Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Tội làm nhục người khác theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (16.05 MB, 75 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC TRUNG

TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số CN: 8380104

Người hướng dẫn khoa học : Pgs.Ts Nguyễn Thị Phương Hoa
Học viên
: Nguyễn Ngọc Trung
Lớp
: Cao học Luật khóa 2 - An Giang

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Tội làm nhục người khác theo luật hình sự
Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu khoa học do chính tơi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của Pgs.Ts. Nguyễn Thị Phương Hoa. Các nội dung,
thơng tin được trình bày trong luận văn là chính xác và trung thực. Tơi xin chịu
hồn tồn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày

tháng

Tác giả

Nguyễn Ngọc Trung

năm 2023


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật Hình sự

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CẤU THÀNH TỘI PHẠM CƠ BẢN VÀ HÌNH PHẠT ĐỐI
VỚI TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM ......................................................................................... 5
1.1. Lý luận và quy định của luật hình sự Việt Nam về cấu thành tội
phạm cơ bản và hình phạt đối với tội làm nhục người khác ....................... 5
1.2. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định về cấu thành tội phạm cơ
bản và hình phạt của tội làm nhục người khác ........................................... 11
1.3. Một số kiến nghị về áp dụng quy định về cấu thành tội phạm cơ bản
và hình phạt đối với tội làm nhục người khác ............................................. 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................... 21
CHƯƠNG 2. CẤU THÀNH TỘI PHẠM ĐỊNH KHUNG TĂNG NẶNG VÀ
HÌNH PHẠT CỦA TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC THEO QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.................................................................. 22
2.1. Lý luận, quy định về cấu thành tội phạm định khung hình phạt tăng
nặng và hình phạt đối với tội làm nhục người khác ................................... 22
2.2. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng dấu hiệu định khung hình phạt tăng
nặng và hình phạt đối với tội làm nhục người khác ................................... 25
2.3. Kiến nghị áp dụng dấu hiệu định khung tăng nặng của tội làm nhục
người khác ...................................................................................................... 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................... 37
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Khoản 1 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân
phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử
nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”1. Hiến
pháp 2013 đã khẳng định chắc chắn về quyền con người, điều này chứng minh
rằng bên cạnh sự phát triển kinh tế thì vấn đề ổn định, phát triển xã hội phải cùng
được quan tâm phát triển, bảo vệ. Trong đó, vấn đề bảo vệ danh dự, nhân phẩm
của con người là một trong những vi phạm ngày càng phổ biến. Sự phát triển của
loại tội phạm này thể hiện rõ nét nhất mặt trái của việc cơng nghiệp hố, hiện đại
hóa, quốc tế hóa nên việc xâm nhập các nên văn hóa lạc hậu, khơng lành mạnh
làm ảnh hưởng đến tư tưởng, lệch lạc về suy nghĩ, lối sống; sự phát triển của
công nghệ thông tin là phương tiện để loại tội phạm này hình thành, phát triển,
đặc biệt là tội làm nhục người khác.
Bộ luật hình sự 2015 đã quy định tội làm nhục người khác nhằm thể hiện
sự răn đe, giáo dục, trừng trị nghiêm khắc đối với hành vi này. Tuy nhiên, việc
định tội cũng như quyết định hình phạt đối với tội phạm này vẫn cịn một số
điểm chưa rõ ràng, việc áp dụng pháp luật trên thực tế cịn khác nhau.
Vấn đề hồn thiện pháp luật và giải thích áp dụng pháp luật về tội này rất
quan trọng. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Tội làm nhục người khác theo quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời đại ngày nay hành vi làm nhục người khác ngày càng phổ biến
trên thực tế, hành vi này đã được một số chuyên gia, nhà khoa học nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau, từ lý luận đến thực tiễn, từ hành chính, dân sự đến
hình sự. Từ đó đã cho ra đời một số sản phẩm có liên quan đến tội xâm phạm
đến danh dự, nhân phẩm nói chung, tội làm nhục người khác nói riêng. Các cơng
trình nghiên cứu khoa học, các sách chuyên khảo, các bài báo khoa học chuyên
1

khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013.



2
ngành, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã góp phần tạo ra những cơ sở lý
luận khoa học vững chắc cho việc nghiên cứu áp dụng trên thực tế, cụ thể các đề
tài nghiên cứu như sau:
- Về sách, tạp chí, giáo trình:
“Giáo trình luật hình sự Việt Nam” của Trường đại học luật Thành phố
Hồ Chí Minh và Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường đại học luật Hà
Nội. Giáo trình này đã thể hiện tất cả các nội dung lý luận cơ bản, tổng hợp các
quy phạm phạm pháp luật về hình sự Việt Nam. Các quy phạm được phân tích
một cách rõ ràng về lý luận chung, đến việc định tội các tội phạm cụ thể, trong
đó có tội làm nhục người khác.
Một tác phẩm khác của những chuyên gia hàng đầu trong ngành luật hình
sự Việt Nam là “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự” của Đinh Văn Quế, hay
“Bình luận khoa học Bộ luật hình sự” của Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hồi.
Các tác giá đã phân tích, bình luận một cách sâu sắc, rõ ràng các dấu hiệu định
tội của từng tội phạm về mặt lý luận, trong đó có tội làm nhục người khác. Đây
là một trong những tài liệu được các cơ quan pháp luật đến các tổ chức, cá nhân
khác như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, luật sư,…. Sử dụng như một cẩm
nang trong quá trình áp dụng, học tập, nghiên cứu pháp luật về hình sự;
Về luận văn thạc sĩ:
Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thu Hương về “Tội làm nhục người
khác theo luật hình sự Việt Nam, lý luận và thực tiễn xét xử loại tội phạm này
trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, với đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu xoay
quanh các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội làm nhục người khác và những
nguyên nhân điều kiện phạm tội nói chung, trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói
riêng, từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện;
Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thùy Trang về “Đấu tranh phòng,
chống tội làm nhục người khác ở nước ta hiện nay”, với đề tài này tác giả chỉ

nghiên cứu xoay quanh các vấn đề lý luận và thực tiễn về những nguyên nhân
điều kiện phạm tội, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp để phòng chống tội
làm nhục người khác.


