BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÀO CHÚC PHƯƠNG
LY HƠN VỚI NGƯỜI MẤT TÍCH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
LY HƠN VỚI NGƯỜI MẤT TÍCH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Định hướng ứng dụng
Mã số 60.38.0103
Người hướng dẫn khoa học : TS. Lê Vĩnh Châu
Học viên
: Đào Chúc Phương
Lớp
: Cao học luật khóa 3- Kiên Giang
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu khoa học thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Vĩnh Châu.
Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa
từng được cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tơi xin chịu trách nhiệm về nghiên
cứu của mình.
Tác giả
Đào Chúc Phương
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Từ được viết thường
1
BLDS 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015
2
Luật HN&GĐ 2014
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
3
TAND
Tịa án nhân dân
4
TANDTC
Tịa án nhân dân tối cao
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. CĂN CỨ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU LY HÔN VỚI MỘT BÊN
VỢ, CHỒNG MẤT TÍCH ........................................................................................ 7
1.1. Ly hơn khi mợt bên vợ hoặc chồng chưa có quyết định tuyên bố
mất tích ..................................................................................................... 7
1.2. Ly hôn với một bên vợ hoặc chồng đã có quyết định tuyên bố mất
tích ........................................................................................................... 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 22
CHƯƠNG 2. HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN VỢ
HOẶC CHỒNG BỊ TUYÊN BỐ MẤT TÍCH ...................................................... 23
2.1. Quyền lợi của con chung khi ly hôn với một bên vợ hoặc chồng
mất tích ................................................................................................... 23
2.2. Quan hệ tài sản khi ly hôn với một bên vợ hoặc chồng mất tích ...... 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 39
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 40
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi để cho các thành viên trong gia đình
trưởng thành và phát triển. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia
đình khác nhau. Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá
trình phát sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình đều
thực hiện những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trị là tế bào của xã hội.
Sớm nhìn thấy vai trị nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ giữa gia
đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm đến gia đình là
đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia
đình tốt thì xã hội mới tốt. Điều đó nói lên rằng phát triển xã hội cùng với việc xây
dựng xã hội mới phải quan tâm thường xuyên đến việc cũng cố quan hệ hôn nhân
và gia đình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, sự bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin và cùng với sự du
nhập của nhiều luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây đã làm thay đổi rất
nhiều quan điểm, lối sống và lý tưởng ở mỗi người, đặc biệt là trong quan hệ gia
đình biểu hiện rõ nhất là số vụ ly hôn ngày càng gia tăng.
Luật hôn nhân gia đình 2014 của Nhà nước ta có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2015 đến nay đã được hơn 08 năm. Quá trình thi hành và áp dụng
Luật đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần xây dựng và cũng cố chế độ hơn
nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử
của các thành viên trong gia đình, xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc
và bền vững, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Tại Tịa án nhân dân trong những năm qua cũng đã áp dụng Luật hơn nhân và
gia đình giải quyết nhiều vụ việc ly hơn. Nhìn chung các vụ việc được Tịa án giải
quyết theo quy định của pháp luật đạt hiệu quả cao với phương châm “đạt lý, thấu
tình” đảm bảo quyền lợi của các đương sự, nhất là quyền lợi của người vợ và các
con chưa thành niên.
Tuy nhiên, vẫn còn một số vụ việc được giải quyết theo quan điểm “khiên
cưỡng”, máy móc dẫn đến việc khiếu kiện kéo dài qua nhiều cấp xét xử. Ngun
nhân thì có rất nhiều, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ các quy định của Luật
2
hơn nhân và gia đình về chế định ly hơn với người mất tích (căn cứ cho ly hơn,
các trường hợp ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn) chưa được cụ thể, các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa đầy
đủ dẫn đến cách hiểu khi áp dụng Luật tại các cấp Tịa án nhân dân chưa có sự
nhất quán. Nhiều vụ việc ly hôn với người mất tích có những tình tiết, nội dung
giống nhau nhưng khi áp dụng Luật giải quyết lại có những phán quyết khác nhau
ở các cấp Tòa án, nhất là việc chấp nhận quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng và
giải quyết hậu quả pháp lý của ly hơn cịn có nhiều bất cập và vướng mắc. Tình
hình đó địi hỏi việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật giải quyết các vụ việc ly
hơn với người mất tích tại Tịa án nhân dân là rất cần thiết và có ý nghĩa về lý luận
và thực tiễn sâu sắc.
Chính vì vậy, việc chọn vấn đề “Ly hơn với người mất tích theo pháp luật
Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học là hết sức cần thiết và có tính thời sự,
đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi ngành Tòa án đang thụ lý giải quyết các vụ
án liên quan đến ly hôn đối với người mất tích ngày càng tăng về số lượng và phức
tạp về nội dung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu tác giả thấy rằng những vấn đề liên
quan đến đề tài “Ly hôn với người mất tích theo pháp luật Việt Nam” được đề cập,
trình bày và phân tích trong một số sách chuyên khảo, giáo trình, luận văn thạc sĩ và
bài viết trên các tạp chí, trong đó có thể kể đến một số các tài liệu sau:
- “Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam”, của Trường Đại học
Luật Tp. Hồ Chí Minh, năm 2020 và “Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình Việt
Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2019. Tuy nhiên trong các cơng trình
này, nhóm tác giả chủ yếu tập trung phân tích, bình luận, giải thích Luật hơn nhân
và gia đình, nhằm phục vụ cho việc giảng dạy, vì vậy chưa nghiên cứu sâu về căn
cứ ly hơn với người mất tích, hậu quả pháp lý của ly hôn và thực tiễn áp dụng Luật
hơn nhân và gia đình giải quyết các vụ án ly hơn đối với người mất tích cũng như
chưa đề cập đến các giải pháp nhằm hạn chế những bất cập, vướng mắc trong vụ án
ly hôn với người mất tích.
- Sách: “Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã nghiên
3
cứu phân tích một cách có hệ thống và sâu sắc về những quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên cơng trình này nghiên cứu bình luận chun
biệt về Luật Hơn nhân và gia đình năm 2000 và khơng phân tích nhiều về quy định
ly hơn với người mất tích.
