BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
THÁI DƯƠNG THÙY DUNG
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số: 8380104
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh
Học viên
: Thái Dương Thùy Dung
Lớp
: Cao học Luật, An Giang khóa 2
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch
theo Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu khoa học của
riêng tơi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được
ai cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Thái Dương Thùy Dung
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng Hình sự
HĐXX
Hội đồng xét xử
TAND
Tịa án nhân dân
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TTHS
Tố tụng Hình sự
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. QUYỀN CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH THEO LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ............................................................................. 7
1.1. Quy định của pháp luật về quyền của người phiên dịch theo Luật Tố
tụng Hình sự Việt Nam .................................................................................... 7
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền của
người phiên dịch ............................................................................................. 14
1.3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền của người
phiên dịch ........................................................................................................ 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................... 22
CHƯƠNG 2. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH THEO LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ........................................................................... 24
2.1. Quy định pháp luật tố tụng hình sự về nghĩa vụ của người phiên dịch
.......................................................................................................................... 24
2.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ của
người phiên dịch ............................................................................................. 28
2.3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về nghĩa vụ của
người phiên dịch ............................................................................................. 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................... 39
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm vừa qua, Việt Nam đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh. Trong đó, việc tăng cường
pháp chế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân luôn là nhiệm vụ được đặt
lên hàng đầu. Theo u cầu của cơng cuộc cải cách tư pháp thì vấn đề bảo vệ
quyền con người trong Nhà nước pháp quyền và triển khai thực hiện Hiến pháp
năm 2013 đòi hỏi phải có những biện pháp hỗ trợ hữu hiệu cho hoạt động tư
pháp, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan, bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc đảm bảo quyền con người
ngày càng được chú trọng bởi các hoạt động tố tụng trực tiếp ảnh hưởng đến các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Để bảo vệ quyền và lợi ích của những
người tham gia tố tụng, BLTTHS đã có những quy định cụ thể liên quan đến
người tham gia tố tụng, yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải tôn trọng và thực hiện. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tư cách tố tụng chưa được
quy định cụ thể, rõ ràng tại BLTTHS khiến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
họ trên thực tế cịn gặp nhiều khó khăn vướng mắc, trong đó có tư cách tham gia
tố tụng của người phiên dịch. Những năm vừa qua, nước ta đã xảy ra nhiều vụ án
hình sự mà người tham gia tố tụng là người nước ngồi hay người dân tộc thiểu
số khơng sử dụng được tiếng Việt nên cần có người phiên dịch tham gia để trợ
giúp. Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự này cho thấy cịn phát sinh một số
hạn chế, vướng mắc liên quan đến việc áp dụng quy định của pháp luật TTHS về
quyền và nghĩa vụ người phiên dịch, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án.
Do quy định pháp luật TTHS về quyền và nghĩa vụ người phiên dịch chưa rõ
ràng, cụ thể nên mỗi địa phương, mỗi cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một
cách khác nhau dẫn đến không thống nhất, chưa đáp ứng được yêu cầu trong
hoạt động TTHS đặt ra khi cần có người phiên dịch.
Vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
phiên dịch trong TTHS là rất cần thiết nhằm tìm ra những nguyên nhân, hạn chế
2
trong việc áp dụng quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch. Từ đó, đề xuất các
kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật TTHS về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch trên
thực tế. Chính vì lý do trên, học viên quyết định chọn vấn đề "Quyền và nghĩa
vụ của người phiên dịch theo Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” làm đề tài luận
văn Thạc sĩ Luật học theo định hướng ứng dụng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay có khá nhiều cơng trình nghiên cứu về người tham gia tố
tụng nhưng những cơng trình nghiên cứu liên quan đến "Quyền và nghĩa vụ của
người phiên dịch theo Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam" cịn rất hạn chế. Có thể
chia các cơng trình này thành 03 nhóm chính sau:
Thứ nhất, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề tài khoa học nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật TTHS về người phiên dịch,
bao gồm:
- Trần Thảo (2015), “Bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng theo
nghĩa vụ pháp lý trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học,
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Trong cơng trình này, tác giả đã phân
tích các vấn đề lý luận về người tham gia tố tụng và người tham gia tố tụng theo
nghĩa vụ pháp lý, bao gồm người phiên dịch. Đồng thời tác giả phân tích thực
trạng quy định pháp luật TTHS trong việc đảm bảo quyền của người tham gia tố
tụng theo nghĩa vụ pháp lý và thực tiễn áp dụng các quy định này. Tác giả nhấn
mạnh bất cập của BLTTHS năm 2003 khi chỉ quy định nghĩa vụ mà không quy
định về quyền của người phiên dịch, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Trên cơ sở
đó, tác giả đưa ra kiến nghị bổ sung quy định pháp luật về quyền của người
phiên dịch và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự để đảm bảo
việc thực hiện các quyền này trên thực tế.
- Lê Phan Cơng Trí (2020), “Người phiên dịch theo Luật tố tụng hình sự
Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Trong cơng trình này, tác giả phân tích quy định pháp luật TTHS về tiêu chuẩn
người phiên dịch và quyền được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch và
chế độ khác theo quy định pháp luật. Đồng thời, tác giả phân tích các vướng mắc
3
trong thực tiễn thực hiện các quy định này, từ đó đưa ra một số kiến nghị hồn
thiện quy định pháp luật TTHS về tiêu chuẩn người phiên dịch và quyền được cơ
quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch và chế độ khác theo quy định pháp luật.
