BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ LÂM BẢO NGỌC
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỂM S, ĐIỂM T KHOẢN 1 ĐIỀU 51
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
QUY ĐỊNH TẠI ĐIỂM S, ĐIỂM T KHOẢN 1 ĐIỀU 51
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số: 8380104
Người hướng dẫn khoa học : Ts. Trần Thị Quang Vinh
Học viên
: Lê Lâm Bảo Ngọc
Lớp
: Cao học luật, An Giang, khóa 2
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan Luận văn “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự” là cơng trình nghiên cứu khoa học do
chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Quang Vinh. Trong
luận văn có trích dẫn một số ý kiến, quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý.
Tất cả thơng tin đều được chú thích nguồn đầy đủ, trung thực và tuân thủ quy định của
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Tơi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời
cam đoan này.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày
tháng
Tác giả
Lê Lâm Bảo Ngọc
năm 2022
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
NXB
Nhà xuất bản
TAND
Tịa án nhân dân
TANDTC
Tịa án nhân dân tối cao
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTGN
Tình tiết giảm nhẹ
TTHS
Tố tụng hình sự
TTLT
Thơng tư liên tịch
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
LỜI NĨI ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TÌNH TIẾT “NGƯỜI PHẠM TỘI THÀNH KHẨN KHAI BÁO, ĂN
NĂN HỐI CẢI” THEO ĐIỂM S KHOẢN 1 ĐIỀU 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM
2015 ..................................................................................................................................... 8
1.1. Quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” ....................................... 8
1.1.1. Khái niệm và nội dung của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người
phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” ........................................................... 8
1.1.2. Giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết “người phạm tội thành khẩn
khai báo” trong việc xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội . 13
1.2. Thực tiễn xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” ....................................................................... 16
1.2.1. Nhận thức khác nhau về nội dung tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015............................................................................... 16
1.2.2. Nhận thức khác nhau về việc xác định số lượng các tình tiết giảm nhẹ TNHS
theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 ........................................................... 21
1.2.3. Nhận thức khác nhau về giá trị ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ TNHS được
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 ............................................... 22
1.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” người phạm tội thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải” .................................................................................. 25
1.3.1. Cơ sở kiến nghị ................................................................................................. 25
1.3.2. Kiến nghị cụ thể ................................................................................................ 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................................ 28
CHƯƠNG 2. TÌNH TIẾT “NGƯỜI PHẠM TỘI TÍCH CỰC HỢP TÁC VỚI CƠ
QUAN CÓ TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC PHÁT HIỆN TỘI PHẠM HOẶC
TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN” THEO ĐIỂM T KHOẢN 1 ĐIỀU 51
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 .................................................................................... 29
2.1. Quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát
hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” ............................................ 29
2.1.1. Khái niệm và nội dung của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người
phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm
hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” ...................................................................... 29
2.1.2. Giá trị giảm nhẹ của tình tiết “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có
trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” .. 31
2.2. Thực tiễn xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội
tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc
trong quá trình giải quyết vụ án” .............................................................................. 34
2.2.1. Nhận thức về tình tiết “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách
nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” với tình
tiết tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” ......................... 35
2.2.2. Nhận thức về điều kiện để xem xét, áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự năm 2015 ....................................................................................................... 39
2.3. Kiến nghị hồn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 .......... 41
2.3.1. Cơ sở của kiến nghị........................................................................................... 41
2.3.2. Kiến nghị cụ thể ................................................................................................ 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 44
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
LỜI NĨI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong những nội dung quan trọng trong chính
sách hình sự của nước ta, là căn cứ quyết định hình phạt, tuy nhiên nội dung của chính
sách khoan hồng trong xử lý tội phạm cần xác định trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối
tương quan giữa nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, cưỡng chế với thuyết phục, sự thiên
lệch theo chiều hướng quá nhẹ hoặc quá nặng trong thực tiễn đều đem lại những kết quả
tiêu cực trong xã hội, đó là lạm dụng tình tiết giảm nhẹ sẽ đưa đến việc quyết định hình
phạt quá nhẹ, dẫn đến việc giảm hiệu quả đấu tranh phịng, chống tội phạm. Ngược lại,
khơng quan tâm đến việc áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể đưa
đến việc quyết định hình phạt quá nghiêm khắc dẫn đến phản tác dụng cho quá trình cải
tạo, giáo dục người phạm tội.
Mặc dù quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự có một ý
nghĩa rất quan trọng về xã hội cũng như pháp lý hình sự, nhưng thực tiễn áp dụng còn
nhiều vấn đề vướng mắc, chưa thống nhất, đòi hỏi sự thống nhất trong nhận thức, áp
dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội luôn là yêu
cầu khách quan và cần thiết trong việc ra quyết định hình phạt. Trong thực tiễn xét xử,
một số tình tiết giảm nhẹ được văn bản dưới luật hướng dẫn, nhưng cũng có một số tình
tiết gặp phải vướng mắc chưa có hướng dẫn cụ thể dẫn đến thực tiễn xét xử cịn có nhiều
cách hiểu, vận dụng khác nhau, trong số đó có 02 tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có
trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”, các
vướng mắc thể hiện như sau:
Thứ nhất, vận dụng sai các tình tiết giảm nhẹ TNHS dẫn đến quyết định hình phạt
khơng đúng.
Thứ hai, việc xác định giá trị giảm nhẹ của tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” trong giai đoạn tố tụng nào cũng chưa có sự
thống nhất.
Thứ ba, việc hướng dẫn TTGN “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải” là một hay hai tình tiết cũng chưa có sự đồng nhất trong việc áp dụng pháp luật.
Thứ tư, các quan điểm khác nhau trong nhận thức về “người phạm tội tích cực hợp
tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải
quyết vụ án’’.
2
Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân như: sự hạn chế về trình độ, năng lực
chun mơn nghiệp vụ; sự tùy nghi trong áp dụng pháp luật của người thực thi pháp luật,
bên cạnh đó, ngay chính các quy định trong tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu
trên cũng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất.
Vấn đề này mặc dù đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên vẫn còn
nhiều nội dung chưa được đề cập hoặc tuy được đề cập nhưng vẫn còn quan điểm chưa
thống nhất, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc hơn nữa.
