Tải bản đầy đủ (.pdf) (154 trang)

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (27.46 MB, 154 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN LƯƠNG Y

TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH,
MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ
THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH,
MẠNG VIỄN THƠNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ
THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng nghiên cứu
Mã số: 8380104

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa
Học viên
: Nguyễn Lương Y
Lớp


: Cao học Luật, khóa 31

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt
Nam” là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng tơi. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong Luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Lương Y


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

BLHS 2015

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

CNTT

Cơng nghệ thông tin


CSĐT

Cảnh sát điều tra

CTTP

Cấu thành tội phạm

NĐT

Nhà đầu tư

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ
DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THƠNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN
TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN......................................... 8
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản .................... 8
1.1.1. Khái niệm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện
tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản................................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện
điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản....................................................... 11
1.2. Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ...

.............................................................................................................................. 13
1.2.1. Các dấu hiệu định tội của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều 290 BLHS
2015 ..................................................................................................................... 13
1.2.2. Các dấu hiệu định khung của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ....................... 27
1.2.3. Các quy định về hình phạt đối với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ....................... 30
1.2.4. Một số hạn chế trong quy định của BLHS 2015........................................ 34
1.3. Phân biệt tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện
điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác ....... 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ......................................................................................... 46
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ
TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THƠNG, PHƯƠNG TIỆN
ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN............................ 47


2.1. Tổng quan thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sự về tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản ............................................................................................... 47
2.2. Hạn chế trong quy định về chủ thể của tội phạm Tội sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản ......................................................................................................................... 50
2.3. Hạn chế trong xác định tài sản bị chiếm đoạt liên quan đến tiền điện tử,
tiền ảo ................................................................................................................... 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ......................................................................................... 61
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM VIỆC
ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN
THƠNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN .................................................................................................................... 62

3.1. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật ........................................................... 62
3.2. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định về Tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản ............................................................................................... 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ......................................................................................... 73
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, thế giới bước vào cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ
4 với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, viễn thông kéo theo số lượng
người sử dụng Internet, phương tiện điện tử kết nội mạng không ngừng gia tăng.
Tại Việt Nam, theo thống kê có khoảng 68,17 triệu người sử dụng mạng Internet
(chiếm 70% dân số cả nước) và khoảng 145,8 triệu kết nối mạng dữ liệu di động1.
Sự phát triển của công nghệ thơng tin, viễn thơng góp phần quan trọng vào việc
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội...của đất nước, làm cho hoạt động đi lại, lưu
thơng hàng hóa, giao dịch kinh tế, dân sự, mua bán, thanh toán...của người dân
được nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả. Bên cạnh lợi ích chủ yếu do công nghệ
thông tin, viễn thông mang lại; còn xuất hiện, gia tăng các hoạt động sử dụng công
nghệ thông tin, viễn thông để thực hiện tội phạm; trong đó nổi lên tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản.
Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã chính thức quy định
“Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” tại Điều 226b. Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13
sau đó sửa đổi Điều 226b thành Điều 290 “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Điều luật này tiếp
tục được giữ trong Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại Điều 290.
Việc Bộ Luật hình sự chính thức ghi nhận tội danh này đã tạo cơ sở pháp lý quan
trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng đạt
hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đòi hỏi phải bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi
sự xâm hại của tội phạm này. Từ năm 2013 đến năm 2017, Tịa án nhân dân TP. Hồ
Chí Minh đã đưa ra xét xử 44 vụ án – 135 bị cáo về tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản, tổng tài sản thiệt hại khoảng 90,381 tỷ đồng…2
Sau một thời gian được chính thức ghi nhận, việc áp dụng Điều 290 xử lý các
hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử chiếm đoạt
1
2

truy cập ngày 27/12/2020.
Thống kê của TAND Thành phồ Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017.


2
tài sản đã cho thấy một số bất cập, chẳng hạn như việc định tội danh giữa tội sử
dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản với các tội chiếm đoạt tài sản như trộm cắp tài sản hay lừa đảo chiếm
đoạt tài sản có sử dụng mạng internet, mạng viễn thông hay phương tiện điện tử; sự
giao thoa giữa một số hành vi đã được liệt kê trong Điều 290 như giữa hành vi ‘sử
dụng thông tin về tài khoản … để chiếm đoạt tài sản’ với hành vi ‘truy cập bất hợp
pháp vào tài khoản’; vấn đề liệt kê và loại trừ tội phạm đang thiết kế trong Điều 290
khoản 1; vấn đề pháp nhân thương mại tham gia vào hành vi sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; …
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm

đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Luật học để nghiên cứu toàn diện quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm
này và đề xuất một số kiến nghị nhằm xây dựng Bộ luật Hình sự Việt Nam ngày
càng hồn thiện.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có một số cơng trình nghiên cứu về tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản, cụ thể như sau:
Luận án tiến sĩ Luật học “Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng
viễn thơng theo Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quý Khuyến năm
2021. Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện những vấn đề lý luận
tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thơng; quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực này; thực tiễn
áp dụng tại Việt Nam, nêu một số hạn chế và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
thời gian tới. Do phạm vi nghiên cứu rộng nên đối với Tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tác giả
mới chỉ ra được một số hạn chế và giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng; chưa đi
sâu nghiên cứu toàn diện về tội danh này, nhất là cịn chưa có sự thống nhất trong
đề xuất giải pháp như tác giả đề nghị bỏ cụm từ “nếu không thuộc trường hợp quy
định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này” tại khoản 1 Điều 290, vì tác giả cho
rằng Điều 290 được coi là điều luật riêng cụ thể so Điều 173 và Điều 174; Nếu


