Tải bản đầy đủ (.pdf) (162 trang)

Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.92 MB, 162 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số: 8380104

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Học viên
: Nguyễn Thị Minh Phượng
Lớp
: Cao học luật, An Giang, Khóa 2

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa và tơi hồn toàn chịu
trách nhiệm về nội dung của Luận văn này. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa
được công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả
các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Vậy tơi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh xem xét để tơi có thể bảo vệ Luận văn.
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Minh Phượng


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sự
TAND : Tịa án nhân dân
TNHS : Trách nhiệm hình sự


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. DẤU HIỆU ĐỊNH TỘI CỦA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN ...........6
1.1. Quy định của pháp luật về dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản ....6
1.2. Thực tiễn xác định dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản và một số
kiến nghị ...............................................................................................................15
1.2.1. Thực tiễn xác định dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản ................15
1.2.2. Một số kiến nghị về xác định dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản ....

............................................................................................................................ 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 25
CHƯƠNG 2. DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “DÙNG THỦ ĐOẠN NGUY HIỂM”
VÀ “HÀNH HUNG ĐỂ TẨU THOÁT” CỦA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN ....26
2.1. Quy định của pháp luật về dấu hiệu “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và
“hành hung để tẩu thoát” ...................................................................................26
2.2. Thực tiễn áp dụng dấu hiệu “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, “hành hung để
tẩu thoát” và một số kiến nghị ...........................................................................31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 40
KẾT LUẬN ..............................................................................................................41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản và quan trọng của con người,
của công dân được Hiến pháp và pháp luật chú trọng bảo vệ. Người có hành vi xâm
hại quyền sở hữu của người khác thì tùy trường hợp mà có thể phải chịu những loại
chế tài về dân sự, hành chính, hình sự… Bộ luật Hình sự (BLHS), với nhiều điều
luật, tương ứng với những tội danh khác nhau với chế tài tài nghiêm khắc nhất là
hình phạt, đã bảo vệ khá tốt quyền ấy. Tội cướp giật tài sản là một trong những tội
phạm thực hiện chức năng đó, là tội phạm có tính chất chiếm đoạt, tội này bảo vệ
quyền sở hữu của con người trước hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó
để có thể hiểu rõ hơn về tội này một cách khoa học thì việc nghiên cứu đề tài là cần
thiết. Kết quả nghiên cứu chẳng những những giúp hoàn thiện về mặt lập pháp mà
còn giúp những nhà thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật được đúng đắn hơn, qua
đó bảo vệ tốt hơn quyền sở hữu của con người.
Cướp giật tài sản là tội phạm xảy ra khá phổ biến trên thực tế. Việc áp dụng

pháp luật để xử lý tội phạm này cũng theo đó mà diễn ra thường xun hơn, chính
vì vậy, áp dụng pháp luật hình sự một cách đúng đắn để giải quyết vụ án là một đòi
hỏi tất yếu. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tiễn, tác giả nhận thấy còn một số bản án
đã có những sự nhầm lẫn hoặc sai sót nhất định, dẫn đến việc giải quyết vụ án chưa
được chính xác. Các nhầm lẫn đó có thể kể ra như: phân biệt chưa đúng giữa tội
cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
cướp tài sản; việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự
(TNHS) cũng có chỗ chưa chính xác, nhầm lẫn về dấu hiệu “dùng thủ đoạn nguy
hiểm”, nhầm lẫn giữa dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” với tội cướp tài sản…
Trong khi về mặt lý luận, vẫn còn tồn tại một số quan điểm chưa thống nhất liên
quan đến đề tài; về văn bản hướng dẫn áp dụng thì lại chưa được quy định chi tiết,
cụ thể và do đó, việc nhầm lẫn, sai sót là điều khó tránh. Từ đó, cần có một cơng
trình nghiên cứu chun sâu về mặt thực tiễn để giúp hoạt động áp dụng pháp luật
hình sự được đúng đắn và thống nhất trong xét xử liên quan đến tội cướp giật tài sản
cũng là nhu cầu cần thiết.
Với sự phát triển về kinh tế - xã hội của nền kinh tế thị trường đã mang lại
những mặt trái cho đời sống như: sự phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, tệ nạn…
Trong đó tình hình tội phạm, nhất là các tội phạm có tính chất chiếm đoạt, cũng gia


2
tăng đáng ngại. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ trong việc bảo vệ, bảo đảm các
quyền cơ bản của cơng dân trong đó có quyền sở hữu. Liên quan đến các tội phạm
xâm hại về sở hữu, tội phạm cướp giật tài sản trở thành vấn đề đáng lưu tâm, đang
gây nhiều lo lắng cho người dân. Bộ luật Hình sự, với quy định về tội phạm và hình
phạt, là công cụ sắc bén của Nhà nước nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ
vững an ninh trật tự, an tồn cho xã hội. Do đó việc nghiên cứu về tội cướp giật tài
sản là điều cần thiết, góp phần đẩy lùi loại tội phạm này.
Chính vì những lý do trên tác giả quyết định chọn đề tài Tội cướp giật tài sản
theo Luật hình sự Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, liên quan đến đề tài Tội cướp giật tài sản theo luật
hình sự Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả, với nhiều cơng trình rộng, hẹp khác
nhau quan tâm nghiên cứu.
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần chung (Nhà xuất bản Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam, năm 2019) của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Giáo trình có nội dung rộng, viết về các chế định ở phần chung của BLHS 2015.
Liên quan đến đề tài của Luận văn, Giáo trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ
bản về các dấu hiệu định tội của tội phạm nói chung. Luận văn đã kế thừa những kết
quả này trong đề tài của mình khi nghiên cứu đối với tội cướp giật tài sản.
Sách Luật Hình sự Việt Nam (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh, năm 2019) của các tác giả Trần Thị Quang Vinh, Vũ Thị Thúy. Sách này
có nội dung rộng, viết về toàn bộ các chế định ở phần chung và các tội phạm ở phần
các tội phạm của BLHS 2015. Trong đó, về phần chung, sách cũng làm rõ về những
vấn đề lý luận cơ bản về các dấu hiệu định tội của tội phạm nói chung; đối với tội
cướp giật tài sản, sách đã trình bày đầy đủ về các dấu hiệu định tội của tội cướp giật
tài sản.
Sách Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Phần các tội phạm, Tập II, Các tội
xâm phạm sở hữu (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005) của tác giả
Đinh Văn Quế. Sách này có nội dung rộng, viết về các tội xâm phạm sở hữu. Trong
đó, về tội cướp giật tài sản đã được sách trình bày khá đầy đủ về các dấu hiệu định
tội của tội cướp giật tài sản.
Luận văn thạc sĩ Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở
số liệu địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh) (Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
năm 2014) của tác giả Trần Hữu Nghĩa. Đây là đề tài trùng tên với đề tài của tác giả