Do đó, việc đi sâu nghiên cứu, luận giải một cách thấu đáo các quy định này là điều hết
sức cần thiết, từ đó đi đến nhận thức khoa học hơn về áp dụng pháp luật trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự, đồng thời, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân và đề
xuất hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về hai tình tiết này. Với lý do đó, tác giả
lựa chọn đề tài“Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t khoản
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn góp
phần vào việc hồn thiện các quy định của pháp luật hình sự về lĩnh vực này để đảm bảo
tính khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vào thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu lý luận
và thực tiễn quan tâm. Cho đến thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài “ Tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm
2015” đã có một số cơng trình nghiên cứu về vấn đề này như:
2.1. Về Giáo trình và sách chuyên khảo
Chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS được nghiên cứu trong các Giáo trình của
các cơ sở đào tạo luật và một số sách chuyên khảo của một số nhà nghiên cứu pháp lý
hình sự. Các giáo trình, sách chuyên khảo: Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
(2015) Giáo trình luật Hình sự Việt Nam – Phần chung – NXB Hồng Đức, Trường Đại
học Luật Hà Nội (2009) Giáo trình luật Hình sự Việt Nam tập 1 – NXB Cơng an nhân
dân, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần Các tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội; PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa – TS. Phan Anh Tuấn – Đồng chủ biên (2017).
Về sách chun khảo cũng có một số cơng trình như Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
trong luật hình sự Việt Nam của Ts. Trần Thị Quang Vinh (NXB Chính trị quốc gia Hà
Nội, năm 2005). Đây là cơng trình nêu rõ toàn bộ cơ sở lý luận và thực tiễn của các tình
tiết giảm nhẹ TNHS, cũng như phương pháp vận dụng khi áp dụng các tình tiết xử lý tội
phạm, đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về các tình tiết
3
giảm nhẹ TNHS được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức cơ chế áp dụng pháp luật. Xây
dựng và áp dụng đúng chế định này là một bảo đảm quan trọng nhằm thực hiện chính
sách hình sự của Nhà nước và cơng bằng xã hội.
Bình luận khoa học những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017), NXB Hồng Đức; Nguyễn Ngọc Hịa (Chủ biên) (2018), Bình luận Bộ luật Hình sự
năm 2015 – NXB Thơng tin và truyền thông, Đinh Văn Quế (Chủ biên) (2018). Tập thể
tác giả do TS Uông Chu Lưu chủ biên (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt
Nam năm 1999 (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung các tài liệu này
có nhận xét, bình luận nội dung về tình tiết Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải và Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát
hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án. Trong đó, các tác giả bình luận nội
dung cơ bản về các tình tiết giảm nhẹ TNHS, đây là tài liệu có ý nghĩa tham khảo bổ ích
cho tác giả luận văn khi triển khai đề tài của mình.
2.2. Về Tạp chí khoa học
Ngồi ra, cịn có một số bài viết khoa học đăng trên các tạp chí như: Hồ Sỹ Sơn
(2008), Những hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng khắc phục”, tạp chí Tịa án nhân dân số
16, tr.2 - 4, 9; - Trần Văn Hội (2013), Bàn về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, tạp chí Tịa án nhân
dân số 04; - Thái Chí Bình (2014), Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc khoản 2
Điều 46 Bộ luật hình sự, thực trạng áp dụng và giải pháp hồn thiện, tạp chí Tịa án nhân
dân số 02; - Trịnh Tiến Việt (2004), Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số kiến nghị, tạp chí Tòa án nhân dân số 13; Nguyễn Ngọc Kiện (2017), Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều
51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các cơng trình, nghiên cứu, bài viết nói trên đều có đề cập
đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam ở nhiều
phương diện và mức độ khác nhau, cách tiếp cận vấn đề theo nhiều khía cạnh khác nhau, là
điều kiện cho tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu về khái niệm, bản chất pháp lý của
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, một số kiến giải, đề xuất nhằm khắc phục hạn chế,
vướng mắc trong áp dụng các tình tiết này trong thực tiễn, những vấn đề này được các tác
giả đưa ra khá chặt chẽ và hợp lý. Tuy nhiên, trong phạm vi của bài viết nghiên cứu khoa
học, các tác giả mới chỉ tập trung đề cập tới một (hoặc một số) vấn đề liên quan tới nội
dung mà chưa tập trung, đi sâu đề cập vấn đề áp dụng thực tiễn trong vụ án hình sự.
4
2.3. Về luận văn thạc sĩ
Đề tài luận văn của tác giả Chu Thanh Hà trên cơ sở đề cập trực tiếp, tổng quát về
“Các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội”, phân tích thực tiễn áp
dụng các quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội.
Chỉ ra các hạn chế khi vận dụng các quy định pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ TNHS
thuộc về nhân thân người phạm tội vào thực tiễn từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
về mặt lập pháp các quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm
tội trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009). Qua tìm hiểu luận văn này, tác giả
nhận thấy, việc phân tích giá trị giảm nhẹ của tình tiết giảm nhẹ TNHS liên quan tới nhân
thân người phạm tội ảnh hưởng đến quyết định hình phạt như thế nào không phải là nội
dung trọng tâm của luận văn nên chưa được tác giả Chu Thanh Hà đi sâu nghiên cứu một
cách kỹ lưỡng và thấu đáo, mới chỉ đề cập một cách sơ lược, ở mức độ khái quát.
Đề tài luận văn thạc sĩ của Tôn Trọng Hưng (2020),“Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
từ thực tiễn xét xử tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội.
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận về các tình tiết giảm nhẹ TNHS, trong đó tác giả tập
trung làm rõ các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, giá trị giảm nhẹ của các tình tiết giảm nhẹ
và phân loại các tình tiết này, phân tích q trình thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
TNHS, chỉ ra các tình tiết giảm nhẹ TNHS thường xuyên được áp dụng trong thực tiễn.
Qua đó, đã chỉ ra một số sai sót, hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng các tình tiết
giảm nhẹ TNHS tại TAND tỉnh Bắc Ninh. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng và những vướng
mắc cũng như nguyên nhân của nó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
BLHS và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong thực
tiễn. Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi tại một đơn vị Tòa án nên
chưa mang tính bao qt cao.
Nói chung có thể thấy các cơng trình nghiên cứu nói trên đã làm rõ những nội
dung nhất định liên quan đến tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s, t khoản
1 Điều 51 BLHS từ quy định đến thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, những cơng trình này
đều được thực hiện trước thời điểm BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có
hiệu lực thi hành, và hơn nữa những quy định pháp luật từ thời gian đó đến nay cũng đã
có nhiều sửa đổi, bổ sung nên khơng cịn phù hợp với thực tiễn, chưa cập nhật, bổ sung,
phân tích chuyên sâu đối với những quy định mới và những vướng mắc khó khăn trên
cơ sở thực tiễn, vì vậy cần thiết phải có cơng trình nghiên cứu chun sâu về vấn đề này
xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật. Đề tài này sẽ kế thừa kinh nghiệm của những
5
đề tài nghiên cứu trước, nhưng sẽ là một đề tài nghiên cứu chi tiết và có tính cấp thiết.