3
Có một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến tội làm nhục người khác,
các cơng trình này đã phân tích được các đặc trưng cơ bản của tội làm nhục
người khác và một số hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Đối với những
kết quả này luận văn sẽ kế thừa. Ngồi ra, các cơng trình nghiên cứu chưa làm
sáng tỏ hết những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật, do đó,
việc nghiên cứu đề tài “Tội làm nhục người khác theo quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam” sẽ góp phần hoàn thiện hơn quy định về tội này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra những kiến nghị nhằm hồn
thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam và giải thích áp dụng pháp luật về
tội này.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất là phân tích những vấn đề lý luận, pháp luật về các dấu hiệu cấu
thành tội làm nhục người khác;
Thứ hai là đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự về tội này;
Thứ ba là đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự và
giải thích áp dụng pháp luật về tội làm nhục người khác.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Với đề tài luận văn ứng dụng nên tác giả chỉ
nêu một số vấn đề lý luận cơ bản của tội làm nhục người khác. Đặc biệt tác giả
tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, xét xử tội làm nhục người khác
từ đó đưa ra một số nguyên nhân hạn chế và giải pháp hoàn thiện.
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành đề tài này tác giả sử dụng kết
hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp phân tích luật

viết để phân tích các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam và các văn bản
hướng dẫn áp dụng pháp luật về tội làm nhục người khác.
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu án điển hình mà cụ thể là bình
luận bản án thực tế để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tội làm nhục
người khác,, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn.


4
Từ những phân tích, bình luận, so sánh; tác giả tổng hợp một cách tồn
diện các nội dung, từ đó đề xuất kiến nghị để hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật.
5. Kết cấu của luận văn
Chương 1. Cấu thành cơ bản và hình phạt của tội phạm tội làm nhục
người khác theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2. Cấu thành định khung hình phạt tăng nặng của tội làm nhục
người khác theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam


5
CHƯƠNG 1
CẤU THÀNH TỘI PHẠM CƠ BẢN VÀ HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Lý luận và quy định của luật hình sự Việt Nam về cấu thành tội
phạm cơ bản và hình phạt đối với tội làm nhục người khác
Cấu thành tội phạm cơ bản của một tội phạm là vấn đề quan trọng mà
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải xác định trước tiên. Cấu thành tội phạm cơ bản của hầu hết các tội phạm
theo quy định của pháp luật hình sự của nước ta hiện hành được quy định tại
khoản 1 của điều luật, tuy nhiên trong một số trường hợp được quy định tại

khoản 2 như tội giết người.
Đối với tội làm nhục người khác cấu thành tội phạm cơ bản của tội này
được quy định tại khoản 1 Điều 155 của BLHS. Điều này quy định “Người nào
xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh
cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không
giam giữ đến 03 năm”.
Tầm quan trọng của việc xác định cấu thành cơ bản sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến việc xác định một người có phạm tội hay khơng, bởi lẽ khi một người thực
hiện hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhưng không cấu thành tội phạm cơ
bản quy định tại khoản 1 Điều 155 thì người đó khơng phạm tội. Trong trường
hợp này người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có thể bị xử lý vi phạm hành
chính chứ khơng thể đặt ra vấn đề người đó có thuộc trường hợp định khung tăng
nặng hay khơng. Vì vậy, việc xác định cấu thành cơ bản của tội phạm này là vô
cùng quan trọng.
Tội làm nhục người khác, cũng như những tội phạm khác, theo quy định
của BLHS của nước ta, để xác định một người nào đó có phạm tội hay khơng thì
chúng ta cần phải xác định được bốn yếu tố đó là: khách thể, chủ thể, mặt khách
quan, mặt chủ quan.


6
Khách thể:
Tội phạm là một loại hoạt động của con người nên cũng như các loại hoạt
động khác, tội phạm cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tại ngoài ý
thức, độc lập với ý thức của chủ thể, nhưng không phải để cải biến mà gây thiệt
hại cho chính những khách thể đó. Khách thể được hiểu nhiều cách khác nhau
tương ứng với những lĩnh vực khác nhau. “Trong triết học, khách thể là một
phạm trù chỉ những đối tượng, những mối quan hệ phố biến trong tự nhiên, xã
hội, tồn tại ngoài ý thức của con người hướng tới mục đích cải tiến nhằm phục
vụ cho lợi ích của con người”2. Trong hệ thống các quan hệ xã hội phù hợp với

