BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN DUY LINH
XỬ LÝ VẬT CHỨNG
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
XỬ LÝ VẬT CHỨNG
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số CN: 8380104
Người hướng dẫn khoa học : Ts. Võ Thị Kim Oanh
Học viên
: Nguyễn Duy Linh
Lớp
: Cao học Luật khóa 2 - An Giang
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Xử lý vật chứng theo luật tố tụng hình sự Việt
Nam” là cơng trình nghiên cứu khoa học do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của Ts. Võ Thị Kim Oanh. Các nội dung, thơng tin được trình bày trong
luận văn là chính xác và trung thực. Tơi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam
đoan trên của mình.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày
tháng
Tác giả
Nguyễn Duy Linh
năm 2023
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BLHS
: Bộ luật Hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
CQTHTT
: Cơ quan tiến hành tố tụng
TAND
: Tòa án nhân dân
THADS
: Thi hành án dân sự
TTLT
: Thông tư liên tịch
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. XỬ LÝ VẬT CHỨNG ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN PHẠM TỘI
LÀ TÀI SẢN ĐANG THẾ CHẤP ...........................................................................6
1.1. Quy định của pháp luật về xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội
là tài sản đang thế chấp .........................................................................................6
1.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng đối với phương tiện
phạm tội là tài sản đang thế chấp .........................................................................9
1.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật ...................................................................18
Kết luận Chương 1 ..................................................................................................24
CHƯƠNG 2. XỬ LÝ VẬT CHỨNG ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN PHẠM TỘI
LÀ TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH ĐƯỢC CHỦ SỞ HỮU ...............................25
2.1. Quy định pháp luật về xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là
tài sản không xác định được chủ sở hữu ...........................................................25
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng đối với phương tiện
phạm tội là tài sản không xác định được chủ sở hữu .......................................28
2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật ...................................................................37
Kết luận Chương 2 ..................................................................................................40
KẾT LUẬN ..............................................................................................................41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, các tổ chức tín dụng đang mở rộng dịch vụ cho khách hàng vay
vốn để mua tài sản, đặc biệt là mua xe ô tô, xe máy, tàu thuyền, các loại máy móc
dùng trong sản xuất nơng nghiệp... Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, các tổ
chức tín dụng và khách hàng ký kết hợp đồng thế chấp chính tài sản mà khách hàng
đã mua; khách hàng vẫn được tiếp tục sử dụng tài sản đã thế chấp để phục vụ nhu
cầu nhất định của mình. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng tài sản thế chấp, họ lại
sử dụng tài sản này để làm phương tiện dùng vào việc phạm tội. Trong trường hợp
khác, người phạm tội sử dụng phương tiện phạm tội mà không xác định được chủ
sở hữu tài sản, có thể do nguồn gốc của tài sản hoặc do người phạm tội cố ý lắp ráp,
che đậy nguồn gốc của tài sản để gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý. Trong
thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp
và tài sản không xác định được chủ sở hữu ngày càng phổ biến, đòi hỏi phải xử lý
các loại vật chứng này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có nhiều quy định mới, tiến bộ về việc xử
lý vật chứng trong vụ án hình sự nói chung, đảm bảo thực hiện tốt cơng tác điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
cho những người tham gia tố tụng và các chủ thể khác có liên quan. Tuy nhiên, hiện
nay chưa có quy định cụ thể về vấn đề xử lý vật chứng của vụ án hình sự đối với
phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài sản khơng xác định được chủ sở
hữu, từ đó có nhiều quan điểm xử lý vật chứng và phát sinh những vướng mắc, chưa
có sự thống nhất trong q trình áp dụng pháp luật.
Xuất phát từ những hạn chế trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự và
thực tiễn áp dụng pháp luật, việc tìm hiểu, nghiên cứu về xử lý vật chứng đối với
phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở
hữu là cần thiết. Do đó, tác giả chọn vấn đề “Xử lý vật chứng theo luật tố tụng hình
sự Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát, tìm hiểu cho thấy có các cơng trình nghiên cứu khoa học tiêu
biểu liên quan đến đề tài luận văn của tác giả như: “Chứng cứ trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam” của ThS. Nguyễn Văn Cừ (nxb. Tư pháp, năm 2005), “Chế định
2
chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS. Trần Quang Tiệp (nxb.