- Phạm Lan Thanh (2020), “Người phiên dịch, người dịch thuật trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học
quốc gia Hà Nội. Trong cơng trình này, tác giả nghiên cứu khái niệm về người
phiên dịch, người dịch thuật, căn cứ công nhận người phiên dịch, người dịch
thuật là người tham gia TTHS, phiên dịch, dịch thuật trong các giai đoạn tố
tụng, sự phát triển của pháp luật TTHS Việt Nam về người phiên dịch. Khi
nghiên cứu quy định của luật TTHS về người phiên dịch, người dịch thuật, tác
giả tập trung nghiên cứu các quy định về người phiên dịch, người dịch thuật
trong Bộ luật TTHS năm 2003 và trong Bộ luật TTHS năm 2015. Đồng thời,
tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về người phiên dịch, người
dịch thuật trong TTHS từ năm 2015 đến năm 2019 và xác định các hạn chế,
vướng mắc còn tồn tại khi áp dụng các quy định này. Trên cơ sở đó, tác giả đưa
ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS và những giải pháp thực tiễn
khác nhằm nâng cao hiệu quả tham gia tố tụng của người phiên dịch, người
dịch thuật trong TTHS.
- Nguyễn Thị Thùy Vân (nhóm trưởng) (2020), “Người phiên dịch, người
dịch thuật trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa
học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Trong cơng trình này, nhóm tác giả
phân tích những vấn đề lý luận, quy định của BLTTHS năm 2015 về người
phiên dịch, người dịch thuật, cũng như khảo sát thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật về chủ thể này, xác định những vướng mắc, bất cập còn tồn tại trong
quy định của BLTTHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó, đưa ra
một số kiến nghị, đề xuất cho việc sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan
đến người phiên dịch, người dịch thuật để hoàn thiện quy định của BLTTHS
năm 2015 và một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
trong thực tiễn về người phiên dịch, người dịch thuật.
Thứ hai, các cơng trình nghiên cứu về người phiên dịch dưới dạng đại cương,
phân tích các quy định của Bộ luật TTHS về địa vị pháp lý của người phiên dịch
hoặc phân tích các quy định khác liên quan tới người phiên dịch trong TTHS:
4
- Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, tái bản có sửa đổi, bổ sung,
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2019), NXB Hồng Đức;
- Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội
(2019), NXB. Cơng an nhân dân;
- Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2015 của GS.TS Nguyễn Ngọc
Anh, Luật sư, TS. Phan Trung Hoài (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia sự
thật (2018);
Thứ ba, các bài báo khoa học nghiên cứu về người phiên dịch trong TTHS:
- “Người phiên dịch, người giám định và vấn đề tính hợp pháp của chứng
cứ” của tác giả Nguyễn Nơng đăng trên Tạp chí kiểm sát số 04/2006;
- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc bảo đảm sự tham gia của
người phiên dịch trong hoạt động TTHS” của Tiến sỹ Trần Cơng Phàn đăng trên
tạp chí kiểm sát số 04/ 2007;
- “Sự trợ giúp ngôn ngữ của người phiên dịch trong TTHS Việt Nam” của
tác giả Mai Thanh Hiếu đăng trên tạp chí Luật học số 02/2012…
Các cơng trình nêu trên chủ yếu phân tích về các vấn đề lý luận và thực
tiễn về người phiên dịch theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 và Bộ luật
TTHS năm 2015, chưa đi sâu phân tích các quyền và nghĩa vụ của người phiên
dịch cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này. Riêng luận văn thạc sĩ Luật
học “Người phiên dịch theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, tác giả Lê Phan
Cơng Trí đã phân tích một quyền cụ thể của người phiên dịch, đó là quyền được
cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch và chế độ khác theo quy định pháp
luật. Tuy nhiên, tác giả Lê Phan Cơng Trí phân tích quyền này trên cơ sở xác
định sự khác nhau trong việc chi trả thù lao cho người phiên dịch giữa các địa
phương trong cả nước. Trong khi đó, tác giả sẽ phân tích quyền này trên cơ sở
xác định sự chênh lệch trong việc chi trả thù lao phiên dịch bằng tiếng nước
ngoài và tiếng dân tộc thiểu số. Do đó, đối tượng nghiên cứu giữa hai đề tài sẽ có
sự khác nhau.
Đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một cơng trình nghiên cứu khoa học
nào nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch theo quy định của Bộ
5
luật tố tụng hình sự năm 2015 theo định hướng ứng dụng. Vì vậy, đây được xem
là một đề tài mới, khơng trùng với bất kỳ cơng trình nghiên cứu nào trước đó.
Tuy nhiên, các cơng trình nghiên cứu cũng như các bài viết trên tạp chí, bài báo,
sách, giáo trình nêu trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trong q trình
học viên thực hiện đề tài.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu quy định của
pháp luật và nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
người phiên dịch theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả đánh giá thực trạng
cũng như phân tích những vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra
giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người phiên
dịch theo luật tố tụng hình sự Việt Nam đồng thời đề xuất những giải pháp đồng
bộ để nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch theo luật tố
tụng hình sự Việt Nam trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ khi BLTTHS
năm 2015 có hiệu lực thi hành đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường
lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, đề tài sử dụng phương pháp chủ đạo
là điều tra xã hội học với việc thực hiện các bài phỏng vấn trực tiếp những
người phiên dịch để xác định những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các
quy định pháp luật TTHS về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch. Ngoài ra,
đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác là: Phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê để giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của đề tài
cần nghiên cứu. Tác giả sử dụng những phương pháp này để làm rõ quy định
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch và thực tiễn áp dụng pháp
luật về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch tại địa phương, qua đó đánh giá
6
được những vấn đề còn hạn chế, vướng mắc để đưa ra các giải pháp, kiến nghị
hoàn thiện.