lợi ích của giai cấp thống trị, các quan hệ xã hội có ý nghĩa khác nhau đối với sự
phát triển của xã hội được Nhà nước bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật khác
nhau. “Trong lý luận chung về pháp luật, khách thể của quan hệ pháp luật là
những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội có thể thoả mãn những
nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các chủ thể tham gia
vào quan hệ pháp luật, vì chúng mà họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình”3.
Hay trong pháp luật dân sự, “khách thể là cái mà các chủ thể của quan hệ pháp
luật hướng tới, tác động vào. Nói cách khác khách thể là những lợi ích vật chất,
lợi ích tinh thần mà pháp luật bảo vệ cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ
pháp luật dân sự”4. Trong lĩnh vực hình sự, khách thể mà luật hình sự bảo vệ là
những quan hệ xã hội được Nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng những quy
phạm pháp luật hình sự. Những quan hệ xã hội đó sẽ là khách thể của tội phạm
trong trường hợp chúng bị gây thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại ở mức độ
nhất định. “Như vậy, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ và bị tội phạm xâm hại”5.
Con người sống và tồn tại không chỉ dựa vào vật chất mà tinh thần là một
trong những điểm tựa không thể thiếu. Trong nhu cầu tinh thần đó thì danh dự,
nhân phẩm, uy tín là một trong những giá trị tinh thần to lớn, ln gắn liền với
mỗi con người, nó được xem là một tài sản vô giá mà chúng ta không thể cân đo,
đong đếm được.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung,
NXB Hồng Đức, tr99.
3
Trường Đại học luật Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật, tr.445.
4
Trường Đại học luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, NXB Công an nhân dân, tr.65.
5
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), tlđd (2), tr100.
2



7
Do đó, vấn đề bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người là vấn đề cần
phải đặt ra. Nhận thức được tầm quan trọng đối với vấn đề này Hiến pháp 2013
đã khẳng định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy
bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức
khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”6.
Nhân phẩm, danh dự của con người là giá trị vô cùng cao quý và cần
được tôn trọng, không ai được xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của con
người một cách trái pháp luật. Do đó việc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm
của con người là vi phạm pháp luật, pháp luật của nước ta bảo vệ danh dự,
nhân phẩm của con người ở nhiều biện pháp khác nhau như hành chính, dân
sự và nghiêm khắc nhất chính là xử lý trách nhiệm hình sự. Trong đó, tội làm
nhục người khác là một trong những quy định bảo vệ danh dự nhân phẩm của
con người.
Khoản 1 Điều 155 của BLHS quy định về tội làm nhục người khác như
sau “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người
khác…”. Như vậy, khách thể trực tiếp của tội làm nhục người khác là nhân
phẩm, danh dự của con người.
Mặt khách quan:
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc
tồn tại bên ngoài, mà con người có thể trực tiếp nhận biết được, đó là hành vi
khách quan nguy hiểm cho xã hội. “Hành vi khách quan của tội phạm là những
xử sự có ý thức và ý chí của con người được thể hiện ra thế giới khách quan
dưới những hình thức nhất định, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho xã
hội”. Hành vi khách quan là một yếu tố quan trọng thể hiện hành vi của một
người diễn ra trên thực tế, hành vi đó đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
hay khơng.“Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm
diễn ra và tồn tại trong thế giới khách quan. Các dấu hiệu thuộc mặt khách

quan của tội phạm: hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã
hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài
6

Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013;


8
của việc thực hiện tội phạm như: thời gian, địa điểm, phương tiện, cơng cụ
phạm tội, hồn cảnh phạm tội,…”7.
Đối với tội làm nhục người khác, mặt khách quan là mặt bên ngoài của tội
phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại trong thế giới
khách quan. Mặt khách quan là một trong bốn yếu tố của tội phạm, khơng có mặt
khách quan thì khơng phát sinh các yếu tố khác của tội phạm bởi khơng có hành
vi xâm phạm trên thực tế nên khơng có tội phạm diễn ra. Trong mặt khách quan
của Tội làm nhục người khác, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản. Hành vi
khách quan của tội này là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự
của người khác. Trong thực tế, hành vi khách quan của Tội làm nhục người khác
luôn luôn được thể hiện dưới hình thức hành động phạm tội. Hành động phạm
tội là hình thức của hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối
tượng tác động. Hành vi của tội làm nhục người khác là hành vi gây thiệt hại cho
nhân phẩm, danh dự con người quan việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm
như bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự
của người khác như xỉ nhục, nhạo báng, chửi rủa thậm tệ, lột trần truồng người
bị hại trước đám đông, dùng phân lợn đổ vào người bị hại…8.
Hành vi làm nhục người khác có thể được thực hiện công khai trước mặt
hoặc vắng mặt người bị hại, nhưng người phạm tội có ý thức để cho người bị hại
biết việc lăng nhục đó vì động cơ cá nhân. Hiện nay, hành vi làm nhục người
khác cịn có thể được thực hiện trên không gian mạng. Sự xúc phạm nhân phẩm,
danh dự của người khác phải đến mức nghiêm trọng thì mới truy cứu trách

nhiệm hình sự. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có
thể bị xử lý trách nhiệm hành chính hoặc người bị hại có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại do xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, đánh giá mức
độ nghiêm trọng của hành vi phải căn cứ vào nhiều yếu tố trên thực tế như thái
độ, nhận thức của người phạm tội, cường độ và thời gian kéo dài của hành vi; vị
thế, vai trò của người bị hại trong gia đình, tổ chức hoặc trong xã hội; dư luận xã
hội về hành vi đó.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), tlđd (2), tr114.
Nguyễn Thu Hương (2014), Tội làm nhục người khác theo luật hình sự Việt Nam, lý luận và thực tiễn xét xử
tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, tr26.
7
8