3
nhưng có gắn với một địa phương cụ thể. Cơng trình này là luận văn thạc sĩ định
hướng nghiên cứu và đã đạt được những kết quả như: khái quát lịch sử lập pháp

hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản; làm rõ các dấu hiệu pháp lý và đường lối
xử lý; phân biệt tội cướp giật tài sản với các tội cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và cơng nhiên chiếm đoạt tài sản; nêu lên tình hình
thực tiễn chủ yếu ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; đóng góp một số giải pháp
hồn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng. Tuy nhiên, công trình
này sử dụng q ít dung lượng trong việc phân biệt tội cướp giật tài sản với tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản và do đó, chưa làm rõ hết các vấn đề mà pháp luật và thực
tiễn đặt ra về chủ đề này.
Luận văn thạc sĩ Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam (Trường
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014) của tác giả Trần Văn Hiệp. Đây
cũng là đề tài trùng tên với đề tài của tác giả và là luận văn định hướng nghiên cứu.
Về mặt lý luận, cơng trình làm rõ những nhận thức chung về tội cướp giật tài sản,
có sự phân biệt với một số tội phạm xâm phạm sở hữu khác. Về mặt thực tiễn, cơng
trình cũng chỉ ra một số sai sót, vướng mắc trong hoạt động áp dụng. Cơng trình
cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hồn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu
quả áp dụng trong thực tiễn.
Luận văn thạc sĩ Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam (Trường
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018) của tác giả Nguyễn Văn Lộc. Đây
cũng là đề tài trùng tên với đề tài của tác giả và cũng luận văn định hướng ứng
dụng. Cơng trình này nêu lên được dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản và một
số tình tiết định khung hình phạt. Cơng trình cũng có đưa ra một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Bài viết Tội cướp giật tài sản và vấn đề chuyển hóa tội phạm theo pháp luật
hình sự Việt Nam (Tạp chí Tịa án nhân dân số 19 năm 2017) của tác giả Phạm
Minh Tuyên. Tác phẩm này làm rõ dấu hiệu hành vi khách quan của tội cướp giật
tài sản và vấn đề chuyển hóa từ tội cướp giật tài sản thành tội cướp tài sản.
Bài viết Bàn về tội “cướp giật tài sản” và tội “công nhiên chiếm đoạt tài
sản” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (Tạp chí Kiểm sát số 19 năm 2012) của tác
giả Đặng Thúy Quỳnh. Tác phẩm này làm rõ dấu hiệu hành vi khách quan của hai
tội này và phân biệt giữa chúng.

Như vậy, Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam không phải là đề
tài mới mà vốn đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, với


4
những đề tài rộng, hẹp khác nhau. Ở Luận văn này tác giả kế thừa toàn bộ những cơ
sở lý luận cũng như cơ sở pháp lý cơ bản của tội cướp giật tài sản. Cụ thể, về khái
niệm tội cướp giật tài sản, về những dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản…
Điểm mới của Luận văn là đi sâu phân tích những điểm khác biệt mà thực tiễn hay
nhầm lẫn như: giữa tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa
đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, cướp tài sản; giữa dấu hiệu định khung
“dùng thủ đoạn nguy hiểm” với “hành hung để tẩu thoát”, “hành hung để tẩu thốt”
với tội cướp tài sản… Ngồi ra, Luận văn cịn bổ sung một số giải pháp nhằm giúp
cho hoạt động thực tiễn được chính xác hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là kiến nghị hồn thiện pháp luật hình sự và đề
xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội
cướp giật tài sản.
Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận và quy
định của pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản. Bên cạnh, Luận văn cũng đánh
giá thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản và các tội
có liên quan, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập đang tồn tại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu những quan điểm khoa học về tội cướp giật tài sản; các
quy phạm pháp luật về tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS 2015) và thực tiễn áp
dụng pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản.
Về thời gian, Luận văn nghiên cứu các trường hợp phạm tội xảy ra từ ngày
01/01/2013 đến ngày 30/9/2022. Về không gian, Luận văn nghiên cứu các tội phạm
mà thực tiễn xét xử đã xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Mặc dù BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, nhưng các quy

định về dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản không thay đổi. Do vậy, để đánh
giá toàn diện và đầy đủ thực tiễn xét xử, Luận văn chọn thời gian khảo sát là
khoảng 10 năm.
Về nội dung, Luận văn nghiên cứu 2 vấn đề: dấu hiệu định tội của tội cướp
giật tài sản và một số dấu hiệu định khung của tội cướp giật tài sản, gồm: dấu hiệu
“dùng thủ đoạn nguy hiểm” và dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát”.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử.


5
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: để làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài, Luận
văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các quan điểm khoa học; để làm rõ
quy định của pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản, Luận văn sử dụng phương
pháp phân tích luật, đối chiếu các quy định để tìm ra các điểm khác nhau cần phân
biệt; để thực hiện nhiệm vụ đánh giá thực tiễn áp dụng, Luận văn sử dụng phương
pháp nghiên cứu án điển hình, so sánh các bản án có những điểm tương tự nhau với
sự đối chiếu với các quan điểm khoa học và quy định của pháp luật tương ứng.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Luận văn gồm 2 chương như sau:
Chương 1. Dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản.
Chương 2. Dấu hiệu định khung “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “hành hung
để tẩu thoát” của tội cướp giật tài sản.


6
CHƯƠNG 1
DẤU HIỆU ĐỊNH TỘI CỦA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1. Quy định của pháp luật về dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản

Dấu hiệu định tội là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy
đủ tính chất nguy hiểm của một tội phạm và để phân biệt tội phạm này với tội phạm
khác. Đó là những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của một
tội phạm cụ thể được quy định trong phần Các tội phạm của Bộ luật Hình sự
(BLHS). Cụ thể, tội cướp giật tài sản có những dấu hiệu định tội sau đây.
Khách thể trực tiếp và đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản:
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội mà Luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm phạm1. Tội cướp giật tài sản xâm phạm đến quyền sở hữu. Cụ thể,
người phạm tội với hành vi cướp giật tài sản đã gây ra hậu quả là làm mất đi quyền
năng sở hữu (bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) tài sản trên thực tế của
chủ sở hữu.
Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm,
bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các
quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của Luật Hình sự 2. Với hành vi cướp giật tài sản,
người phạm tội tác động lên tài sản của người khác, nhằm dịch chuyển tài sản đó
thành của mình (bằng thủ đoạn cơng khai và nhanh chóng). Hậu quả là làm cho
quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu khơng cịn bình thường nữa, cụ thể, chủ sở hữu
đã mất đi quyền chiếm hữu và định đoạt tài sản đó trên thực tế. Như vậy, đối tượng
tác động của tội cướp giật tài sản là tài sản.
Tuy nhiên, đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản là những tài sản thông
thường với khách thể là quan hệ sở hữu. Cịn nếu người phạm tội có hành vi cướp
giật những loại tài sản đặc biệt như: ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ… thì lúc
này quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, tức khách thể, là chế độ quản lý đặc
biệt của Nhà nước đối với những loại tài sản đặc biệt trên. Tội danh tương ứng sẽ là
chiếm đoạt chất ma túy, chiếm đoạt vũ khí qn dụng, chiếm đoạt vật liệu nổ… mà
khơng phải là cướp giật tài sản.
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản:
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm. Bất kỳ tội phạm
nào cũng được thể hiện ra bên ngoài, phản ánh trong thế giới khách quan.
Trần Thị Quang Vinh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt

Nam, tr.108.
2
Trần Thị Quang Vinh, tlđd (1), tr.116.
1


7
Về dấu hiệu hành vi khách quan:
Khoản 1 Điều 171 BLHS 2015 quy định: Người nào cướp giật tài sản của
người khác, thì bị phạt tù… Như vậy, hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản được
nhà làm luật quy định giản đơn. Tuy hành vi cướp giật tài sản không được nhà làm luật
mô tả cụ thể nhưng khoa học luật hình sự thống nhất rằng: cướp giật tài sản là chiếm
đoạt tài sản một cách công khai và nhanh chóng3. Hành vi cướp giật tài sản được giải
thích là hành vi chiếm đoạt tài sản với thủ đoạn cơng khai và nhanh chóng. Hành vi
chiếm đoạt tài sản một lần nữa cũng không được nhà làm luật mô tả cụ thể (ở tội cướp
giật tài sản cũng như ở các tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản…). Khoa học luật hình sự cũng thống nhất rằng: chiếm đoạt tài sản là dịch chuyển
tài sản của người khác thành của mình (về mặt thực tế) một cách trái pháp luật.
Hiểu đúng khái niệm hành vi khách quan của tội phạm giúp xác định hành vi
trên thực tế đã thỏa mãn toàn bộ hay một phần hành vi khách quan hay chỉ là hành
vi đi liền trước hành vi khách quan. Để từ đó giúp xác định đúng giai đoạn thực
hiện tội phạm. Liên quan đến dấu hiệu hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản,
thực tiễn ghi nhận tình huống như sau:
Ví dụ 1: Vào tối ngày 07/02/2019, Lê Thành P cùng 02 người bạn tên
Nguyễn Ngọc S và T (khơng rõ lai lịch) th phịng tại khách sạn Hồng L, địa chỉ
740/1 Âu C, Phường E, quận B. Đến khoảng 06 giờ ngày 08/02/2019, T điều khiển
xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius (không rõ biển số) chở P đi uống cà phê. Đến
khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến số 61 Trương Công Đ, Phường I, quận
B, cả hai phát hiện chị Phan Nguyễn Phân T đang điều khiển xe gắn máy đi cùng
chiều, trên vai chị T có đeo túi xách hiệu MK chéo qua người. T rủ P giật túi xách

cho chị T, P đồng ý. T điều khiển xe vượt qua mặt chị T rồi vòng xe lại áp sát bên
trái chị T để P ngồi sau dùng tay phải nắm dây kéo túi xách của chị T và giật mạnh,
nhưng do dây đeo túi không đứt khiến cả hai xe máy ngã ra đường. Chị T tri hô. P
chạy bộ đến trước nhà số 116 Trương Cơng Đ thì bị quần chúng bắt được giao
công an giải quyết, riêng T điều khiển xe chạy thoát.
[…]
Trong vụ án này, bị cáo chưa giật được chiếc túi xách thì bị ngã xe và bị bắt,
thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”, là tình tiết quyết định hình phạt theo quy
định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự4.
3
4

Trần Thị Quang Vinh (2019), Luật Hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.386.
Bản án số 121/2019/HS-ST ngày 24/10/2019 của TAND quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.


8
Đây là tình huống mà lý luận cũng như thực tiễn cịn có sự lúng túng trong
việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm. Sự lúng túng này bị kéo theo bởi sự
lúng túng của việc xác định tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức
hay cấu thành vật chất.
Quan điểm theo cấu thành hình thức khẳng định: tội cướp giật tài sản chỉ đòi
hỏi dấu hiệu hành vi khách quan là cướp giật tài sản, khơng có u cầu về hậu quả
nên tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi khách quan, tức hành
vi cướp giật tài sản, không phụ thuộc vào việc tài sản đã bị hay chưa bị chiếm đoạt 5.
Theo quan điểm này, một lần nữa cần làm rõ khái niệm hành vi cướp giật tài
sản để từ đó có thể khẳng định hành vi đã thực hiện trên thực tế có phải là hành vi
cướp giật tài sản hay chưa, hay chỉ là hành vi dịch chuyển tài sản, tức hành vi giật
tài sản (hành vi đi liền trước hành vi cướp giật tài sản). Cướp giật tài sản là chiếm
đoạt tài sản (với thủ đoạn cơng khai và nhanh chóng). Chiếm đoạt tài sản là dịch

chuyển tài sản của người khác thành của mình trái pháp luật. Thành của mình có
nghĩa là, mình trở thành “chủ sở hữu” tài sản đó và có thể thực hiện bất kỳ quyền
năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt như mong muốn trên thực tế. Trong khi đó, giật
(tài sản) là lấy (tài sản) về mình bằng động tác đột ngột, mạnh, nhanh, gọn. Một lần
nữa có thể thấy sự khác biệt ở hai khái niệm này chính là: giật là lấy về mình, tức
chỉ nói đến sự dịch chuyển về mặt khoảng cách vật lý, còn cướp giật là dịch chuyển
(tài sản) của người khác thành của mình, tức nói đến sự dịch chuyển quyền sở hữu
về mặt thực tế (trong đó bao gồm ln cả việc dịch chuyển về mặt khoảng cách vật
lý). Do đó, theo quan điểm này, nếu người phạm tội chỉ mới thực hiện hành vi dịch
chuyển tài sản (giật) nhưng tài sản đó chưa “trở thành của mình”, chưa vào trong sự
quản lý, chi phối của người phạm tội (tài sản giật bị vướng lại, không giật được) nên
hành vi dịch chuyển tài sản đó chưa là hành vi chiếm đoạt tài sản (cướp giật tài
sản). Do đó, nếu người phạm tội có hành vi giật tài sản, nhưng tài sản bị vướng lại,
tài sản không vào trong sự quản lý, chi phối của người phạm tội, là thuộc trường
hợp phạm tội chưa đạt. Chỉ khi nào tội cướp giật tài sản được nhà làm luật cắt xén
dấu hiệu chiếm đoạt tài sản từ hành vi thành mục đích để quy định thành cấu thành
cắt xén như: Người nào giật tài sản của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản đó thì
bị phạt tù… thì lúc này vấn đề sẽ có sự khác biệt lớn, tội phạm hoàn thành ngay khi
thực hiện hành vi giật tài sản (hành vi dịch chuyển tài sản về khoảng cách vật lý).
Nguyễn Ngọc Thùy Vân (2020), Tội cướp giật tài sản từ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, tr.10, 11.
5