Chính trị quốc gia, năm 2011), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định
chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Vương Văn Bép (luận án
Tiến sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013). Các cơng trình nêu trên
nghiên cứu vật chứng với tư cách là nguồn của chứng cứ, tuy có đề cập đến vấn đề
xử lý vật chứng nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát mà chưa đi sâu phân tích
những nội dung về cách thức xử lý vật chứng cũng như vướng mắc, bất cập trong
thực tiễn tố tụng về xử lý vật chứng.
Nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề xử lý vật chứng, được công bố trên các
tạp chí nghiên cứu khoa học như: “Xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự” của tác
giả Lê Văn Sua, đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 8/2008; “Cần sửa đổi
Điều 76 BLTTHS và hướng dẫn thực hiện việc xử lý vật chứng cho thống nhất”
đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 9/2009, và “Quy định của BLTTHS về xử lý vật
chứng và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng” của ThS. Nguyễn Văn
Trượng, đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 9/2010; “Một số trường hợp xử
lý vật chứng chưa có căn cứ viện dẫn” của tác giả Quách Thành Vinh đăng trên Tạp
chí TAND số 4/2010; “Bàn về quy định xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự” của
tác giả Đặng Văn Quý đăng trên Cổng thông tin điện tử TANDTC năm 2011;
“Hoàn thiện quy định về vật chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của
ThS. Thái Chí Bình, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 17/2012; “Thực
trạng quy định của BLTTHS năm 2003 về vật chứng” của PGS. TS. Hoàng Thị
Minh Sơn, đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2013.v.v...
Kể từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành, có một số bài viết
nghiên cứu về vấn đề xử lý vật chứng, cụ thể là: “Xử lý vật chứng theo quy định của
BLTTHS năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Huân đăng trên tạp chí Kiểm sát số
07/2017; “Quản lý và xử lý vật chứng là động vật hoang dã” của tác giả Nguyễn Đức
Hạnh đăng trên tạp chí Tịa án nhân dân số 23/2019; “Xử lý vật chứng vụ án hình sự
là tài sản thế chấp” của tác giả Nguyễn Phương Anh đăng trên tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 01/2020 và bài viết “Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong các vụ án về
các tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm”
của PGS.TS Trần Văn Độ đăng trên tạp chí Tịa án nhân dân số 12/2020.v.v...
Các giáo trình Luật tố tụng hình sự như: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Tái bản lần thứ nhất, có
3
sửa đổi, bổ sung), nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam; Trường Đại học Luật
Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, nxb. Cơng an nhân dân;
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2007), Giáo trình Luật tố tụng hình
sự Việt Nam, nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.v.v…
Luận văn Cao học luật trong 03 năm trở lại đây, có các đề tài đã được duyệt
nghiên cứu về “Xử lý vật chứng theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” của các tác
giả Nguyễn Thanh Hằng, mã số học viên: 18300410099, lớp Cao học luật khóa
29; Nguyễn Nam Trung, mã số học viên: 17860420130, lớp Cao học luật Bình
Thuận khóa 1.