9
Tội làm nhục người khác là tội phạm mà pháp luật hình sự quy định có
cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội
có lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của
người khác. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội
phạm của Tội làm nhục người khác. Tuy pháp luật hình sự không quy định
hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của Tội làm nhục người khác, nhưng điều đó
khơng có nghĩa là hậu quả không xảy ra. Thực tế cho thấy, hành vi xúc phạm
nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể gây ra thiệt hại to
lớn về mặt tinh thần đối với người bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an tồn
xã hội. Hậu quả khơng có ý nghĩa trong việc định tội, nhưng việc xác định
hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi làm nhục người khác với thiệt
hại xảy ra, có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết trách nhiệm hình sự
và hình phạt. Ngồi những nội dung biểu hiện của mặt khách quan đã được
trình bày ở trên, thuộc mặt khách quan của Tội làm nhục người khác còn có
những nội dung biểu hiện khác. Đó là cơng cụ, phương tiện, phương thức, thủ

đoạn phạm tội, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội. Đối với Tội làm nhục
người khác, phương tiện, công cụ, phương thức, thủ đoạn phạm tội, thời gian,
địa điểm, hồn cảnh phạm tội khơng phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành
tội phạm. Tuy nhiên, đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội, do vậy chúng được coi là những tình tiết cần được
xem xét khi quyết định hình phạt.
Chủ thể:
Chủ thể của Tội làm nhục người khác phải là người có năng lực trách
nhiệm hình sự. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi đó. Đối với
làm nhục người khác, người có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là người
có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi xúc
phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác và có khả năng điều
khiển hành vi đó. Tội làm nhục người khác có mức tối đa của khung hình phạt là
ba năm tù, cho nên theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999,
đây là tội phạm ít nghiêm trọng. Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 cịn quy


10
định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng”. Như vậy, chủ thể của Tội làm nhục người khác phải từ đủ 16
tuổi trở lên.
Mặt chủ quan:
Nếu mặt khách quan của Tội làm nhục người khác là mặt bên ngồi, thì
mặt chủ quan là mặt bên trong, là hoạt động tâm lý của người phạm tội. Tội làm
nhục người khác được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của

người khác nhưng mong muốn thực hiện hành vi đó. Trong khoa học luật hình
sự, động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội
thực hiện hành vi phạm tội cố ý, còn mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức
chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.
Động cơ phạm tội, mục đích phạm tội của người phạm Tội làm nhục người khác
không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Thực tiễn điều tra, truy
tố, xét xử cho thấy, người thực hiện hành vi làm nhục người khác có thể xuất
phát từ những động cơ khác nhau như ghen tng, thù ốn, trả thù... và nhằm
những mục đích khác nhau như làm nhục người khác vì vụ lợi, gây đau khổ cho
người bị hại... Người phạm Tội làm nhục người khác, cho dù xuất phát từ bất cứ
động cơ, mục đích gì, cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi quyết
định hình phạt, phải xem xét động cơ phạm tội, mục đích phạm tội của người
phạm Tội làm nhục người khác.
Chế tài về hình phạt đối với tội làm nhục người khác thuộc cấu thành tội
phạm cơ bản là loại chế tài lựa chọn, trong đó tịa án có thể lựa chọn một trong
ba loại hình sau để áp dụng đối với người phạm tội: hình phạt cảnh cáo, hình
phạt tiền với mức phạt từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng, và hình phạt cải tạo
không giam giữ từ 6 tháng đến 3 năm. Như vậy, hình phạt đối với tội làm nhục
người khác ở cấu thành tội phạm cơ bản phản ánh quan điểm của nhà làm luật
cho rằng đây là loại tội ít nghiêm trọng. Các hình phạt khơng có tính chất hạn
chế tự do.


11
1.2. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định về cấu thành tội phạm
cơ bản và hình phạt của tội làm nhục người khác
Thứ nhất bất cập về xác định danh dự, nhân phẩm
Một trong những dấu hiệu quan trọng của “Tội làm nhục người khác” là
hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Tuy nhiên, pháp
luật hiện hành của nước ta khơng có khái niệm cụ thể thế nào là danh dự, nhân

phẩm. Do đó, việc hiểu thế nào là danh dự, nhân phẩm có nhiều quan điểm
khác nhau.
Có quan điểm cho rằng9: Nhân phẩm là tồn bộ phẩm chất mà mỗi con
người có được, hay nói cách khác nhân phẩm chính là giá trị làm người của mỗi
con người. Khi nói đến một người có nhân phẩm thì người đó phải có lương tâm
trong sáng và có những nhu cầu về tinh thần, vật chất lành mạnh; thực hiện tốt
các nghĩa vụ về đạo đức với người khác và đối với xã hội; thực hiện tốt những
chuẩn mực đạo đức tiến bộ. Những người có nhân phẩm sẽ được xã hội đánh giá
cao và kính trọng. Từ đó thấy được rằng nhân phẩm của mỗi cá nhân có vai trị
rất quan trọng, là giá trị phản ánh và tạo nên giá trị cốt cách riêng của mỗi con
người; Danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với một
người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó. Khi con người tạo ra
được cho mình những giá trị tinh thần, đạo đức và những giá trị đó được xã hội
đánh giá, cơng nhận thì người đó có danh dự. Danh dự có cơ sở từ những cống
hiến thực tế của con người đối với xã hội, với người khác. Là con người, ai cũng
đóng góp ít nhiều cho cuộc sống, cho xã hội, do đó, ai cũng có danh dự. Tuy
nhiên, mỗi chúng ta phải ln giữ gìn và bảo vệ danh dự của mình và tơn trọng
danh dự của người khác. Khi chúng ta biết giữ gìn danh dự của mình, của các cá
nhân có được một sức mạnh tinh thần để làm điều tốt, hướng chúng ta đến điều
thiện và tránh xa các điều xấu.
Có quan điểm lại cho rằng10: Nhân phẩm chỉ nhân cách của một con người
như là đối tượng của sự đánh giá về mặt đạo đức, là toàn bộ phẩm chất của một
cá nhân, là bản chất người trong một con người, là giá tri làm người của một
9