9
Quan điểm theo cấu thành vật chất khẳng định: tội cướp giật tài sản có yêu
cầu hậu quả, hậu quả phải là một (hay nhiều) tài sản có giá trị (lớn hơn khơng) mà
nạn nhân bị chiếm đoạt. Do đó, chỉ khi nào người phạm tội giật được tài sản thì tội
phạm mới hồn thành 6. Tuy nhiên, cấu thành vật chất ở tội cướp giật tài sản theo
mơ hình dù hậu quả chưa xảy ra thì người thực hiện hành vi cũng phạm tội nhưng ở

giai đoạn phạm tội chưa đạt, chứ không phải là không phạm tội. Theo quan điểm
này thì trong trường hợp người phạm tội có hành vi giật nhưng tài sản bị vướng lại,
tài sản chưa vào trong sự chi phối của người phạm tội, chưa ra khỏi sự chi phối của
bị hại, bị hại chưa bị chiếm đoạt tài sản, chưa bị mất quyền sở hữu thực tế đối với
tài sản đó, hậu quả chưa xảy ra, nên là phạm tội chưa đạt.
Lý luận về việc xác định tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành hình
thức hay cấu thành vật chất hiện vẫn chưa thể thống nhất được. Tác giả tán thành
quan điểm thứ nhất, tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức. Ngồi
ra điều đặc biệt là, cả hai quan điểm đều dẫn đến chung một hệ quả: cả hai tình
huống trên (tình huống tài sản bị người phạm tội giật nhưng bị vướng lại, tài sản
chưa vào trong sự chi phối của người phạm tội, chưa ra khỏi hoàn toàn sự chi phối
của bị hại, đều là phạm tội chưa đạt. Với tính chất của cơng trình này là luận văn
ứng dụng, tác giả hi vọng các Tòa án mạnh dạn khẳng định và xét xử theo giai đoạn
phạm tội chưa đạt như Bản án trên là chính xác 7.
Ngồi ra, trong một số trường hợp, người phạm tội có hành vi dùng vũ lực để
cướp giật tài sản và do đó dễ gây nhầm lẫn với tội cướp tài sản. Tội cướp giật tài
sản và tội cướp tài sản giống nhau ở chỗ đều là các tội xâm phạm sở hữu và là các
tội có tính chất chiếm đoạt. Song, chúng khác nhau cơ bản ở chỗ, chiếm đoạt tài sản
là dấu hiệu hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản nhưng chỉ là dấu hiệu mục
đích của tội cướp tài sản. Trong tội cướp tài sản, người phạm tội dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng
không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi dùng vũ lực ở đây làm
đè bẹp sự kháng cự về thân thể hoặc tinh thần để chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt tài
sản chỉ cần là dấu hiệu mục đích (dấu hiệu thuộc mặt chủ quan) của tội cướp tài sản,
do đó nếu trong thực tế vụ án cướp tài sản mà người phạm tội có ln hành vi
chiếm đoạt tài sản (dấu hiệu thuộc mặt khách quan) thì mục đích chiếm đoạt tài sản
Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Phần các tội phạm, Tập II, Các tội xâm phạm
sở hữu, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.157.
7
Xem thêm mục Về dấu hiệu hậu quả của Luận văn này.

6


10
đương nhiên đã thỏa mãn và được chứng minh xong. Trong trường hợp này người
phạm tội chiếm đoạt được tài sản nên có tính chất, mức độ nguy hiểm hơn so với
trường hợp tương tự về các dấu hiệu khác nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản. Tòa
án cần cân nhắc với mức hình phạt nghiêm khắc hơn. Cịn trong tội cướp giật tài sản
người phạm tội không sử dụng vũ lực để làm đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân mà
chỉ lợi dụng sơ hở của nạn nhân để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách
cơng khai và nhanh chóng. Do đó, trong trường hợp người phạm tội có hành vi cơng
khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản mà có thêm hành vi dùng vũ lực thì cần phải
xem xét hành vi dùng vũ lực đó thỏa mãn hành vi cướp tài sản hay khơng, nhất là
trong trường hợp có sự chuyển hóa tội phạm, để bảo đảm xác định đúng tội danh.
Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp người phạm tội cướp giật tài sản
có hành vi tác động đến thân thể nạn nhân nhằm tạo điều kiện thuận lợi để dễ dàng
chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp này cần phải xem xét thận trọng để phân biệt
giữa tội cướp tài sản với tội cướp giật tài sản. Ví dụ người phạm tội tác động những
hành vi lên thân thể nạn nhân như: ngáng chân làm cho nạn nhân ngã rồi chộp lấy
tài sản bỏ chạy, đánh vào tay người đang cầm tài sản để nạn nhân buông tay làm rơi
tài sản ra rồi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản đó… Những trường hợp như thế cho
thấy tuy người phạm tội có dùng vũ lực nhưng khơng phải là tội cướp tài sản bởi vì
hành vi dùng vũ lực như vậy không đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân, nạn nhân
cũng khơng lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được mà chỉ có tác dụng tạo
thuận lợi cho việc chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn nhanh chóng mà thôi. Tuy
nhiên, với thủ đoạn thực hiện tội phạm như vậy sẽ làm cho tội cướp giật tài sản trở
nên nguy hiểm hơn, Tòa án cần cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Về dấu hiệu thủ đoạn cơng khai:
Dấu hiệu này chỉ cách thức mà người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản là diễn ra một cách cơng khai, khơng có sự che giấu đối với chủ sở hữu, quản

lý và mọi người xung quanh. Mọi người, đặc biệt là chủ sở hữu, quản lý sẽ nhận
biết ngay khi hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện. Người phạm tội chấp nhận
việc cơng khai đó. Cũng cần lưu ý, dấu hiệu công khai ở đây là chỉ cần công khai
hành vi chiếm đoạt tài sản chứ khơng địi hỏi phải cơng khai người phạm tội, người
phạm tội có thể che kín mặt để khơng ai có thể nhận diện khi cướp giật tài sản.
Công khai là dấu hiệu đặc trưng, bắt buộc của tội cướp giật tài sản, đồng thời cũng
là dấu hiệu phân biệt chủ yếu giữa tội cướp giật tài sản với tội trộm cắp tài sản (với
dấu hiệu thủ đoạn đặc trưng, bắt buộc là lén lút).


11
Ví dụ 2: Tại trước số 623 X, Phường C, quận Y, L điều khiển xe đi từ bên
phải S bên trái đường đi ngược chiều từ phía sau chạy lên áp sát bên phải ông T rồi
trực tiếp dùng tay trái cướp giật được điện thoại sau đó chuyền ra sau cho S cầm
giữ chiếc điện thoại trên để L tăng ga bỏ chạy thì ơng T tri hơ và người dân xung
quanh đuổi theo đến cầu Kinh – Thanh Đa thì ép xe giữ được L và S cùng vật chứng
giao cơng an xử lý8.
Đây là tình huống mà dấu hiệu công khai thường xảy ra nhất, thể hiện rõ nét
nhất. Hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách công khai, không những
công khai với nạn nhân là ơng T mà cịn cơng khai với những người xung quanh nơi
phạm tội. Thực vậy, ông T nhận biết ngay khi hành vi chiếm đoạt tài sản được thực
hiện nên đã hơ hốn và cùng người dân đuổi theo bắt giữ người phạm tội.
Về dấu hiệu thủ đoạn nhanh chóng:
Như trên đã phân tích về dấu hiệu cơng khai, theo đó, người phạm tội chấp
nhận việc hành vi chiếm đoạt tài sản bị phát hiện. Và hiển nhiên chủ sở hữu, quản lý
ngay khi nhận biết bị chiếm đoạt sẽ cố gắng mọi cách để bảo vệ tài sản của họ. Người
phạm tội cũng chấp nhận khả năng này. Do đó, người phạm tội buộc phải thật nhanh
chóng, nhanh hơn phản ứng và khả năng tự vệ của chủ sở hữu, quản lý thì mới chiếm
đoạt được tài sản. Dấu hiệu này thể hiện cách thức thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản hết sức khẩn trương, dịch chuyển tài sản của người khác thành của mình một cách