Vì vậy, tác giả thấy rằng việc nghiên cứu đề tài “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015” từ góc độ thực
tiễn là cần thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: trên cơ sở phân tích nội dung, khảo sát thực tiễn áp dụng
quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS
năm 2015 luận văn theo đuổi mục tiêu nghiên cứu là đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp
luật và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về hai tình tiết giảm
nhẹ TNHS được nêu trong đề tài.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Thứ nhất, luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ quy định của BLHS năm 2015 về tình
tiết giảm nhẹ TNHS “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” , đánh giá
thực tiễn áp dụng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết này trong thực
tiễn áp dụng pháp luật.
Thứ hai, luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ quy định của BLHS năm 2015 về tình
tiết giảm nhẹ TNHS “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong
việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”, đánh giá thực tiễn áp
dụng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết này trong thực tiễn áp dụng
pháp luật.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật hình sự về
tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người phạm tội
tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá
trình giải quyết vụ án” và thực tiễn áp dụng pháp luật các tình tiết đó trong những năm
gần đây.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, tập
trung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, về hai tình tiết
giảm nhẹ TNHS như đã xác định trong phần đối tượng nghiên cứu. Những vấn đề tình
tiết giảm nhẹ TNHS khác khơng thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
6
Về không gian và thời gian: Luận văn khảo sát thực tiễn việc áp dụng tình tiết
giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS trên phạm vi cả nước
trong giai đoạn từ năm 2018 đến khi hoàn thành luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu luận văn được xuyên suốt đúng với mục đích và phạm vi đã đặt ra,
trong q trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp, cụ thể:
Đối với Chương 1 và chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ
các quy định hiện hành về tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s, điểm t
khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu tình
huống) nghiên cứu án điển hình để đánh giá thực tiễn áp dụng điểm s và điểm t khoản 1
Điều 51 BLHS năm 2015. Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích và nghiên cứu tình
huống, tác giả chỉ ra được những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định về các tình
tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Để khái quát lại những nội dung đã trình bày, rút ra những nhận xét, kết luận về
bất cập trong quy định của pháp luật cũng như những vướng mắc, sai sót trong thực tiễn
áp dụng pháp luật, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất những giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định
tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS, tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015”có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất định,
được thể hiện ở những phương diện sau đây:
Về mặt lý luận: Tạo cơ sở cho việc thống nhất trong cách hiểu, áp dụng về tình tiết
giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Từ
đó nâng cao hiệu quả trong hoạt động xét xử thơng qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Về mặt thực tiễn: Từ việc phân tích các quy định pháp luật, chỉ ra những hạn chế,
tồn tại góp phần giải quyết những khó khăn phát sinh trong thực tiễn cơng tác từ đó giúp
những người làm công tác điều tra, truy tố, xét xử trên thực tiễn khi áp dụng các tình tiết
này, góp phần định hướng đoán định tư pháp cho người dân.
Về mặt lập pháp: Tạo cơ sở tham khảo cho các cơ quan xây dựng pháp luật xem
xét, đánh giá lại những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật, là ý kiến đóng góp
được cân nhắc kỹ lưỡng, góp phần không nhỏ tạo điều kiện cho họ trong công tác xây
7
dựng luật nhằm bổ sung nguồn dữ liệu thực tiễn về áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ này
trong cơng tác xét xử án hình sự ở nước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
bao gồm 02 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chương 2. Tình tiết “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm
trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” theo điểm t khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015
8
CHƯƠNG 1
TÌNH TIẾT “NGƯỜI PHẠM TỘI
THÀNH KHẨN KHAI BÁO, ĂN NĂN HỐI CẢI”
THEO ĐIỂM S KHOẢN 1 ĐIỀU 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
1.1. Quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”
1.1.1. Khái niệm và nội dung của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”
Để áp dụng TTGN theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 thì
“người phạm tội phải thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Vậy thuật ngữ “tình tiết”
được hiểu là “sự việc nhỏ trong quá trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng” 1. Thuật ngữ
“giảm nhẹ TNHS’’ được hiểu là việc miễn, giảm tác động cưỡng chế hình sự thuộc nội
dung của TNHS. Trong nghĩa hẹp, giảm nhẹ TNHS là làm bớt đi mức độ TNHS so với
một chuẩn mực đã được định sẳn. Vậy cái gì có thể đóng vai trị là chuẩn mực, cái gốc để
so với nó mà giảm bớt TNHS. Trong Bộ luật Hình sự chế tài là khung TNHS mà Nhà
nước quy định áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể trên cơ sở đánh giá tính chất nghiêm
trọng của tội phạm đó. Với ý nghĩa là khung TNHS của từng loại tội phạm, từng nhóm
trường hợp phạm tội trong một tội, chế tài được xem là cái gốc, cái chuẩn mực để đặt vấn
đề giảm bớt mức độ TNHS so với nó. Như đã biết, chế tài luật định đối với từng tội phạm
là do các tình tiết định tội, định khung quyết định. Với logíc đó, các tình tiết giảm nhẹ
TNHS là những tình tiết có ý nghĩa làm giảm bớt mức độ TNHS và giá trị giảm nhẹ của
chúng chưa được ghi nhận trong chế tài quy định đối với tội phạm cụ thể đó2.
Theo từ điển tiếng Việt, “Thành khẩn” là hết sức thành thật trong tự phê bình và tiếp
thu phê bình...3. “Khai báo” là khai với cơ quan có thẩm quyền những việc có liên quan đến
mình hay những việc mình biết4. “Ăn năn” là cảm thấy đau xót, day dứt trong lịng về lỗi
lầm của mình5. “Hối cải” là việc hối hận về tội lỗi của mình và tỏ ra muốn sửa chữa6.
Theo giáo trình luật Hình sự Việt Nam của trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh “thành khẩn khai báo là trường hợp người phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố,
Viện ngôn ngữ học (2004), Từ điển tiếng Việt, Nxb, Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, tr.997
Trần Thị Quang Vinh (2005), Các TTGN trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr 25- 27.
3
Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb, Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.1171
4
Viện Ngôn ngữ học (2010), tlđd (3), tr.633.
5
Viện Ngôn ngữ học (2010), tlđd (3), tr.32.
6
Viện Ngôn ngữ học (2010), tlđd (3), tr.595.
1
2
9
xét xử đã khai đầy đủ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà
họ đã thực hiện”, “ ăn năn hối cải là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, người phạm
tội thể hiện sự day dứt, hối hận về tội lỗi của mình và thể hiện bằng những hành động,
việc làm cụ thể để chứng minh cho việc mình muốn sửa chữa, cải tạo thành người tốt
như: chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, lập thành tích trong lao động, sản xuất, bù đắp
những tổn thất, thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra7.