Trong nội dung của các giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài luận văn này đã
phân tích, đánh giá liên quan đến các biện pháp tư pháp theo quy định của Bộ luật
Hình sự; về xử lý vật chứng theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, các cơng trình
khoa học chủ yếu nghiên cứu các quy định về xử lý vật chứng nói chung mà chưa
có nghiên cứu cụ thể về vấn đề xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài
sản đang thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở hữu, cũng như những hạn
chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, thơng qua các vụ án hình sự mà
Tịa án đã xét xử trên thực tế, để từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của
pháp luật về vấn đề này. Trên các báo, tạp chí có những bài viết đề cập về vấn đề
này nhưng chỉ đưa ra nhiều quan điểm xử lý mà chưa có sự nghiên cứu một cách có
hệ thống và khoa học. Do đó, vấn đề nghiên cứu tác giả đã nêu là một định hướng
nghiên cứu mới trong cơng trình khoa học này của tác giả.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thơng qua việc phân tích quy định của
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm
tội là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở hữu; thực tiễn
áp dụng pháp luật thông qua các bản án đã xét xử để đánh giá, xem xét những
hạn chế còn tồn tại trong quy định của pháp luật hình sự. Trên cơ sở đó, đưa ra
kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật trong việc xử lý vật chứng đối với
phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác định được
chủ sở hữu.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu như sau:
4
- Phân tích, làm rõ quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chủ
thể thẩm quyền và các biện pháp xử lý vật chứng, về phương tiện phạm tội là tài sản
đang thế chấp và tài sản khơng xác định được chủ sở hữu.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc xử lý vật chứng
đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác định
được chủ sở hữu; nêu ra hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng
pháp luật.
- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam về xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài
sản không xác định được chủ sở hữu.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 về xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội; các quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2015 về tài sản thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở
hữu, về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu; các
văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự trước đây; các bản
án, quyết định của Tòa án đã xét xử trong thực tiễn; tham khảo các quan điểm được
đưa ra để giải quyết vấn đề xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản
đang thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở hữu.
Về phạm vi nghiên cứu, nghiên cứu 02 vấn đề:
- Một là, vấn đề xử lý vật chứng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp;
- Hai là, vấn đề xử lý vật chứng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 đối với phương tiện phạm tội là tài sản không xác định được chủ sở hữu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận của mình.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thu thập, phân tích và xử lý thơng
tin gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích các nội dung
của đề tài cũng như được sử dụng để nhận thức một cách khái quát các nội dung,
các vấn đề được nghiên cứu, khái quát kết quả nghiên cứu.
5
- Phương pháp nghiên cứu điển hình các bản án, quyết định cụ thể của Tòa án
trên phạm vi cả nước, để phân tích các vấn đề thực tiễn trong áp dụng quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản
đang thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở hữu.
- Phương pháp so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành và quy định pháp
luật trước đây để vận dụng các quy định pháp luật phù hợp với vấn đề trong thực
tiễn; so sánh giữa các quan điểm giải quyết vấn đề trong thực tiễn xét xử các vụ án
hình sự, từ đó rút ra được nội dung nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị, đề xuất.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Tác giả hi vọng những kết quả đạt được của luận văn sẽ là một trong các
nguồn tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, những người làm công tác
thực tiễn, áp dụng pháp luật đối với các vụ án hình sự có liên quan đến xử lý vật
chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác
định được chủ sở hữu.
Đối với hoạt động lập pháp, nếu những kiến nghị của luận văn được tham khảo
trong hoạt động lập pháp thì tác giả hi vọng có thể góp một phần vào việc hồn thiện
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về xử lý vật chứng đối với phương tiện
phạm tội là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác định được chủ sở hữu.
Đối với hoạt động thực tiễn, tác giả hi vọng luận văn có thể góp phần vào
việc nâng cao nhận thức của những người làm công tác điều tra, truy tố, xét xử khi
vụ án hình sự có vật chứng là tài sản đang thế chấp và tài sản không xác định được
chủ sở hữu.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 02 chương:
Chương 1. Xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang
thế chấp.
Chương 2. Xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản không
xác định được chủ sở hữu.
6
CHƯƠNG 1
XỬ LÝ VẬT CHỨNG ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN PHẠM TỘI
LÀ TÀI SẢN ĐANG THẾ CHẤP
1.1. Quy định của pháp luật về xử lý vật chứng đối với phương tiện
phạm tội là tài sản đang thế chấp
Vật chứng trong vụ án hình sự theo quy định tại Điều 89 của BLTTHS năm
2015 là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội
phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội
phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Vật chứng
phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Xử lý vật chứng là
xem xét, giải quyết vật chứng đã thu thập được1. Việc xử lý vật chứng phải do cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện hoặc giao cho cơ quan quản
lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của BLTTHS.
