Tải bản đầy đủ (.pdf) (206 trang)

Dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (18.57 MB, 206 trang )

ey

rs

1UẬT'EP, Tae ro ra "



;

¬
Ũ

¬.....

`

: "TRONG aaa v

_

My

a

h

n

Ũ


or


h

l
Wo,
nr
h

"

l

;

A

\
ì

"
"

l

`
h

=

an

.
`

a]



1

Ũ

đ

,
i

Pye TT) MINH TIERii acs NO...

Y0

v

l

“a
“ae?

202/7 30h23)" sảa là À Si ae a


aa

Hài rn
NI
roe TN

NN


_

BQ GIAO DUC VA DAO TAO
TRUONG DAI HQC LUAT TP. HO CHi MINH

Kf 65a
NGÔ HỮU PHƯỚC

DAN DO TRONG LUAT QUOC TE
VA PHAP LUAT VIET NAM
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT HÌNH SỰ VÀ TO TUNG HÌNH SỰ
MÃ SĨ
: 62.38.01.04

LUẬN ÁN TIỀN SỸ LUẬT HỌC
viện ĐH Luật TP.HC

TRUONG BAHL Wud TP a (int
TU THONG Tie THU VIỆM


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.GS.TS. VÕ KHÁNH VINH `
2. TS. NGUYEN TH] PHUONG HOA

TP. HO CHi MINH NAM 2012


LOI CAM DOAN CUA TAC GIA
celle»

Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi.
Kết quả nghiên cứu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ cơng trình
nghiên cứu nào khác. Tơi xin chịu mọi trách nhiệm liên quan đến nội dung
luận án của mình.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012
Tac gia

Ngô Hữu Phước


DANH MỤC CÁC TU VIET TAT
cafe

The ty
1

Chữ viết tắt
ASEAN


Nội dung
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A (Association of
Southeast Asia Nations)

ASEANPOL

Hiệp hội Cảnh sát hình sự các nước Đơng Nam A

oO

na +
Onn

CO)

(Police Association of Southeast Asian Nations)

BLHS

Bộ luật Hình sự sửa đối, bổ sung năm 2009

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

CHDC

Cộng hòa dân chủ

CQTHTT


Cơ quan tiến hành tố tụng

DUQT

Điều ước quốc tế

EU

Lién minh Chau Au (European Union)

EUROPOL

Cảnh sát Châu Au (European Police)

EUROJUST .

Cơ quan Tư pháp của Liên Minh

|

Châu Âu (The

European Union's Judicial Cooperation Unit )

11

HDTTTP

Hiệp định tương trợ tư pháp


12

ICC

Tịa án Hình sự quốc tế (International Criminal Court)

13

Luat TTTP

Luật Tương trợ tư pháp 2007

14

TAND

Tòa án nhân dân

15

UNODC

Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên

Hợp Quốc (United Nations Office on Drugs and
Crime)

16


VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

17

WTO

Tổ

chức

thương

Organization)

mại

thế

giới

(World

Trade


MUC LUC
PHAN MO DAU


—.....

—..1...

Chương 1: NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VẺ DẪN ĐỘ..................... 15
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của dẫn độ.........................................„ L5

1.1.1 Khai mig dan46... ccssssssssccssssssccssssssssesssssssssssssssssssscesssssesssssssssseveseenn 15
1.1.2 Đặc điểm cla dn 46 ......ssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssensssssssssssssssesssesssssssssen 21

1.1.3 Cac nguyén thc cia dn G6 ...ccsssscsscssssscsssessssssessssssssssssssssssesesesesscsesesces 28

1.1.3.1 Nguyên tắc tội phạm kép (double criminality)................................... 29

1.1.3.2 Nguyên tắc có đi có lại.........
....cc22......
ve ren ......
nggnnnnEE neo
. 31
1.1.3.3 Nguyén tic khéng dfn 46 cong dAn......cccssssscssssesssssessssssssccssesecoseeees 32
1.1.3.4 Nguyên tắc không dẫn độ người phạm tội chính trị..................... 36

1.1.3.5 Nguyên tắc nhân đạo.....................
22ttt chen
........
H22 ..ssnen 40

1.2 Cơ sở pháp lý của dẫn độ,...................................osscsssssssscsso sesessessssessssesseasss ẨỂ
1.2.1 Cơ sở pháp lý quốc tế..........................---cs-cs¿: —............ 44
1.2.2 Cơ sở pháp lý quốc gia.....................

tu tung......---cs 47
ng no

1.3 Đối tượng, phạm vỉ và thủ tục dẫn độ...............................--cococcoocooocrssrccsee 48
1.3.1 Đối tượng và phạm vi dẫn 3...
48
1.3.2 Thủ tục dẫn độ................
co. 2T10 11100111
......
2H11 ......
- 50
n1

KẾT LUẬN CHƯƠNG l....................................csetseeerteeesteeerrseresssrsoooeo.,
ĐÁ

Chương 2: THỰC TRẠNG DẪN ĐỘ TRONG ĐIỀU UGC QUOC TE VA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM.................................22.---2292222+tttodts999000000000
999901180¬.2.1 Dẫn độ trong các điều ước quốc tế mà viet? Nam đã ký kết và giala nhập. 56
2.1.1 Téng quan vé tinh hinh dam phan, ky két va gia nhập điêu ước quốc tế có

quy định về dẫn độ của Việt Nam từ trước đến TÂY............ hen
56
2.1.2 Dẫn độ trong các điều ước quốc tế song phương............................ 60
2.1.2.1 Các quy định về dẫn độ trong các Hiệp định tương trợ tư pháp........ 60

2.1.2.2 Các quy định về dẫn độ trong các Hiệp định dẫn độ.................. 67
2.1.3 Dẫn độ trong các điều ước quốc tế đa phương............................2222nnnnn 76

2.1.3.1 Các quy định về dẫn độ trong các điều ước quốc tế của Liên Hợp


Quốc vẻ đấu tranh phòng, chống tội phạm....................
non......
nên 76
2.1.3.2 Các quy định về dẫn độ trong Công ước của ASEAN về chống khủng

bố năm 2007


179

2.2 Dẫn độ trong pháp luật Việt Nam ....................
«sa 82
2.2.1 Các quy định về dẫn độ trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003............ 82
2.2.2 Các quy định về dẫn độ trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007........... 86

2.3 Thực trạng thực hiện điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam liên quan

đến dẫn độ......

sannesosecsonsocsesonvosscsensscsee

canh

ủra..