Theo tác giả Đinh Văn Quế, nguyên thành viên Hội đồng thẩm phán, nguyên
Chánh tòa Hình sự Tịa án nhân dân tối cao thì: “thành khẩn khai báo là trường hợp hành
vi phạm tội và người phạm tội đã bị phát hiện nhưng người phạm tội đã khai báo đầy đủ,
rõ ràng các tình tiết của vụ án giúp cho cơ quan tiến hành nhanh chóng kết thúc vụ án8.
Cịn tình tiết ăn năn hối cải là người phạm tội cảm thấy bị cắn rứt, giày vị lương tâm về
những việc làm của mình, hối hận và muốn sửa chữa lỗi lầm9.
Hiện nay, khái niệm “thành khẩn khai báo” vẫn chưa được giải thích một cách
chính thức bằng các văn bản pháp luật mà mới chỉ được giải thích thơng qua các văn bản
giải đáp nghiệp vụ. Chẳng hạn:
Ngày 13/9/2019, TANDTC thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng
mắc trong xét xử. Tại điểm 3 của Cơng văn giải thích như sau: “Tình tiết người phạm tội
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”10 được hiểu là trường hợp người phạm tội thành
khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra”. Do
đó, việc giải đáp nghiệp vụ của TANDTC một lần nữa hướng dẫn nghiệp vụ căn cứ vào
nội dung câu chữ của luật để áp dụng chứ khơng nói rõ là điểm s theo khoản 1 Điều 51
BLHS năm 2015 của tình tiết giảm nhẹ này sẽ áp dụng cụ thể như thế nào, lại tiếp tục
trao quyền cho Hội đồng xét xử xem xét.
Từ khi Bộ luật Hình sự đầu tiên được ban hành cho đến nay, “người phạm tội thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đều được quy định là một trong những TTGN TNHS11. Đồng
thời, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nhiều văn bản hướng
dẫn liên quan đến TTGN này vào các thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, việc hướng dẫn
TTGN “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là một hay hai TTGN chưa có
sự thống nhất, mặc dù quy định trong các Bộ luật Hình sự khơng có sự thay đổi.
Trường đại học Luật TPHCM (2015), Giáo trình luật Hình sự Việt Nam - phần chung, tr.329
Đinh Văn Quế (2018), Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015, NXB Thơng tin và truyền thông, tr.262
9
Đinh Văn Quế (2018), tlđd (8), tr.263
10
Công văn số 212/TAND-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao.
11
Xem: điểm h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
7
8
10
Theo mục 23 Phần I Công văn số 16/1999/KHXX ngày 02/02/1999 của Tòa án
nhân dân tối cao (sau đây được viết tắt là Công văn số 16/1999) về việc giải đáp một
số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng, đối với trường
hợp người phạm tội thật thà khai báo về những hành vi mà họ đã thực hiện, nhưng do
không hiểu biết pháp luật nên cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, không thừa
nhận là đã phạm tội, nhưng sau khi được cơ quan tiến hành tố tụng phân tích giải
thích, họ biết được tội lỗi và ăn năn hối cải, thì khi xét xử, Tịa án cần cho họ được
hưởng TTGN “thật thà khai báo, ăn năn hối cải”. Đối với những trường hợp tuy khai
nhận đầy đủ những hành vi mà họ đã thực hiện, nhưng quanh co không nhận tội và
mặc dù đã được cơ quan tiến hành tố tụng phân tích giải thích nhưng vẫn tỏ ra ngoan
cố, khơng chịu ăn năn hối cải, thì khi xét xử, Tịa án khơng áp dụng TTGN này với
họ12. Với hướng dẫn này, khơng có sự phân biệt giữa hai tình tiết” thành khẩn khai
báo” và ăn năn hối cải”.
Tuy nhiên, mục 5 Phần I Công văn 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2000 của Tòa án
nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ (sau đây gọi tắt là Công văn
81/2002), TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” lại được hiểu là hai TTGN với việc
tập trung hướng dẫn áp dụng TTGN” thành khẩn khai báo”. Nếu sau khi bị bắt người phạm
tội quanh co, chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật của vụ án và chỉ sau khi cơ quan
tiến hành tố tụng đã chứng minh được đầy đủ hành vi phạm tội của họ, họ mới nhận sự
việc phạm tội của họ đúng như cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh, thì khơng được
áp dụng TTGN” thành khẩn khai báo”. Đồng thời, theo tiểu mục 6.2.1.15 Sổ tay Thẩm
phán, các TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được hướng dẫn là hai TTGN với
cách xác định riêng biệt13.
Trong các văn bản hướng dẫn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao vào các thời
điểm khác nhau, việc xác định TTGN “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là một hay
hai cũng chưa thống nhất. Theo Công văn số 994/VKSTC – V3 ngày 09/4/2012, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là
hai TTGN chứ không phải là một TTGN. Tuy nhiên, theo Công văn số 1394/VKSTC-V7
ngày 10/4/2018 lại hướng dẫn, cần hiểu người phạm tội chỉ cần thỏa mãn một trong hai
điều kiện” thành khẩn khai báo” hoặc "ăn năn hối cải” hoặc có cả hai điều kiện này thì
cũng chỉ được áp dụng một TTGN TNHS.
12
13
Xem Cơng văn số 16/1999/KHXX ngày 02/02/1999 của Tịa án nhân dân tối cao
Xem Công văn 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2000 của Tòa án nhân dân tối cao và Sổ tay Thẩm phán
11
Bên cạnh đó, theo tài liệu thơng báo nhanh của Vụ pháp chế và Quản lý khoa
học14. Mục tiêu quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật này là khắc phục những điểm sai sót đã
phát hiện được của BLHS năm 2015 nhằm đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán của BLHS.
Trong đó, BLHS năm 1999 quy định tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải” là 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS (điểm p khoản 1 Điều 46). Bộ luật Hình sự
năm 2015 khi chưa sửa đổi, đã tách tình tiết nêu trên để quy định thành 02 tình tiết giảm
nhẹ: “người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải”. Luật số 12/2017/QH14
đã sửa đổi tình tiết giảm nhẹ này theo hướng giữ như quy định của BLHS năm 1999.
Như vậy, từ những quan điểm nêu trên thì nội dung của tình tiết giảm nhẹ TNHS
người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là gì?