Ví dụ: Nhân phẩm là gì? Mối quan hệ giữa nhân phẩm và danh dự? (luatduonggia.vn) (truy cập ngày
22/12/2022)
10
Danh dự, Nhân phẩm là gì? [Đạo đức học] - LyTuong.net (truy cập ngày 22/12/2022)



12
con người; Danh dự là lịng tơn trọng và ý thức bảo vệ gìn giữ những gì tốt đẹp
mà bản thân chủ thể lấy làm tự hào và được xã hội nhìn nhận. Danh dự của một
con người là nhân phẩm tốt đẹp của người đó thể hiện trong một vai trị, vị trí
của mình và được xã hội nhìn nhận. Danh dự con người là một mặt của nhân
phẩm. Ví dụ: danh dự là người Việt Nam, danh dự làm cha, danh dự làm
thầy…Cái cốt lỏi của danh dự là nhân phẩm.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi xác định thế nào là danh dự
nhân phẩm. Tuy nhiên, nhìn chung lại danh dự, nhân phẩm được các quan điểm
trên định nghĩa bằng những thuật ngữ chung chung nhất thể hiện phẩm chất, giá
trị của con người. Do đó, theo các quan điểm này thì danh dự, nhân phẩm của
con người được hiểu theo nghĩa rất rộng và về bản chất thì danh dự, nhân phẩm
của con người khó có thể cân, đo, đong, đếm được. Tuỳ vào mỗi cá nhân cụ thể
sẽ được đánh giá khác nhau về danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, do khơng có quy
định cụ thể thế nào là danh dự, nhân phẩm nên việc xác định danh dự, nhân
phẩm trên thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Trong thực tế giải quyết các vụ án “Tội làm nhục người khác” cũng không
đưa ra một nhận định cụ thể thế nào là xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự,
nhân phẩm mà chỉ căn cứ vào hành vi khách quan của người có hành vi vi phạm
để đánh giá mức độ.
Vụ án 1: Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2017/HS-ST ngày 18/7/2017 của
Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang có nội dung: “Bị cáo và D là
vợ chồng, bị cáo phát hiện H và D quan hệ bất chính với nhau nhiều lần nhưng
chưa có chứng cứ. Khoảng 12 giờ ngày 17/02/2016 bị cáo hay tin D và H quan
hệ bất chính nên cùng Dương Thị X, Lê Thị Tuyết M đến nơi phát hiện H và D
đang quan hệ tình dục. Bị cáo đánh H thì D can ngăn, bị cáo kêu M về cho
chồng H hay còn X và bị cáo dẫn H về nhà mẹ chồng của H để báo sự việc. Trên
đường đi thì H không chịu đi và dùng tay nắm thành cầu. Lúc này, X mệt nên bỏ
đi về, bị cáo dùng tay cởi hết quần áo của H chỉ còn lại áo lót và bắt H đứng đợi

chồng H là V đến chứng kiến. Khi V đến xin bị cáo cho H mặc quần áo vào
nhưng bị cáo không cho, đến khi Cơng an thị trấn Núi Sập đến thì V lấy đồ của
mình cho H mặc rồi chở H về nhà”.


13
Tại phần nhận định của Toà án HĐXX đã nhận định: “Hành vi của bị cáo
cởi quần, áo (chỉ còn lại áo lót), bắt người bị hại đứng đợi chồng đến chứng kiến
và công khai trước nhiều người là xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự
của người bị hại”.
Như theo quan điểm của Bản án này thì hành vi cởi quần áo của người
khác tại những nơi công cộng trước sự chứng kiến của nhiều người là xúc phạm
nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác.
Vụ án 2 là Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS-ST ngày 21/3/2018
của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có nội dung như
sau: “Do mẹ của H nợ tiền của G nên ngày 21/9/2017 G đến nơi làm việc của H
dùng nước mắm hiệu Nam ngư đỗ vào người của H; ngày 28/9/2017 G nhờ M đổ
mắm tôm vào người H, M đồng ý và đến nơi nơi làm việc của H đổ mắm tôm vào
người của H”.
Tại phần nhận định của bản án đã thể hiện: “Hành vi của bị cáo xâm phạm
đến danh dự, nhân phẩm của người khác, được pháp luật bảo vệ, gây mất an
ninh, trật tự nơi công cộng”.
Hành vi đổ mắm tôm vào người của người khác trong vụ án này được
HĐXX nhận định là xâm phạm đến danh, dự nhân phẩm của người khác và được
xác định là hành vi làm nhục người khác.
Từ những vụ án trên thực tế chứng ta có thể thấy rằng hành vi xúc phạm
đến danh dự, nhân phẩm của người khác trên thực tế ra đa dạng. Do đó, khó có
thể đưa ra một khái niệm cụ thể để mô tả khái quát đặc điểm của hành vi xúc
phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Cũng chính về vấn đề này mà việc
xử lý hành vi làm nhục người khác nói riêng, những hành vi xúc phạm danh dự,

nhân phẩm nói chung vẫn cịn mang tính chủ quan trên thực tế.
Thứ hai bất cập về việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi xúc
phạm đến danh dự, nhân phẩm
Hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được đánh giá
ở nhiều mức độ khác nhau. Căn cứ vào mức độ xâm phạm mà người có hành vi
xâm phạm có thể bị xử lý trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm hình sự. Đối