3
người phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm đ
khoản 1 Điều 290 thì xử lý về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Nếu không thoả mãn yếu
tố cấu thành của tội này mà thoả mãn cấu thành tội phạm tại Điều 173 hoặc Điều
174 thì xử lý về tội trộm cắp tài sản hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, tác

giả cho rằng khơng thể quy định ngược là nếu không thuộc trường hợp quy định tại
Điều 173 và Điều 174 mới xử lý theo Điều 290. Trong khi đó, tác giả lại đề xuất
hướng dẫn phân biệt về định tội danh các trường hợp quy định tại Điều 290 với
Điều 173 và Điều 174 BLHS năm 2015.
Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo pháp luật
hình sự hiện hành” của tác giả Lê Thị Huyền Trang năm 2011. Trong cơng trình
này, tác giả đã phân tích tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều 226b Bộ luật
Hình sự, đồng thời nêu những giải pháp để đấu tranh phịng chống tội phạm này.
Hiện nay đã có văn bản hướng dẫn đối với hành vi của tội phạm công nghệ thông
tin nên những kiến nghị mà tác giả đưa ra đã khơng cịn phù hợp với thực tiễn áp
dụng pháp luật hiện nay. Tuy nhiên, các thông tin về Công ước về tội phạm mạng
Budapest đã được giới thiệu trong luận văn vẫn là nguồn tham khảo hiệu quả.
Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hảo năm
2016. Trong cơng trình này, tác giả phân tích tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều
226b Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) và đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện Điều 226b. Mặc dù, trong cơng trình tác giả có so sánh điểm mới của
Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 với Điều 226b; nhưng
tại thời điểm hồn thành luận văn Điều 290 chưa có hiệu lực nên tác giả chỉ đề xuất
giải pháp hoàn thiện Điều 226b đã bị thay thế, hơn nữa phạm vi nghiên cứu chỉ trên
địa bàn thành phố Hà Nội nên chưa bao quát hết được hiệu quả áp dụng tội danh
này trên cả nước.
Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thơng, phương
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự



4
Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” của tác giả Đỗ Ngọc Quang
năm 2017. Tác giả phân tích tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều 226b Bộ luật
Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung 2009); có đề cập đến Điều 290 Bộ luật Hình sự
năm 2015; đề xuất chủ yếu các giải pháp hoàn thiện Điều 226b. Tuy nhiên, hiện nay
Điều 226b đã bị thay thế bằng Điều 290 có hiệu lực nên các đề xuất tác giả chưa phù
hợp, hơn nữa phạm vi nghiên cứu cũng mới chỉ giới hạn ở 1 địa phương nhất định.
Các luận văn thạc sĩ Luật học nghiên cứu tội phạm này ở góc độ tội phạm
học, phịng ngừa tội phạm gồm:
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Phịng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hà Lập Linh năm 2018;
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật hình
sự Việt Nam” của tác giả Vũ Thu Trang năm 2017;
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh
Bình Dương: Tình hình, ngun nhân và giải pháp phịng ngừa” của tác giả Trần
Thanh Bình năm 2015;
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình, ngun nhân và giải pháp phòng chống” của
tác giả Nguyễn Thành Trung năm 2013.
Trong các luận văn này, tác giả nghiên cứu tội sử dụng mạng máy tính, mạng
viễn thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại
Điều 226b Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) dưới góc độ tội phạm
học, phịng ngừa tội phạm và đề xuất các giải pháp phòng chống loại tội phạm này.
Tác giả chưa nghiên cứu sâu về xây dựng luật và thực tiễn áp dụng tội danh này
trong điều tra, xử lý tội phạm; hơn nữa tội danh tác giả nghiên cứu đã được thay thế

bằng Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Như vậy, các cơng trình nghiên cứu về tội sử dụng mạng máy tính, mạng
viễn thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản dưới


5
góc độ tội phạm trong lĩnh vực Cơng nghệ thơng tin, mạng viễn thông, tội phạm học
hoặc nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự nhưng theo quy định của Bộ luật Hình sự
năm 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) khơng cịn hiệu lực và cũng mới chỉ giới hạn ở
một địa phương nhất định. Sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) có hiệu lực, chưa có cơng trình nghiên cứu, đánh giá về mặt pháp lý cũng như
thực tiễn tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài này để giải quyết
các vấn đề nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về
tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện
hành cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật để góp phần thực hiện có hiệu
quả hơn nữa công tác điều tra và xử lý tội phạm này.
Để đạt được mục đích đã nêu, đề tài đặt ra và giải quyết nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản: Khái niệm, dấu
hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm, đặc điểm phân biệt tội phạm này với các tội
trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ
quyền hạn chiếm đoạt tài sản;
- Phân tích quy định về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong BLHS hiện hành; đánh
giá những điểm mới của quy định hiện hành về tội phạm này so với quy định của tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện

hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung 2009);
- Phân tích, đánh giá kết quả đạt được và một số hạn chế, vướng mắc trong
việc áp dụng tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
để điều tra, xử lý tội phạm; chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế, vướng mắc trong
việc áp dụng tội danh này. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện tội sử
dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản.