2.3.1 Kết quả thực hiện điều ước quốc tếvà pháp luật Việt Nam liên quan đến

1.00...
103

2.3.2 Đánh giá, nhận xét về kết quả thực hiện điều ước quốc tế và pháp luật

Việt Nam liên quan đến dé 46 ......csccssssssssesssssssssssssscsssssssssessesossecssseccosssccosecs 106
KET LUẬN CHƯƠNG 2.........
sesenssonssnssonsenscssscsssseesanvconsceee sesssssssssessssssso, Ì TĐ)

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GĨP PHÀN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẪN
ĐỘ Ở VIỆT NAM..............................2222929999999999995999599999999099999989990090001192 112

3.1 Dự báo các yếu tổ liên quan đếnin dẫn độ ở Việt Nam trong thời gian tới... 112

3.1.1 Dự báo về tình hình tội phạm ở Việt Nam...................................ccvrr 112
B.LDL Cosh dE Ay DAO. ccccsscsssssssssssssssssssssssssscecececcenssssssssssssssssssssssssscenee 112

3.1.1.2 Dự báo về tình hình một số tội phạm có yếu tố nước ngồi, tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia ở Việt Nam ..............so.......
02000 ...... 116

3.1.2 Dự báo vẻ tình hình hợp tác dẫn độ giữa Việt Nam với các nước trong

thời gian tới. . . . . . . . dc.
HH1 T111 11H HH

go

120

3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam........ 122

3.2.1 Các giải pháp quốc tế ..................

222 vn ......
HH E001
.....s
cs 122
no
3.2.1.1 Giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế về dẫn độ................
. 122
3.2.1.2 Giải pháp chính trị ngoại giao ..............
0G.......
ng.......
neo 132

3.2.2 Các giải pháp quốc gia............
t2 .....
HH HH ng.........
n1
136
3.2.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ.................. tư 136

3.2.2.2 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực hiện công tác dẫn độ..... 1 5 1

3.2.2.3 Giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tương trợ tư

pháp và dẫn độ.......-...
oto. ...
HH 01111...
0011111011
...
111 ...... 153
KÉT LUẬN CHUNG.................................s««++2222SEt*°22222999989011111181000000002

210000 156

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................11000005015
.....50.. 161

PHỤ LỤC


PHAN MO DAU
cafe

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các quốc gia trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nhiều thành tựu và cơ hội to lớn để phát
triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế cũng phát sinh

nhiều nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia như bắt ổn chính trị, xung đột
_ sắc tộc, ton giáo, tệ nạn xã hội... trong đó có tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm

có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự
_.. phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như hòa bình và an ninh quốc tế.
Theo thống kê của INTERPOL, hàng năm trên thế giới xảy ra hơn 700 vụ
khủng bố, làm trên 7.000 người chết và khoảng 12.000 người bị thương. Các loại
tội phạm hình sự nguy hiểm như giết người, cướp tài sản, bắt cóc tống tiền, hoạt

động của các băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng tăng tại hầu
hết các nước trên thế giới. Các tội phạm ma túy xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán |
người, nhất là phụ nữ, trẻ em đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình hình hoạt
động của các đường dây, tổ chức đưa người nhập cư bất hợp pháp trên thế giới tiếp


tục gây ra nhiều vấn đề phức tạp đối với an ninh, trật tự của nhiều quốc gia. Các tội
phạm kinh tế xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp hơn cả về địa bàn hoạt
động, cũng như tính chất và mức độ nghiêm trọng...[1 17].

Khơng ngồi xu thế chung của thể giới, sau khi gia nhập WTO và hội nhập

ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi để

phát triển đất nước, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức
lớn đối với nền kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ quyền và an ninh quốc gia trong đó có
tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp.
Theo báo cáo tổng quan về tình hình tội phạm ở Việt Nam của Tổng cục
Cảnh sát cho thấy, mỗi năm ở nước ta xảy ra khoảng 82.555 vụ phạm tội xâm phạm

trật tự an toàn xã hội, trong đó có 57.415 vụ phạm tội về hình sự, 14.139 vụ phạm
tội về kinh tế, 11.001 vụ phạm tội về ma túy... Trung bình mỗi ngày xảy ra khoảng


227 vụ, mỗi giờ xảy ra 9,5 vụ...[4]. Hiện nay, ở Việt Nam đã hình thành các đường

dây bn bán phụ nữ, trẻ em từ Việt Nam sang các nước trong khu vực, thậm chí

đến các nước Châu Âu, Châu Phi. Ở Việt Nam đã xuất hiện một số băng nhóm tội
phạm gốc Hoa cầu kết với các băng nhóm tội phạm trong nước để hoạt động phạm
tội như bảo kê, cướp tài sản, giết người... Các hoạt động buôn lậu ma túy từ nước
ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài diễn biến hết sức phức tạp, đã

xuất hiện ngày càng nhiều đường đây buôn bán vận chuyển các chất ma túy xuyên
quốc gia, chủ yếu là hê-rô-in, các loại ma túy tổng hợp, cần sa với nhiều thủ đoạn

ngày càng tỉnh vi [1 17].

Bên cạnh đó, hàng năm có hàng triệu lượt người nước ngồi và kiều bào Việt
Nam (trong tổng số hơn 04 triệu người đang định cư trên 103 quốc gia va vùng lãnh
thổ) nhập cảnh vào Việt Nam để thăm thân nhân, đầu tư, kinh doanh, du lịch...

- Trong số đó có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội đến Việt Nam để thực hiện tội phạm.

Do vậy, tình hình người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi
trốn vào Việt Nam và phạm tội ở Việt Nam rồi trốn ra nước ngồi trong thời gian
qua có xu hướng gia tăng. |

Trước diễn biến tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng diễn
biến phức tạp, đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường liên kết, hợp tác đồng bộ và
toàn diện bằng tất cả các biện pháp chính trị, pháp luật, kinh tế, an ninh... từ bình
diện khu vực, liên khu vực và tồn cầu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội phạm. Trong đó, dẫn độ là biện pháp tắt yếu khách quan và hiệu quả nhất
để các quốc gia truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người

phạm tội ở quốc gia này nhưng dang lẳn trốn tại quốc gia khác.

Nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác tương trợ tư pháp nói chung và
dẫn độ nói riêng, phục vụ q trình hội nhập quốc tế của nước ta trong tình hình

mới, thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020 và Nghị quyết ngày 16/12/2002 của Quốc hội về Chương

trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, ngày 21/11/2007,
Quốc



hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thơng qua Luật TTTP và Luật

này chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2008. Luật TTTP là đạo luật đầu tiên của
nước ta quy định có hệ thống và toàn diện các nội dung pháp lý về dẫn độ và là cơ

sở pháp lý quốc gia quan trọng nhất để Việt Nam hợp tác dẫn độ với các nước trên
thế giới.

Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là vấn đề còn rất mới ở
Việt Nam nên chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Mặt
khác, hoạt động đàm phán, ký kết ĐƯQT về dẫn độ và thực tiễn dẫn độ ở Việt Nam

từ trước đến nay cũng chưa được nghiên cứu và tổng kết. Do đó, việc áp dụng
ĐƯQT có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt
Nam gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam vẫn cịn nhiều
hạn chế. Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam thì tiếp tục
nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn về dẫn độ là yêu cầu cấp thiết
và có tính thời sự rất lớn trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, tác giả chon dé tai: “DAN ĐỘ

TRONG LUẬT QUỐC TÉ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm Luận án Tiến sĩ
Luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dẫn độ là một hình thức hợp tác quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi pháp
luật quốc tế (các ĐƯQT có quy định về dẫn độ và các ĐƯQT về quyền con người)
và pháp luật quốc gia (Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư


pháp...). Do vậy, từ trước đến nay trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam và

nước ngoài, vẫn đề dẫn độ có thể được nghiên cứu đưới góc độ là một chế định của
Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc tế, Luật Quốc tế về quyền con người và dẫn độ

cũng có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của pháp luật quốc gia,
thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý về hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư

pháp.

|

Trên bình diện quốc tế, từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, ở Châu Âu đã có rất

nhiều cơng trình nghiên cứu về độc lập về dẫn độ hoặc nghiên cứu về luật hình sự

quốc tế, luật quốc tế về quyền con người có đề cập đến dẫn độ của các tác giả có uy


tin lớn trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Căn cứ vào nội dung và phạm vi nghiên
cứu của các cơng trình này, chúng tơi chia thành hai nhóm sau đây:

Nhóm 1: Các cơng trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ! _J„Z-

Nhóm này bao gồm các cơng trình nghiên cứu tiêu biểu đã được xuất bản

thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí

khoa học pháp lý của các tác giả như: Edmond Poullet, (1867), “Luật hình sự cơ
của Duché Brabanf°, Bruxelles, M.Hayer, Vién Hàn lâm Vương quốc Bỉ [139].


Trong cơng trình này, tác giả đã nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của
Luật hình sự cỗ của Vương quốc Brabant (bao gồm Hà Lan và Vương quốc Bỉ ngày
nay) trong đó có để cập đến khái niệm dẫn độ, thủ tục dẫn độ phạm nhân giữa
Brabant với các nước láng giềng; Louis Renault (1879), “Nghiên cứu về dẫn độ giữa

Pháp và Anh”, Nhà xuất bản A.Cotillon [163]. Đây là cơng trình nghiên cứu khá
tồn diện về pháp luật dẫn độ của Anh và Pháp thế kỷ XIX; André (1880), “Nghiên

cứu về các điều kiện dẫn độ”, Nhà xuắt bản L.Larose [132]. Cơng trình này nghiên
cứu về các điều kiện để Pháp dẫn độ và từ chối dẫn độ cho nước ngồi khi có u
cầu; Maurice Violet (1898), “Thủ tục dẫn độ, đặc biệt tại lãnh thổ nước tị nạn”,

Nhà xuất bản Giard & Brière [165]. Cơng trình này nghiên cứu về thủ tục dẫn độ
nói chung và thủ tục dẫn độ tại quốc gia mà người bị yêu cầu dẫn độ đang tị nạn nói
riêng; Charles Soldan (1882), “Dẫn độ tội phạm chính trị”, Nhà xuất bản Thorin

[134]. Đây là cơng trình nghiên cứu về tội phạm chính trị với các nội dung như:

Định nghĩa tội phạm chính trị; các yếu tố cầu thành tội phạm chính trị; yêu cầu và

xử lý yêu cầu dẫn độ người phạm tội chính trị, Maulineau (1879), “Hậu quả pháp lý

của dẫn độ”, Nhà xuất bản F.Le Blanc-Hardel [164]. Trong cơng trình này, tác giả
nghiên cứu về hậu quả pháp lý phát sinh từ việc dẫn độ như cách thức truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người bị dẫn độ, điều kiện và phương thức thi hành án

tại quốc gia yêu cầu; Paul Bernard (1890), “Lý luận và thực tiễn dẫn độ”, tái bản lần
2, Nhà xuất bản Duchemin [167]. Trong cơng trình nghiên cứu này, tác giả đã đề
' VỊ số trang của luận án có hạn nên tác giả chỉ nêu tóm tắt những nội dung cơ bản của các

cơng

nghiên
cửu độc lập về dẫn độ cịn các cơng trình nghiên cứu về luật quốc tế, luật hình sự quốc tế, luậttrình
quốc
tế về
quyển
con người có nội dung dẫn độ tác giả chỉ liệt kê tên của cơng trình mà khơng nêu nội dung.


cập đến định nghĩa, nguyên tắc, điều kiện, đối tượng bị dẫn độ và thực tiễn dẫn độ ở

| một số quốc gia Châu Âu như Anh, Pháp, Vương quốc Bi, Tây Nha và Italia; Viện
Luật quốc tế (1923),“Tuyển tập các vụ việc của Tòa án” [126] và D.J.Harris
(1991), “Các vụ việc cụ thể về luật quốc tế ” [179]. Hai cơng trình này nghiên cứu về
thực tiễn các vụ việc dẫn độ ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia ở Châu Âu;
_ an

Anthony

Shearer (1971),“Ddn độ trong luật quốc tế”, Nhà xuất bản

Manchester University Press Dobbs Ferry, N.Y, Oceana Publications [183]. Đây là
cơng trình nghiên cứu vẻ dẫn độ trong các ĐƯQT song phương và đa phương được

ký kết giữa các quốc gia Châu Âu và trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc và EU;

_ Kalfat (1987), “Áp dụng các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia trong dân độ bị
động”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hình sự, Đại học Paris 2 [143].


Luận án này nghiên cứu vẻ trình tự, thủ tục dẫn độ do quốc gia được yêu cầu thực
hiện (thủ tục dẫn độ bị động); Ducel (André) (1988), “Nghiên cứu so sánh thực tiễn

dẫn độ của Pháp với các nước Anh - Mỹ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành

Luật quốc tế, Đại học Monpellier I [138]. Luận án này nghiên cứu so sánh pháp luật

dẫn độ của Pháp với pháp luật dẫn độ của Anh, Mỹ và thực tiễn dẫn độ giữa các

nước này với các nước khác trong giai đoạn từ 1945 đến 1980; Henry (F.), Ép.
Ringel (1988), “Tội phạm chính trị trong pháp luật về dẫn độ ”, luận án Tiến sĩ Luật

học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Aix-Marseille [141]. Luận án này nghiên
cứu các quan điểm khác nhau về tội phạm chính trị và vấn đề xung đột về định danh

tội phạm chính trị và thực tiễn dẫn độ người phạm tội chính trị; Ingeade

_ (1988), “Chế độ pháp lý của dẫn độ trong khuôn khổ của Hội đồng Châu Âu”, luận
án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I [142]. Luận
án này nghiên cứu pháp luật của Châu Âu về dẫn độ được cụ thể hóa trong Công
ước của Châu Âu về dẫn độ năm 1957; Loued, Mohamed Naceur (1989), “Thi tuc
dân độ bị động trong pháp luật hiện đại của Pháp”, luận án Tiến sĩ Luật học,

chuyên ngành tố tụng hình sự, Đại học Khoa học xã hội Toulouse [162]. Luận án

nảy nghiên cứu các quy định về dẫn độ trong Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hịa
Pháp được áp dụng trong trường hợp Cộng hòa Pháp là quốc gia được yêu cầu dẫn

|



độ; Zari (Anna), (1991), “Nguyên tắc đặc biệt trong dẫn độ nhìn từ góc độ qun

con người ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại hoc Paris I
[175]. Luận án này nghiên cứu về các nguyên tắc đặc biệt của dẫn độ liên quan đến
vấn đề bảo vệ quyền của người bị dẫn độ như nguyên tắc không giam giữ hoặc kết
án hoặc trừng phạt người bị dẫn độ vì một tội danh khác tội danh đã được nêu trong