- Sách: “Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam” (Đinh Thị
Mai Phương (Chủ biên), (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cũng giống như
cuốn “Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơng trình này cũng
phân tích các quy định của Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 có phân tích quy
định về căn cứ ly hơn. Tuy nhiên, cơng trình này khơng phan tích nhiều về vấn đề ly
hơn với người mất tích.
- Luận án Tiến sĩ Luật học (2005) của tác giả Nguyễn Văn Cừ:“Chế độ tài
sản của vợ chồng theo Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”. Cơng trình
có đề cập đến vấn đề ly hơn chia tài sản chung của vợ chồng có nêu lên và phân tích
những quy định pháp luật hơn nhân gia đình năm 2000 về chia tài sản chung của vợ
chồng. Tuy nhiên cơng trình chưa đi sâu phân tích về vấn đề xin ly hơn với người
mất tích. Ngồi ra, cơng trình này tác giả viết theo Luật hơn nhân gia đình năm
2000 hiện nay khơng cịn phù hợp nữa.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học (2006) của của tác giả Vũ Thị Hằng: “Chế định
ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Cơng trình có đề cập đến vấn đề ly
hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam, có phân tích chun sâu về những bản
án cụ thể liên quan đến đề tài ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam, có đề
cập sơ qua về ly hơn với người mất tích thơng qua các bản án cụ thể. Tuy nhiên
cơng trình chưa đi sâu phân tích và hệ thống vấn đề ly hơn với người mất tích theo
quy định của pháp luật Việt Nam.
- Lý Văn Tốn & Bùi Khắc Huỳnh (2021), “Góp ý dự thảo nghị quyết hướng
dẫn áp dụng một số quy định của luật hơn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Tịa
án nhân dân điện tử. Trong bài viết này, các tác giả có đề cập đến vấn đề ly hơn với
người mất tích, đưa ra ý kiến nhằm góp phần hồn thiện dự thảo nghị quyết hướng
dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 trong đó có ly
hơn với người mất tích. Tuy nhiên, trong bài viết chỉ đề cập đến một vấn đề nhỏ,
chưa nêu lên toàn diện hồn thiện ly hơn với người mất tích.
4
- Đặng Thanh Hoa & Lê Bá Đức (2021), “ Việc u cầu ly hơn với người mất
tích”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử. Bài viết này các tác giả có đề cập đến vấn
đề ly hơn với người mất tích. Tuy nhiên, cơng trình này thiên về tố tụng không đi
sâu về vấn đề luật nội dung mà chỉ nghiên cứu về trình tự thủ tục ly hơn với người
mất tích tại tịa án.
- Nguyễn Trường Thọ & Danh Pì Sách (2020), “Trường hợp ly hơn với người
bị Tịa án tun bố mất tích- Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hồn thiện pháp luật”,
Tạp chí cơng thương, số 25 tháng 10/2020. Cũng giống như cơng trình “Việc u
cầu ly hơn với người mất tích”, đăng trên Tạp chí Tịa án nhân dân điện tử của tác
giả Đặng Thanh Hoa & Lê Bá Đức. Cơng trình này nghiên cứu về thủ tục tố tụng
việc ly hôn với người mất tích khơng nghiên cứu về pháp luật nội dung.
Nếu như các cơng trình nghiên cứu về hơn nhân và gia đình khá nhiều, thì hầu
như chưa có cơng trình nào nghiên cứu chun sâu về ly hơn với người mất tích.
Trước thực trạng tình hình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy sự cần thiết của việc
nghiên cứu một cách toàn diện từ lý luận đến thực tiễn để hồn thiện các quy định
về ly hơn với người mất tích. Trên cơ sở đó tác giả nghiên cứu đề tài một cách riêng
biệt có chiều sâu và tồn diện về ly hơn với người mất tích trên sơ sở kế thừa những
thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã cơng bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là tác giả muốn làm sáng tỏ những
quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật về ly hôn với
người mất tích, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện các
quy định về ly hơn với người mất tích.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về ly hơn với người mất tích.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
về ly hơn với người mất tích.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ly hơn với người
mất tích.
5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam tại
BLTTDS 2015, LHNGĐ 2014 và các văn bản có liên quan về ly hơn với người mất
tích; việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn và phương hướng hoàn thiện
những quy định về ly hơn với người mất tích.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tên đề tài là “ly hôn với người mất tích theo quy định pháp luật Việt Nam”. Như
vậy, những quy định về hơn nhân và gia đình cũng như ly hôn là rất rộng … nhưng
trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về trường hợp ly hơn với người
mất tích; đi sâu tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể là
LHNGĐ 2014, Luật TTDS 2015 và các luật khác có liên quan quy định về ly hơn với
người mất tích trong thực tiễn hiện nay, các tranh chấp liên quan vấn đề này là rất phổ
biến, chiếm số lượng lớn trong số các vụ án mà Tòa án thụ lý. Trong phạm vi nghiên
cứu, tác giả phân tích những quy định hiện hành về ly hơn với người mất tích. Trên cơ
sở đó, phân tích những bất cập, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn, tác giả đã chọn các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong suốt luận văn để phân
tích các nội dung của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về ly hơn với
người mất tích, đồng thời tác giả còn sử dụng phương pháp này trong việc phân tích
những khó khăn, vướng mắc của việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành
khi giải quyết các u cầu về ly hơn đối với người mất tích, từ đó đưa ra những kiến
nghị nhằm hồn thiện pháp luật.
- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng trong cả chương 1 và chương 2
để so sánh đối chiếu với các quy định liên quan nhằm làm rõ thêm những quy định
về ly hơn với người mất tích so sánh pháp luật hiện tại và pháp luật trước đây nhằm
làm rõ từng vấn đề bất cập.
- Phương pháp bình luận án được tác giả sử dụng chủ yếu trong mục 1.1, 1.2,
2.1, 2.2 để nêu lên thực tiễn áp dụng pháp luật từ đó đưa ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật hiện hành.