Phương tiện phạm tội là đối tượng vật chất được chủ thể của tội phạm sử
dụng trợ giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội2. Phương tiện phạm tội có nhiều
dạng khác nhau, trong đó có dạng được gọi là công cụ phạm tội (như: dao để đâm
nạn nhân, búa để phá cửa nhà vào trộm cắp tài sản.v.v...); có dạng khơng được gọi
là cơng cụ phạm tội (như: xe ô tô dùng để vận chuyển hàng cấm, xe máy dùng để đi
trộm tài sản, tiền để đưa hối lộ.v.v...). Nhìn chung, phương tiện phạm tội khơng
quyết định bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể. Tuy nhiên, ở một số
tội phạm, phương tiện phạm tội có thể được quy định là dấu hiệu của cấu thành tội
phạm; dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng; tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
Thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo
đó bên có nghĩa vụ (còn gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và khơng giao tài sản cho bên có quyền (cịn gọi là bên
nhận thế chấp). Tài sản thế chấp có thể là bất động sản hoặc động sản, do bên thế
chấp giữ nên bên thế chấp vẫn sử dụng tài sản bảo đảm bình thường, có thể thu các
hoa lợi, lợi tức phát sinh từ việc sử dụng tài sản đã dùng để thế chấp. Ngồi ra, các
bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp3.
Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr.873.
Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), tlđd (1), tr.627.
3
Điều 317 BLDS năm 2015
1
2
7
Phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp được hiểu là tài sản đang được
thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp và người phạm
tội dùng tài sản thế chấp này để làm phương tiện phạm tội. Chẳng hạn: Xe ô tô, xe
máy đang thế chấp tại ngân hàng nhưng người phạm tội dùng để vận chuyển hàng
cấm hoặc dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.v.v...
Tại Điều 106 của BLTTHS năm 2015 quy định về xử lý vật chứng, tùy vào
từng giai đoạn mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ xử lý vật
chứng theo nguyên tắc chung là tịch thu nộp ngân sách nhà nước, tịch thu tiêu huỷ,
trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, bán hoặc giao cho cơ quan
quản lý chuyên ngành xử lý. Tuy nhiên, xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm
tội là tài sản đang thế chấp thì hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ
thể. Trước đây, giai đoạn BLTTHS năm 1988 đang có hiệu lực thi hành, việc xử lý
đối với vật chứng là kho tàng, nhà xưởng, khách sạn, nhà, đất và phương tiện sản
xuất, kinh doanh khác mà trước đó bị can, bị cáo đã thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ
thanh toán, được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số: 06/1998/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA-BTC-BTP ngày 24 tháng 10 năm 1998 của TAND tối cao,
VKSND tối cao, Bộ Cơng an, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp (gọi tắt là Thơng tư liên
tịch số 06/1998). Theo đó, cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án xử lý như sau:
Trường hợp thứ nhất, vật chứng là tài sản được thế chấp hợp pháp, hợp đồng
thế chấp tài sản vẫn cịn thời hạn, thì tuỳ trường hợp cụ thể, cơ quan đang thụ lý,
giải quyết vụ án có thể giao cho một hoặc nhiều bên đang giữ tài sản thế chấp tiếp
tục khai thác, sử dụng tài sản đó, nếu những người này khơng có điều kiện khai
thác, sử dụng thì họ được tìm đối tác để khai thác, sử dụng. Cơ quan đang thụ lý,
giải quyết vụ án có thể giao cho đối tác đó khai thác, sử dụng tài sản sau khi có thoả
thuận bằng văn bản giữa người có tài sản thế chấp hoặc người nhận thế chấp và đối
tác nhận khai thác, sử dụng tài sản. Nếu người đang giữ tài sản thế chấp là người
thứ ba mà họ khơng có điều kiện khai thác, sử dụng, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể
theo thoả thuận trong hợp đồng thế chấp tài sản, người đó phải trả lại tài sản cho
bên có tài sản thế chấp hoặc bên nhận thế chấp để những người này tìm đối tác khai
thác, sử dụng. Nếu họ khơng tìm được đối tác thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ
án có thể giao tài sản cho tổ chức hoặc cá nhân có điều kiện khai thác, sử dụng trên
cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án và tổ
chức, cá nhân nhận khai thác, sử dụng tài sản.