_ Yêu cầu dẫn độ; không dẫn độ người bị yêu cầu dẫn độ đến nước thứ ba nếu khơng
_ sự đồng ý của nước được yêu cầu; dẫn độ sẽ bị từ chối nếu việc dẫn độ có khả
năng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị dẫn độ
hoặc việc dẫn độ là nhằm mục đích trừng phạt người bị u cầu dẫn độ vì lý do
chính trị, nguồn gốc xã hội, tín ngưỡng, tơn giáo, sắc tộc; André VITU (1992), “Am

sắt chính trị trong luật quốc tế và dẫn độ”, Nhà xuất bản Gazette Palais, Paris
[51]. Công trình này nghiên cứu về tội phạm ám sát Nguyên thủ quốc gia và thành

viên trong gia đình họ và vấn đề dẫn độ người đã thực hiện hành vi tội phạm này:
Adrien Masset va Anne Sophie Massa (2007), “Dân đơ”, Tạp chí Khoa học về tội
phạm, Đại học Liège, Vương quốc Bi [130]. Trong cơng trình này, các tác giả đã

nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của dẫn độ; đối tượng bị dẫn độ và
pháp luật về dẫn độ của Vương quốc Bi; Ủy ban Châu Âu về vấn đề tội phạm

(CDPC) và Ủy ban chuyên gia về thực thi các Công ước của Châu Âu trong lĩnh

vực hình sự (2003), “Cơng ước Châu Âu về dẫn độ - Hướng dẫn và thủ tục” [1A4],

Đây là cơng trình nghiên cứu tổng hợp về pháp luật và thủ tục dẫn độ theo các


ĐƯỢT về dẫn độ của Châu Âu (Công ước về dẫn độ Châu Âu năm 1957; Cơng ước

về đơn giản hóa thủ tục dẫn độ của Châu Âu năm 1995; Công ước về dẫn độ giữa
các nước thành viên Liên minh Châu Âu năm 1996 và Quyết định khung về lệnh

bắt và thủ tục chuyển giao giữa các nước thành viên Châu Âu năm 2002) và pháp
luật về dẫn độ của các quốc gia thành viên EU...

Nhóm 2: Các cơng trình nghiên cứu về luật quốc tế, luật nhân đạo quốc
tế,

luật quốc tế về quyền con người có nội dung dẫn độ.

Nhóm này bao gồm các cơng trình nghiên cứu của các tác giả như:
Thomas.J.Biersteker, Peter.J.Spiro, Chandra Lekha Sriram, va Veron
ica Raffo


(2003), “ Luật quốc tế và quan hệ quốc tế - Lý luận và thực tiễn” [188], Nhà xuất
bản Routledge, London and New York; Dominique Carreau (2004), “Luật quốc l
[136]”, Nhà xuất bản Paris Perdon; Malcolm.N.Shaw (2008), “Luật quốc té”, Dai

hoc Cambridge, xuét ban lan thir 6 [185]; Gilbert. G (1991), “Ludt dan độ và vấn dé
quyén

con

ngudi”,

Nha


xudt

ban

Martimes

Nijhoff

[184];

Claudin

DIB

_ (2008), “Dân độ và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và các giải pháp khả di tai
Canada ", luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Qbec, Montréal, Canada [133]...

Các cơng trình nghiên cứu này chi đề cập đến một số vấn đề mang tính khái
quát về dẫn độ như: Khái niệm, mục đích, nguyên tắc, điều kiện của dẫn độ; mối
quan hệ của dẫn độ với ty nạn, với vấn đề bảo vệ quyền con người trong luật quốc

tế nói chung và luật nhân đạo quốc tế, luật quốc tế về quyền con người nói riêng.

Do vậy, nội dung về dẫn độ trong các cơng trình này khơng có tính hệ thống như

các cơng trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ.
Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XX đến nay đã có nhiều bài viết, cơng trình
nghiên cứu độc lập về dẫn độ, về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm, về hợp tác tương trợ tư pháp quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế trong tố

tụng hình sự nói riêng đã được cơng bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham

khảo hoặc đã được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý. Căn
cứ vào nội dung và phạm vi nghiên cứu của các cơng trình nói trên chúng tơi chia
thành hai nhóm sau đây:

Nhóm 1: Các cơng trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ.
Nhóm này bao gồm các cơng trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu như:

Nguyễn Ngọc Anh (2000), “Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư

pháp giữa Việt Nam với các nước ”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5. Trong bài

viết này, tác giả đã nghiên cứu các quy định về dẫn độ trong các HĐTTTP mà Việt
Nam đã ký kết với các nước; Dương Tuyết Miên (2006),“Vấn đề dẫn độ tội phạm ",

Tạp chí TAND số 10 (5). Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến một số nội dung

về dẫn độ như: Khái niệm dẫn độ: phân biệt thuật ngữ dẫn độ với một số thuật ngữ

khác; các nguyên tắc của dẫn độ; căn cứ dẫn độ; đối tượng, phạm vi dẫn độ và thủ


tục giải quyết dẫn độ; Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công
(2006), “Dẫn độ những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân

dân, Hà Nội. Theo chúng tơi, đây là cơng trình nghiên cứu toàn diện nhất về dẫn độ
ở Việt Nam từ trước đến nay. Trong cơng trình này, các tác giả đã đề cập đến các
nội dung cơ bản về dẫn độ như: Khái niệm, nguyên tắc của dẫn độ; các quy định về


dẫn độ trong các Hiệp định mẫu và luật dẫn độ của Nhật Bản, Trung Quốc; thực
trạng dẫn độ ở Việt Nam và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả dẫn độ ở
Việt Nam; Đào Thị Hà (2006), “ Vấn đề dẫn độ trong pháp luật Việt Nam ”, luận văn
Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Về nội dung, luận văn này

nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của dẫn độ và thủ tục dẫn độ theo
các HĐTTTP mà Việt Nam đã ký kết với các nước và các quy định về dẫn độ trong
BLTTHS; Nguyễn Thị Thủy (2007), “Một số vấn đề về dẫn độ tội phạm”, Tạp chí

Kiểm sát số 16 (8). Bài viết này đã đề cập đến một số nội dung khái quát về dẫn độ
như: Định nghĩa, đặc điểm của dẫn độ; các quy định và thủ tục dẫn độ trong các
HĐTTTP giữa Việt Nam với các nước.