5. Ý nghĩa của đề tài
Thơng qua việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật và các vụ
án, tác giả tìm ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về
quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch theo luật tố tụng hình sự Việt Nam. Từ
đó, tác giả kiến nghị hồn thiện pháp luật và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng quy định về quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch theo luật tố
tụng hình sự Việt Nam. Vì vậy, luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cho những
người học luật muốn tìm hiểu, nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của người phiên
dịch theo luật tố tụng hình sự Việt Nam; cho những người áp dụng pháp luật tố
tụng hình sự và các cơ quan có thẩm quyền ban hành hướng dẫn áp dụng pháp
luật tố tụng hình sự tham khảo khi áp dụng và ban hành văn bản hướng dẫn áp
dụng các quy định của BLTTHS có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người
phiên dịch.
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục thì
Nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1. Quyền của người phiên dịch theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2. Nghĩa vụ của người phiên dịch theo Luật tố tụng hình sự
Việt Nam.
7
CHƯƠNG 1
QUYỀN CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Quy định của pháp luật về quyền của người phiên dịch theo Luật
Tố tụng Hình sự Việt Nam
Theo từ điển Tiếng Việt thì phiên dịch được hiểu là “việc chuyển từ ngôn
ngữ này sang ngôn ngữ khác”1. Như vậy, người phiên dịch có thể được hiểu là
người thực hiện việc chuyển đổi từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác mà
không làm thay đổi nghĩa của nó. Vì bản chất của phiên dịch là việc chuyển đổi
ngơn ngữ một cách trực tiếp, nhanh chóng nên người phiên dịch phải là người
thông thạo đối với ngôn ngữ cần phiên dịch. Đồng thời, người phiên dịch phải có
kỹ năng diễn giải tốt để ngay lập tức lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp và giải
thích cho người nghe có thể hiểu dễ dàng trong khoảng thời gian nhất định.
Theo quy định tại Điều 29 BLTTHS năm 2015 thì “tiếng nói và chữ viết
dùng trong tố tụng là tiếng Việt”. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mà người
tham gia tố tụng là người nước ngoài hoặc người dân tộc thiểu số, khơng thể sử
dụng được tiếng Việt thì họ có quyền “dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc
mình, trong trường hợp này cần phải có phiên dịch”2. Như vậy, sự tham gia của
người phiên dịch giúp cho cơng dân Việt Nam hoặc người nước ngồi khơng sử
dụng được tiếng Việt có thể thực hiện được quyền dùng tiếng nói, chữ viết của
dân tộc mình trong q trình giải quyết vụ án, góp phần đảm bảo quyền con
người trong tố tụng hình sự.
Khái niệm người phiên dịch được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 70
BLTTHS năm 2015, theo đó: “Người phiên dịch là người có khả năng phiên dịch
và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có
người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt”. Đồng thời, người phiên
dịch cịn có thể là “người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc,
chữ của người mù”3. Từ quy định này có thể xác định người phiên dịch theo luật
TTHS Việt Nam bao gồm 02 trường hợp: Một là, người có khả năng dịch từ ngôn
Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.587.
Điều 29 BLTTHS năm 2015.
3
Khoản 6 Điều 70 BLTTHS năm 2015
1
2
8
ngữ khác sang tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp vụ án hình sự có người
tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt; Hai là, người biết được các cử
chỉ, hành vi của người câm, người điếc hoặc chữ của người mù trong trường hợp
người tham gia tố tụng là người khuyết tật thuộc một trong những trường hợp trên.
Tuy nhiên, họ chỉ được tham gia tố tụng trong vụ án hình sự với tư cách người
phiên dịch khi họ được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu, nhằm
đảm bảo cho vụ án được giải quyết một cách đúng đắn, khách quan.
Để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho người phiên dịch,
BLTTHS năm 2015 có quy định về quyền của người phiên dịch tại khoản 2 Điều
70, cụ thể như sau:
Một là, người phiên dịch có quyền được thơng báo, giải thích quyền và
nghĩa vụ quy định tại Điều 70 BLTTHS năm 2015
Theo quy định tại Điều 71 BLTTHS năm 2015 thì cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải thơng báo, giải thích và bảo đảm
thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của
BLTTHS, đồng thời, việc thơng báo, giải thích phải được ghi vào biên bản. Căn
cứ theo quy định tại Điều 55 BLTTHS năm 2015 thì người phiên dịch là một
trong những người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự nên họ có quyền được
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thơng báo, giải thích, bảo đảm
thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ trong suốt các giai đoạn tố tụng. Trong giai
đoạn điều tra, trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều tra viên,
Cán bộ điều tra phải giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch4.
Trong giai đoạn xét xử, chủ tọa phiên tịa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho
người phiên dịch biết rõ khi tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa5. Quy định trên
nhằm đảm bảo cho người phiên dịch được nắm rõ các quyền lợi hợp pháp cũng
như trách nhiệm của họ trong quá trình tham gia tố tụng, giúp họ thực hiện đúng
đắn vai trò của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Hai là, người phiên dịch có quyền đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa
4
5
Khoản 3 Điều 184 BLTTHS năm 2015.
Điều 303 BLTTHS năm 2015.
9
Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của người phiên dịch và người thân thích của họ6 là
một yêu cầu tất yếu khách quan. Bởi lẽ, quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm và tài sản hợp pháp của công dân là vấn đề quan trọng được
quy định trong Hiến pháp và cụ thể hoá bằng các chế định pháp luật hình sự, TTHS
ở mỗi quốc gia, mỗi cơng dân trong xã hội đương nhiên có quyền được bảo vệ từ
phía Nhà nước trước nguy cơ xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Người phiên dịch có vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa người tham gia tố
tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc bị khuyết tật liên quan đến khả năng nói,
nghe, nhìn và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vai trò của người phiên
dịch là tham gia tố tụng với tư cách người phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trong quá trình giải quyết và làm sáng tỏ vụ án hình sự. Lý do tham gia
của người phiên dịch trong TTHS khơng phải vì lợi ích của họ mà là vì lợi ích của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo, bị hại... và của tồn xã hội.