tức thì. Có thể ví von đây là một cuộc chạy đua về thời gian giữa người phạm tội với
chủ sở hữu, quản lý cũng như những người khác có khả năng đuổi bắt. Nếu người
phạm tội nhanh hơn thì chiếm đoạt được tài sản. Ngược lại, nếu người phạm tội chậm
hơn thì chẳng những khơng chiếm đoạt được tài sản mà cịn bị bắt. Biểu hiện thơng
thường của dấu hiệu này là người phạm tội nhanh chóng hoặc khơng cần thiết nhanh
chóng để tiếp cận tài sản và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, đối với tài sản là
vật nhỏ, gọn thì thực hiện hành vi giật và nhanh chóng tẩu thốt, đối với tài sản là ơ
tơ, xe máy thì nhanh chóng nổ máy và điều khiển xe đi thẳng.
Liên quan đến dấu hiệu nhanh chóng, một câu hỏi được đặt ra là tẩu thốt có
phải là thủ đoạn bắt buộc của tội cướp giật tài sản hay khơng? Thực ra thì tẩu thốt
là một phần và chỉ là một dạng biểu hiện của nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Bởi
vì tính chất của tội cướp giật tài sản là công khai nên chủ sở hữu (cũng như người
khác chứng kiến) sẽ đuổi bắt người phạm tội để lấy lại tài sản (và giao Công an xử
lý) nên để thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản thì bằng cách nào đó, người
8

Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 25/01/2021 của TAND quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.


12
phạm tội phải thốt ly hồn tồn khả năng đuổi bắt từ chủ sở hữu hoặc người khác.
Tẩu thoát là cách được người phạm tội thường hay sử dụng. Tuy nhiên cũng có thể
có những cách khác trong những tình huống đặc biệt như: chủ sở hữu đang ngồi
trên xe khách, tàu hỏa… đang chạy hoặc ngay khi bị chiếm đoạt tài sản thì xe, tàu
lăn bánh hoặc chủ sở hữu, quản lý đứng sau một cánh cửa, ngay khi người phạm tội
dịch chuyển tài sản và chiếm giữ được thì bước qua cửa và cửa tự động đóng lại…
Nhanh chóng cũng là dấu hiệu đặc trưng, bắt buộc của tội cướp giật tài sản, là
dấu hiệu rất quan trọng để định tội danh là cướp giật tài sản hay tội phạm khác cũng
có hành vi khách quan là chiếm đoạt tài sản.
Một vấn đề cần lưu ý, nhanh chóng cũng có thể là thủ đoạn khơng bắt buộc

của một số tội khác và được người phạm tội sử dụng để thực hiện tội phạm đó, và
do đó, việc nghiên cứu để nhận diện chính xác là rất cần thiết.
Ví dụ 3: Khoảng 10 giờ ngày 14/02/2020, Huynh Phi L đi bộ một mình trên
các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố B tìm người dân nào sơ hở trong việc quản
lý tai sản thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến quán internet B, tại
địa chỉ: Đường N, phường T, thanh phố B, tỉnh Đắk Lắk, (do anh Lương Thế V, sinh
năm 1983, trú tại: Đường N, phường T, thanh phố B, tỉnh Đắk Lắk, làm chủ), L quan
sát thấy trong qn khơng có khách chơi và khơng có người trơng coi, quản lý, nên L
đi vào quán internet để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Tại đây, L đi đến chỗ bàn tính tiền
đặt gần cửa ra vào của quán thì thấy ngăn kéo của chiếc bàn đang đóng và có cắm
sẵn chìa khóa trong ổ khóa. Thấy vậy, L đi đến mở ngăn kéo ra thì thấy bên trong có
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu đồng của anh Lương Thế
V, nên L lấy chiếc điện thoại di động bỏ vào trong túi quần rồi tẩu thoát .
[…]
Vì vậy, hành vi của Huynh Phi L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”9.
Trong vụ án này, khi bị cáo L chiếm đoạt chiếc điện thoại thì khơng có mặt
chủ sở hữu, quản lý và cũng khơng có người nào khác nên không thỏa mãn dấu hiệu
công khai, tức thủ đoạn lén lút được người phạm tội sử dụng xuyên suốt. Việc sử
dụng thêm thủ đoạn nhanh chóng là để tránh bị phát hiện và dễ dàng chiếm đoạt
được tài sản, là thủ đoạn không bắt buộc của tội trộm cắp tài sản. Bản án đã nhận
định đúng tội danh. Tuy nhiên, thủ đoạn nhanh chóng này làm cho tội trộm cắp tài
sản trở nên nguy hiểm hơn so với thơng thường, Tịa án cần cân nhắc khi quyết định
hình phạt.
9

Bản án số 123/2020/HS-ST ngày 22/5/2020 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.


13
Kết hợp cả hai dấu hiệu có thể kết luận như sau: cướp giật tài sản là chiếm

đoạt tài sản một cách cơng khai và nhanh chóng nhưng chiếm đoạt tài sản một
cách cơng khai và nhanh chóng chưa chắc là cướp giật tài sản (mệnh đề đảo chưa
chắc đúng).
Về dấu hiệu hậu quả:
Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại cụ thể (về vật chất, thể chất, tinh
thần, các dạng phi vật chất) do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội
được Luật hình sự bảo vệ. Cụ thể đối với tội cướp giật tài sản thì hậu quả thường
thấy là sự mất mát tài sản của chủ sở hữu, quản lý. Bên cạnh cịn có thể là hậu
quả về tổn hại sức khỏe, tính mạng của người khác cũng như tình hình an ninh
trật tự, an toàn xã hội... Những hậu quả về thể chất và các dạng hậu quả phi vật
chất không phải là dấu hiệu định tội nên không đặt ra bàn luận, câu hỏi đặt ra là
hậu quả về tài sản có phải là hậu quả bắt buộc trong cấu thành tội phạm cướp
giật tài sản hay không? Hiện nay vẫn đang tồn tại hai quan điểm khác nhau về
vấn đề này.
Quan điểm cho rằng tội cướp giật tài sản có cấu thành hình thức khẳng định
tội cướp giật tài sản chỉ đòi hỏi dấu hiệu hành vi khách quan là cướp giật tài sản,
khơng có u cầu về hậu quả nên tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện
hành vi khách quan, tức hành vi cướp giật tài sản, không phụ thuộc vào việc tài sản
đã bị hay chưa bị chiếm đoạt 10. Tuy nhiên, nếu người phạm tội có hành vi giật (dịch
chuyển tài sản) nhưng tài sản bị vướng lại, không vào trong sự quản lý, chi phối của
người phạm tội thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, do hành vi đã thực hiện chỉ
là hành vi đi liền trước hành vi khách quan.
Quan điểm cho rằng tội cướp giật tài sản có cấu thành vật chất khẳng định tội
cướp giật tài sản có yêu cầu hậu quả, hậu quả phải là một (hay nhiều) tài sản có giá
trị (lớn hơn khơng) mà nạn nhân bị chiếm đoạt. Do đó, chỉ khi nào người phạm tội
giật được tài sản thì tội phạm mới hồn thành 11. Nếu người phạm tội có hành vi giật,
nhưng tài sản bị vướng lại, không vào trong sự quản lý, chi phối của người phạm tội
thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, do hậu quả chưa xảy ra.
Tác giả tán thành với quan điểm cho rằng tội cướp giật tài sản có cấu thành
hình thức, vì vậy chỉ cần thỏa mãn hành vi khách quan thì tội phạm đã hồn thành

mà khơng cần có hậu quả xảy ra.
10
11

Nguyễn Ngọc Thùy Vân (2020), tlđd (5), tr.10, 11.
Đinh Văn Quế (2005), tlđd (6), tr.157.