Nhóm 2: Các bài viết, cơng trình nghiên cứu về luật hình sự, tố tụng hình sự,

tội phạm học và tương trợ tư pháp có dé cập đến nội dung dẫn độ.

|

Nhóm này bao gồm các cơng trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu như:

Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương trợ pháp lý về hình sự và
chuyến giao phạm nhân quốc té trong đấu tranh phòng, chong tội phạm”, Nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm và
tương trợ tư pháp hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam ",

Tạp chí TAND số 1 (1); Vụ pháp luật quốc tế (2006), “Pháp luật Tương trợ tư pháp

quốc té”, tai liệu tham khảo xây dựng Dự án Luật TTTP, Nhà xuất bản Tự pháp, Hà


Nội; Bộ Công an (2007), “Kỷ yếu Hội thảo quốc gia phòng chống tội phạm trong
bỗi cảnh tồn câu hóa và hội nhập kinh tế quốcft”, Nhà xuất ban Công an nhân
dân, Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Nga (2007), “Dân độ tội phạm và hoạt động tương
trợ tư pháp của Viện Kiểm sát trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tỖ
nước

ngồi”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Thu Thủy, “7rong lĩnh vực tương trợ tư pháp


và dẫn độ: Đặt nhiều kỳ vọng vào Luật Tương trợ tư pháp”, Báo Pháp luật Việt

Nam ngày 28/5/2007; Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007), Hợp tác quốc tê
đầu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nhà

xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Cường (2008), “Hợp
tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bỗi cảnh hội nhập kinh tế quốc tẾ", Tạp chí

TAND số 2 (1); Chử Văn Dũng (2008), “Hoạt động INTERPOL trong thực hiện
tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật

học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Đại học Cảnh sát nhân dân (2009), “Hoạt động
tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tỐ nước ngồi của lực

lượng cảnh sát nhân dân - Lý luận và thực tiễn ”, đề tài nghiên cứu khoa cắp bộ, mã
số: BX-2008-T48-23; Nguyễn Giang Nam (2011), “Hoạt động tương trợ tư pháp

hình sự và dẫn độ tội phạm trong điều tra tội phạm có yếu tỖ nước ngồi”, luận án
Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân...


Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, các cơng trình nói trên chủ yếu nghiên
cứu về dẫn độ trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của Bộ Công an và Viện Kiểm

sắt về tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn độ giữa Việt Nam với nước ngoài. Cơ sở

pháp lý quốc tế để nghiên cứu là các HĐTTTP, các ĐƯQT về tranh phòng, chống

tội phạm có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và các quy định

về dẫn độ trong BLTTHS. Về nội dung, các cơng trình nghiên cứu này khơng tồn
diện như các cơng trình nghiên cứu chuyên ngành về dẫn độ. Mặt khác, đa số cơng

trình nói trên được thực hiện trước khi Luật TTTP được ban hành. Do vậy, cơ sở

pháp lý để viện dẫn, chứng minh, so sánh các quy định vẻ dẫn độ trong các ĐƯQT

mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập với pháp luật Việt Nam về dẫn độ đã lạc hậu so

với Luật TTTP. Các cơng trình nghiên cứu của các tác giả Chử Văn Dũng, Nguyễn
Giang Nam

được thực hiện sau khi Luật TTTP

được ban hành nhưng phạm vi

nghiên cứu quá rộng, bao gồm cả lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn
độ

nên nội dung về dẫn độ khơng được nghiên cứu tồn diện và chun sâu như các


cơng trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ.


10

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về dẫn độ như đã
đề cập ở trên chúng tơi thấy rằng, các cơng trình nghiên cứu của các tác giả trong
nước và nước ngoài đã rất thành công trong việc nghiên cứu và làm sáng tỏ những
vấn để lý luận cơ bản về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia cũng như
thực tiễn ký kết, gia nhập, thực hiện ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của một số quốc
gia trên thế giới và Việt Nam. Kết quả của các cơng trình nghiên cứu về dẫn độ
trong nước và nước ngoài đã đóng góp rất to lớn trong việc xây dựng, phát triển và

hoàn thiện chế định dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đồng thời là
nén tang lý luận và thực tiễn cơ bản để tác giả tiếp tục nghiên cứu vấn đề dẫn độ
trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề lý luận

và thực tiễn về dẫn độ cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như: Khái niệm,
đặc điểm và nguyên tắc của dẫn độ; phân biệt dẫn độ với các hình thức hợp tác quốc
tế khác trong đầu tranh phòng, chống tội phạm; đối tượng, phạm vi và thủ tục dẫn
độ; vai trò của Tòa án trong lĩnh vực dẫn độ, dẫn độ với vấn đề bảo vệ quyền con
người trong giai đoạn hiện nay...

Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về dẫn độ trong
luật quốc tế và pháp luật Việt Nam vẫn rất cần thiết trong lĩnh vực khoa học pháp lý
hình sự và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
a. Mục đích nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu tồn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ trong


luật quốc tế và pháp luật Việt Nam nhằm góp phần hồn thiện các ĐƯQT có quy

định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam về dẫn độ.
Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả đàm phán, ký kết và thực hiện DUQT va
pháp luật Việt Nam vẻ dẫn độ.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được các mục đích nghiên cứu đã xác định, luận án thực hiện ba

nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

1. Củng cỗ và hoàn thiện các vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ.


11

Nhiệm vụ này được tác giả thực hiện thông qua việc nghiên cứu nội dung các

ĐƯQT về dẫn độ được ký kết giữa các quốc gia hoặc trong khuôn khổ các tổ chức
quốc tế và các cơng trình nghiên cứu tiêu biểu về dẫn độ của các tác giả trong nước
và nước ngoài để làm sáng tỏ các vấn đẻ lý luận cơ bản về dẫn độ như: Lịch sử hình
thành và phát triển của dẫn độ; khái niệm, đặc điểm và phân loại dẫn độ; đối tượng,
_ phạm vỉ và thủ tục dẫn độ; cơ sở pháp lý và các nguyên tắc của dẫn độ: phân biệt

dẫn độ với các hình thức hợp tác quốc tế khác trong lĩnh vực đấu tranh phòng,
chống tội phạm; vai trò của Tòa án trong lĩnh vực dẫn độ và mối quan hệ giữa dẫn

độ với van đề bảo vệ quyền con người.
2. Nghiên cứu các quy định vê dẫn độ trong các điều ước quốc tế mà Việt

Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam về dẫn độ.
Nhiệm vụ này được tác giả thực hiện thông qua việc nghiên cứu tình hình

đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện các ĐƯQT song phương và đa phương có
quy định về dẫn độ của Việt Nam từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay. Qua đó,
tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích và làm rõ nội dung các quy định về dẫn độ
trong các HĐTTTP, Hiệp định dẫn độ, các ĐƯQT đa phương của Liên Hợp Quốc

và ASEAN về đấu tranh phòng, chống tội phạm mà Việt Nam đã ký kết và gia
nhập. Đồng thời, tác giả phân tích, so sánh các quy định về dẫn độ trong các ĐƯQT

mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập với các quy định về dẫn độ trong BLTTHS và
Luật TTTP làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về dẫn độ.
3. Dự báo các yếu tô liên quan đến dẫn độ ở Việt Nam làm cơ sở cho việc
xây đựng các giải pháp góp phân hồn thiện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt

Nam về dẫn độ đông thời nâng cao hiệu quả dẫn độ giữa Việt Nam với các nước.
Nhiệm vụ này được tác giả thực hiện thông qua việc nghiên cứu, đánh giá
nguyên nhân và điều kiện ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến tình hình tội phạm ở

Việt Nam và thế giới, đặc biệt là tội phạm có yếu tố nước ngồi, tội phạm có tổ

chức xun quốc gia để đưa ra dự báo về tình hình tội phạm. Đồng thời, nghiên
cứu, đánh giá xu thế ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT vẻ dẫn độ của Việt Nam


12

để đưa ra dự báo về hợp tác dẫn độ giữa Việt Nam với các nước trong thời gian tới.

Kết hợp với kết quả nghiên cứu của Chương 1 và Chương 2 của luận án, tác giả xây

dựng và kiến nghị các giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật quốc tế và pháp luật
Việt Nam về dẫn độ đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả xác định
đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ
trong luật quốc tế với trọng tâm là các ĐƯQT song phương và đa phương có quy
định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam về dẫn độ

với trọng tâm là các quy định về dẫn độ trong BLTTHS và Luật TTTP hiện hành.

5. Pham vỉ nghiên cứu của luận án

VỀ pháp luật quốc tế, phạm vỉ nghiên cứu trọng tâm của luận án là các
ĐƯQT song phương và đa phương có quy định về dẫn độ, đặc biệt là các HĐTTP,
Hiệp định dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập từ thập niên 80 của thế kỷ XX
đến nay. Ngồi ra, luận án cịn nghiên cứu một số ĐƯQT

song phương và đa

phương tiêu biểu được ký kết giữa các quốc gia hoặc trong khuôn khổ các tổ chức
quốc tế và pháp luật về dẫn độ của một số quốc gia trên thế giới để làm sáng tỏ các

vấn để lý luận cơ bản về dẫn độ.

Về pháp luật Việt Nam, phạm vi nghiên cứu của luận án là các quy định về
dẫn độ trong BLTTHS và Luật TTTP.
_
Về thực tiễn, từ trước đến nay do chưa được thực hiện chính thức nên các cơ

quan đầu mối trung ương của Việt Nam có trách nhiệm thực hiện việc dẫn độ là
VKSND tối cao (theo quy định của các HĐTTTP có quy định về dẫn độ mà Việt

Nam đã ký kết), Bộ Công an và Bộ Tư pháp (theo quy định của Luật TTTP)? khơng

có các số liệu thống kê cụ thể về dẫn độ mà chỉ có các số liệu thống kê về công tác

2 Theo quy định của Luật TTTP, Bộ Cơng an có trách nhiệm, định kỳ sáu tháng và hằng năm
báo với
Bộ Tư pháp tình hình thực hiện yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạtthơng
tù (Điều 65

khoản 3) và Bộ Tư pháp có trách nhiệm, hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động
tương trợ tư pháp (Điều
62 khoản 5). Tuy nhiên, từ khi Luật TTTP có hiệu lực đến nay (01/7/2008), các Báo
cáo tổng hợp hàng năm

của Bộ Tư pháp về dẫn độ cũng chỉ đề cập đến kết quả bắt truy nã của Việt Nam cho nước ngồi và của nước

ngồi cho Việt Nam thơng qua kênh hợp tác INTERPOL và ASEANPOL.


13

bắt truy nã quốc tế qua kênh hợp tác INTERPOL, ASEANPOL do Văn phòng
INTERPOL Việt Nam thống kê. Do vậy, về thực tiễn, các số liệu thống kê được tác
giả sử dụng trong luận án để đánh giá kết quả thực hiện ĐƯQT và pháp luật Việt
Nam liên quan đến dẫn độ là các số liệu thống kê chung về công tác bắt truy nã
quốc tế qua kênh hợp tác INTERPOL và ASEANPOL do văn phòng INTERPOL
thống kê từ năm 2000 đến nay.

6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được nghiên cứu dựa trên nên tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê
nin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về

Chiến lược cải cách tư pháp, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam phục vụ tiến trình hội nhập quốc tế trong đó có hội nhập pháp luật quốc tế
trong lĩnh vực tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói riêng được thể hiện trong
các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là BLTTHS
và Luật TTTP.

Luận án được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu duy

vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so
sánh. Trong đó, phương pháp so sánh là phương pháp chủ đạo được tác giả thực
hiện xun suốt và có hệ thơng, thơng qua việc nghiên cứu so sánh các quy định về

dẫn độ trong các DUQT song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết và gia
nhập với các quy định về dẫn độ trong BLTTHS và Luật TTTP.
7. Tính mới của Luận án

Thứ nhất, luận án là cơng trình nghiên cứu có hệ thống và tồn diện các vấn
đề lý luận về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam;
Thứ hai, luận án là cơng trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống
và tồn điện về dẫn độ trong các HĐTTTP, Hiệp định dẫn độ và các ĐƯQT của
Liên Hợp Quốc, ASEAN về đấu tranh phòng, chống tội phạm mà Việt Nam đã ký

kết và gia nhập từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay.

Thứ ba, luận án là cơng trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu so sánh pháp

luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về dẫn độ với trọng tâm là so sánh các quy định


14

về dẫn độ trong các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập với pháp luật Việt

Nam với trọng tâm là các quy định về dẫn độ trong BLTTHS và Luật TTTP.

Thứ tư, luận án là cơng trình đầu tiên ở Việt Nam xây dựng đồng bộ giải

pháp quốc tế và quốc gia nhằm góp phần hồn thiện các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký
kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam về dẫn độ. Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu
_ quả đàm phán, ký kết, thực hiện ĐƯQT va pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.