Trong q trình tham gia tố tụng, họ được tiếp cận và biết được các thông tin, tài
liệu liên quan đến vụ án. Bằng việc dịch chính xác, trung thực, người phiên dịch sẽ
góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan, góp phần chứng minh tội phạm và người
phạm tội. Trong trường hợp người phiên dịch khơng dịch chính xác, đúng sự thật
thì sẽ làm cho quá trình tố tụng phức tạp, kéo dài cũng như ảnh hưởng đến việc xác
định sự thật khách quan của vụ án. Với vai trò quan trọng đó, người phiên dịch và
người thân thích của họ có nguy cơ bị đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác nên BLTTHS năm 2015 đã
quy định rõ về việc người phiên dịch có quyền đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác
của mình, người thân thích của mình khi tham gia tố tụng. Cơ quan tiến hành tố
tụng có trách nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người phiên
dịch và người thân thích của họ theo quy định của pháp luật, thể hiện thái độ, trách
nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân, để nhân dân có thể tin tưởng và an tâm tham
gia đấu tranh phịng, chống tội phạm.
Người thân thích của người phiên dịch là người có quan hệ với họ bao gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố
chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. anh
ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cơ ruột, dì ruột, cháu ruột (điểm e khoản
1 Điều 4 BLTTHS năm 2015)
6
10
Ba là, người phiên dịch có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc
phiên dịch
Quyền khiếu nại là một trong những quyền hiến định cơ bản của cơng dân
thuộc nhóm quyền về con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân quy
định cụ thể tại 30 Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, quyền khiếu nại còn được ghi
nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS và được quy định cụ thể
tại Điều 32 BLTTHS năm 2015, theo đó “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền
khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt
động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc
của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó”. BLTTHS năm 2015 quy định
thủ tục và quy trình giải quyết khiếu nại tại Chương XXXIII (từ Điều 469 đến
Điều 483) thể hiện rõ mục tiêu và trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền con
người trong TTHS, bảo đảm cho hoạt động TTHS được thực hiện đúng đắn, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân.
Người phiên dịch nếu nhận thấy các quyết định, hành vi tố tụng của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch là sai
trái, thì có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Người phiên dịch là một trong những chủ thể
tham gia tố tụng, việc họ có quyền khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của
cơ quan, người tiến hành tố tụng thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia
tố tụng, phù hợp với nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi cơng dân
trước pháp luật được quy định tại Điều 9 BLTTHS năm 2015: “Tố tụng hình sự
được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, khơng
phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tơn giáo, thành phần và địa vị xã hội.
Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”. Việc quy định về quyền
khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng
của người phiên dịch thể hiện bản chất dân chủ của pháp luật TTHS, vừa có ý
nghĩa bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, vừa góp phần khắc
phục những sai phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định như vậy nhằm làm cho người phiên
dịch quan tâm hơn tới các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố
11
tụng liên quan tới quyền lợi hợp pháp của mình để họ có thể bảo vệ quyền lợi
của mình khi tham gia TTHS.
Bốn là, quyền được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch và các chế
độ khác theo quy định của pháp luật
Việc người phiên dịch được chi thù lao phiên dịch và những chế độ khác
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện công việc của mình, thúc đẩy họ tích
cực hồn thành tốt cơng việc được giao. Đây cũng là điều hồn tồn hợp lý bởi
khi người phiên dịch được triệu tập tham gia tố tụng thì họ phải hỗn lại cơng
việc riêng của mình và hồn thành đầy đủ nhiệm vụ của một người phiên dịch,
ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian và trình tự cơng việc hàng ngày của họ, chưa
kể đến những chi phí mà họ phải bỏ ra, nên họ có quyền được bù đắp và hồn
tồn xứng đáng có được quyền này.
Hiện nay, chi phí, thù lao phiên dịch và các chế độ khác của người phiên
dịch không được quy định trong BLTTHS mà được quy định trong nhiều văn
bản khác nhau. Theo quy định tại Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 ngày 28
tháng 03 năm 2012 về chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng,
người phiên dịch trong tố tụng thì: “Chi phí cho người phiên dịch là số tiền cần
thiết, hợp lý phải chi trả cho người phiên dịch do cơ quan tiến hành tố tụng tính
căn cứ vào quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật liên
quan7”. Như vậy, chi phí cho người phiên dịch sẽ tùy vào từng trường hợp cụ
thể mà cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập sẽ xác định số tiền chính xác cần phải
chi trả. Tại Điều 15 Nghị định 81/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của
Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 quy định: “Chi phí cho người phiên dịch,
người dịch thuật được xác định bao gồm một hoặc một số chi phí như tiền cơng
cho người phiên dịch, người dịch thuật phiên dịch, chi phí đi lại (nếu có), chí phí
lưu trú (nếu có), các chi phí phát sinh khác (nếu có). Tất cả sẽ được tính dựa
theo ngày, thời gian thực tế tham gia phiên tòa, phiên họp và các hoạt động tố
tụng khác giải quyết vụ án hình sự”8. Đồng thời, tại Điều 17 Nghị định này quy
Khoản 8 Điều 3 Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 ngày 28 tháng 03 năm 2012 về Chi phí giám định, định
giá; Chi phí cho người phiên dịch, người dịch thuật làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng
8
Điều 15 Nghị định 81/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh chi phí giám định, định giá;
chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng.