14
Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản:
Mặt chủ quan của cấu thành tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, phản
ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả
do hành vi đó gây ra. Mặt chủ quan bao gồm: lỗi, mục đích, động cơ 12.
Về dấu hiệu lỗi:
Lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm. Lỗi là thái độ tâm lý của
một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi
đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vơ ý. Đối với tội cướp giật tài
sản, khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản người phạm tội biết rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội. Vì khi mình cướp giật tài sản thì sẽ gây ra cho nạn
nhân hậu quả bị mất tài sản nên rõ ràng người phạm tội biết rõ hành vi của mình là
nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội
chắc chắn thấy trước hậu quả, vì mình chiếm đoạt được tài sản thì đương nhiên
nạn nhân bị mất tài sản. Và khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản người phạm tội
mong muốn hậu quả xảy ra, vì chỉ khi nạn nhân bị mất tài sản thì người phạm tội
mới chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội mong muốn nạn nhân bị mất tài sản
(do mình chiếm đoạt được). Từ những phân tích trên có thể kết luận: cố ý trực tiếp
là hình thức lỗi duy nhất của tội cướp giật tài sản. Người phạm tội không thể cướp
giật tài sản với lỗi cố ý gián tiếp và càng không thể tồn tại hình thức lỗi vơ ý ở tội
cướp giật tài sản.
Chủ thể của tội cướp giật tài sản:

Tội cướp giật tài sản khơng có u cầu về dấu hiệu chủ thể đặc biệt. Do đó,
chủ thể của tội này là chủ thể thường và chỉ cần là người có năng lực TNHS và đủ
tuổi chịu TNHS. Về độ tuổi cần chú ý người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không
phải chịu TNHS thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015,
vì khoản này chỉ là tội nghiêm trọng và theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS
năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội rất
nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng (đối với một số tội).
Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình
điều tra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội cướp giật tài sản cần chú ý độ tuổi
của người phạm tội và các tình tiết định khung hình phạt. Nếu người phạm tội thuộc
trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 171 BLHS năm 2015 thì chỉ cần
xác định người phạm tội đủ 14 tuổi là đủ tuổi chịu TNHS, nhưng nếu thuộc trường
12

Vũ Thị Thúy (2019), Luật Hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.91.


15
hợp quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015 thì người phạm tội phải đủ 16
tuổi trở lên mới đủ tuổi chịu TNHS.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương
mại khơng là chủ thể của tội cướp giật tài sản.
1.2. Thực tiễn xác định dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản và một
số kiến nghị
1.2.1. Thực tiễn xác định dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản
Cướp giật tài sản là một trong những tội phổ biến và thường xảy ra trong đời
sống thực tiễn và do đó mà hoạt động áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến tội
cướp giật tài sản cũng diễn ra thường xuyên hơn. Qua nghiên cứu rất nhiều bản án
từ trang web chính thức của TAND Tối cao 13 tác giả đã trích lọc ra khá nhiều bản
án để làm ví dụ trong Luận văn. Đồng thời qua đó, tác giả cũng nhận thấy thực tiễn

xét xử nhìn chung đã đạt được những thành công nhất định. Cụ thể, đa số các bản
án đã xác định đúng các dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản để từ đó xác định
đúng tội danh và xử lý đúng pháp luật. Bên cạnh đó, trong thực tiễn áp dụng cũng
có một số bản án đã có sự nhầm lẫn về tội danh giữa tội cướp giật tài sản với một số
tội khác như: công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản, lừa đảo chiếm đọat tài
sản. Những trường hợp gây nhầm lẫn chủ yếu sẽ được phân tích sau đây.
Thứ nhất, nhận thức nhầm lẫn giữa tội cướp giật tài sản với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
Vụ án thứ nhất: Do khơng có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thành Quốc B nảy sinh
ý định cướp giật tài sản. B mua số sim điện thoại khuyến mãi rồi tạo tài khoản trên
ứng dụng bán hàng trực tuyến qua mạng, đặt mua loại điện thoại Iphone 11. Để thực
hiện hành vi phạm tội B còn chuẩn bị một số xấp tiền (mỗi xấp tiền B để một tờ tiền
thật phía trên, một tờ tiền thật phía dưới (mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000
đồng), ở giữa xấp tiền thì B để tiền âm phủ và được cột lại bằng dây thun). Khi đến
gặp người giao hàng để nhận hàng, B sẽ lấy những xấp tiền được chuẩn bị từ trong
túi xách đeo chéo ra để cho người giao hàng thấy, tạo lòng tin cho người giao hàng
rồi cất lại vào trong túi. Sau khi kiểm tra hàng xong, B sẽ để gói hàng xuống ba ga xe
của xe gắn máy Lead BS: 59L1-88433, rồi lấy xấp tiền do B chuẩn bị từ trong túi ra
đưa cho người giao hàng. Lợi dụng sơ hở khi người giao hàng tháo dây thun kiểm
tiền thì B tăng ga điều khiển xe bỏ chạy để chiếm đoạt điện thoại di động.
[…]
13

Xem các bản án được công bố tại trang web />

16
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Quốc B phạm tội “Cướp giật tài sản” 14.
Với hành vi trên, bị cáo B bị TAND quận Tân Phú xét xử và tuyên bố phạm tội
cướp giật tài sản. Sau phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh có quyết định kháng nghị phúc thẩm cho rằng tội danh của bị cáo phải là lừa

đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, Viện kiểm sát cho rằng giữa bị cáo và bị hại đã tiến
hành giao tiền, nhận tài sản sau khi bị cáo dùng thủ đoạn gian dối nêu trên làm cho bị
hại nhầm tưởng số tiền bị cáo giao là tiền thật để mua điện thoại di động và bị hại tin
tưởng nên đã giao hàng. Tại Bản án phúc thẩm, TAND Thành phố Hồ Chí Minh đã
bác kháng nghị của Viện kiểm sát với nhận định: Bị cáo Nguyễn Thành Quốc B có
thủ đoạn gian dối là để các bị hại thấy bị cáo có tiền, nhằm tạo niềm tin để tiếp cận
tài sản. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực
hiện hành vi giao hàng - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa các bị hại và bị cáo
chưa hoàn thành, bị cáo chưa ký nhận vào chứng từ giao hàng, tài sản vẫn trong tầm
quản lý của các bị hại thì bị cáo đã tăng ga, điều khiển xe tẩu thốt cùng tài sản. Do
đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Quốc B đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”15.
Ở đây Viện kiểm sát kháng nghị đã có sự nhầm lẫn về việc giao tài sản. Về
mặt lý luận của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, là người phạm tội đưa ra thông tin
gian dối để nạn nhân tin vào thông tin gian dối đó mà tự nguyện giao tài sản và
người phạm tội chiếm đoạt tài sản đó. Giao tài sản ở đây được hiểu là nạn nhân
chuyển giao tài sản trên thực tế cùng với việc chuyển giao quyền chiếm hữu (ví dụ:
gửi giữ, cầm cố, ký cược, ký quỹ…) hoặc quyền sử dụng (ví dụ: cho mượn, cho
thuê…) hoặc thậm chí là quyền sở hữu (ví dụ: cho vay, bán…). Giao, phải được
hiểu với ý nghĩa pháp lý của nó chứ khơng phải chỉ là việc đưa tiền, tài sản cho
người khác kiểm tra. Bởi vì đúng như nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm, việc
đưa tài sản cho người khác kiểm tra thì người đưa vẫn quản lý, kiểm sốt tài sản của
mình. Trong khi tình tiết của vụ án là hai bên chỉ đang trao nhau tiền và tài sản để
kiểm tra. Bên mua có quyền kiểm tra hàng, nếu hàng có vấn đề thì có quyền không
nhận hàng và đương nhiên không phải trả tiền (lấy lại tiền đã đưa bên kia kiểm tra).
Ngược lại, bên bán có quyền kiểm tra tiền, nếu tiền có vấn đề thì có quyền trả lại
tiền và đương nhiên không phải giao hàng (lấy lại hàng đã đưa bên kia kiểm tra).
Sau khi hai bên kiểm tra xong và khơng có vấn đề gì thì mới đồng ý giao hàng và
nhận tiền. Việc biểu hiện sự đồng ý này có thể thực hiện bằng lời nói hoặc hành vi
14
15