8. Ý nghĩa khoa học của luận án
Về phương diện lý luận, luận án sẽ góp phần củng cố và hoàn thiện cơ sở lý
luận về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam để các nhà lập pháp, các cơ
quan có thấm quyền, cán bộ nghiên cứu tham khảo vận dụng trong công tác đàm
phán, ký kết, gia nhập ĐƯỢT vẻ dẫn độ cũng như xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Việt Nam về dẫn độ.

va phương diện thực tiễn, luận án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
DUQT và pháp luật Việt Nam về dẫn độ. Đồng thời, luận án sẽ là tài liệu đáng tin
cậy và hữu ích cho giáo viên, sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu, cán bộ,
chuyên gia làm cơng tác thực tiễn trong các ngành Tịa án, Kiểm sát, Công an,

Ngoại giao tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập và có thể vận dụng để
giải quyết các vụ việc cụ thể liên quan đến dẫn độ ở Việt Nam.

9. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án được xây dựng thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ
Chương 2: Thực trạng dẫn độ trong điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam
-

¬

-


15

Chuong 1
NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE DAN DO
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của dẫn độ

1.1.1 Khái niệm dân độ
Về phương diện lịch sử, thuật ngữ “dén độ” mới được sử dụng phổ biến
trong các ĐƯỢT và pháp luật quốc gia về dẫn độ từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Tuy
nhiên, hoạt động hợp tác dẫn độ thì đã manh nha xuất hiện từ thời kỳ xã hội lồi

người đang tồn tại dưới hình thức bộ lạc. Vào thời kỳ này, các bộ lạc đã có những
cam kết để trao trả cho nhau những người vỉ phạm luật tục ở bộ lạc này nhưng đang

lắn trốn ở bộ lạc khác. Đây chính là hình thức sơ khai nhất của dẫn độ. Mặc dù vào
thời kỳ đó, hoạt động này chưa được gọi là “dẫn độ” như ngày nay mà được gọi đơn

giản là “trao trả” người vi phạm về nơi mà họ đã có hành vi vi phạm hoặc nơi mà
họ đã bị buộc phải chịu hình thức xử phạt [3, tr.9].

Về phương diện pháp luật quốc tế, từ thế kỷ thứ XIII trước Công nguyên, Ai

Cập cỗ đại dưới thời Vua RamesesII và Hittites cổ đại dưới thời vua Hattusili III

vào năm 1280 đã ký kết Hiệp ước Hịa bình. Một trong những nội dung cơ bản của

Hiệp ước Hịa bình là hai nước cam kết trao trả người phạm tội cho nhau để xét xử

trên cơ sở “có đi có lại” [182, tr.3-41]. Đến thế kỷ XII, Hiệp định về dẫn độ đầu tiên
trên thế giới mới được ký kết giữa Vương quốc Anh với Scotland năm 1174. Tiếp
đó, hàng loạt Hiệp định dẫn độ được ký kết giữa các quốc gia như: Hiệp định dẫn
độ giữa Brabant với Pháp năm 1242 [139, tr.240]; Hiệp định giữa Vương quốc Anh
với Pháp năm 1303 về chuyển giao những người chống đối chính trị; Hiệp định
Franco - Savoyan nim 1376 về dẫn độ tội phạm hình sự; Hiệp định giữa Vương

quốc Anh với Hà Lan năm 1662 về chuyển giao tội phạm chính trị [3, tr.10].... Mặc

dù vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX, dẫn độ mới trở thành hình thức hợp tác quốc tế

phô biến giữa các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia ở Châu Âu và Châu Mỹ trong
lĩnh vực đầu tranh phòng, chống tội phạm [140, tr. 285].


16


_

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật quốc tế, một số lượng đồ sộ DUQT song
phương và đa phương về dẫn độ được ký kết giữa các quốc gia và trong khuổn khổ
các tổ chức quốc tế liên chính phủ như Liên Hợp Quốc, EU, Liên đoàn các nước Ả
Rập, Tổ chức các nước Mỹ La tỉnh, Liên minh kinh tế Benelux, Cộng đồng kinh tế

Tây Phi, các quốc gia Bắc Âu, Khối thịnh vượng chung... đã làm cho pháp luật
_ quốc tế về dẫn độ ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Các ĐƯQT về dẫn độ là
những cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng nhất để các quốc gia hợp tác dẫn độ cho
nhau khi có nhu cầu. Mặt khác, chính hoạt động ký kết, gia nhập, thực hiện ĐƯQT
về dẫn độ đã từng bước xây dựng, bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn
về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Như vậy, có thể khẳng định răng, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm

đã làm phát sinh nhu cầu hợp tác dẫn độ giữa các quốc gia. Đồng thời, cũng chính
thực tiễn đầu tranh phịng, chống tội phạm đã chứng minh, dẫn độ là hình thức hợp
_tác tất yêu khách quan và hiệu quả nhất nhằm giúp quốc gia truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc hành hình phạt có hiệu quả đối với người phạm tội ở quốc gia này

nhưng đang lần trốn tại quốc gia khác.

Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là gì? Đây là một trọng

những vấn đề nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế
từ trước đến nay. Theo chúng tôi, để có thể đưa ra khái niệm phản ảnh đầy đủ bản
chất, nội dung và đặc điểm của dẫn độ thì cần phải nghiên cứu một cách tồn diện
cả về phương diện ngôn ngữ học, khoa học pháp lý và pháp luật thực định.


Thứ nhất: Vẻ phương điện ngôn ngữ học
Thuật ngữ “đấn độ” trong tiếng Việt, hay “extradition” trong tiếng Anh và

tiếng Pháp đều có nghĩa chung nhất là hành vi đưa phạm nhân người nước ngoài bị
bắt ở nước này giao cho nước khác để nước đó xét xử [118, tr.82],
[99, tr.578],

[120, tr.256]. Tuy nhiên, khái niệm “dẫn độ” về phương diện ngơn ngữ học
chỉ giải

thích nghĩa của từ “đấn độ” và chỉ phản ánh được dấu hiệu hình thức của dẫn
độ
mà khơng chuyển tải được đầy đủ bản chất, nội dung, đối tượng và mục đích
của
dẫn độ.


17

Thứ hai: Về phương diện khoa học pháp lý

Khái niệm “ddn d6” đã được đề cập từ rất lâu trong các cơng trình nghiên
cứu về luật quốc tế, luật hình sự quốc tế, luật nhân đạo quốc tế và luật quốc tế về
quyên con người của các tác giả nổi tiếng ở Châu Âu.
Theo Frantz Despagnet, dẫn độ là “Hành động mà theo đó, một quốc gia
giao nộp một cá nhân đã bị kết án hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một

hành vi phạm tội bên ngồi lãnh thổ quốc gia cho một quốc gia khác đã yêu câu có
thẳm quyên xét xử hoặc trừng phạt kẻ phạm tội” [140, tr.285].
_


Theo A.Billot, dẫn độ là “Hành động của một quốc gia chuyển giao một cá

nhân đã bị kết án hoặc đã bị truy tổ về một tội danh mà người đó đã thực hiện

ngồi lãnh thơ của quốc gia đó, cho một quốc gia yêu cầu mà quốc gia này có thẩm

quyên xét xử và thi hành hình phạt đối với người đó ” [136, tr.1],
Theo Baron Albéric Rolin, dẫn độ là “Hành động của quốc gia này giao nộp
một người đã phạm một tội ác hoặc một tội phạm hình sự hoặc đã bị xét xử cho một

quốc khác có thẩm quyên xét xử người đó hoặc bắt người đó phải chịu hình phat”