7
12
định về tiền công cho người phiên dịch tham gia phiên tịa giải quyết vụ án hình
sự, chia làm hai trường hợp:
Tiền cơng đối với người phiên dịch dịch nói và dịch tài liệu bằng tiếng nước
ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về mức chi phí dịch thuật trong chế
độ chi tiêu, tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam và chi tiêu tổ chức
hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 11 Thơng tư Số
71/2018/TTBTC thì trong trường hợp dịch nói thơng thường, mức thù lao là
250.000 đồng/giờ/người, tương đương 2.000.000 đồng/ngày/người làm việc 8
tiếng; nếu dịch đuổi (dịch đồng thời) thì mức thù lao là 500.000 đồng/giờ/người,
tương đương 4.000.000 đồng/ngày/người làm việc 8 tiếng. Trường hợp biên dịch
thì chia thành các trường hợp: Biên dịch một trong 6 ngơn ngữ chính thức của
Liên hợp quốc sang tiếng Việt (gồm: tiếng Ả Rập, tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng
Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha): 150.000 đồng/trang (350 từ); Biên dịch
tiếng Việt sang một trong 6 ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc: 180.000
đồng/trang (350 từ); Đối với các ngơn ngữ ngồi ngơn ngữ chính thức của Liên
hợp quốc, tùy theo mức độ phổ biến của ngôn ngữ đó trên địa bàn cơ quan, đơn vị,
thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định mức chi biên dịch được phép tăng tối đa
30% so với mức chi biên dịch tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.9
Tiền cơng đối với người phiên dịch dịch nói và dịch tài liệu bằng tiếng
dân tộc thiểu số thực hiện theo quy định của pháp luật về mức chi phiên dịch
tiếng dân tộc thiểu số, mức chi biên dịch tiếng dân tộc tài liệu phổ biến, giáo
dục pháp luật đảm bảo cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tùy thuộc
vào từng địa phương mà mức tiền công này có sự khác nhau. Chẳng hạn, Nghị
quyết số 09/2014/NQ-HĐND ban hành ngày 08/7/2014 của Hội đồng nhân dân
tỉnh An Giang về việc quy định mức chi và kinh phí thực hiện công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở
trên địa bàn tỉnh An Giang thì tiền cơng đối với người phiên dịch dịch nói và
dịch tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số được tính tối đa là 250% mức lương cơ
sở, tính theo lương ngày do Nhà nước quy định cho khu vực quản lý hành
Điều 11 Thông tư Số 71/2018/TTBTC ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Bộ Tài chính về Chế độ tiếp khách
nước ngồi vào làm việc tại Việt Nam; chế độ chi tiêu tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chế
độ tiếp khách trong nước.
9
13
chính. Với mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng/tháng, có thể xác định
tiền cơng đối với người phiên dịch tiếng dân tộc thiểu số khi tham gia phiên tịa
tại An Giang là khơng q 170.000 đồng/ngày. Trong khi đó, theo Nghị quyết
Số 33/2017/NQ-HĐND ban hành ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh
Cao Bằng quy định mức chi bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
thì tiền cơng đối với người phiên dịch tiếng dân tộc thiểu số khi tham gia phiên
tòa tại Cao Bằng là 150.000 đồng/ngày. Như vậy, mức tiền công đối với người
phiên dịch dịch nói và dịch tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số đã khơng có sự
thống nhất giữa các địa phương. Đồng thời, tiền công phiên dịch tiếng dân tộc
thiểu số được chi trả rất thấp so với việc phiên dịch bằng tiếng nước ngồi.
Bên cạnh đó, Quyết định số 41/2012/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 05/10/2012 về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên
họp giải quyết việc dân sự cũng quy định về mức bồi dưỡng đối với người
phiên dịch khi tham gia phiên tòa giải quyết vụ án hình sự. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 2 Quyết định này thì người phiên dịch tiếng nước ngồi được
Tịa án mời dịch tại phiên tịa được hưởng mức bồi dưỡng theo quy định về
mức chi phí dịch thuật trong chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào
làm việc tại Việt Nam và chi tiêu tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt
Nam trong khi người phiên dịch tiếng dân tộc được Tòa án mời dịch tại phiên
tòa được hưởng mức bồi dưỡng tối đa bằng 200% mức lương tối thiểu chung,
tính theo ngày lương do Nhà nước quy định. Như vậy, có thể nhận thấy mức
thù lao phiên dịch tiếng nước ngoài tại Quyết định này cũng tương đồng với
quy định tại Nghị định 81/2014/NĐ-CP trong khi mức thù lao phiên dịch bằng
tiếng dân tộc thiểu số lại thấp hơn so với việc áp dụng quy định tại Nghị định
81/2014/NĐ-CP.
Ngoài ra, chi phí cho người phiên dịch cịn bao gồm chi phí đi lại, chí phí
lưu trú và các chi phí phát sinh khác (nếu có). Hiện nay chưa có quy định pháp
luật cụ thể về các loại chi phí này đối với người phiên dịch nên cơ quan tiến
hành tố tụng thường thực hiện việc chi trả từng trường hợp cụ thể trên cơ sở đề
nghị thanh tốn chi phí cho người phiên dịch, bao gồm hóa đơn, chứng từ, tài
liệu kèm theo…
14
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền
của người phiên dịch
Trong những năm vừa qua, người phiên dịch khi tham gia vào các vụ án
hình sự đã có những cố gắng nhất định, thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan tiến
hành tố tụng yêu cầu, góp phần vào việc giải quyết các vụ án hình sự có yếu tố
nước ngồi, hoặc những vụ án hình sự do người phạm tội là những người thuộc
dân tộc thiểu số không biết tiếng Việt, đảm bảo có căn cứ và đúng quy định pháp
luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền của người phiên dịch
vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, cụ thể như sau:
Một là, quyền đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân
thích của mình khi bị đe dọa vẫn chưa được đảm bảo thực hiện trên thực tế.