Theo quan điểm tác giả: Về mặt tâm lý, khi một người có thái độ thành khẩn thì họ
phải có sự suy nghĩ, đánh giá, nhận thức rõ lỗi lầm của mình để có thể khai báo được một
cách trung thực sự việc đã xảy ra. Sự suy nghĩ, đánh giá, nhận thức này chính là một biểu
hiện của sự ăn năn. Nếu họ không ăn năn về lỗi lầm của mình thì khơng thể có thái độ
thành khẩn được. Việc cho rằng một người khai báo đầy đủ nhưng lại khơng biết hành vi
của mình là tội phạm hoặc biết hành vi của mình là tội phạm nhưng lại cho rằng mình
khơng sai thì khơng thể nói là thành khẩn được vì chưa có sự suy nghĩ, đánh giá, nhận
thức rõ lỗi lầm của mình. “Ăn năn hối cải” là trường hợp sau khi phạm tội cảm thấy bị
cắn rứt lương tâm về những việc làm của mình, hối hận và muốn được sửa chữa lỗi lầm,
được hiểu là thái độ hối hận về việc đã thực hiện tội phạm và thể hiện mong muốn được
sửa chữa lỗi lầm thông qua quyết tâm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, trở thành người
lương thiện15. Ngoài ra, tác giả thống nhất với nội dung hướng dẫn của Công văn số 212
hướng dẫn giải đáp nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao 16 bởi những căn cứ sau: Theo
Xem: VKSNDTC tài liệu thông báo nhanh nội dung: Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Hình sự số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng Hình
sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH 13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số
94/2015/QH13, Hà Nội, tháng 7/2017. Lãnh đạo VKSTC chỉ đạo xây dựng tài liệu: đồng chí Trần Cơng Phàn, Phó
Viện trưởng VKSDTC
15
Truy cập
ngày 25/02/2022.
16
Tình tiết "Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong
quá trình giải quyết vụ án" và tình tiết "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là hai tình tiết độc lập
quy định tại điểm t và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với
cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” được hiểu là trường hợp
người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh
chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới. Tình tiết “Người
phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được hiểu là trường hợp người phạm tội thành khẩn khai nhận về
hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra.
14
12
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người
phạm tội, phân biệt rạch ròi giữa cụm từ “thành khẩn khai báo” với “ăn năn hối cải”. Cụ
thể về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội như sau: “Nghiêm trị người phạm tội
dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chun nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố
giác đồng phạm, lập cơng chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong
việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”. Hai nội dung hoàn toàn khác nhau, nằm cách
nhau đến 03 nội dung độc lập, không phải cùng một nội dung gắn kết hay có mối quan hệ
với nhau. Điều đó, cho thấy, mỗi một câu được ngăn cách bởi dấu “phẩy” là một nội
dung hoàn toàn khác nhau, một số TTGN khác được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS
năm 2015 có cấu trúc quy định tương tự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015
được hướng dẫn và hiểu là nhiều TTGN được quy định trong cùng một điểm như TTGN
“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”,
“người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc
cơng tác”. Theo đó, TTGN “thành khẩn khai báo” được áp dụng khi người phạm tội tự
nguyện khai báo về sự việc phạm tội, hành vi phạm tội hoặc cả hai ở bất cứ giai đoạn tố
tụng nào; có thể trước hoặc sau khi hành vi phạm tội, tội phạm đã được cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh, về mức độ giảm nhẹ của TTGN “thành khẩn
khai báo” phụ thuộc thời điểm thành khẩn khai báo, ý nghĩa thiết thực của sự thành khẩn
đối với việc làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự và tầm ảnh
hưởng đến quá trình, kết quà thực hiện các hoạt động tố tụng. TTGN “ăn năn hối cải”
được áp dụng khi người phạm tội có các biểu hiện của yếu tố chủ quan và các biểu hiện
của yếu tố khách quan. Theo đó, các biểu hiện của yếu tố chủ quan là thái độ, nội tâm của
người phạm tội như: Sự cắn rứt, giày vị lương tâm về tội lỗi của mình; hối hận về hành
vi mà mình đã thực hiện; tự nguyện nhìn nhận tội lỗi, sẵn sàng chấp nhận sự trừng phạt
của pháp luật; thể hiện mong muốn trở thành người lương thiện... Các biểu hiện của yếu
tố khách quan là hoạt động cụ thể bên ngoài, phản chiếu của yếu tố chủ quan và là cơ sở
đánh giá yếu tố chủ quan như: Chấp hành pháp luật; các TTGN khác mà Bộ luật Hình sự
quy định (người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại cùa tội phạm; người
phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; người phạm
tội tự thú, đầu thú; người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc
phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; người phạm tội đã lập công
13
chuộc tội; người phạm tội thành khẩn khai báo; bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của
bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội; cộng đồng
dân cư, chính quyền địa phương xin giảm nhẹ cho người phạm tội...). Mức độ giảm nhẹ
của TTGN “ăn năn hối cải” phụ thuộc vào số lượng biểu hiện của yếu tố khách quan, yếu
tố chủ quan, mức độ biểu hiện của từng yếu tố (sự sâu sắc, rõ ràng, phạm vi ảnh hưởng,
vai trò và sự tác động của từng yếu tố) đối với sự phát hiện, xử lý tội phạm, khắc phục
nhanh chóng hậu quả do tội phạm gây ra.
1.1.2. Giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai
báo” trong việc xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Trước hết, phải khẳng định một điều tình tiết giảm nhẹ được luật quy định có giá
trị giảm nhẹ cao hơn các tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015,
bởi vì chúng có giá trị giảm nhẹ TNHS trong bất kỳ trường hợp phạm tội cụ thể nào, giá
trị giảm nhẹ phần lớn nghiêng về TNHS của tình tiết luật định thường được áp dụng,
trường hợp TTGN tại điểm s khoản 1 Điều 51 thuộc nhóm các tình tiết phản ánh khả
năng cải tạo của người phạm tội, căn cứ này gắn liền với thái độ thừa nhận tội lỗi của
mình về việc thực hiện tội phạm, tích cực phục thiện trong quá trình giải quyết, đối với
việc áp dụng TTGN “người phạm tội thành khẩn khai báo” thì xác định giá trị giảm nhẹ
dựa vào nội dung được khai báo và nhận thức về tội phạm, thời điểm nhận tội của người
phạm tội, như vậy trong trường hợp có thái độ khai báo thành khẩn chỉ ở một giai đoạn tố
tụng nhất định, người phạm tội lại có thái độ khác nhau về việc khai báo, có trường hợp
thành khẩn khai báo tại cơ quan điều tra nhưng lai quanh co chối tội tại phiên tịa, có
trường hợp tại cơ quan điều tra họ chưa thể hiện sự thành khẩn khai báo, việc nhận tội là
do kết quả đấu tranh bằng biện pháp nghiệp vụ, nhưng khi ra Tòa họ lại thành khẩn thừa
nhận hành vi phạm tội, giá trị giảm nhẹ của tình tiết này ở bất kỳ giai đoạn nào cũng có
tác dụng tích cực nhất định cho quá trình điều tra, xét xử. Đánh giá giá trị giảm nhẹ của
tình tiết này khơng thể đơn thuần nhìn vào thời điểm của sự thành khẩn ở giai đoạn nào
trong tố tụng mà phải căn cứ vào việc khai báo thành khẩn đến hiệu quả của hoạt động
điều tra, xét xử và chỉ cần người phạm tội tự nguyện khai báo và thấy được tội lỗi của
mình là có thể được áp dụng TTGN này. Mức độ giảm nhẹ của việc thành khẩn khai báo
phụ thuộc vào sự thành khẩn được thực hiện ở giai đoạn tố tụng nào và ý nghĩa thiết thực
của sự thành khẩn trong việc giải quyết vụ án. Trên thực tế, khi người phạm tội thành
khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thì thơng
thường Tịa án áp dụng TTGN này đối với họ mà không nhất thiết họ phải khai báo đầy
14
đủ và đúng sự thật diễn biến tội phạm vì theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng Hình
sự năm 201517, các vấn đề chứng minh thuộc về trách nhiệm của cơ quan điều tra, của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, hơn nữa trên thực tế người phạm tội có trình độ
khơng giống nhau, do nhận thức hạn chế mà họ không thể biết hành vi mình khai báo có
phạm tội hay khơng. Vì vậy, khơng thể đặt ra việc người phạm tội phải khai báo đầy đủ
các thông tin và những vấn đề cần chứng minh mới được hưởng tình tiết này.