14
với bồi thường thiệt hại thì mức độ xâm phạm là yếu tố quyết định mức bồi
thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc xác định mức độ xâm phạm đến danh dự, nhân
phẩm của cá nhân vẫn cịn mang tính chủ quan. Do đó, trên thực tế vẫn cịn
nhiều quan điểm khác nhau khi xác định mức độ xâm phạm của hành vi này.
Điểm a khoản 1 Điều 5 nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng
chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phịng chống bạo lực gia đình:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một
trong những hành vi sau đây: a) Có cử chỉ, lời nói thơ bạo, khiêu khích, trêu
ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”. Theo quy định này chúng
ta có thể thấy rằng, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xúc phạm
đến danh dự, nhân phẩm không cần phải xác định mức độ xâm phạm mà chỉ cần
có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm.
Đối với trách nhiệm hình sự là một biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất
của pháp luật, tước đoạt một số quyền nhân thân, quyền công dân của con người.
Do đó, việc xử lý trách nhiệm hình sự của một người nào đó phải căn cứ vào
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Đối với “Tội làm nhục người
khác” thì một trong những yếu tố xác định cấu thành cơ bản của hành vi này là
“xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác”. Như vậy, để xác
định một người nào đó có phạm tội “Tội làm nhục người khác” hay khơng thì
trước tiên chúng ta cần phải xác định được người đó có hành vi xúc phạm đến

danh dự, nhân phẩm của người khác hay không; thứ hai là hành vi xúc phạm đó
có “nghiêm trọng” hay khơng. Nếu hành vi đó khơng nghiêm trọng thì khơng đủ
yếu tố cấu thành tội phạm đối với hành vi này, lúc này người có hành vi xâm
phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.
Vấn đề then chốt để xác định cấu thành tội phạm của hành vi “làm nhục
người khác” là hành vi “xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của
người khác”. Tuy nhiên, việc đánh giá thế nào là “nghiêm trọng” vẫn cịn
mang tính chủ quan của người phán quyết, vì chưa có một quy định cụ thể nào
để đo lường mức độ nghiêm trọng của hành vi này. Mỗi con người trong xã hội


15
có vị trí khác nhau, có người thì hành vi đó có thể họ cho rằng khơng nghiêm
trọng nhưng đối với người khác lại là nghiêm trọng. Chính vì vậy, trên thực tế
có một số quan điểm khác nhau khi xử lý các hành vi xâm phạm đến danh dự,
nhân phẩm.
Vụ án 3: “Ngày 30/6/2019 anh T, chị N có đến nhà của anh T1 (anh ruột
của anh T) và chị M dự lễ tốt nghiệp của con anh T. Sau khi về nhà thì chị M
có gọi điện thoại báo là nhà bị mất trộm và đã trình báo Cơng an. Sau đó anh
T1, chị M gọi điện thoại nói anh T và chị N là người lấy trộm, dùng những lời
lẽ thơ tục chửi, lăng mạ và nói không trả đe dọa sẽ đâm chết anh T, chị N gây
hoang mang cho cả gia đình anh T, chị N, không an tâm làm việc trong thời
gian dài. Do quá sợ hãi nên anh chị có báo vụ việc với Công an xã Phú Long,
huyện Châu Thành. Vụ việc đã được Công an xã Phú Long xử phạt vi phạm
hành chính bằng Quyết định số 01/QĐ-XPHC, 02/QĐ-XPHC. Nay anh T và chị
N yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông T1 và bà M liên đới trách nhiệm bồi
thường tổn thất tinh thần cho anh T, chị N mỗi người 10 tháng lương cơ sở là
14.900.000 đồng/người và yêu cầu anh T1 và chị M công khai xin lỗi anh T và
chị N; Tại quyết định bản án sơ thẩm, Tịa án tun xử buộc ơng T1 và bà M

liên đới trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho anh T, chị N mỗi người
02 tháng lương cơ sở, và không xem xét vấn đề công khai xin lỗi do không
thuộc thẩm quyền. Anh T và chị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu
anh T1, chị M phải bồi thường tổn thất tinh thần cho mỗi người 09 tháng lương
cơ sở và công khai xin lỗi anh T và chị N. Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết
định về việc bồi thường và không chấp nhận yêu cầu buộc anh T1 và chị M
công khai xin lỗi’11’.
Như vụ án tác giả đã nêu tại Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS-ST
ngày 21/3/2018 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
có nội dung như sau: “Do mẹ của H nợ tiền của G nên ngày 21/9/2017 G đến
nơi làm việc của H dùng nước mắm hiệu Nam ngư đỗ vào người của H; ngày
28/9/2017 G nhờ M đổ mắm tôm vào người H, M đồng ý và đến nơi nơi làm việc
của H đổ mắm tôm vào người của H”.

11

Bản án dân sự phúc thẩm số 375/2020/DS-PT ngày 22/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;


16
Tại phần nhận định của bản án đã thể hiện: “Hành vi của bị cáo xâm phạm
đến danh dự, nhân phẩm của người khác, được pháp luật bảo vệ, gây mất an
ninh, trật tự nơi công cộng”.
Trong Bản án này HĐXX đã nhận định hành vi đổ mắm tôm vào người
của người khác là hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, Bản
án chưa xác định được mức độ nghiêm trọng của hành vi này mà kết luận bị cáo
phạm tội làm nhục người khác là chưa thuyết phục. Bởi lẽ, cấu thành cơ bản của
tội làm nhục người khác phải là hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự,
nhân phẩm. Trong trường hợp có xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm nhưng chưa
đến mức nghiêm trọng thì khơng cấu thành tội phạm đối với tội này.