6
- Sau cùng là phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để hoàn thành luận
văn trên cơ sở tập hợp các tài liệu đã thu tập được. Phương pháp này cũng được tác
giả sử dụng để tổng kết lại các kết quả nghiên cứu trong phần kết luận của từng
chương và kết luận chung của luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn đã giải quyết vấn đề cơ sở của
những quy định về ly hơn với người mất tích theo pháp luật Việt Nam và việc áp
dụng pháp luật vào thực tiễn. Đánh giá khách quan toàn diện về các quy định của
pháp luật và tác động tới những chủ thể áp dụng pháp luật về ly hơn với người mất
tích theo pháp luật Việt Nam. Góp phần hồn thiện các quy định của pháp luật còn
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hơn với người mất tích theo pháp
luật Việt Nam.
Giá trị ứng dụng của đề tài: Luận văn này có thể sử dụng để làm tài liệu tham
khảo cho các Thẩm phán, Thư ký, Luật sư. Ngoài ra, luận văn cịn có thể sử dụng để
học tập, nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn bao gồm 02 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Căn cứ giải quyết yêu cầu ly hôn với một bên vợ, chồng mất tích.
Chương 2. Hệ quả pháp lý của việc ly hôn với một bên vợ hoặc chồng bị
tuyên bố mất tích
7
CHƯƠNG 1
CĂN CỨ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU LY HÔN
VỚI MỘT BÊN VỢ, CHỒNG MẤT TÍCH
Trong chương này, tác giả tập trung phân tích những quy định của pháp luật
về hai trường hợp giải quyết yêu cầu ly hôn với một bên vợ chồng mất tích theo
pháp luật Việt Nam, theo đó tác giả tập trung vào hai trường hợp phổ biến nhất hiện
nay đó là: Thứ nhất, Ly hơn khi một bên vợ hoặc chồng chưa có quyết định
tuyên bố mất tích; Thứ hai, Ly hơn với một bên vợ hoặc chồng đã có quyết định
tun bố mất tích. Tác giả nêu lên những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp
dụng pháp luật đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm hồn thiện vấn đề này.
1.1. Ly hơn khi một bên vợ hoặc chồng chưa có quyết định tuyên bố
mất tích
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly hôn được quy định ở nhiều văn bản
pháp luật khác nhau. Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Cá nhân có quyền
kết hơn, ly hơn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền
được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong
quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình”1.
Tuy nhiên, khái niệm ly hơn được quy định rõ trong Luật Hơn nhân và gia đình
(HN&GĐ) năm 2014. Cụ thể, theo Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của
Tòa án”2. Đây được xem là cơ sở về mặt pháp lý để chấm dứt quan hệ vợ chồng.
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, gắn liền với vợ chồng, do vợ chồng tự
mình thực hiện mà khơng thể chuyển giao cho người khác (trừ trường hợp, vợ hoặc
chồng mất năng lực hành vi dân sự), vì vậy quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng là cơ
sở để Tồ án xem xét việc giải quyết ly hơn, nhưng Tịa án có giải quyết cho vợ,
chồng ly hơn hay không phải dựa vào căn cứ ly hôn được pháp luật quy định.
Xét về khía cạnh xã hội, hơn nhân là sự kết hợp trên cơ sở hợp pháp và thật
sự tự nguyện của vợ và chồng, khi mà đời sống tình cảm vợ chồng khơng cịn, trong
cuộc sống xảy ra mâu thuẫn, kết hợp với nhiều yếu tố khác làm quan hệ hơn nhân
chỉ cịn tồn tại là hình thức, vì mối quan hệ tình cảm vợ chồng khơng cịn có tiếng
1
2
Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015.
Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 (Luật Số: 52/2014/QH13) ngày 19/6/2014.
8
nói chung. Giải pháp hữu hiệu nhất chính là các đôi vợ chồng hướng tới việc ly hôn.
Như vậy, việc ly hơn nhằm giải phóng cho đời sống đơi vợ chồng thốt khỏi sự mâu
thuẫn kéo dài mà khơng thể giải quyết được.
Xét về mặt pháp lý, việc ban hành quyết định hoặc bản án của Tịa án về ly
hơn giữa hai vợ chồng chính là căn cứ pháp lý làm chấm dứt mối quan hệ vợ chồng,
không bị ràng buộc với nhau bởi các quy định của pháp luật liên quan đến quan hệ
vợ chồng. Trên thực tế, nhiều cặp vợ chồng tuy khơng cịn tình cảm với nhau, họ
không cùng chung sống với nhau, độc lập về kinh tế cũng như các hoạt động cá
nhân liên quan khác. Tuy nhiên, giữa các cặp vợ chồng lại khơng có Bản án hoặc
Quyết định của Tòa án về việc ly hôn giữa hai vợ chồng nên quan hệ vợ chồng giữa
họ vẫn tồn tại, vẫn bị ràng buộc với nhau theo quy định của pháp luật.
Hiện nay pháp luật hiện hành chưa thật sự quy định rõ cho trường hợp vợ
hoặc chồng xin ly hôn với người vợ hoặc chồng kia mất tích nhưng chưa có quyết
định tun bố mất tích của Tịa án. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của
Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2015 và các văn bản có liên quan có thể thấy
vấn đề này hiện nay Tòa án thường áp dụng theo thủ tục chung để giải quyết mà
chưa có những quy định chuyên biệt.
Thời gian gần đây Tòa án nhân dân tối cao có văn bản cho trường hợp vụ án
ly hơn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi là một trường hợp đặc thù; quyền
ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình được pháp luật
bảo vệ theo quy định tại Điều 39 BLDS năm 2015, Điều 51 Luật HN&GĐ năm
2014. Do vậy, trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hơn với người Việt
Nam ở nước ngồi và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam
của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngồi, nếu thơng qua
thân nhân của bị đơn mà có căn cứ để xác định họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở
trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho
Tòa án cũng như khơng thực hiện u cầu của Tịa án thơng báo cho bị đơn biết để
gửi lời khai về cho Tịa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ
chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến
lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị
đơn cho Tịa án cũng như khơng chịu thực hiện u cầu của Tịa án thơng báo cho
bị đơn biết thì Tịa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau
khi xét xử, Tòa án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết
9
định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công
khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú
cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng. 3
Như vậy, theo tinh thần Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11
năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc: “Hướng dẫn giải quyết vụ án ly hơn
có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi nhưng khơng rõ địa chỉ”, thì Tịa án sẽ
tiến hành tống đạt thủ tục cho bị đơn thông quan nhân thân của bị đơn và tiến hành
giải quyết theo thủ tục chung.