6
Để đạt được mục đích nêu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là tội sử
dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đề
tài cũng nghiên cứu các quy định trong Công ước của Hội đồng Châu Âu về tội
phạm mạng. Mặt khác, đề tài còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng tội sử dụng mạng
máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản để giải quyết các vụ án hình sự.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
- Pháp luật Việt Nam: Đề tài nghiên cứu quy định về Tội sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại
Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);
- Thực trạng áp dụng pháp luật: Đề tài khảo sát số liệu và các vụ án thực tế đã
điều tra và xét xử từ năm 2018 đến năm 2022 trên phạm vi cả nước.
* Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Đề tài được trình bày trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và
pháp luật. Đây là phương pháp luận được vận dụng nghiên cứu xuyên suốt toàn bộ đề
tài nhằm giúp cho tác giả nhận thức rõ hơn bản chất của tội phạm sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và

đánh giá khách quan việc áp dụng quy định pháp luật hình sự đối với tội phạm này;
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu cụ thể gồm: phương pháp lý thuyết luật học, phương pháp so sánh, phương
pháp nghiên cứu vụ án điển hình. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ kết
hợp các phương pháp với nhau, trong đó phương pháp lý thuyết luật học và phương
pháp nghiên cứu án điển hình là 02 phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Việc sử
dụng các phương pháp này trong việc nghiên cứu sẽ giúp tác giả xem xét các vấn đề
từ nhiều khía cạnh khác nhau và tổng hợp lại để có cái nhìn tồn diện, khách quan
về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
* Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài:
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tội sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bao


7
gồm khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này, các tiêu chí phân biệt
tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản với các tội phạm có dấu hiệu pháp lý tương tự trong Bộ luật Hình
sự và đánh giá thực trạng áp dụng tội phạm này.
- Đồng thời, đề tài này cịn có ý nghĩa thực tiễn với việc đưa ra một số kiến
nghị để hồn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm này, khắc phục
hạn chế trong việc áp dụng pháp luật để xử lý tội phạm. Các kiến nghị của đề tài có
thể được sử dụng như là một tài liệu để tham khảo, xem xét khi sửa đổi, bổ sung nội
dung Bộ luật Hình sự hiện hành liên quan đến tội phạm sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và có thể
được các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét áp dụng thống nhất trong xử lý tội
phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả điều tra và xử lý tội phạm.
5. Các vấn đề dự kiến cần giải quyết

Ngoài phần mở đầu và kết thúc, luận văn được kết cầu thành 03 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương 2. Thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sự về tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản
Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm việc áp dụng quy định
pháp luật hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện
tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản


8
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG
MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THƠNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ
THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
1.1.1. Khái niệm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện
điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Trong khoảng hơn mười năm gần đây, mặc dù mới hình thành và phát triển
nhưng cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã làm cho rất nhiều ngành kinh tế,
văn hóa và xã hội phụ thuộc vào của nó. Đặc biệt phải kể đến vai trị của mạng
máy tính, mạng viễn thơng và các phương tiện điện tử. Cũng giống như các thành
tựu khoa học khác của nhân loại, khi công nghệ thông tin ngày càng được sử dụng
rộng rãi trong xã hội thì càng dễ lợi dụng vào hoạt động tội phạm. Nhìn một cách
tổng thể, đối với tội phạm công nghệ thông tin, chúng ta thấy cơng nghệ thơng tin,
máy tính và mạng máy tính đóng một số vai trị quan trọng trong q trình phạm
tội, chúng vừa có thể là đối tượng tác động của tội phạm, vừa có thể là cơng cụ
phạm tội.

Khi nghiên cứu khoa học đã từng có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà
nghiên cứu về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nổi bật lên có hai luồng
quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng tội phạm tin học bao gồm những tội phạm có sự
liên quan đến mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử với (một
trong) ba vai trị: có thể là mục đích của tội phạm, là công cụ phạm tội và/hoặc là
vật trung gian để cất giấu, lưu trữ những thứ đã chiếm đoạt được trong quá trình
phạm tội.3 Theo quan điểm này, rất nhiều tội phạm truyền thống cũng đều có thể bị
coi là tội phạm công nghệ thông tin hay tội phạm công nghệ cao; nếu những tội
phạm này có việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng hoặc phương tiện điện
tử làm cơng cụ, phương tiện phạm tội, ví dụ như tội lừa đảo qua mạng, tội trộm cắp
tài khoản ngân hàng qua mạng …Như vậy, tội phạm công nghệ thông tin là một
Nguyễn Mạnh Toàn (2002), “Đặc điểm và các hành vi cơ bản của tội phạm tin học”, Tạp chí nhà nước và
pháp luật, số 3/2002, tr. 31.
3


9
dạng khác của tội phạm truyền thống với cách thức, hành vi phạm tội tinh vi hơn,
do có sự tham gia của các phương tiện, máy móc, thiết bị cơng nghệ cao. Các học
giả theo quan điểm này cho rằng tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng hoặc
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là việc một người hoặc
một nhóm người sử dụng thiết bị điện tử công nghệ cao qua các mạng máy tính,
mạng viễn thơng để thực hiện hành vi lén lút hoặc lừa đảo nhằm mục đích chiếm
đoạt tài sản của người khác. Quan điểm này tiếp cận tội phạm từ bản chất là người
phạm tội sử dụng các phương tiện nêu trên để thực hiện hành vi nhằm mục đích
cuối cùng là chiếm đoạt tài sản. Nhưng quan điểm này cũng vấp phải một vấn đề
khó khăn khi cụ thể hóa các hành vi phạm tội cụ thể, từ đó xác định tội danh cụ thể
cho các hành vi này. Đây là công việc không dễ dàng khi liên quan đến các hành vi
phạm tội về công nghệ thông tin có thể có những hành vi có các dấu hiệu trùng với