Quan điểm về nhận thức giá trị tình tiết giảm nhẹ này trong nhận thức về tội phạm
và thời điểm nhận tội của người phạm tội hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: cho rằng người phạm tội thật thà khai báo về những hành vi
mà họ đã thực hiện, không thừa nhận phạm tội, nhưng sau khi được giải thích, người
phạm tội biết lỗi thì vẫn được áp dụng TTGN này, còn trường hợp họ vẫn tỏ ra ngoan cố
thì khơng áp dụng18. Riêng đối với trường hợp phạm tội quả tang, sau khi bị bắt, người
phạm tội quanh co chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật của vụ án và chỉ sau khi cơ
quan tiến hành tố tụng đã chứng minh được đầy đủ hành vi phạm tội, họ mới thừa nhận
sự việc phạm tội thì khơng áp dụng TTGN này19.
Quan điểm thứ hai: cho rằng, việc xác định giá trị giảm nhẹ của TTGN “thành
khẩn khai báo” chỉ ở một giai đoạn tố tụng nhất định và người phạm tội phải thấy được
lỗi của mình. Do sự thành khẩn khai báo ở giai đoạn tố tụng nào cũng có tác dụng tích
cực nhất định cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên không nhất thiết người phạm tội
phải thừa nhận hành vi suốt quá trình giải quyết vụ án thì mới được hưởng tình tiết trên.
Theo quan điểm tác giả, trong thực tế xét xử, khơng ít Thẩm phán coi sự nhất quán
của các lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa là biểu hiện của thái độ “thành khẩn
khai báo”, tâm lý này dẫn đến một thói quen cho rằng hễ bị cáo tại phiên tịa mà khai
khơng giống như tại cơ quan điều tra là cho rằng bị cáo thiếu thành khẩn và khuyến cáo
về thái độ đó ngay trong q trình tranh tụng tại phiên tịa. Vì vậy, việc thay đổi lời khai
tại phiên tịa có thể là do thái độ chối tội của bị cáo trước giờ phút bị pháp luật phán
quyết về TNHS, nhưng điều đó cũng khơng loại trừ khả năng tại phiên tịa lời khai đó
Theo đó, khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:
(1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; (2) Ai là
người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay khơng có lỗi, do cố ý hay vơ ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay
khơng; mục đích, động cơ phạm tội; (3) Những TTGN, tăng nặng trách nhiệm hình sự cùa bị can, bị cáo và đặc điểm
về nhân thân của bị can, bị cáo; (4) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; (5) Nguyên nhân và
điêu kiện phạm tội; (6) Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình
sự, miễn hình phạt.
18
Xem: Mục 23 Phần I Cơng văn số 16/1999;
19
Xem: Mục 5 Phần I Công văn số 81/2002; tiểu mục 6.2.1.15 Sổ tay Thẩm phán.
17
15
mới đúng là sự thật. Hơn nữa, theo tinh thần cải cách tư pháp thì vấn đề tranh tụng xét xử
tại phiên tịa được bảo đảm, tăng cường q trình tranh luận, kiểm tra chứng cứ và chứng
minh một cách dân chủ và cơng bằng để tìm ra sự thật khách quan vụ án, trong đó thực
thi nghiêm túc bảo đảm quyền hiến định của bị cáo là tự bào chữa nên việc chứng minh
tội phạm và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là trách nhiệm của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, giá trị giảm nhẹ của tình tiết này khơng cần ràng
buộc người phạm tội phải thừa nhận hành vi trong suốt quá trình tố tụng mà chỉ cần sự
thừa nhận của họ có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án thì có thể được áp dụng.
Tóm lại, về mức độ giảm nhẹ của tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo”
phụ thuộc vào thời điểm thành khẩn khai báo và ý nghĩa thiết thực của sự thành khẩn đối
với việc làm rõ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự và ảnh hưởng nội dung
khai báo đến tồn bộ q trình tố tụng. Nếu người phạm tội khai nhận hành vi phạm tội
ngay từ đầu, khai báo càng sớm càng tốt thì mức độ giảm nhẹ sẽ cao hơn so với trường
hợp sau khi đã qua các bước tố tụng, cơ quan điều tra đã chứng minh đầy đủ hành vi
phạm tội thì người phạm tội mới khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Đồng thời, lời
khai báo của người phạm tội có ý nghĩa làm rõ càng nhiều vấn đề cần chứng minh trong
vụ án hình sự giúp rút ngắn thời gian giải quyết vụ án thì mức độ giảm nhẹ càng cao.
Về giá trị giảm nhẹ của tình tiết “ăn năn hối cải”
Cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này thể hiện ở thái độ tự nguyện nhìn nhận tội
lỗi, sẳn sàng chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, là tiền đề quan trọng cho quá trình
cải tạo của người phạm tội. Hơn nữa, việc khai báo thành khẩn giúp cho cơ quan pháp
luật nhanh chóng kịp thời giải quyết được vụ án, buộc những người phạm tội phải chịu
TNHS về tội phạm mà họ thực hiện.