Trong quá trình tham gia tố tụng, khi người phiên dịch hoặc người thân
thích của họ bị đe dọa thì họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền bảo vệ
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình, người thân thích của mình. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách
nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người phiên dịch và
người thân thích của họ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế xảy
ra một số trường hợp người phiên dịch bị đe dọa và họ đã yêu cầu sự bảo vệ từ
cơ quan đã yêu cầu họ phiên dịch nhưng các cơ quan này đã không thực hiện
việc bảo vệ họ.
Điển hình là trường hợp ơng Chau Xi Nê là phiên dịch viên ký hợp đồng
với Phòng tư pháp huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ phiên dịch cho bị cáo Chau Phương về tội cố ý gây thương tích theo
khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015, đã bị người nhà của bị hại thường xuyên đe
dọa, chửi mắng vì là người phiên dịch cho bị cáo Chau Phương10. Do trình độ
hiểu biết hạn chế nên gia đình bị hại cho rằng ơng Chau Xi Nê đang hỗ trợ, giúp
đỡ cho bị cáo Chau Phương. Vì vậy, họ thường xuyên đe dọa xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, tài sản cũng như chửi mắng ông Chau Xi Nê mỗi khi gặp mặt.
Do bị ảnh hưởng về mặt tinh thần nên ông Chau Xi Nê đã đề nghị cơ quan cảnh
10
Phỏng vấn ông Chau Xi Nê vào ngày 12/3/2022.
15
sát điều tra công an huyện Tịnh Biên thực hiện các biện pháp bảo vệ tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác cho
ơng và người thân thích của ơng. Tuy cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện
Tịnh Biên đã ghi nhận đề nghị của ơng nhưng sau đó hành vi của gia đình bị hại
vẫn tiếp tục diễn ra mà cơ quan này vẫn không thực hiện các biện pháp cụ thể để
bảo vệ ông Chau Xi Nê.
Nguyên nhân dẫn đến vướng mắc nêu trên là do quy định của BLTTHS
năm 2015 về việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, các quyền
và lợi ích hợp pháp khác cho người phiên dịch và người thân thích của họ vẫn
cịn tồn tại một số hạn chế, bất cập, thiếu đồng bộ. Theo quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 70 BLTTHS năm 2015 thì người phiên dịch được yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích khi bị
đe dọa. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 484 BLTTHS năm 2015 thì những
người được bảo vệ khi tham gia tố tụng chỉ bao gồm người tố giác tội phạm,
người làm chứng, bị hại, người thân thích của họ. Người phiên dịch và người
thân thích của họ lại khơng thuộc nhóm đối tượng được bảo vệ khi tham gia tố
tụng nên đương nhiên họ không được áp dụng các biện pháp bảo vệ theo quy
định tại Điều 486 BLTTHS năm 2015. Qua phỏng vấn Phó Thủ trưởng Cơ quan
điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tịnh Biên11, là người có thẩm
quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ, thì
ơng này cũng xác định là khơng có căn cứ pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo
vệ cụ thể đối với người phiên dịch và người thân thích của họ do hạn chế về đối
tượng áp dụng theo quy định tại Điều 484 BLTTHS năm 2015. Vì vậy, cần thiết
phải hồn thiện quy định pháp luật TTHS về việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác cho người phiên dịch
và người thân thích của họ khi tham gia tố tụng, giúp họ n tâm hồn thành tốt
nhiệm vụ của mình.
Hai là, quyền được các cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch và các
chế độ khác nhau theo quy định của pháp luật của người phiên dịch vẫn chưa
Phỏng vấn Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tịnh Biên vào ngày
21/3/2022 (người được phỏng vấn đề nghị không nêu tên).
11
16
được đảm bảo, chưa phù hợp với thời gian, công sức mà họ đã bỏ ra để thực hiện
nhiệm vụ.
Như đã phân tích ở trên, việc người phiên dịch được chi thù lao phiên dịch
và những chế độ khác một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực
hiện cơng việc của mình, thúc đẩy họ tích cực hồn thành tốt cơng việc được
giao. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng tại một số địa phương, thù lao phiên
dịch và các chế độ khác được chi trả cho người phiên dịch là quá thấp, khiến họ
tìm cách từ chối thực hiện nhiệm vụ phiên dịch của mình.
Trước hết, có sự chênh lệch rất lớn giữa thù lao phiên dịch bằng tiếng
nước ngoài và tiếng dân tộc thiểu số. Thù lao phiên dịch bằng tiếng nước ngoài
được chi trả theo quy định tại Điều 11 Thông tư Số 71/2018/TTBTC, nếu dịch
nói thơng thường thì mức thù lao là 250.000 đồng/giờ/người, tương đương
2.000.000 đồng/ngày/người làm việc 8 tiếng; nếu dịch đồng thời thì mức thù lao
là 500.000 đồng/giờ/người, tương đương 4.000.000 đồng/ngày/người làm việc 8
tiếng. Trong khi đó, thù lao phiên dịch bằng tiếng dân tộc thiểu số chỉ quy định
mức tối đa mà không quy định một mức cụ thể mà chỉ quy định mức tối đa là
“250% mức lương cơ sở, tính theo lương ngày do Nhà nước quy định cho khu
vực quản lý hành chính”12. Với mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000
đồng/tháng thì phiên dịch tiếng dân tộc thiểu số khi tham gia phiên tịa của người
phiên dịch là khơng q 170.000 đồng/ngày.