các tội truyền thống như tội trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc…, chỉ khác ở việc sử dụng
công cụ là mạng máy tính, mạng viễn thơng hoặc phương tiện điện tử.
Quan điểm thứ hai cho rằng tội phạm công nghệ thông tin là tội phạm được
thực hiện và gây ra hậu quả trên môi trường, trên thế giới ảo do thành tựu của khoa
học công nghệ tin học đem lại hay hiểu đơn giản hơn là trên mạng máy tính, mạng
viễn thơng; và nó hồn tồn khác với các loại tội phạm truyền thống trước kia. Nếu
chỉ coi tội phạm tin học giới hạn trong phạm vi thế giới ảo, môi trường điện tử do
công nghệ thông tin mang lại thì đối với các tội phạm truyền thống, các hành vi
phạm tội này khác hẳn về bản chất.4 Theo quan điểm này, mặc dù các tội phạm
công nghệ thơng tin có thể đồng thời gây ra những hậu quả hay thiệt hại về tài sản
hay các thiệt hại phi vật chất khác, những thiệt hại gây ra cho môi trường mạng
thông tin mới là yếu tố quyết định tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này. Do
đó, cần phải có một khung pháp lý và hệ thống vi phạm pháp luật hình sự riêng để
điều chỉnh.
BLHS năm 1999 nước ta có đề cập đến quan điểm này nhưng tại thời điểm
đó, mạng máy tính, mạng viễn thơng nước ta còn lạc hậu, kỹ thuật chưa phát triển
nên chỉ mới đề cập đến một số tội danh nhất định như: Tội tạo ra và lan truyền, tán
phát các chương trình vi rút tin học (Điều 224); Tội vi phạm các quy định về vận
hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225); Tội sử dụng trái phép
thơng tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226). Năm 2009, BLHS năm 1999 đã
4

Nguyễn Mạnh Toàn (2002), tlđd (1), tr. 31.


10
được sửa đổi, bổ sung, qua đó sửa đổi các Điều 224, 225, 226, bổ sung các tội: Tội
truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thơng, mạng Internet hoặc
thiết bị số của người khác (Điều 226a); Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều

226b). Năm 2015, với việc Quốc hội khóa 13 thơng qua Bộ luật Hình sự số
100/2015/QH13, tội “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” chính thức được quy định tại Điều 290. Sự
xuất hiện tội phạm này với việc nhấn mạnh vào các hành vi sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng… “chiếm đoạt tài sản” đã cho thấy sự thay đổi cách tiếp cận ban
đầu của nhà làm luật Việt Nam: tội phạm công nghệ thông tin sẽ bao gồm những
hành vi gây thiệt hại trong môi trường ảo và cả những tội phạm sử dụng công nghệ
thông tin để thực hiện các hành vi phạm tội khác và có thể gây thiệt hại bên ngồi
mơi trường ảo. Cũng theo đó, liên quan đến Điều 290, các tác giả khoa học cũng
như một số nhà lập pháp đưa ra quan điểm là liệt kê tất cả các hành vi, thủ đoạn,
cách thức phạm tội của tội phạm thực hiện để chiếm đoạt tài sản của người khác.
Tuy nhiên, quan điểm này cũng có mặt hạn chế là mặc dù đã nhấn mạnh được việc
đưa ra tất cả các hành vi riêng biệt của tội phạm để chứng minh rằng đây là loại tội
phạm mới có hành vi riêng biệt nhưng miêu tả quá chi tiết về mặt hành vi; trong khi
một khái niệm khoa học cần phải ngắn gọn, súc tích và chỉ ra được đầy đủ vấn đề về
tội phạm.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau về khái niệm tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản. Theo tác giả, tội phạm này có thể được định nghĩa như sau: “Tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản là hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện
điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý
trực tiếp, xâm phạm đến sự an tồn của mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử và quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ”. Đây
là định nghĩa theo cách tiếp cận hẹp, phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay và ít
nhất là cịn phù hợp trong tương lai gần.
Đánh giá về bản chất của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, có thể nói rằng bản chất



11
của tội phạm này là hành vi chiếm đoạt tài sản. Mục đích của tội phạm quy định tại
Điều 290 BLHS là chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội hướng tới việc chiếm đoạt
tài sản thuộc sự quản lý, chiếm hữu của chủ sở hữu; chuyển dịch quyền sở hữu tài
sản hợp pháp từ người này sang người khác một cách trái pháp luật, làm cho chủ sở
hữu mất đi quyền sở hữu đối với tài sản đó; đồng thời, tạo cho mình hoặc người
khác có được quyền sở hữu đối với tài sản bị chiếm đoạt.5 Mục đích này cũng giống
với mục đích của một số tội phạm chiếm đoạt tài sản thuộc chương các tội xâm
phạm sở hữu. Tuy nhiên, khác với các tội xâm phạm sở hữu thông thường, tội phạm
quy định tại Điều 290 sử dụng phương tiện mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản của người khác.
1.1.2. Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Trên cơ sở khái niệm tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã nêu ở phần trên, có thể
thấy tội phạm này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tính nguy hiểm của tội phạm này được thể hiện ở sự liên quan, sự
tác động (và khả năng gây thiệt hại) đến mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương
tiện điện tử. Nói về tội phạm cơng nghệ cao thì trước hết phải đề cập đến việc sử
dụng các phương tiện công nghệ cao làm phương tiện phạm tội. Tội phạm quy định
tại Điều 290 BLHS là tội phạm mà người phạm tội sử dụng những thiết bị điện tử
cơng nghệ cao để thực hiện mục đích chiếm đoạt tài sản. Trong đó, mạng máy tính,
mạng viễn thơng, phương tiện điện tử đóng vai trị rất quan trọng. Đây là một trong
những đặc điểm cơ bản và quan trọng của tội phạm này.
Tuy nhiên, tính nguy hiểm của tội phạm này có thể khơng chỉ dừng lại ở việc
gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức hay cho xã hội thơng qua việc sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thông hay các phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản. Nói cách
khác, mặc dù mục tiêu hành động của người phạm tội là xâm phạm quyền sở hữu
tài sản của người khác, việc người phạm tội sử dụng các phương tiện cơng nghệ cao