Quy định này cũng là một trường hợp không xác định được địa chỉ của bị
đơn hay nói cách khác bị đơn biệt tích nhưng chưa có quyết định tun bố mất tích
của Tịa án và tác giả cho rằng hướng dẫn này áp dụng cho trường hợp ly hôn với
một bên vợ hoặc chồng mất tích nhưng chưa có quyết định tun bố mất tích của
Tịa án là hồn tồn hợp lý vì xuất phát từ quyền ly hôn là một trong các quyền
nhân thân trong hơn nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ.
Mặc dù đã có những quy định như trên của Luật về giải quyết yêu cầu ly hôn
khi một bên vợ hoặc chồng mất tích, tuy nhiên hiện nay, vấn đề ly hơn khi một bên
vợ hoặc chồng mất tích nhưng chưa có quyết định tun bố mất tích của Tòa
án trong thực tiễn giải quyết cũng gặp rất nhiều khó khăn, có nhiều quan điểm
khác nhau và có nhiều cách hiểu và áp dụng mỗi nơi mỗi khác có nơi Tịa án
khơng thụ lý giải quyết hoặc là khi thụ lý sau đó đình chỉ giải quyết vụ án, có
nơi Tịa án tiến hành thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Cụ thể:
Thứ nhất, nguyên nhân do nhầm lẫn giữa điều kiện thụ lý vụ án và căn cứ xin
ly hơn vì theo quy định khi một người bị tun bố mất tích thì Tịa án giải quyết cho
ly hơn. Chính vì căn cứ này mà có nơi Tòa án cho rằng để giải quyết vụ án với
người biệt tích (chưa có quyết định tun bố mất tích bắt buộc phải có quyết định
tuyên bố một người mất tích thì Tịa án mới thụ lý giải quyết). Do vẫn chưa có quy
định rõ ràng nên trong q trình thụ lý có nhiều quan điểm khác nhau. Vấn đề đặt ra
là có bắt buộc yêu cầu người khởi kiện tun bố mất tích đối với người biệt tích,
khơng biết thông tin địa chỉ trước khởi kiện xin ly hôn hay khơng?
Cơng văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tồ án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết
vụ án ly hơn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi nhưng khơng rõ địa chỉ.
3
10
Thứ hai, theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018
của Tòa án nhân dân tối cao về việc: “Hướng dẫn giải quyết vụ án ly hơn có bị đơn
là người Việt Nam ở nước ngồi nhưng khơng rõ địa chỉ”, theo đó, quy định như
sau: “Vụ án ly hơn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi là trường hợp đặc
thù; quyền ly hơn là một trong những quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình
được pháp luật bảo vệ”, vụ án ly hơn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi mà
không biết địa chỉ cũng là một dạng của trường hợp bị đơn khơng có tin tức có được
áp dụng tương tự nhưng trường hợp bị đơn ở Việt Nam hay khơng? Vẫn chưa có
hướng dẫn cụ thể dẫn đến hiện nay, có nơi Tịa án thụ lý có nơi Tịa án đình chỉ
khơng thụ lý. Tác giả xin đưa ra ví dụ sau để minh họa vấn đề nêu trên như sau:
Ví dụ 1: Hồ sơ vụ án xin ly hơn giữa ngun đơn: Ơng Tơ Lý Bình K, sinh
năm 1983 và bị đơn bà Lý Thị H, sinh năm 1986 (đã xuất cảnh ra nước ngồi).
Tóm tắt nội dung vụ việc: Ơng Tơ Lý Bình K gửi đơn khởi kiện đến Tịa án
nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết vấn đề ly hôn với bà Lý Thị H. Tuy nhiên, do
ông K không cung cấp được địa chỉ của bà H ở nước ngồi nên Tịa án đã đình chỉ
giải quyết vụ án tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hơn nhân gia đình sơ thẩm
số: 04/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2019. Bị đơn là bà Lý Thị H đã xuất cảnh ra
nước ngoài quan cửa khẩu Hữu Nghị ngày 04/4/2014, hiện chưa có thơng tin nhập
cảnh về Việt Nam. Biên bản xác minh ngày 24/01/2019 của TAND tỉnh Sóc Trăng
thì cha mẹ bà Lý Thị H là ơng Lý C và bà Thạch Thị P cho biết bà H đi nước ngoài
khoảng 4-5 năm nay, đi nước nào thì ơng bà khơng biết, bà H khơng có nói. Từ khi
đi nước ngồi đến nay bà H khơng có về Việt Nam để thăm gia đình, bà H chỉ liên
lạc qua điện thoại khoảng 01 năm đầu, sau đó thì khơng cịn liên lạc nữa. Như vậy,
bà Lý Thị H đã vắng mặt tại nơi cư trú trên 03 năm mà khơng có tin tức xác thực
được việc bà Lý Thị H còn sống hay đã chết4.
Nhận xét: trong vụ án này có nhiều ý kiến khác nhau trong việc giải quyết vụ
án, và Tòa án đã tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo
của ông Tô Lý Bình K, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hơn nhân
gia đình sơ thẩm của cấp sơ thẩm xử.
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 32/2019/QĐ-PT ngày 25/10/2019 của Tòa án nhân dân Cấp Cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, Trang thơng tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án của Tòa án nhân
dân tối cao, [ (truy cập ngày 26/3/2023).
4
11
Quan điểm của Tịa án: “Giữ ngun Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự sơ thẩm số: 04/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2019 của TAND tỉnh Sóc Trăng do
ơng K chưa thực hiện thủ tục u cầu thơng báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp đã áp dụng đầy
đủ các biện pháp thơng báo tìm kiếm nhưng vẫn khơng có thơng tin xác thực bà Lý
Thị H cịn sống hay đã chết thì phải thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố bà Lý Thị H
mất tích trước khi thực hiện việc yêu cầu xin ly hơn, ni con, nên Tịa án nhân dân
tỉnh Sóc Trăng ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án như trên là đúng”.