Qua khảo sát mức chi trả thù lao cho người phiên dịch tại An Giang những
năm vừa qua, có thể nhận thấy mức chênh lệch rất lớn giữa việc phiên dịch bằng
tiếng nước ngoài và tiếng dân tộc thiểu số. Chẳng hạn, vào năm 2021, việc chi
trả thù lao cho người phiên dịch bằng tiếng nước ngoài (Anh, Hàn, Trung
Quốc...) tại TAND tỉnh An Giang ở mức là 300.000 đồng/giờ, nếu phiên tịa diễn
ra trong ½ ngày thì mức chi trả cho người phiên dịch bằng tiếng nước ngoài là
1.200.000 đồng, nếu phiên tịa diễn ra trong 01 ngày thì mức chi trả cho người
phiên dịch bằng tiếng nước ngoài là 2.400.000 đồng. Trong khi đó, việc chi trả
thù lao cho người phiên dịch bằng tiếng dân tộc thiểu số vào năm 2022 tại
Thông tư liên tịch Số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 22 tháng 01 năm 2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp
hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết tốn kinh phí ngân sách Nhà nước bảo đảm cho công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật cho người dân tại cơ sở.
12
17
TAND các cấp thuộc tỉnh An Giang chỉ là 135.000 đồng/ngày, tức chỉ được
khoảng 17.000 đồng/giờ. Như vậy, thù lao phiên dịch bằng tiếng nước ngoài gấp
hơn 14 lần thù lao phiên dịch bằng tiếng dân tộc thiểu số.
Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch rất lớn nêu trên là do bất cập trong
quy định pháp luật về thù lao phiên dịch được quy định trong Thông tư số
71/2018/TTBTC và Thông tư liên tịch Số 14/2014/TTLT-BTC-BTP. Thông tư
số 71/2018/TTBTC quy định mức thù lao cụ thể khi phiên dịch bằng tiếng nước
ngồi là 250.000 đồng/giờ nếu dịch nói và là 500.000 đồng/giờ nếu dịch đồng
thời. Trong khi đó, Thơng tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP quy định
mức thù lao phiên dịch tiếng dân tộc thiểu số tính theo lương cơ sở nên thù lao
phiên dịch trong trường hợp này là không q 170.000 đồng/ngày. Như vậy, tuy
tính chất cơng việc cũng như thời gian thực hiện nhiệm vụ là như nhau nhưng
thù lao nhận được giữa người phiên dịch tiếng nước ngoài và người phiên dịch
tiếng dân tộc thiểu số trong vụ án hình sự là hồn tồn khác biệt. Chính sự bất
hợp lý trong quy định này là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người từ
chối khi các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu họ thực hiện nhiệm vụ phiên dịch
trong vụ án hình sự.
Bên cạnh đó, người phiên dịch cịn có quyền được các cơ quan u cầu
chi trả các chế độ khác, bao gồm: chi phí đi lại, chí phí lưu trú và các chi phí
phát sinh khác (nếu có). Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 18 Nghị định
81/2014/NĐ-CP thì các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc chi trả dựa
trên hợp đồng (nếu có) hoặc hóa đơn, chứng từ mà người phiên dịch cung cấp.
Trong trường hợp người phiên dịch không cung cấp được các hóa đơn, chứng
từ chứng minh các loại chi phí này thì các cơ quan tiến hành tố tụng thường sẽ
từ chối việc chi trả. Đây cũng là một trong những hạn chế ảnh hưởng đến
quyền lợi của người phiên dịch trên thực tế, vì một số khoảng chi phí mà họ
phải bỏ ra trong q trình tố tụng lại khơng được chi trả vì khơng có các hóa
đơn, chứng từ chứng minh. Qua khảo sát ý kiến một số người phiên dịch trên
địa bàn tỉnh An Giang, họ phải tự thanh tốn một số chi phí liên quan đến việc
thực hiện nhiệm vụ phiên dịch mà không được các cơ quan u cầu chi trả do
khơng có hóa đơn, chứng từ chứng minh như: chi phí xăng dầu, ăn uống, in ấn
tài liệu... trong khi thù lao phiên dịch mà họ được chi trả chỉ là 135.000
18
đồng/ngày vào năm 202113. Điển hình là trường hợp người phiên dịch Châu Xi
Nê khi tham gia phiên dịch tại phiên tịa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự do
TAND huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang xét xử vào ngày 20/09/2021 được
nhận thù lao phiên dịch là 135.000 đồng. Tuy nhiên, chi phí mà ơng phải bỏ ra
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phiên dịch bao gồm: tiền xăng, tiền ăn sáng
và ăn trưa, tiền in tài liệu lại còn nhiều hơn thù lao phiên dịch mà ơng được
nhận. Do những chi phí này khơng có hóa đơn, chứng từ chứng minh nên cuối
cùng ông đã không được cơ quan có thẩm quyền chi trả14.
Vì vậy, cần phải sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành liên
quan đến việc chi trả thù lao phiên dịch và các chế độ khác cho người phiên
dịch, xứng đáng với thời gian, công sức mà họ đã bỏ ra nhằm đảm bảo các quyền
và lợi ích hợp pháp của họ cũng như góp phần giải quyết vụ án hình sự được
đúng đắn và hiệu quả.
1.3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền của
người phiên dịch
Trên cơ sở xác định một số vướng mắc còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng
pháp luật về quyền của người phiên dịch, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền của người phiên dịch, cụ
thể như sau:
Một là, sửa đổi quy định tại Điều 484 BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ
sung người phiên dịch và người thân thích của họ thuộc đối tượng được bảo vệ
về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cũng như các quyền và lợi ích hợp
pháp khác. Như đã phân tích ở trên, người phiên dịch có quyền đề nghị cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình hoặc người thân thích
khi bị đe dọa nhưng họ và người thân thích của họ lại khơng thuộc nhóm đối
tượng được bảo vệ theo quy định tại Điều 484 BLTTHS năm 2015. Do đó, cơ
quan có thẩm quyền khơng có căn cứ pháp lý để áp dụng các biện pháp cụ thể để
bảo vệ người phiên dịch và người thân thích của họ khi được đề nghị, Vì vậy, để
đảm bảo thực hiện việc bảo vệ người phiên dịch và người thân thích của họ cũng
13
14
Khảo sát ý kiến của 42 người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ phiên dịch trong các vụ án hình sự tại An Giang.