này cịn có thể tạo ra sự mất an ninh, an toàn và nghiêm trọng hơn là gây hại cho
hoạt động bình thường trong hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thơng, các
phương tiện điện tử.
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm Quyển 1, tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức, tr. 179.
5


12
Thứ hai, hành vi của người phạm tội trong tội phạm này là những hành vi có
lỗi cố ý: người phạm tội phải nhận thức rõ hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng
viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm
cho xã hội và vẫn thực hiện.6 Hành vi của người phạm tội khi thực hiện tội phạm
quy định tại Điều 290 BLHS có thể được chia thành hai giai đoạn: 1, người phạm
tội sử dụng các thiết bị, phương tiện kỹ thuật số tác động vào mạng máy tính, mạng
viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác; 2, tác động đến tài sản của
người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Trong quá trình phạm tội, hành
vi ở giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai có mối quan hệ biện chứng với nhau:
Hành vi ở giai đoạn thứ nhất là tiền đề, điều kiện để thực hiện hành vi ở giai đoạn
thứ hai; còn hành vi ở giai đoạn thứ hai là kết quả của hành vi ở giai đoạn thứ nhất.
Nếu hành vi ở giai đoạn thứ nhất không thực hiện được thì khơng có hành vi ở giai
đoạn thứ hai.
Thứ ba, mục đích phạm tội của tội phạm quy định tại Điều 290 là chiếm
đoạt tài sản. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của tội phạm này.
Người phạm tội có thể thực hiện hành vi sử dụng các thiết bị điện tử tác động vào
mạng máy tính, mạng viễn thơng với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, chỉ
khi nào có mục đích chiếm đoạt tài sản thì mới là hành vi phạm tội quy định tại
Điều 290 BLHS.
Thứ tư, tài sản quy định tại tội này có thể là tài sản thông thường như tiền,
vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản.7 Tài sản điện tử được hiểu là các tài sản được
tạo ra trong môi trường mạng máy tính, mạng viễn thơng (ví dụ: tiền trong các ví

tiền điện tử, …). Tài sản điện tử cũng có giá trị giao dịch, thanh tốn, trao đổi, quy
đổi sang giá trị thực tế như các tài sản khác. Người sở hữu các tài sản này cũng có
đầy đủ các quyền như chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật
dân sự.8
Thứ năm, về chủ thể của tội phạm của Điều 290 thông thường là những
người có kiến thức về mạng máy tính, mạng viễn thông và thiết bị điện tử. Tuy
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm Quyển 2, tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức, tr. 102.
7
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2021), tlđd (3), tr. 174; BLDS 2015, Điều 105; Xem thêm BLDS
2015, Điều 115: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng
quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
8
BLDS 2015, Điều 158.
6


13
nhiên, không nhất thiết người phạm tội phải là người hiểu biết đầy đủ lĩnh vực công
nghệ thông tin mà chỉ cần biết cách thức sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông
và thiết bị điện tử để thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản.
1.2. Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 290 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung 2017) như sau:
1.2.1. Các dấu hiệu định tội của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều 290 BLHS 2015
Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị
tội phạm xâm hại.9 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có thể xâm hại tới các khách thể là sự an
toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và sự ứng dụng các thành
tựu của công nghệ thông tin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản của người khác;10 thậm chí cịn có thể xâm phạm đến trật tự
quản lý kinh tế và quyền tự do dân chủ của công dân. Một hành vi phạm tội của tội
phạm này có thể xâm hại cùng một lúc nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội đó. Để xác định
được tội phạm một cách chính xác thì phải căn cứ vào khách thể bị xâm hại trực
tiếp. Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội
trực tiếp xâm hại.11 Trên thực tế, có trường hợp một hành vi phạm tội chỉ xâm hại
đến một khách thể trực tiếp nhưng có trường hợp, một hành vi phạm tội lại cùng lúc
xâm hại đến nhiều khách thể trực tiếp, tức là xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ.
Khi sắp xếp tội phạm này vào chương các tội xâm phạm an tồn cơng cộng,
trật tự cơng cộng, có thể thấy rằng các nhà làm luật Việt Nam muốn nhấn mạnh đến
khách thể trực tiếp của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung (tái bản lần
thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), NXB Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr. 107.
10
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2021), tlđd (4), tr. 100.
11
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), tlđd 7, tr. 114.
9