[126, tr.182].

|

|

Theo các tac gid Adrien Masset va Anne Sophie Massa, din độ “/d sy chuyén
giao một cá nhân từ một quốc gia nay cho mét quốc gia khác, nhằm mục đích xét xử
người đó hoặc buộc người đó phải chịu hình phạt” [130, tr.1].
Theo chúng tôi, khái niệm dẫn độ mà các tác giả Frantz Despagnet, A.Billot

và Baron Albéric Rolin đưa ra chỉ phản ảnh được các yếu tố cơ bản của dẫn độ như:

Chủ thể thực hiện việc dẫn độ là các quốc gia; đối tượng bị dẫn độ là người đã thực
hiện hành vi phạm tội hoặc đã bị xét xử và mục dich của dẫn độ là giúp cho quốc
gia yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc buộc người bị dẫn độ thi hành hình


phạt của bản án đã có hiệu lực pháp luật mà chưa lột tả được bản chất của dẫn độ.

Trong khi đó, khái niệm dẫn độ mà các tác giả Adrien Masset và Anne
Sophie Massa đưa ra chỉ đề cập đến chủ thể thực hiện dẫn độ, mục đích của dẫn độ

nhưng chưa chỉ rõ đối tượng bị dẫn độ và bản chất của dẫn độ là gì.


18

Theo INTERPOL, dẫn độ là “Sự giao nộp từ một quốc gia này (quốc gia
được yêu cẩu) một cá nhân được tìm thấy trên lãnh thổ của mình cho một quốc gia
khác (quốc gia yêu cẩu) - quốc gia này đang truy nã người đó nhằm mục đích xét
xử về các hành vi phạm tội mà người đó đã thực hiện hoặc buộc người đó phải
chấp hành hình phạt mà Tòa án của quốc gia này (quốc gia yêu cầu) đã tun ”

[190].

Chúng tơi hồn tồn đồng ý với quan điểm cho rằng, khái niệm này chỉ đề
cập đến chức năng, nhiệm vụ của INTERPOL là truy nã người phạm tội bỏ trốn
giữa các quốc gia [3, tr.14] mà chưa làm nổi bật được các đặc điểm của dẫn độ.
Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu và đưa ra các
khái niệm khác nhau về dẫn độ. Theo tác giả Nguyễn Huy Chiểu, dẫn độ được hiểu

là “Thủ tục quốc tế, do một quốc gia (gọi là quốc gia thỉnh câu) thỉnh cẩu một quốc
gia (gọi là quốc gia bị thỉnh câu) giao cho mình một can pham tron tránh ở trong
lãnh thơ quốc gia ấy để xét xử hoặc bắt chịu hình phạt đã tuyên xử” [19, tr.130].
Chúng tôi cho răng, khái niệm này còn chung chung, chưa lột tả hết nội dung và bản

chất của dẫn độ.


|

|

Theo tác giả Nguyễn Xuân Yêm, “Dấn độ tội phạm là một hoạt động tổ tung

hình sự quốc tế cho phép quốc gia có chủ qun thực hiện hình phạt đối với người

có hành vi phạm tội trồn tránh pháp luật khi người phạm tội đó trắn ra ngồi
biên

giới quốc gia” [123, tr.17]. Theo chúng tơi, khái niệm này chưa thật thuyết phục vì
các lý do sau đây:

Một là, trong khái niệm trên, tác giả sử dụng thuật ngữ “dẫn độ tội phạm ” là

chưa chính xác. Bởi lẽ, trong khoa học pháp lý hình sự, “tội phạm” là “bàn?
vị nguy

hiểm cho xã hội” [10] nên “tội phạm” không thẻ là đối tượng bị dẫn độ. Đối tượng
bị dẫn độ phải là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị truy cứu
trách

nhiệm hình sự hoặc đã bị xét xử bằng bản án đã có hiệu lực
pháp luật ở quốc gia

này nhưng đang lần trốn tại quốc gia khác. Chính vì vậy, khơng thể đồng
nhất khái
niệm dẫn độ với “dẫn độ tội phạm ”.



19

Hai là, trong khái niệm trên, tác giả cho rằng, dẫn độ tội phạm là “hoạt động
tổ tụng hình sự quốc tế” là chưa hợp lý. Theo chúng tôi, tố tụng hình sự là một quá
trình bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự với
nhiệm vụ trung tâm là xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tế

tụng hình sự quốc tế là hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử những kẻ đã
thực hiện các tội phạm quốc tế gồm: Tội diệt chủng, tội phạm chiến tranh, tội phạm
chống lại nhân loại và tội xâm lược trên cơ sở các ĐƯQT và do các Tịa án hình sự

quốc tế thực hiện [111]. Trong khi
thiết lập và thực hiện giữa các quốc
hành hình phạt đối với người phạm
gia khác. Tuy nhiên, hoạt động dẫn

đó, dẫn độ là hình thức hợp tác quốc tế được
gia nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi
tội ở quốc gia này nhưng đang lẫn trốn tại quốc
độ chỉ giới hạn trong việc chuyển giao và tiếp
nhận người bị yêu cầu dẫn độ từ quốc gia được yêu cầu cho quốc gia yêu cầu. Và
khi người bị yêu cầu dẫn độ đã được chuyển giao cho quốc gia yêu cầu thì việc truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người bị yêu cầu dẫn độ do

quốc gia yêu cầu thực hiện và là thắm quyền riêng biệt của quốc gia đó chứ khơng

phải là hoạt động tố tụng hình sự quốc tế.


Ba là, về mục đích của dẫn độ, khái niệm mà tác giả Nguyễn Xuân Yêm đưa

ra chỉ đề cập đến mục đích “thực hiện hình phạt” mà chưa đề cập đến mục

đích “uy cứu trách nhiệm hình sự” đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội

nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Pham Van Céng,
dẫn độ là “iệc một nước chuyển giao cho nước khác công dân của nước được

chuyển giao đang có mặt trên lãnh thơ của nước mình, mà người đó đã có hành vi
phạm tội thuộc thâm quyên truy cứu trách nhiệm hình sự của nước được chuyển
giao; hoặc đã bị Tòa án của nước được chuyển giao kết án và bản án đã có hiệu
lực

pháp luật để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình Sự hoặc thi hành

hình phạt đối với người đó " [3, tr.16].
Theo chúng tơi, đây là khái niệm hoàn chỉnh và toàn diện nhất về dẫn độ do

các nhà khoa học pháp lý hình sự Việt Nam đưa ra từ trước đến nay. Khái
niệm này


×