Phỏng vấn người phiên dịch Châu Xi Nê ngày 12/3/2022
19
như thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân, để nhân dân có thể tin
tưởng và an tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, cần sửa đổi Điều
484 BLTTHS năm 2015 với nội dung cụ thể như sau:
“Điều 484. Người được bảo vệ
1. Những người được bảo vệ gồm:
a) Người tố giác tội phạm;
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
d) Người phiên dịch, người dịch thuật;
đ) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại,
người phiên dịch, người dịch thuật.”
Đồng thời, người phiên dịch và người thân thích của họ sẽ có các quyền và
nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 484 BLTTHS năm 2015
cũng như họ sẽ được áp dụng các biện pháp bảo vệ cụ thể như: Răn đe, cảnh cáo,
vơ hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; Ngăn chặn, xử lý kịp thời
các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật… được quy định tại Điều 486
BLTTHS năm 2015 trong suốt quá trình tham gia tố tụng.
Hai là, sửa đổi quy định liên quan đến chi trả thù lao phiên dịch bằng
tiếng dân tộc thiểu số và chi trả các chế độ khác cho người phiên dịch trong quá
trình họ tham gia tố tụng hình sự.
Như đã phân tích ở trên, thù lao phiên dịch tiếng nước ngoài và thù lao
phiên dịch tiếng dân tộc thiểu số có sự chênh lệch rất lớn trong khi thời gian,
cơng sức mà họ bỏ ra cũng tương đương nhau với trách nhiệm đối với công việc
phiên dịch cũng tương tự nhau. Sự bất hợp lý trong quy định về thù lao phiên
dịch tiếng dân tộc thiểu số là một trong những nguyên nhân khiến một số người
phiên dịch tiếng dân tộc thiểu số tìm cách từ chối, thối thác nhiệm vụ phiên
dịch hoặc họ thực hiện một cách qua loa, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử vụ án
hình sự. Do đó, cần sửa đổi quy định về thù lao phiên dịch bằng tiếng dân tộc
thiểu số theo hướng hợp lý hơn với mức thù lao phải tương đương với thù lao
phiên dịch tiếng nước ngoài, cụ thể: Nếu dịch nói thơng thường thì mức thù lao
20
là 250.000 đồng/giờ/người, tương đương 2.000.000 đồng/ngày/người làm việc 8
tiếng; nếu dịch đồng thời thì mức thù lao là 500.000 đồng/giờ/người, tương
đương 4.000.000 đồng/ngày/người làm việc 8 tiếng. Việc sửa đổi này sẽ thể hiện
được quan điểm của Nhà nước ta về việc đảm bảo sự bình đẳng và khơng có sự
phân biệt quyền lợi giữa những người phiên dịch trong tố tụng hình sự.
Bên cạnh đó, cần sửa đổi quy định liên quan đến việc chi trả các chế độ
khác cho người phiên dịch trong quá trình họ tham gia tố tụng. Theo quy định tại
Điều 18 Nghị định 81/2014/NĐ-CP thì cơ quan tiến hành tố tụng chỉ chi trả các
chế độ khác cho người phiên dịch khi người phiên dịch cung cấp bản chính các
hóa đơn, chứng từ hợp pháp có liên quan để chứng minh các khoản chi phí thực tế
hợp lý đã phát sinh mà người phiên dịch đã chi trả khi đến phiên dịch. Vì vậy,
trong một số trường hợp mà người phiên dịch không cung cấp được bản chính các
hóa đơn, chứng từ chứng minh thì họ khơng được cơ quan tiến hành tố tụng chi trả
lại các chi phí mà họ đã chi trả trước đó. Quy định này ảnh hưởng rất lớn đến
quyền và lợi ích của người phiên dịch khi họ phải tự chi trả một số khoản chi phí
thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Bởi lẽ, đối với một số chi phí
như: tiền xăng, tiền ăn uống, tiền in tài liệu thì việc bắt buộc phải có các hóa đơn,
chứng từ chứng minh gây nhiều khó khăn cho người phiên dịch. Do đó, cần bổ
sung quy định tại Điều 18 Nghị định 81/2014/NĐ-CP với nội dung cụ thể như sau:
“Trong trường hợp khơng có hóa đơn, chứng từ hợp pháp để chứng minh các
khoản chi phí thực tế hợp lý đã phát sinh mà người phiên dịch đã chi trả, cơ quan
tiến hành tố tụng cần xem xét và vẫn chi trả các khoản chi phí này theo đề nghị
của người phiên dịch nếu xác định đây là các chi phí hợp lý và cần thiết để người
phiên dịch thực hiện nhiệm vụ”. Đồng thời, việc chi trả trong trường hợp này cũng
phải đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật hiện hành liên quan đến chế độ cơng
tác phí tại Thơng tư số 40/2017/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày
28/4/2017 về chế độ cơng tác phí, chế độ chi hội nghị, cụ thể như sau:
- Tiền xăng sẽ được thanh toán theo mức 0,2 lít xăng/km tính từ nơi ở/ nơi
làm việc của người phiên dịch đến nơi xét xử, bao gồm cả đi và về trong trường
hợp người phiên dịch đi lại bằng phương tiện cá nhân của mình.15
- Tiền lưu trú sẽ được thanh toán theo các mức như sau:
15
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư số 40/2017/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 28/4/2017