Bản án số 111/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh.
Bản án số 590/2020/HS-PT ngày 18/12/2020 của Tịa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh.


17
cụ thể (ví dụ hai bên nhận thứ mình cần và cùng bỏ đi). Lúc này mới được coi là hai
bên đã giao tiền và giao tài sản cho đối phương. Trở lại vụ án, trong khi nạn nhân
vẫn còn đang kiểm tra tiền thì cũng có nghĩa nạn nhân chưa giao tài sản cho bị cáo
B. Rõ ràng B cũng biết điều đó vì ngay sau khi kiểm tra và phát hiện tiền có vấn đề
thì nạn nhân có quyền yêu cầu B trả lại tài sản nên B muốn chiếm đoạt được tài sản
thì mới dùng thủ đoạn nhanh chóng (tăng ga điều khiển xe bỏ chạy) để chiếm đoạt.
Việc bị cáo B sử dụng thủ đoạn gian dối chỉ nhằm tiếp cận tài sản để dễ dàng thực
hiện hành vi cướp giật tài sản hơn. Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đã xét xử và kết án
B phạm tội cướp giật tài sản là hoàn toàn chính xác. Quan điểm kháng nghị của
Viện kiểm sát cấp phúc thẩm rõ ràng là khơng có cơ sở thuyết phục.
Thứ hai, nhận thức nhầm lẫn giữa tội cướp giật tài sản với tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản.
Vụ án thứ hai: Khoảng 13 giờ, ngày 19/8/2019 bị cáo thuê xe của ông Ninh
Văn T đi từ quận PN, thành phố Hồ Chí Minh về nhà tại Ấp TH 2, xã TH, huyện
CĐ, thành phố Cần Thơ. Khi đến địa phận tỉnh ĐT ông T giao xe cho bị cáo điều
khiển chở ơng T vì bị cáo quen đường đi. Cả hai đi đến quận TN, thành phố Cần
Thơ thì vào quán nước nghỉ. Ông T lấy chai nước suối đổ vào lốc máy xe cho máy
xe nguội. Sau đó, cả hai tiếp tục đi tiếp đến đoạn đường thuộc ấp TL 1, xã TT,
huyện CĐ, thành phố Cần Thơ. Lúc này, thấy bên đường có 01 cái xơ để gần mé
kênh, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của ông T nên dừng xe lại kêu ông
T lấy cái xô múc nước đổ vào lốc máy. Khi ông T xuống mé kênh lấy nước, bị cáo
nổ máy xe bỏ chạy.
Bản án nhận định:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những chứng cứ thu thập có trong

hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự, lợi dụng trong lúc bị hại đi múc nước dưới mé kênh, khơng có điều
kiện giữ tài sản, bị cáo công khai chiếm đoạt tài sản trước mặt bị hại. Tài sản mà bị
cáo chiếm đoạt có giá trị 7.150.000 đồng. Hành vi đó trực tiếp xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội bị
cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và
hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 172 Bộ luật Hình sự 16.
Ở vụ án này TAND huyện Cờ Đỏ đã nhận định bị cáo đã lợi dụng trong lúc bị
hại đi múc nước dưới mé kênh, khơng có điều kiện giữ tài sản, bị cáo công khai
16

Bản án số 48/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 của TAND huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.


18
chiếm đoạt tài sản trước mặt bị hại nên phạm vào tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Ta cần lưu ý tình tiết khi ơng T xuống mé kênh lấy nước, bị cáo nổ máy xe bỏ chạy.
Tại sao bị cáo phải bỏ chạy? Bị cáo chiếm đoạt chiếc xe bằng cách từ từ dẫn bộ có
được khơng? Chắc chắn là khơng, vì nếu khơng nhanh chóng bỏ chạy thì bị hại sẽ
quay lại và giữ được xe và bị cáo không thể chiếm đoạt được tài sản. Đây là tình
huống mà nạn nhân chỉ tạm thời ở trong hồn cảnh không bảo vệ được tài sản (nạn
nhân ở mé kênh), tuy nhiên nạn nhân hồn tồn có thể khắc phục được ngay tình
trạng khơng bảo vệ được tài sản của mình. Để thỏa mãn tội cơng nhiên chiếm đoạt tài
sản thì nạn nhân phải đang ở trong tình trạng không thể bảo vệ được tài sản và cũng
không khắc phục được tình trạng này trong thời gian ngắn. Và do đó, người phạm tội
khơng cần sử dụng thủ đoạn nhanh chóng thì vẫn có thể dễ dàng chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, nếu người phạm tội có sử dụng thêm thủ đoạn này thì như trên tác giả đã
đề cập, thì đây là thủ đoạn khơng bắt buộc của tội cơng nhiên chiếm đoạt tài sản, vì
nạn nhân vốn khơng thể bảo vệ được tài sản của mình cho dù người phạm tội có
chiếm đoạt nhanh hay chậm. Trở lại với tình huống của vụ án, rõ ràng nạn nhân hồn