Về các quan điểm nhận thức giá trị của tình tiết này: Do chưa có quy định về điều
kiện áp dụng TTGN “ăn năn hối cải" nên trong thực tiễn, cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng thường dựa vào những biểu hiện của người phạm tội (yếu tố chủ quan,
yếu tố khách quan) để quyết định có áp dụng TTGN này hay không. Hiện nay, tồn tại một
số quan điểm khác nhau về điều kiện áp dụng TTGN “ăn năn hối cải”.
Quan điểm thứ nhất: cho rằng “ăn năn hối cải” bao gồm các biểu hiện về nội tâm
và hành động cụ thể: Người phạm tội thể hiện sự cắn rứt, giày vị lương tâm về tội lỗi của
mình; những hành động, việc làm cụ thể để chứng minh cho việc mình muốn sửa chữa, cải
tạo thành người tốt; bù đắp những tổn thất, thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra20.
20
Xem: Tiểu mục 6.2.1.15 sổ tay Thẩm phán.
16
Quan điểm thứ hai: cho rằng “ăn năn hối cải” gồm các biểu hiện của người phạm
tội: Cảm thấy bị cắn rứt, giày vò lương tâm về những việc làm của mình; hối hận và
muốn sửa chữa lỗi lầm; Các hành động tích cực: chấp hành pháp luật, gương mẫu trong
mọi lĩnh vực sinh hoạt của đời sống xã hội, tích cực khắc phục hậu quả, sửa chữa những
sai lầm do mình gây ra.
Quan điểm thứ ba: cho rằng “ăn năn hối cải”thể hiện qua thái độ hối hận về việc
đã thực hiện tội phạm; thái độ tự nguyện nhìn nhận tội lỗi, sẵn sàng chấp nhận sự trừng
phạt của pháp luật và thể hiện mong muốn được sửa chữa lỗi lầm thông qua quyết tâm
chấp hành nghiêm chinh pháp luật, trở thành người lương thiện.
Quan điểm tác giả: Các quan điểm trên đều có cơ sở lý luận về góc nhìn tình tiết
này, bởi áp dụng pháp luật phải dựa trên cơ sở hành vi của cá nhân đó, nếu nhìn nhận góc
độ nào đó thì ăn năn hối cải chỉ có thể là biểu đạt cảm xúc thể hiện trong nội tâm, nhưng
để phán xét thì cái chính là từ sự ăn năn hối cải biểu hiện bên ngồi thành lời nói, hành
động, cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này thể hiện ở thái độ tự nguyện nhìn nhận tội
lỗi, sẳn sàng chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, là tiền đề quan trọng cho quá trình
cải tạo của người phạm tội.
1.2. Thực tiễn xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm
tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”
Qua nghiên cứu các vụ án trong thực tiễn xét xử bộc lộ rõ một số sai sót vướng
mắc trong thực tiễn áp dụng quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm s khoản 1
Điều 51 BLHS năm 2015 như sự thiếu thống nhất trong nhận thức, nhận diện tình tiết
giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, nhận thức khác nhau
về việc xác định số lượng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm s khoản 1 Điều 51
BLHS; áp dụng khác nhau về giá trị ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
1.2.1. Nhận thức khác nhau về nội dung tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản
1 Điều 51 BLHS năm 2015
Tội phạm bao giờ cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã gây ra hoặc đe dọa gây ra
cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Theo quy định tại Điều 50 BLHS
năm 2015, thì khi quyết định hình phạt, Tịa án khơng chỉ căn cứ vào các quy định của
BLHS, căn cứ vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, mà
còn phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Như vậy, BLHS đã quy định
các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là một trong những căn cứ cần thiết để Tòa án
xem xét khi quyết định hình phạt TNHS. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS khơng có ý nghĩa
17
trong việc định tội và định khung hình phạt, mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình. Việc
ghi nhận quy định này trong BLHS có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Bởi vì, nó
khơng những chỉ thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của luật hình sự mà còn đáp ứng được
các yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong áp dụng pháp luật đối với người phạm
tội. Tuy nhiên để vận dụng chính xác và thống nhất trong nhận diện tình tiết “thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải” vẫn còn nhiều cách hiểu thông qua các vụ án sau đây:
Vụ án 1: Bị cáo Võ Văn Chí Linh phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, qua đấu
tranh làm việc, bị cáo Linh khai nhận còn 06 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 06
xe mô tô các loại của các bị hại. Tại bản án số 37/2021/HSST ngày 16 tháng 11 năm
2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, khơng áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự theo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. HĐXX đã căn cứ điểm b, c khoản 2
Điều 174, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm
2015 xử phạt bị cáo Võ Văn Chí Linh 07 (bảy) năm tù21. Án kháng cáo, Tòa án cấp phúc
thẩm đồng tình quan điểm cấp sơ thẩm về khơng áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo22.
Tịa cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã theo hướng khơng áp dụng tình tiết giảm nhẹ
“Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải’’ đối với bị cáo vì: “Với hành vi phạm tội của bị
cáo, HĐXX chỉ ghi nhận bị cáo có thái độ khai báo sự việc phạm tội theo như nội dung
cáo trạng, theo hồ sơ những vụ việc phát hiện đều do bị hại đến trình báo, khơng có vụ
việc nào bị cáo tự giác khai, mặt khác đến thời điểm xét xử bị cáo cũng chưa có biện
pháp khắc phục hậu quả gây ra nên hội đồng xét xử cho rằng bị cáo không thật sự ăn năn
hối cải mà chỉ áp dụng tình tiết theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Tác
giả hoàn toàn thống nhất với quan điểm trên bởi lẽ, bị cáo chỉ khai báo khi cơ quan điều
tra chứng minh được hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tịa bị cáo
dững dưng, tuy có khai báo theo nội dung truy tố nhưng không thể hiện sự thành khẩn và
cũng không thể hiện sự ăn năn về những vi phạm pháp luật do mình gây ra, khơng nhận
thấy được lỗi lầm, khơng có biện pháp khắc phục hậu quả.
Vụ án 2: Bị cáo Phong nguyên là Thư ký Tòa án bị xét xử về tội “Lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” của ông Võ Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Ngọc
Thương. Quá trình điều tra, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhằm
trốn tránh trách nhiệm. Bị cáo cho rằng số tiền 15.000.000 đồng là vay mượn của ông
Tuấn, các lần hỏi cung bị cáo thực hiện quyền im lặng. Tại phiên tòa, bị cáo lại khai báo
hành vi phạm tội; tự nguyện và tác động gia đình khắc phục hậu quả; bị hại có yêu cầu
21
22
Bản án số 37/2021/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
Bản án số 14/2022/HSPT ngày 18/02/2020 của TAND tỉnh An Giang.