Ví dụ: “Chồng bắt quả tang vợ ngoại tình, anh T vô cùng tức giận. Anh lột
bỏ quần áo của vợ và hơ hốn gọi hàng xóm đến để chứng kiến. Vụ việc ồn ào
đã được báo cho Công an xã đến giải quyết. Công an xã đã xử phạt anh T số
tiền 1.000.000 đồng về hành vi lột bỏ quần áo của vợ trước mặt mọi người”12.
Nếu so sánh giữa hành vi đổ mắm tôm vào người của cô nhân viên ngân
hàng và hành vi của anh T trong ví dụ trên thì chúng ta xác định hành vi nào
mang tính nghiêm trọng hơn. Theo quan điểm của tác giả, hành vi lột quần áp
của người khác trước mặt nhiều người là hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến
danh dự, nhân phẩm người khác hơn là việc bị đổ mắm tơm vào người. Tuy
nhiên, sẽ có quan điểm khác ngược lại căn cứ trên bối cảnh diễn ra của từng vụ
việc, từng vị trí xã hội của người bị xâm phạm trên thực tế.
Chính vì chúng ta chưa có một quy định vụ thể nào để xác định mức độ
xâm phạm của hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự nên việc xác định
mức độ nghiêm trọng của hành vi này để xử lý trách nhiệm vẫn còn mang tính
chủ quan. Do đó, trên thực tế xử lý trách nhiệm của hành vi này không thống
nhất dẫn đến không đảm bảo công bằng trong áp dụng pháp luật, khơng đảm bảo
tính pháp chế.
Thứ ba bất cập về hình phạt của điều khoản cơ bản của tội làm nhục
người khác
12

/>-vien-trong-gia-dinh (truy cập ngày 30/12/2022]


17
Quyền nhân thân của con người như tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm là bất khả xâm phạm. Sức khoẻ, tính mạng của con người trong một số
trường hợp bị xâm phạm nhưng không bị xem là vi phạm pháp luật như thi hành
công vụ. Tuy nhiên, đối với danh dự, nhân phẩm thì trong bất cứ hồn cảnh nào
cũng khơng được xâm phạm đến. Tuy nhiên, hình phạt đối với hành vi xâm

phạm đến sức khoẻ, tính mạng là rất nghiêm khắc, hành vi cố ý gây thương tích
thì cấu thành cơ bản của hành vi này có mức hình phạt đến 03 năm tù… Đối với
những hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm mà cụ thể là tội làm nhục
người khác thì hình phạt chính của cấu thành cơ bản chỉ là phạt tiền và cải tạo
không giam giữ.
Theo quan điểm của tác giả một trong các dấu hiệu cấu thành cơ bản của
“Tội làm nhục người khác” là hành vi “xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự,
nhân phẩm”. Danh dự, nhân phẩm là những giá trị cao quý, tạo nên phẩm chất
của con người, nếu như một người bị xâm phạm đến sức khoẻ thì bị đau đớn về
thể xác hơn là tinh thần của cá nhân người bị xâm phạm. Đối với hành vi xúc
phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự thì ảnh hưởng rất lớn về mặt tinh
thần, sự tự ti, hình ảnh của họ làm cuộc sống của họ đảo lộn, có thể ảnh hưởng
đến cả sự nghiệp, hay chúng ta có thể nói là “sống khơng bằng chết”.
Bên cạnh đó, có một loại tội phạm tương tự “Tội làm nhục người khác”
nhưng khác nhau về chủ thể bị xâm phạm đó là “Tội làm nhục đồng đội” quy định
tại Điều 397 BLHS. Chủ thể bị xâm phạm của “Tội làm nhục đồng đội” là những
quân nhân của quân đội, còn chủ thể bị xâm phạm của “Tội làm nhục người khác”
là bất cứ người nào, trừ trường hợp là quân nhân. Tuy nhiên, đối với “Tội làm
nhục đồng đội” thì hình phạt của cấu thành cơ bản của tội này có khung hình phạt
là cải tạo khơng giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Đối
với “Tội làm nhục người khác” có khung hình phạt là phạt cảnh cáo, phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03
năm. “Về tình tiết định khung tăng nặng và hình phạt tại Điều 155 BLHS quy định
tội làm nhục người khác và Điều 397 BLHS quy định tội làm nhục đồng đội quy
định cùng một loại hành vi, tác động đến cùng chung một khách thể mà pháp luật
hình sự bảo vệ nhưng khoản 1 Điều 397 BLHS quy định hình phạt nặng hơn so
với khoản 1 Điều 155 BLHS, điều này có thể hợp lý, bởi quy định này tạo tính