Theo quan điểm của mình, tác giả khơng đồng ý trong việc đình chỉ giải
quyết vụ án hơn nhân gia đình sơ thẩm của cấp sơ thẩm và phúc thẩm vì theo tác
giả, rõ ràng là bà H vẫn liên lạc qua điện thoại với gia đình. Mặc khác, theo quy
định tại khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 thì đây chỉ là luật nội dung, và là
một trong những căn cứ để Tòa án giải quyết cho ly hôn chứ không phải là điều
kiện để Tịa án thụ lý giải quyết vụ án hơn nhân gia đình. Ngồi ra, đây cũng khơng
phải là căn cứ để Tịa án đình chỉ giải quyết vụ án.
Ví dụ 2: Bản án tranh chấp hôn nhân và gia đình của TAND tỉnh Hà Tỉnh.
Giữa nguyên đơn chị Trần Thị T với bị đơn anh Nguyễn Văn Â, sinh năm 1995; Địa
chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Y, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động
tự do tại Đài Loan.
Tóm tắt nội dung vụ việc: Anh Nguyễn Văn  hiện đang lao động tự do tại
Đài Loan khơng có địa chỉ cụ thể. Tại Cơng văn số 8599/QLXNC-P5, ngày
12/6/2020 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận: Anh Nguyễn
Văn Â, sinh ngày 05/5/1995 đã xuất nhập cảnh 18 lần, xuất cảnh gần nhất ngày
14/4/2019, hiện chưa có thơng tin nhập cảnh về nước. Nay, chị Trần Thị T khởi
kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn  5. Trong vụ án này Tịa án áp dụng Cơng văn
số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân tối cao
hướng dẫn về việc: “Hướng dẫn giải quyết vụ án ly hơn có bị đơn là người Việt
Nam ở nước ngồi nhưng khơng rõ địa chỉ”, Tồ án tiến hành xét xử vắng mặt anh
Nguyễn Văn  theo quy định.
Bình luận: Trong vụ việc thứ nhất quan điểm của TAND tỉnh Sóc Trăng đã
căn cứ vào Điều 48, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, khoản 1 Điều 219 và
“Bản án số: 60/2020/HNGĐ-ST, ngày 23/11/2020 về việc: “Tranh chấp hơn nhân và gia đình” của Tịa án
nhân dân tỉnh Hà Tỉnh”, Trang thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án của Tòa án nhân dân
tối cao, [ (truy cập ngày 21/7/2022).
5
12
khoản 2 Điều 273 BLTTDS năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quan
điểm của Tòa án cấp phúc thẩm cũng giống như quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm
với nhận định: “Tại Công văn số 62/XNC ngày 09/01/2019 của Phịng Quản lý
Xuất nhập cảnh, Cơng an tỉnh Sóc Trăng đã xác nhận: Bị đơn là bà Lý Thị H đã
xuất cảnh ra nước ngoài qua cửa khẩu Hữu Nghị ngày 04/4/2014, hiện chưa có
thơng tin nhập cảnh về Việt Nam. Từ khi đi nước ngoài đến nay bà H khơng có về
Việt Nam để thăm gia đình, bà H chỉ liên lạc qua điện thoại khoảng 01 năm đầu, sau
đó thì khơng cịn liên lạc nữa”.
Trong vụ việc thứ hai, Tịa án khơng tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án mà
áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn về việc: “Hướng dẫn giải quyết vụ án ly hơn có bị đơn
là người Việt Nam ở nước ngồi nhưng khơng rõ địa chỉ”, Tồ án tiến hành xét xử
vắng mặt anh Nguyễn Văn  theo quy định.
Quan điểm của tác giả: Tác giả đồng ý với quan điểm của vụ việc thứ hai
không đồng ý với cách làm của Tòa án trong vụ án thứ nhất. Bởi lẽ, quyền ly hôn là
một trong những quyền nhân thân trong hơn nhân và gia đình được pháp luật bảo
vệ, khơng thể vì một lý do khơng biết địa chỉ mà đình chỉ khơng giải quyết vụ án,
như vậy, sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc Tòa án
trong vụ việc thứ nhất nhận định: “Xét thấy do ông K chưa thực hiện thủ tục u
cầu thơng báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015. Trường hợp đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thơng báo tìm
kiếm nhưng vẫn khơng có thơng tin xác thực bà Lý Thị H cịn sống hay đã chết thì
phải thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố bà Lý Thị H mất tích trước khi thực hiện
việc u cầu xin ly hơn”, tác giả cho rằng hướng xử lý như vậy là chưa thực hiện
đúng theo tinh thần Công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cụ thể nội
dung Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân
dân tối cao. Từ những vấn đề vướng mắc, không thống nhất trong thực tiễn xét xử
trên, tác giả kiến nghị trong thời gian tới Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn
bản hướng dẫn cụ thể để có sự thống nhất trong xét xử.
Cụ thể quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hơn nhân và gia
đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 BLDS năm 2015, Điều 51 Luật
HN&GĐ năm 2014. Do vậy, trường hợp người xin ly hôn và chỉ cung cấp được địa
chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn nếu
13
thơng qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ để xác định họ vẫn có liên hệ với thân
nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn
cho Tòa án cũng như khơng thực hiện u cầu của Tịa án thông báo cho bị đơn biết
để gửi lời khai về cho Tịa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ
chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến
lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn
cho Tịa án cũng như khơng chịu thực hiện u cầu của Tịa án thơng báo cho bị đơn
biết thì Tịa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét
xử, Tòa án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để
những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao
bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và
nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật tố tụng. Tịa án có thể áp dụng tương tự tinh thân Công văn số
253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân tối cao để giải
quyết cho ly hôn mà không cần thực hiện thủ tục u cầu thơng báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng như
phải thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố bà Lý Thị H mất tích trước khi thực hiện việc
yêu cầu xin ly hôn. Trong trường hợp có căn cứ xác định nguyên nhân mẫu thuẫn thì
Tịa án giải quyết cho ly hơn. Do quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân
trong hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ.