14
điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là an tồn trong lĩnh vực cơng nghệ
thơng tin và mạng viễn thơng. An tồn trong lĩnh vực cơng nghệ thơng tin, mạng
viễn thơng có thể được hiểu là bảo vệ sự an tồn cho hệ thống mạng máy tính, mạng
viễn thông, truyền thông, các hệ thống cơ sở dữ liệu và hạ tầng mạng, bảo đảm an

tồn cho thơng tin (dữ liệu) khi lưu trữ và truyền tải trên cả ba yếu tố: bảo vệ tính bí
mật, bảo đảm tính xác thực (nguyên vẹn và rõ nguồn gốc) và khả năng sẵn sàng cho
sử dụng của thông tin. Mỗi hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thơng đều có một
cơ chế vận hành, hoạt động riêng và đặc biệt phải được bảo mật bằng các phương
thức khác nhau. Khi tiến hành sử dụng các hệ thống này, người sử dụng phải thao
tác theo một quy trình nhất định để bảo đảm các hoạt động được thơng suốt và an
tồn. Tội phạm đã sử dụng các phương tiện điện tử, máy móc, cơng nghệ tác động
vào hệ thống này theo phương thức khơng hợp pháp như cài virus, bẻ khóa điện tử,
sử dụng các chương trình bẻ khóa mật khẩu tài khoản… nghĩa là đã xâm hại, phá vỡ
sự an tồn trong hoạt động của hệ thống cơng nghệ thơng tin, xâm hại đến an tồn
cơng cộng, trật tự cơng cộng được quy định tại Chương XXI BLHS.
Tuy nhiên, bên cạnh khách thể trực tiếp của tội phạm này là an tồn trong
lĩnh vực cơng nghệ thơng tin, mạng viễn thơng, tội phạm tại Điều 290 cịn có một
khách thể khác. Có thể thấy rõ ràng rằng phương tiện phạm tội quy định tại Điều
290 là mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thuộc khách thể là sự
an toàn trong hoạt động của hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thơng; Điều 290
cịn có một nhóm đối tượng tác động khác là tài sản, thuộc khách thể là quyền sở
hữu tài sản. Tài sản này có thể là tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, mà theo
quy định của Bộ luật dân sự là “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.12 Bên
cạnh những vật, các loại tiền Việt Nam và ngoại tệ, hiện nay có một loại tài sản
cũng có thể bị chiếm đoạt và đang gây ra nhiều tranh cãi là các tài khoản game, cấp
độ, đồ vật trong các game online có thể được định giá và trao đổi, mua bán với trị
giá giao dịch có thể lên đến hàng tỷ đồng.13 Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam
hiện hành thì những “tài sản ảo” này khơng được coi là tài sản và vì vậy khơng có
cơ sở pháp lý cho việc xác lập quyền sở hữu, giải quyết các tranh chấp nảy sinh liên
quan đến các tài sản ảo; cũng như các hành vi chiếm đoạt chúng có thể không bị xử
lý theo tội phạm tương ứng.
BLDS 2015, Điều 105.
Lê Thị Huyền Trang (2011), Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, mạng Internet hoặc thiết bị số thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành, Luận văn thạc sĩ Luật học, TPHCM, tr.28.

12
13


15
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Mặt khách
quan của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thơng, phương tiện điện tử thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản là những biểu hiện ra bên ngoài bao gồm: Hành vi khách
quan của tội phạm, hậu quả của tội phạm và công cụ, phương tiện phạm tội.
a) Hành vi khách quan của tội phạm
Bao gồm bốn nhóm hành vi sau đây:
o Nhóm hành vi “sử dụng thơng tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan,
tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh tốn
hàng hóa, dịch vụ” (điểm a khoản 1 Điều 290)
Thông tin tài khoản ngân hàng gồm: tên chủ tài khoản (tên cá nhân, cơ quan,
tổ chức), số tài khoản, số điện thoại, địa chỉ hộp thư điện tử, loại tài khoản, ngân
hàng phát hành và một số thông tin hữu ích khác. Ngồi ra, cịn có tài khoản do các
doanh nghiệp thực hiện giao dịch điện tử phát hành, khơng phải ngân hàng nhưng
có chức năng giao dịch và thanh toán trực tuyến như: tài khoản chứng khoán, tài
khoản giao dịch của các cổng thanh toán điện tử như: Paypal, Momo, Onepay,
123Pay, Alepay …. Các doanh nghiệp này liên kết với các ngân hàng bằng cách kết
nối các tài khoản nêu trên với các tài khoản ngân hàng của chủ tài khoản trên cổng
thanh toán điện tử để thực hiện giao dịch thanh tốn. Theo đó, giá trị thanh toán ghi
trên tài khoản chứng khoán, tài khoản giao dịch của các cổng thanh toán điện tử
được trừ trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của chủ tài khoản. Thông tin thẻ ngân
hàng bao gồm: Tên chủ thẻ, số thẻ, ngân hàng phát hành thẻ, loại thẻ, ngày hết hạn,
quy định sử dụng thẻ, mã bảo vệ, mật khẩu…
Người phạm tội sử dụng nhiều thủ đoạn để thu thập thông tin về tài khoản,

thẻ ngân hàng như: truy cập bất hợp pháp vào máy tính, thiết bị số hoặc hệ thống
mạng nội bộ của ngân hàng, cổng thanh toán điện tử, lập các website giả mạo để thu
thập thông tin, cài đặt virus vào máy tính, thiết bị số, điện thoại di động để đánh cắp
thông tin và mật khẩu, mua bán thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng trên các diễn
đàn tội phạm, qua nhân viên ngân hàng hoặc nhân viên công ty cung cấp dịch vụ
cổng thanh tốn điện tử…
Mục đích sử dụng thơng tin về tài khoản, thẻ ngân hàng là nhằm chiếm đoạt tài
sản, nghĩa là chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ chủ sở hữu sang người phạm tội