8
Hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng tài sản thế chấp và số tiền
thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nợ cho bên nhận thế
chấp, sau khi đã trừ các chi phí thực tế hợp lý cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng
tài sản thế chấp và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Người khai thác, sử dụng
phải lập sổ hạch toán, theo dõi riêng để phục vụ cho việc thi hành bản án, quyết
định của Toà án sau này. Nếu Toà án quyết định bên nhận thế chấp khơng được
quyền thanh tốn như trên, thì hoa lợi, lợi tức hoặc số tiền thu được từ việc xử lý tài
sản phải trả lại cho người có quyền nhận hoa lợi, lợi tức hoặc số tiền đó, sau khi trừ
các chi phí hợp lý cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng và chi phí việc xử lý tài sản
và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Trong trường hợp, hợp đồng thế chấp hợp pháp nhưng đã hết thời hạn mà bên
thế chấp tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình, thì
tuỳ từng trường hợp cụ thể, tài sản thế chấp được giao cho bên nhận thế chấp khai
thác, sử dụng hoặc xử lý để thu hồi vốn và lãi sau khi đã lập đầy đủ hồ sơ bảo đảm
giá trị chứng minh của tài sản là vật chứng. Phương thức xử lý do các bên trong hợp
đồng thế chấp thoả thuận; nếu khơng thoả thuận được, thì bên nhận thế chấp có
quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ.
Trường hợp thứ hai, hợp đồng thế chấp khơng hợp pháp, thì trong thời gian
chưa có tun bố hợp đồng đó bị vơ hiệu của Toà án, cơ quan đang thụ lý, giải quyết
vụ án tạm giao tài sản thế chấp cho bên đang giữ tài sản thế chấp tiếp tục khai thác,
sử dụng, nếu những người này khơng có điều kiện khai thác, sử dụng, nhưng họ tìm
được đối tác để khai thác, sử dụng, thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án có thể
giao cho đối tác đó khai thác, sử dụng tài sản sau khi có thoả thuận bằng văn bản giữa
họ và đối tác nhận khai thác, sử dụng tài sản. Nếu người đang giữ tài sản thế chấp là
người thứ ba mà họ khơng có điều kiện khai thác, sử dụng, thì tuỳ từng trường hợp cụ
thể theo thoả thuận trong hợp đồng thế chấp tài sản, người đó phải trả lại tài sản cho
bên có tài sản thế chấp hoặc bên nhận thế chấp để những người này tìm đối tác khai
thác, sử dụng. Trong trường hợp, họ khơng tìm được đối tác khai thác, sử dụng, thì cơ
quan đang thụ lý, giải quyết vụ án có thể giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều
kiện khai thác, sử dụng trên cơ sở thoả thuận bằng văn bản giữa cơ quan đang thụ lý,
giải quyết vụ án và tổ chức, cá nhân nhận khai thác, sử dụng tài sản.
Hoa lợi, lợi tức thu được tạm thời giao cho người đang giữ tài sản hoặc người
khai thác, sử dụng quản lý cho đến khi có bản án, quyết định của Tồ án đã có hiệu
9
lực pháp luật, sau khi đã trừ các chi phí thực tế hợp lý cho việc bảo quản, khai thác,
sử dụng tài sản thế chấp và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Trường hợp thứ ba, tài sản là vật chứng được dùng để thế chấp cho nhiều
bên, trong đó có bên hợp pháp và có bên khơng hợp pháp, thì tuỳ từng trường hợp
cụ thể, cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án chỉ cho phép bên có tài sản thế chấp,
bên nhận thế chấp hợp pháp hoặc người thứ ba đang giữ tài sản của họ nhận khai
thác, sử dụng. Trong trường hợp này, tài sản được giao để bảo quản, sử dụng, khai
thác không được xử lý để thu hồi vốn trước khi kết thúc vụ án. Hoa lợi, lợi tức thu
được tạm thời dùng để thanh toán nợ cho bên nhận thế chấp hợp pháp cho đến khi
có quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án, sau khi đã trừ các chi phí
thực tế hợp lý cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thế chấp và thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nước4.