Thứ ba, vẫn còn quan điểm khác nhau trong trường hợp người vợ hoặc người
chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất
tích và u cầu Tồ án giải quyết cho ly hơn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tun bố
người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Không đồng ý với quan điểm trên với lý do
tuyên bố mất tích chỉ là một trong những căn cứ giải quyết cho ly hôn chứ không
phải là điều kiện duy nhất bắt buộc để làm căn cứ cho ly hôn.
Quan điểm khác lại cho rằng: nếu Tồ án thấy chưa đủ điều kiện tun bố
người đó mất tích thì Tịa án đình chỉ các u cầu của người vợ hoặc người chồng. 6
Lý Văn Toán & Bùi Khắc Huỳnh (2021), “Góp ý dự thảo nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Tịa án nhân dân điện tử, truy cập ngày 26/03/2023.
/>6
14
Tác giả cho rằng trong trường hợp này nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện
tuyên bố người đó mất tích thì Tịa án bác các u cầu của người vợ hoặc người
chồng hoặc đình chỉ trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của người vợ hoặc người
chồng là không phù hợp. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 68 BLDS năm
2015, khoản 2 Điều 56 HN&GĐ năm 2014 và hướng dẫn tại mục số 9 Phần IV Văn
bản Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số: 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017
của Tòa án nhân dân tối cao thì trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tịa
án tun bố mất tích u cầu ly hơn thì Tịa án giải quyết cho ly hơn, đối với trường
hợp vợ hoặc chồng yêu cầu xin ly hôn với người mất tích thì phải sau khi quyết
định của Tịa án tun bố người vợ/chồng mất tích có hiệu lực pháp luật thì Tịa án
mới xem xét, giải quyết cho người chồng/vợ ly hơn. Do đó, trong trường hợp này
nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì Tịa án khơng vội
vàng bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng nếu như có các căn cứ khác
chứng minh đời sống vợ chồng mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài.
Theo tác giả nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ bị đơn vẫn có
liên hệ với thân nhân nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị
đơn biết để gửi lời khai về cho Tịa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu
địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tuy nhiên, vấn
đề làm sao để xác định căn cứ bị đơn vẫn có liên hệ với thân nhân nhưng thân nhân
của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Do khơng có hướng dẫn cụ thể dễ
dẫn đến tùy tiện trong quá trình áp dụng pháp luật, hiện nay có nơi Tịa án đưa vụ
án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung theo tinh thần Cơng văn trên. Có
nơi Tịa án khơng xét xử mà đình chỉ trả lại đơn khởi kiện cho đương sự do không
thể nào xác định được “bị đơn vẫn có liên hệ với thân nhân” và cho rằng do chưa
thực hiện thủ tục yêu cầu thơng báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp đã áp dụng đầy đủ các biện
pháp thơng báo tìm kiếm nhưng vẫn khơng có thơng tin xác thực cịn sống hay đã
chết thì phải thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tích trước khi thực hiện việc
yêu cầu xin ly hôn.
Quan điểm tác giả: Tác giả cho rằng để đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên
và trong “Vụ án ly hơn quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hơn
nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự
15
năm 2015, Điều 51 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014”7. Qua nghiên cứu thực
tiễn tác giả nhận thấy nhiều Tịa án vẫn có thể thu thập được địa chỉ qua bưu phẩm
gửi về, hoặc qua điện thoại, zalo, Face book, vv… đây cũng được xem là một trong
những căn cứ để xác định “bị đơn vẫn có liên hệ với thân nhân”.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
Từ những vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn xét xử tác giả
kiến nghị TANDTC nên ban hành văn bản hướng dẫn cho trường hợp ly hôn bên
người chồng hoặc người vợ của mình mất tích nhưng chưa có quyết định tuyên bố
mất tích như như sau:
Thứ nhất, tác giả kiến nghị trong thời gian tới cần sự hướng dẫn thống nhất
của Tòa án nhân dân tối cao trong trường hợp thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn có bị
đơn khơng rõ tin tức địa chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS
năm 2015 thì Tịa án khơng trả lại đơn khởi kiện, khơng cần thiết phải làm thủ tục
thơng báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, cũng như thủ tục tuyên bố mất
tích mà tiến hành thụ lý giải quyết theo thủ tục chung do “vụ án ly hôn là trường
hợp đặc thù; quyền ly hôn là một trong những quyền nhân thân trong hơn nhân và
gia đình được pháp luật bảo vệ”8. Theo hướng:
- Trường hợp trong vụ án xin ly hôn và nguyên đơn chỉ cung cấp được địa
chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở
hiện tại, nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ bị đơn vẫn có liên hệ với
thân nhân nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chi, tin tức của bị đơn biết
để gửi lời khai về cho Tịa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ,
từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết.
- Nếu Tòa án yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu
cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tịa án cũng như khơng chịu thực hiện u
cầu của Tịa án thơng báo cho bị đơn biết thì Tịa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt
bị đơn theo thủ tục chung”.
Thứ hai, “căn cứ bị đơn vẫn có liên hệ với thân nhân” chẳng hạn như: Thu
thập qua bưu phẩm (có thể xác minh bưu điện), điện thoại, zalo, Face book,
Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết
vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi nhưng không rõ địa chỉ.
8
Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn giải quyết
vụ án ly hơn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngồi nhưng khơng rõ địa chỉ.
7
16
vv…Trong trường hợp không xác định được căn cứ bị đơn vẫn có liên hệ với thân
nhân, thì Tịa án mới phải hướng dẫn đương sự thực hiện thủ tục u cầu thơng báo
tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố mất
tích theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trước khi thực hiện việc yêu
cầu xin ly hôn. Và Quyết định tuyên bố một người mất tích là một trong những căn
cứ xin ly hơn chứ không phải là điều kiện duy nhất để giải quyết vụ án ly hôn.
