việt được nhấn mạnh
trong câu được phát âm với độ dài dài hơn các âm tiết khác, hay nói cách khác trọng âm được nêu bật chủ
yếu bằng cách tăng cường trường độ của nguyên âm.
2
Thanh điệu gồm thanh bằng (ngang, huyền) kết hợp với thanh trắc (hỏi, ngã, sắc, nặng).
3
Thanh điệu có âm vực cao (ngang, hỏi, sắc), âm vực thấp (huyền, ngã, nặng).
4
thể hiện bằng chữ -c và –ch
5
thể hiện bằng chữ -ng và –nh
1


15


×