tồn có thể khắc phục ngay trong thời gian ngắn tình trạng khơng bảo vệ được tài sản
để có thể bảo vệ được tài sản của mình. Cụ thể, trong vụ án, khoảng cách từ mé kênh
với chiếc xe không quá xa và ông T chỉ cần mất rất ít thời gian là có thể di chuyển lại
gần để bảo vệ xe của mình. Bị cáo biết rất rõ rằng việc chiếm đoạt chiếc xe bằng cách
dẫn bộ đi từ từ là điều không thể, nên để chiếm đoạt được chiếc xe của ơng T thì bị
cáo buộc phải sử dụng thủ đoạn nhanh chóng là nổ máy xe bỏ chạy thì mới thực hiện
được hành vi chiếm đoạt tài sản. Đây là thủ đoạn đóng vai trị quyết định trong hành
vi chiếm đoạt tài sản, chính là thủ đoạn nhanh chóng, là dấu hiệu đặc trưng và bắt
buộc của tội cướp giật tài sản. Do đó, TAND huyện Cờ Đỏ nhận định bị cáo phạm tội
công nhiên chiếm đoạt tài sản là một sự nhầm lẫn đáng tiếc.
Vụ án thứ ba: Khoảng 14h30 ngày 07/9/2019, anh Nguyễn Văn Thg điều
khiển xe máy Wave BKS: 29Y1-440.20 chở con gái là Nguyễn Thị Anh Th, sinh năm
2013 đi đến khu vực Cánh đồng thôn Trầm Thợng (đoạn sát đường 419) xã Lê
Thanh bắt cá. Anh Thg dựng xe trên bờ và cháu Th đứng trông. Đến khoảng 15h
cùng ngày, Phạm Trọng T1, sinh năm 1991, trú tại thôn Lê X, xã L điều khiển xe
máy BKS 33-L6 4783 chở Nguyễn Văn T2, sinh năm 1996, trú tại thôn Đức Th, xã
Lê Th đi qua, T1 nhìn thấy chiếc xe máy dựng bên và chỉ có một cháu nhỏ đứng bên
nên nảy sinh ý định chiếm đoạt và đã dừng lại, nói với T2 ý định đó và được T2
đồng tình. T1 đưa chiếc xe máy đang đi cho T2 rồi đi lại gần nơi cháu Th đang


19
trông xe, hỏi cháu “Bố đâu?” cháu Th trả lời “Bố cháu đang dưới cống”. Lợi dụng
cơ hội đó, T1 lên xe, mở khóa rồi điều khiển xe đi thẳng.
[…]
Cáo trạng số 96/CT-VKS-MĐ ngày 15/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo Phạm Trọng T1 và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Cướp
giật tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 171 Bộ luật Hình sự. Sau đó Viện kiểm sát
có cơng văn số 325/CV-VKS –MĐ ngày 18/11/2019 xin rút hồ sơ để thay đổi tội
danh đối với 02 bị cáo T1, T2. Tại cáo trạng số 96a/CT-VKS-MĐ ngày 18/11/2019

của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo Phạm Trọng T1 và
Nguyễn Văn T2 phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo điều 172 BLHS.
[…]
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Về tội danh: Tại phiên
tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các
bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và đúng như nội dung cáo
trạng đã nêu. Các tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị 22.891.000 đồng, T1 và T2 bị
Viện kiểm sát truy tố tội “Cơng nhiên chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ chấp nhận17.
Ở vụ án này Viện kiểm sát đã có sự lúng túng trong việc xác định tội danh là
cướp giật tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản. Sự lúng túng này là điều có thể
hiểu được bởi vì thủ đoạn nhanh chóng (điều khiển xe đi thẳng) thể hiện khá rõ khi
các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai. Hai dấu hiệu
đặc trưng và bắt buộc của tội cướp giật tài sản đều hội đủ. Tuy nhiên, thủ đoạn
nhanh chóng trong trường hợp này chỉ là thủ đoạn không bắt buộc của tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản mà thôi. Công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội
lợi dụng hoàn cảnh chủ sở hữu, quản lý đang ở trong tình trạng khơng có khả năng
tự bảo vệ tài sản được và chiếm đoạt tài sản một cách công khai trước mặt chủ sở
hữu, quản lý. Trong ví dụ này dù các bị cáo có nhanh hay chậm thì chủ sở hữu,
quản lý là một cháu nhỏ 6 tuổi và/hoặc cha của cháu đang ở dưới cống cũng không
thể ngăn chặn tội phạm, bảo vệ tài sản. Các bị cáo đã lợi dụng hoàn cảnh này để
chiếm đoạt tài sản một cách cơng khai. Do đó, tội cơng nhiên chiếm đoạt tài sản
được áp dụng trong trường hợp này là hồn tồn chính xác. Việc nhầm lẫn tội danh
thường mang lại hậu quả không nhỏ và rất may Viện kiểm sát đã kịp thời nhận ra
sai lầm và thay đổi tội danh truy tố.
17

Bản án số 87/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội.



20
Từ phân tích trên có thể rút ra kết luận: tuy người phạm tội thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn cơng khai và nhanh chóng nhưng nếu chủ sở hữu,
quản lý vốn ở trong tình trạng không thể ngăn chặn tội phạm, bảo vệ tài sản của mình
và cũng khơng thể khắc phục được tình trạng đó18 thì tội danh vẫn là cơng nhiên
chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn nhanh chóng lúc này được coi là thủ đoạn không bắt
buộc được người phạm tội sử dụng thêm, tuy nhiên nó làm cho tội cơng nhiên chiếm
đoạt tài sản trở nên nguy hiểm hơn, Tòa án cần cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Kết hợp cả hai dấu hiệu có thể kết luận như sau: cướp giật tài sản là chiếm đoạt
tài sản một cách công khai và nhanh chóng nhưng chiếm đoạt tài sản một cách cơng
khai và nhanh chóng chưa chắc là cướp giật tài sản (mệnh đề đảo chưa chắc đúng).
Thứ ba, có trường hợp mà tình tiết của vụ án có sự tranh chấp giữa 2 tội
danh cướp giật tài sản với trộm cắp tài sản nhưng không được bản án chứng minh
một cách đầy đủ và thyết phục.
Vụ án thứ tư: Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, M quan sát thấy quán
Spa ở đường H, thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nên bảo anh L dừng xe
lại. M xuống xe và bảo anh H ngồi trên xe taxi chờ cịn M vào qn hỏi xem có xăm
hình không. M vào quán gặp chủ quán là chị Võ Thị T và hỏi “Ở đây có xăm hình
khơng?” thì chị T trả lời “Khơng, chú cần gì?”. M tiếp tục nói với chị T “Thế thì vào
gội đầu và mát xa cho anh cái” rồi mở cửa vào phòng gội đầu. Chị T thấy trên người
M có nhiều hình xăm và có mùi rượu nên khơng vào phịng mà đứng ở ngồi. Khi vào
phịng, M thấy 01 chiếc túi xách nữ màu đỏ để trên giá đựng đồ và trong phịng
khơng có ai nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. M mở túi xách ra, bên trong có số
tiền 3.992.000 đồng và lấy một nắm tiền (khơng xác định được là bao nhiêu) cầm ở
tay rồi đi ra khỏi phòng. Khi M đi ra khỏi phòng, chị T thấy M cầm tiền ở tay thì
đốn là tiền của mình nên hỏi M “Sao chú lấy tiền của cháu?” thì M nói “Tao thích
thì tao lấy. Tao lấy để trả tiền xe”. Chị T liền giằng co số tiền trên với M và lấy lại
được một số tiền (không xác định được là bao nhiêu) trên tay M còn M giật lấy được
số tiền 207.000 đồng còn lại rồi bỏ chạy. Chị T đuổi theo thì M chạy lên xe taxi ngồi
và bỏ số tiền 207.000 đồng vào túi quần rồi bảo anh L lái xe đi.

Bản án nhận định:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm
Trường hợp chủ sở hữu, quản lý có khả năng khắc phục hồn cảnh đang ở trong tình trạng khơng bảo vệ
được tài sản, tức sẽ có khả năng bảo vệ được tài sản, sẽ được nghiên cứu ở phần sau.
18


×