Thứ ba, tác giả kiến nghị trong thời gian tới cần sự hướng dẫn thống nhất của
Tòa án nhân dân tối cao theo hướng: “Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu
cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và u cầu Tồ
án giải quyết cho ly hơn; nếu Tồ án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất
tích và ngồi ra khơng cịn có căn cứ nào khác cho ly hơn thì bác các u cầu của
người vợ hoặc người chồng”.
1.2. Ly hôn với một bên vợ hoặc chồng đã có quyết định tuyên bố mất tích
Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì khi một người biệt tích 02
năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn khơng có tin tức xác thực về
việc người đó cịn sống hay đã chết thì theo u cầu của người có quyền, lợi ích liên
quan, Tịa án có thể tun bố người đó mất tích9. Trong trường hợp vợ hoặc chồng
của người bị tuyên bố mất tích xin ly hơn thì Tịa án giải quyết cho ly hôn theo quy
định của pháp luật về hôn nhân và gia đình10.
Theo quy định của Luật hơn nhân và gia đình thì trong trường hợp vợ hoặc
chồng của người bị Tịa án tun bố mất tích u cầu ly hơn thì Tịa án giải quyết
cho ly hơn11.
Trước đây, theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, để ly hơn với
người mất tích, trước hết phải thực hiện thủ tục tuyên bố người đó mất tích, sau đó
giải quyết việc ly hơn trong cùng một vụ án. Nghị quyết số 03/HĐTP của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp
lệnh nêu rõ: “Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự
đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và trung ương nhắn tin tìm
người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người
Khoản 1 Điều 68 BLDS 2015.
Khoản 2 Điều 68 BLDS 2015.
11
Khoản 2 Điều 56 Luật hơn nhân và gia đình 2014.
9
10
17
vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lý vụ án. Tịa án cũng có quyền u cầu
người khởi kiện nộp tiền tạm ứng cho việc thông báo tìm người vắng mặt trên báo
chí, đài phát thanh, đài vơ tuyến truyền hình của tỉnh và Trung ương để Tịa án thụ
lý vụ án và thơng báo tìm người vắng mặt. Người khởi kiện phải chịu phí tổn về việc
thơng báo tìm người vắng mặt”.
Hiện nay theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu tun bố mất
tích là việc dân sự, cịn ly hơn lại là vụ án dân sự (trừ trường hợp thuận tình ly hơn
được coi là việc dân sự). Nếu đương sự vừa có yêu cầu tuyên bố một người mất tích
vừa có u cầu xin ly hơn thì phải u cầu để Tịa án giải quyết việc tun bố mất
tích trước, sau đó mới giải quyết yêu cầu xin ly hôn.
Như vậy, để yêu cầu xin ly hôn với người mất tích thì trước tiên phải thực
hiện thủ tục việc dân sự đó là u cầu Tịa án tun bố một người mất tích nếu
người đó biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp
thơng báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn khơng
có tin tức xác thực về việc người đó cịn sống hay đã chết thì theo u cầu của
người có quyền, lợi ích liên quan, Tịa án tun bố người đó mất tích. Sau khi thụ
lý, Tịa án sẽ ra quyết định thơng báo tìm kiếm người mất tích trên báo của trung
ương trong 3 số liên tiếp và đài phát thanh hoặc đài truyền hình trung ương 3 lần
trong 3 ngày liên tiếp. Sau 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên mà
người bị yêu cầu không trở về hoặc có tin tức báo về thì Tịa án sẽ họp xét đơn yêu
cầu tuyên bố công dân mất tích của người u cầu12.
Sau khi có quyết định của Tịa án tun bố một người mất tích thì người yêu
cầu sẽ tiến hành các thủ tục khởi kiện vụ án xin ly hôn mà bị đơn là người đã bị Tịa
án tun bố mất tích và sau khi xem xét đủ điều kiện thì Tịa án sẽ thụ lý vụ án theo
thủ tục chung và Tòa án sẽ căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình
2014 để giải quyết cho ly hơn.
Hiện nay, trong thực tiễn xét xử, Toà án thường gặp rất nhiều trường hợp vợ
hoặc chồng trong vụ án ly hôn mà có một bên là người bị Tịa án tun bố mất tích
nay họ u cầu xin ly hơn. Khi Tòa án thụ lý giải quyết loại án này thường gặp khó
khăn, lúng túng và có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật
chưa thống nhất, cụ thể:
12
Điều 385, Điều 388 BLTTDS 2015.
18
Thứ nhất, theo quy định khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014, trong
trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tịa án tun bố mất tích u cầu ly hơn thì
Tịa án giải quyết cho ly hơn. Quy định này chưa cụ thể về điều kiện bắt buộc tuyên
bố mất tích là điều kiện làm căn cứ cho ly hơn.
Thứ hai, thời gian tun bố mất tích khi nào thì Tịa án giải quyết cho ly hơn,
Tịa án có thể cùng giải quyết vừa tuyên bố mất tích vừa đồng thời giải quyết ly hôn
hay không? Và sau thời gian bao lâu sau khi Tòa án tuyên bố một bên vợ hoặc chồng
mất tích thì họ được quyền u cầu ly hơn hiện nay vẫn chưa có sự quy định rõ ràng.
Do chưa có sự quy định cụ thể trong trường hợp này dẫn đến trong thực tiễn
xét xử có nhiều cách hiểu khác nhau chưa được thống nhất. Xuất phát từ việc do
khơng có văn bản hướng dẫn các Tịa án rất khó khăn, lúng túng trong q trình xét
xử, từ đó có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án, tác giả xin
đưa ra ví dụ sau để làm rõ vấn đề:
Ví dụ: Vụ án tranh chấp xin ly hôn giữa nguyên đơn ông Nguyễn Minh T và
bị đơn bà Lê Thị H, đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết về
việc xin ly hôn.
Nội dung vụ án: Ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị H đăng ký kết hôn ngày
16/5/1995 tại Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn ông T về Úc (Australia) sống,
cịn bà H thì ở lại Việt Nam. Đến năm 2011 ông trở lại Việt Nam nhưng không gặp
bà H, bà đã bỏ đi khỏi địa phương. Đến tháng 10 năm 2015, ông tiếp tục về Việt Nam
vẫn không gặp được bà H, ông đã làm đơn tuyên bố bà H mất tích. Tại Quyết định số
01/2016/QĐST-VDS, Tịa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tuyên bố bà Lê Thị H mất
tích. Nay ơng u cầu giải quyết cho ơng được ly hôn với bà Lê Thị H.