16
hoặc người khác một cách bất hợp pháp. Nói cách khác, thông qua việc xác lập hợp
đồng giao dịch với ngân hàng, công ty cung cấp dịch vụ cổng thanh toán điện tử, chủ
sở hữu đã thiết lập tài khoản, thẻ ngân hàng của mình để nộp tiền vào tài khoản, thẻ
ngân hàng và được ngân hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cổng thanh toán điện
tử quản lý số tiền này. Chủ sở hữu có thể sử dụng giá trị tài sản của mình theo
phương thức và nguyên tắc do ngân hàng, cổng thanh toán điện tử quy định.
Khi người phạm tội sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng để chiếm
đoạt tài sản hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ thì chủ tài khoản, chủ thẻ ngân
hàng không biết giao dịch đang diễn ra. Trong khi đó, ngân hàng, doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ cổng thanh tốn điện tử nhận được thơng tin và thực hiện giao
dịch theo thông tin yêu cầu của người phạm tội, nhưng tin tưởng là chủ tài khoản,
thẻ ngân hàng đang ra lệnh thực hiện giao dịch này, không biết người phạm tội
đang sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của chủ tài khoản, chủ thẻ ra
lệnh giao dịch để chiếm đoạt tiền hoặc sử dụng tiền của chủ tài khoản, chủ thẻ
ngân hàng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ. Bởi vì, khi ngân hàng, cơng ty
cung cấp dịch vụ cổng thanh toán điện tử bàn giao tài khoản, thẻ ngân hàng thì
người sở hữu tài khoản, thẻ ngân hàng có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài khoản,
thẻ ngân hàng của mình và thường thay đổi mật khẩu được cấp để bảo mật; còn
ngân hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cổng thanh toán điện tử không được

can thiệp vào việc quản lý và sử dụng tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ ngân hàng
nên không phải chịu trách nhiệm, trừ trường hợp chủ tài khoản, chủ thẻ ngân hàng
yêu cầu hoặc khi phát hiện gian lận. Do đó, người thực hiện hành vi phạm tội đã
lợi dụng vấn đề này làm cho người quản lý tài sản lầm tưởng là chủ tài khoản, chủ
thẻ ngân hàng thực hiện các giao dịch từ tài khoản, thẻ ngân hàng của mình. Như
vậy, người phạm tội thực hiện hành vi này có tính chất lén lút đối với chủ tài
khoản, chủ thẻ ngân hàng; nhưng hoàn tồn cơng khai đối với ngân hàng, doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ cổng thanh toán điện tử trong việc thực hiện các giao
dịch như rút tiền tại máy ATM, chuyển khoản qua hình thức Internet banking,
thanh tốn qua các website thanh toán trực tuyến …
Các hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện trên mơi trường mạng máy tính,
mạng viễn thông, phương tiện điện tử thông thường bao gồm các bước: đưa thẻ ngân
hàng vào khe thẻ của máy rút tiền tự động (ATM), chọn ngôn ngữ và giao dịch rút tiền,
nhập mật khẩu của tài khoản và số tiền cần rút, bấm nút đồng ý để rút tiền mặt từ máy


17
ATM; hoặc đặt lệnh thanh toán, giao dịch trên mạng máy tính bằng cách nhập thơng tin
tài khoản, thẻ ngân hàng vào ứng dụng ngân hàng, website bán hàng, sàn giao dịch
thương mại điện tử, ghi số tiền cần chuyển, cần thanh toán và gửi lệnh chuyển tiền,
lệnh thanh toán tiền từ tài khoản này đến ngân hàng, công ty cung cấp dịch vụ thanh
toán điện tử để thực hiện lệnh chuyển tiền, lệnh thanh tốn tiền hàng hóa, dịch vụ này,
sau đó số tiền này sẽ được trừ vào tài khoản của chủ tài khoản, chủ thẻ…
o Nhóm hành vi “làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng
giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh tốn hàng hóa,
dịch vụ” (điểm b khoản 1 điều 290)
Theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCABQP-BTP-BTT&TT-VKSND-TANDTC (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số
10/2012) hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong
lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thơng,14 thì “thẻ ngân hàng là cơng cụ thanh
toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết

giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ”; còn “làm giả thẻ ngân hàng là việc cá
nhân khơng có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ
giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân
hàng phát hành)”.15
Hành vi làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng
thiết bị chuyên dùng, phần mềm và thông tin tài khoản, thông tin thẻ ngân hàng phát
hành cho cơ quan, tổ chức, cá nhân (gồm số tài khoản, họ tên chủ thẻ, logo ngân
hàng phát hành thẻ, số thẻ, thời gian phát hành, thời gian hết hạn, mã số bảo mật
của thẻ như CVV2, CVVC, CSV…) để làm ra thẻ có chứa đựng những thơng tin,
dữ liệu cần thiết theo đúng quy định của ngân hàng phát hành rồi sử dụng chiếm
đoạt tài sản. Thời gian qua, người phạm tội thường sử dụng thủ đoạn cài thiết bị
điện tử (chip) có chức năng ghi trộm dữ liệu tại các máy ATM, máy quẹt thẻ thanh
toán (máy POS), cài đặt các phần mềm theo dõi, nghe lén, chụp và gửi file dữ liệu
về máy chủ, xây dựng website giả mạo … để thu thập dữ liệu thẻ; sau đó sử dụng
phần mềm và thiết bị chuyên dụng sao chép dữ liệu về mã thẻ trộm cắp được vào
thẻ trắng (thẻ chưa ghi mã) để làm thẻ giả giống thẻ thật đều thực hiện được các
giao dịch rút tiền, chuyển tiền và thanh tốn tiền hàng hóa, dịch vụ...
14
15

Thông tư này đã hết hiệu lực.
Thông tư liên tịch số 10/2012, Điều 10.