18

nghiêm minh cao hơn đối với những hành vi vi phạm xảy ra trong mơi trường
Qn đội”13. Mặc dù có phân hoá đối với từng loại tội phạm, nhưng theo quan
điểm của tác giả giữa hai tội phạm này mức độ nguy hiểm cần có sự phân hố.
Tuy nhiên, đối với hành vi làm nhục người khác hình phạt của cấu thành cơ bản
hình phạt chính chỉ là hình phạt tiền hoặc cải tạo khơng giam giữ.
Chính vì vậy, theo quan điểm của tác giả hình phạt quy định tại khoản 1
Điều 155 BLHS hay ta nói là điều khoản cấu thành cơ bản của “Tội làm nhục
người khác” chưa đủ mức răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm phạm đến danh
dự, nhân phẩm diễn ra ngày càng nhiều trên thực tế.
1.3. Một số kiến nghị về áp dụng quy định về cấu thành tội phạm cơ
bản và hình phạt đối với tội làm nhục người khác
Kiến nghị về xác định nhân phẩm, danh dự
Nhân phẩm, danh dự của con người được hiến pháp và pháp luật của nước
ta bảo vệ một cách nghiêm túc và chặt chẽ. Vấn đề xác định thế nào là nhân
phẩm, danh dự của cá nhân là vấn đề mấu chốt để xác định có hành xâm phạm
đến khách thể này hay không. Tuy nhiên, do bản chất của nhân phẩm, danh dự
của con người là một vấn đề có nội hàm rất rộng nên chúng ta khó có thể đưa ra
một định nghĩa một cách cụ thể. Có thể hành vi này là xúc phạm đến danh dự,
nhân phẩm nhưng đối với người khác lại là biểu tượng của cái đẹp cần thể hiện
ra bên ngồi.
Ví dụ trường hợp một người mẫu hay những người thi những cuộc thi sắc
đẹp việc mặc bikini là một vinh dự để thể hiện cái đẹp cơ thể của mình. Tuy
nhiên, đối với những người khác việc ăn mặc như thế là hớ hênh, không phù hợp
với thuần phong mỹ tục và bị nhiều người đàm tiếu gây ảnh hưởng đến tâm lý,
nhân phẩm, danh dự của người đó.
Chính vì vậy, nhân phẩm, danh dự của con người cần phải đặt vào những
ngữ cảnh cụ thể, đối với mỗi cá nhân khác nhau cần phải có phương pháp xác
Võ Minh Tuấn (2021), “Vướng mắc, bất cập khi áp dụng Điều 397 Bộ luật hình sự - Tội làm nhục đồng
đội”, [truy cập ngày 29/12/2021]

13


19
định khác nhau. Do đó, pháp luật cần phải có một khái niệm mang tính khái quát
nhất thế nào là nhân phẩm, danh dự để làm cơ sở xác định khách thể của tội
phạm này được chính xác hơn, tính chủ quan của người áp dụng phần nào được
khắc phục.
Theo quy định tại Điều 123 BLDS 2015 có định nghĩa “Đạo đức xã hội là
những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa
nhận và tôn trọng”.
Theo quan điểm của tác giả, nhân phẩm, danh dự cũng là một phạm trù
của đạo đức xã hội, hành vi tôn trọng nhân phẩm, danh dự của người khác là
hành vi chuẩn mực trong ứng xử, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Ngược
lại, sự xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm là hành vi vi phạm chuẩn mực ứng xử
chung trong đời sống xã hội, không được cộng đồng thừa nhận, ủng hộ và tôn
trọng. Tương tự các quan điểm ở phần bất cập đã được ra từng khái niệm thế nào
nhân phẩm, thế nào là danh dự. Các khái niệm này đều nêu cao giá trị đạo đức,
tôn quý của con người là nhân phẩm, danh dự của của con người.
Vì vậy, theo quan điểm của tác giả khi chưa có một khái niệm chính thức
nào về nhân phẩm, danh dự của con người thì chúng ta có thể hiểu, áp dụng
tương tự pháp luật: “Nhân phẩm, danh dự của con người là một phạm trù của
đạo đức xã hội, những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được
cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.
Kiến nghị về việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi xúc phạm
đến danh dự, nhân phẩm
Việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi xúc phạm đến danh dự,
nhân phẩm là một trong những yếu tố sống cịn để xác định một người có phải
chịu trách nhiệm hình sự hay khơng. Đây là một trong những dấu hiệu cơ bản để
định tội đối với hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm.

Tuy nhiên, việc pháp luật chúng ta chưa có quy định nào xác định mức độ
nghiêm trọng của hành vi này là một rào cản lớn khi định tội. Thậm chí có nhiều
trường hợp hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm làm ảnh hưởng rất lớn
đến tinh thần của bị hại nhưng chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, còn những hành
vi như chỉ làm bẩn người lại bị xử lý trách nhiệm hình sự.


20
Chính vì vậy, trong thời gian tới pháp luật chúng ta cần phải được bổ sung
quy định này nhằm tạo sự thống nhất trong cách nhận thức mức độ nghiêm trọng
của hành vi này. Trong thời gian chưa có sự bổ sung kịp thời thì Tồ án nhân dân
tối cao cần có giải đáp thống nhất việc áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước.
Theo quan điểm của tác giả, việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành
vi này phải dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như số lượng chứng kiến hành vi
xúc phạm đó, người bị xúc phạm, mức độ lan truyền thông tin, mức độ dư luận
xã hội, … để xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi.
Kiến nghị về hình phạt của điều khoản cơ bản của tội làm nhục người khác
Nhân phẩm, danh dự là những giá trị tạo nên một con người, con người
sống, làm việc mục đích cuối cùng là tạo nên giá trị cho bản thân, gia đình và xã
hội. Việc xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác một cách trái pháp
luật cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung trong
xã hội.
Chính vì vậy, theo quan điểm của tác giả hình phạt chính tại cấu thành cơ
bản của “Tội làm nhục người khác” chỉ dừng ở hình phạt cảnh cáo, hình phạt
tiền và cải tạo khơng giam giữ là chưa đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa
chung trong xã hội. Theo quan điểm của tác giả, hình phạt cảnh cáo đã được điều
chỉnh bởi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi này. Đối với
hình phạt tiền chúng ta có thể áp dụng hình phạt bổ sung. Do đó,, tác giả để xuất
tăng tính nghiêm khắc của hình phạt của “Tội làm nhục người khác” tại khoản 1
Điều 155 BLHS cụ thể như sau:

“Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người
khác, thì phạt cải tạo khơng giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến
01 năm”.
Bởi lẽ, cấu thành cơ bản của tội này phải là hành vi xúc phạm “nghiêm
trọng”, do đó khung hình phạt phải tương xứng với hành vi của người xâm phạm.


×