18
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có mẹ, ơng bà ngoại, dì là người có cơng với cách
mạng, cậu là liệt sỹ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định tại
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, Điều 54, Điều 38, Điều 41 của BLHS năm
2015; xử phạt bị cáo Phong 03 (năm) 06 tháng tù”23.
Qua vụ án cho thấy ngay từ ban đầu bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội của
mình, nhằm trốn tránh trách nhiệm. Đến tại phiên tòa sơ thẩm mới thừa nhận hành vi
phạm tội và khai báo hành vi phạm tội của mình và được Tịa án cấp sơ thẩm xem xét áp
dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Quan điểm tác giả: Qua vụ án 1, 2 cho thấy quan điểm áp dụng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm s là hoàn toàn khác nhau. Vụ án 1 cho thấy quan điểm áp dụng đang
đồng nhất giữa thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, tuy có khai báo nhưng không thể
hiện sự thành khẩn và dẫn đến việc không ăn năn hối cải, thái độ dững dưng, không thể
hiện sự bù đắp bất cứ thiệt hại nào đã gây ra cho phía bị hại nên dẫn đến khơng được
hưởng tình tiết giảm nhẹ trên. Bị cáo có khai báo nhưng không thành khẩn, giá trị giảm nhẹ
của việc khai báo này rất thấp, bởi theo nhận định của bản án thì chỉ khi bị hại đến nhận
diện thì bị cáo mới khai hành vi phạm tội của mình. Trước hết, phải xác định thành khẩn
khai báo và ăn năn hối cải là hai khái niệm khác nhau. Khai báo chính là hành vi người
thực hiện hành vi phạm tội phối hợp, hỗ trợ cùng với cơ quan chức năng thành thật khai
báo những hành vi phạm tội của mình. Ăn năn hối cải là sau khi thực hiện tội phạm, người
phạm tội thể hiện sự cắn rứt, dày vị lương tâm về tội lỗi của mình khơng chỉ bằng lời nói
mà cịn phải bằng chính hành động, việc làm cụ thể để bù đắp thiệt hại đã gây ra. Vấn đề
đặt ra là bị cáo chỉ khai báo một phần khơng khai báo đầy đủ thì có được áp dụng tình tiết
giảm nhẹ hay khơng? Quan điểm tác giả thì để áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo thì
người phạm tội phải khai báo đầy đủ và đúng sự thật những gì liên quan đến hành vi phạm
tội mà họ đã thực hiện thì mới đủ điều kiện áp dụng. Đối với vụ án 2, bị cáo được áp dụng
tình tiết giảm nhẹ này do việc thừa nhận có ảnh hưởng đến q trình giải quyết vụ án, bởi
vì có thể xem việc thành khẩn khai báo bất kỳ giai đoạn nào thì cũng có tác dụng nhất định
cho quá trình tố tụng. Tuy nhiên, đánh giá giá trị giảm nhẹ của tình tiết này khơng thể đơn
thuần nhìn vào thời điểm của sự thành khẩn ở giai đoạn nào trong tố tụng mà phải căn cứ
vào ảnh hưởng của việc khai báo đến hiệu quả của hoạt động điều tra, xét xử, tại vụ án 2 thì
hội đồng xét xử đã phân biệt rõ hai tình tiết giảm nhẹ nói trên, chỉ cần bị cáo thành khẩn
nhận tội thì sẽ được áp dụng tình tiết theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
23
Bản án số 25/2020/HSST ngày 18/9/2020 của TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
19
Trường hợp bị cáo đã khai hết toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội nhưng họ cho
rằng hành vi của họ khơng phạm tội, thì lúc này HĐXX có áp dụng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” hay không. Bởi lẽ, nghĩa vụ chứng minh tội
phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn giải quyết, mỗi Tịa án
có cách thực hiện khác nhau:
Vụ án 3: Bị cáo Trần Văn Cắng khi phạm tội đã trên 70 tuổi phạm tội “ Cố ý gây
thương tích”. Theo bản án hình sự số 11/2021/HSST ngày 08 tháng 02 năm 2021 của Tòa
án nhân dân huyện An Phú nhận định như sau: Hành vi của bị cáo dùng dao chém ông Tỵ
ngang từ phải qua trái 01 cái trúng vào đùi trái ông Tỵ gây thương tích với tỷ lệ thương
tật là 02%, ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo chưa thành khẩn khai báo việc bị
cáo có chém bị hại hai dao hay không chỉ thừa nhận chém một lần, nên khơng áp dụng
tình tiết thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, bị cáo đã khắc phục một
phần thiệt hại là 5.000.000 đồng. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 20/2021/HS-PT ngày
22 tháng 04 ngày 2021; HĐXX đã nhận định như sau: đối với vết thương ở cẳng tay trái
của ông Trần Văn Tỵ tỷ lệ tổn thương 2%, hình hơi cong, bờ thẳng không phù hợp với
vết rách ngang trên tay áo trái của ông Tỵ và bị cáo cũng không thừa nhận. Do vết thương
ở cẳng tay trái của người bị hại hình thành hơi cong, bờ thẳng khơng phù hợp với vết rách
ngang trên tay áo bên trái của người bị hại, không đủ cơ sở quy kết trách nhiệm hình sự
cho bị cáo đối với thương tích này do đó cơ quan điều tra khơng quy kết trách nhiệm hình
sự đối với bị cáo cho nên việc bị cáo không thừa nhận cũng không làm xấu đi thái độ khai
báo của bị cáo nhưng cấp sơ thẩm nhận định bị cáo không thật thà khai báo nên khơng áp
dụng tình tiết này cho bị cáo là có thiếu sót, gây bất lợi cho bị cáo.
Quan điểm của Tịa án cấp sơ thẩm khơng áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo vì
cho rằng bị cáo ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo chưa thành khẩn khai báo việc bị
cáo có chém bị hại hai dao hay không chỉ thừa nhận chém một lần, nên khơng áp dụng tình
tiết thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Quan điểm cấp phúc thẩm cho rằng
khơng áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo là gây bất lợi cho bị cáo, vì bị cáo cũng thừa
nhận hành vi phạm tội, thấy được việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của bản thân, riêng đối
với vết thương ở cẳng tay trái của người bị hại hình thành hơi cong, bờ thẳng không phù hợp
với vết rách ngang trên tay áo bên trái của người bị hại, không đủ cơ sở quy kết trách nhiệm
hình sự cho bị cáo đối với thương tích này do đó cơ quan điều tra khơng quy kết trách nhiệm
hình sự đối với bị cáo cho nên việc bị cáo không thừa nhận cũng không làm xấu đi thái độ
khai báo của bị cáo nhưng cấp sơ thẩm nhận định bị cáo không thật thà khai báo nên khơng
áp dụng tình tiết này cho bị cáo là có thiếu sót, gây bất lợi cho bị cáo.