Về con chung: Vợ chồng ơng bà khơng có con chung nên khơng yêu cầu Tòa
án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Vợ chồng ơng bà khơng có nên
khơng yêu cầu Tòa án giải quyết. 13
Nhận xét: Trong vụ án này ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị H tự nguyện
kết hơn và có đăng ký kết hơn tại Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau, nên hôn nhân của ông T
và bà H là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn ông T trở về
Úc sinh sống, vợ chồng sống xa nhau một thời gian khá dài, khơng có điều kiện
Bản án số: 28/2017/HNGĐ-ST Ngày 10/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, về việc: “Tranh
chấp ly hôn”.
13
19
quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Đến năm
2011, ơng T trở lại Việt Nam thì khơng tìm gặp được bà H nên năm 2015 ơng T có
đơn u cầu Tịa án tun bố bà H mất tích. Tại quyết định số 01/2016/QĐST-VDS
ngày 17/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tun bố bà Lê Thị H mất
tích. Nên giữa ơng T, bà H khơng thể duy trì đời sống chung của vợ chồng nữa, mục
đích hơn nhân khơng đạt được.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp
nhận cho ơng Nguyễn Minh T được ly hôn đối với bà Lê Thị H; về con chung, tài
sản chung và nợ chung: Khơng có nên khơng đặt ra xem xét giải quyết.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T đối với bà Lê Thị H.
1. Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Minh T được ly hơn với bà Lê Thị H.
Như vậy, có thể thấy Tòa án đã căn cứ vào quyết định số 01/2016/QĐSTVDS ngày 17/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tuyên bố bà Lê Thị H
mất tích. Nên giữa ơng T, bà H khơng thể duy trì đời sống chung của vợ chồng nữa,
mục đích hơn nhân khơng đạt được nên đã giải quyết cho ly hơn.
Ví dụ 2: Vụ án tranh chấp xin ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Long
Thành, tỉnh Đồng Nai về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn chị Võ
Thị Ngọc L và bị đơn anh Ngô Ngọc T.
Nội dung vụ án: Chị Võ Thị Ngọc L và anh Ngơ Ngọc T tự tìm hiểu và kết
hơn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai ngày
24/10/2007. Sau khi kết hôn, chị L và anh T sinh sống tại nhà của chị L tại tổ 36, ấp
3, xã T nhưng anh T không đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú tại địa chỉ trên.
Trong thời gian đầu, chị L và anh T chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 anh T cờ
bạc, đá gà và bỏ đi khỏi địa phương từ đó cho đến nay. Chị L đã nộp đơn yêu cầu
tuyên bố anh T mất tích và được Tòa án nhân dân huyện Long Thành ra quyết định
giải quyết việc dân sự số 06/2021/QĐST-DS ngày 09/4/2021 tuyên bố anh T mất
tích tại tổ 36, ấp 3, xã T. Nay chị L yêu cầu ly hôn anh Ngô Ngọc T. 14
Nhận xét: Trong vụ án này nguyên đơn đã nộp đơn yêu cầu tuyên bố anh T
mất tích và được Tòa án nhân dân huyện Long Thành ra quyết định giải quyết việc
Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST ngày: 05/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai,
về việc: “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
14
20
dân sự số 06/2021/QĐST-DS ngày 09/4/2021 tuyên bố anh T mất tích tại tổ 36, ấp
3, xã T. Nay chị u cầu ly hơn anh Ngơ Ngọc T thì Tịa án giải quyết cho ly hôn.
Như vậy, quyết định giải quyết việc dân sự số 06/2021/QĐST-DS ngày 09/4/2021
tuyên bố anh T mất tích sau khi có hiệu lực pháp luật thì sau đó người khởi kiện
mới có quyền khởi kiện xin ly hôn. Tác giả cho rằng, hiện nay pháp luật hơn nhân
và gia đình chưa quy định rõ trường hợp khi nào thì người khởi kiện mới có quyền
u cầu được ly hơn với người mất tích, hướng giải quyết của Tòa án trong trường
hợp này là hợp lý do đó cần bổ sung để hồn thiện pháp luật theo hướng sau khi
Quyết định giải quyết việc dân sự tun bố người vợ, người chồng mất tích có
hiệu lực pháp luật thì người vợ, người chồng có quyền u cầu Tịa án giải quyết
việc ly hơn.
Thêm một vấn đề khác đặt ra là, người yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tịa án giải
quyết ly hơn với người mất tích có được giải quyết trong cùng một vụ việc hay
khơng? Hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng có thể
đồng thời yêu cầu trong cùng một vụ việc cịn quan điểm khác thì khơng đồng ý mà
phải theo trình tự, tun bố mất tích trước và giải quyết ly hôn sau.
Tác giả cho rằng không thể giải quyết trong cùng một vụ việc bởi theo quy
định của pháp luật dân sự hiện hành thì khi một người biệt tích hai năm liền trở lên,
mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn khơng có tin tức xác thực về việc người đó
cịn sống hay đã chết thì theo u cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tịa án
có thể tun bố người đó mất tích.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hơn thì
Tịa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Theo quy định của Luật Hơn nhân và gia đình thì trong trường hợp vợ hoặc
chồng của người bị Tịa án tun bố mất tích u cầu ly hơn thì Tịa án giải quyết
cho ly hơn.
Theo quy định của BLTTDS 2015 thì yêu cầu tuyên bố mất tích là việc dân
sự, cịn ly hơn lại là vụ án dân sự (trừ trường hợp thuận tình ly hơn được coi là việc
dân sự). Nếu đương sự vừa có u cầu tun bố một người mất tích vừa có u cầu
xin ly hơn thì phải u cầu để Tịa án giải quyết việc tuyên bố mất tích trước, sau đó
mới giải quyết u cầu xin ly hơn.