18
Sau khi làm được thẻ giả, người phạm tội sử dụng thẻ giả rút tiền tại các máy
rút tiền tự động (ATM) của các ngân hàng, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các
điểm chấp nhận thanh tốn thẻ (máy POS) với yêu cầu bắt buộc phải xuất trình thẻ
vật lý để nhân viên thanh toán quẹt thẻ vào đầu đọc kết nối với cơ sở dữ liệu của
ngân hàng để thanh toán. Mặt khác, người phạm tội cũng có thể bán thẻ ngân hàng

giả để kiếm lợi hoặc giao thẻ ngân hàng giả cho người khác sử dụng rút tiền tại các
máy rút tiền tự động (ATM) hoặc thanh tốn tiền hàng hóa, dịch vụ để phân chia
tiền, tài sản chiếm đoạt được theo tỷ lệ đã thỏa thuận trước.
o Nhóm hành vi “truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản” (điểm c khoản 1 Điều 290)
“Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản là hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã
truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác mà khơng được sự
cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản khơng phải của mình”.16 Nghĩa là
người phạm tội cố ý thực hiện hành vi truy cập vào tài khoản của người khác, khơng
phải của mình và khơng được sự đồng ý của chủ tài khoản, chủ quản lý tài khoản
cho khách hàng như: ngân hàng, sàn giao dịch thương mại điện tử, các website cung
cấp dịch vụ thanh tốn, trị chơi trực tuyến.
Khá giống với hành vi thuộc nhóm 1 về “sử dụng thơng tin về tài khoản, thẻ
ngân hàng…để chiếm đoạt tài sản”, hành vi “sử dụng mã truy cập của người khác
mà không được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản khơng phải của
mình” ở nhóm thứ 3 này là việc người phạm tội biết được đầy đủ thông tin về tên tài
khoản, mã truy cập để có thể đăng nhập được vào tài khoản mà không phải thực
hiện các thao tác để vượt qua mã truy cập hoặc tường lửa. Người phạm tội có được
các thơng tin này có thể do chủ tài khoản cho biết, nhặt được tài sản của chủ tài
khoản có đầy đủ thơng tin như thẻ ATM, thẻ mua hàng hóa, dịch vụ…Trong trường
hợp này, người phạm tội tuy không phải là chủ tài khoản nhưng đã sử dụng quyền
của chủ tài khoản xâm nhập vào hệ thống và chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản.
Người phạm tội có thể thực hiện các lệnh như chuyển tiền từ tài khoản này sang tài
khoản khác, rút tiền từ máy rút tiền tự động (ATM), thanh tốn các hàng hóa trên
các website thương mại điện tử hoặc thanh toán dịch vụ. Chủ tài khoản thực sự lúc
này đã bị xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của mình và bị thiệt hại từ việc chiếm
đoạt tài sản của người phạm tội.
16

Thông tư liên tịch số 10/2012, Điều 10.



19
o Nhóm hành vi “lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh
doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua
mạng nhằm chiếm đoạt tài sản” (điểm d khoản 1 Điều 290)
Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh
doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng là sử dụng thủ đoạn gian dối,
đưa ra thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại
điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng
khoán qua mạng nhằm tạo niềm tin cho người có tài sản, người quản lý tài sản, làm
cho họ tưởng là thật mà mua, bán, trao đổi hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó.17 Xét về
mặt khách quan, hành vi lừa dối là đưa ra những thông tin không đúng, không đầy
đủ làm cho chủ tài sản lầm tưởng đó là thơng tin chính xác và tin tưởng vào những
thông tin mà người phạm tội đưa ra. Còn hành vi chiếm đoạt được thể hiện bằng hai
hình thức: Một là, tài sản đang trong sự quản lý, chiếm hữu của chủ tài khoản hoặc
của người khác được chủ tài khoản giao quyền quản lý thì hình thức thể hiện là việc
người phạm tội nhận tài sản từ người bị lừa dối. Hai là, nếu tài sản đang trong sự
quản lý, chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể là người phạm
tội đúng ra phải giao lại tài sản cho chủ sở hữu nhưng lại giao một phần, giao sai
hoặc không giao lại tài sản. Hành vi lừa dối này chỉ cần mục đích chiếm đoạt tài sản
thì đã cấu thành tội phạm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 290, mà khơng cần hậu
quả xảy ra.
Nhóm hành vi thứ tư này bao gồm các hành vi cụ thể sau:
 Hành vi “lừa đảo trong thương mại điện tử”
Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc tồn bộ quy
trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng
Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.18 Các hoạt động thương
mại điện tử thông thường được triển khai qua các bước: quảng cáo trên mạng, khách
hàng kiểm tra thơng tin hàng hóa, dịch vụ, thực hiện giao dịch điện tử (đặt hàng qua

mạng, đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên
mạng…), thanh tốn điện tử…Chỉ cần đưa ra thơng tin gian dối hoặc lừa đảo ở một
trong các bước nêu trên là hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử hồn thành.

17
18

Thơng tư liên tịch số 10/2012, Điều 10.
Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thương mại điện tử, Điều 3.


×