Cho đến nay các cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành Thơng tư liên tịch
mới thay thế cho Thông tư liên tịch số 06/1998, nên một số nội dung hướng dẫn
trước đây nếu còn phù hợp với tinh thần của BLTTHS năm 2015 thì có thể tham
khảo để áp dụng khi xử lý vật chứng là tài sản đang thế chấp trong vụ án hình sự.
1.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng đối với phương
tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, việc xử lý vật chứng đối với phương
tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, đến nay
chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến
hành tố tụng chưa thống nhất, một số trường hợp vẫn còn lúng túng, cụ thể xử lý vật
chứng trong các trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất: Tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người phạm tội và
được người phạm tội thế chấp hợp pháp tại ngân hàng hoặc chủ thể khác nhận thế
chấp (sau đây gọi tắt là ngân hàng), sau đó người phạm tội dùng tài sản này làm
phương tiện phạm tội. Trường hợp này hiện nay có ba quan điểm xử lý vật chứng:
Một là, tịch thu toàn bộ tài sản thế chấp sung vào ngân sách nhà nước. Hai là, giao
tài sản thế chấp cho ngân hàng xử lý để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng,
phần giá trị cịn lại thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Ba là, giao tài sản thế
chấp cho cơ quan thi hành án phối hợp với ngân hàng để phát mại, bán đấu giá tài
Nguyễn Phương Anh (2020), “Xử lý vật chứng vụ án hình sự là tài sản thế chấp”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, số 01/2020,50-56.
4
10
sản; ưu tiên thu hồi nợ (vốn và lãi) cho ngân hàng và chi trả chi phí phát mại, bán
đấu giá; phần giá trị còn lại tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trong thực tiễn
xét xử, quan điểm thứ ba được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng phổ biến,
quan điểm thứ nhất và thứ hai vẫn được áp dụng nhưng khơng phổ biến, có thể phân
tích điển hình các vụ án sau đây:
Vụ án thứ nhất (Phụ lục số 01)
Nội dung vụ án5
Khoảng 20 giờ ngày 19/7/2018, Nguyễn Hồng P điều khiển xe ô tô 07 chỗ
biển số 68A-084.97 chở Nguyễn Giang S đi cùng, xuất phát từ thành phố Rạch Giá,
tỉnh Kiên Giang đến huyện An Phú, tỉnh An Giang mua 19.500 bao thuốc lá điếu
nhập lậu của Nguyễn Quốc T với tổng số tiền 289.064.000 đồng. Trong lúc giao
thuốc lá, P lấy biển số 51F-734.96 gắn chồng lên biển số xe ô tô của P. Sau khi
nhận thuốc lá xong thì P chở S đi về, khi đến khu vực 1, phường 2, thị xã Ngã Bảy,
tỉnh Hậu Giang để giao thuốc lá cho Dương Thị V, nhưng chưa kịp giao thì bị lực
lượng công an kiểm tra và phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Chiếc xe ô tô 07 chỗ biển số 68A-084.97 thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn
Hồng P, đã được P thế chấp để đảm bảo cho khoản nợ vay của Ngân hàng TMCP X
- Chi nhánh Kiên Giang; hợp đồng thế chấp giữa P và Ngân hàng X là hợp pháp, đã
đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật.
Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng về xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô
biển số 68A-084.97:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2018/HS-ST ngày 26/11/2018, TAND thị
xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng P và Nguyễn Giang
S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 BLHS. Tịch thu
sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe ôtô biển số 68A-084.97.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh Hậu Giang đề nghị sửa bản
án sơ thẩm về xử lý vật chứng, phát mại chiếc xe ô tô biển số 68A-084.97 để đảm
bảo khoản nợ của Ngân hàng X, phần còn lại tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 30/2019/HS-PT ngày 25/4/2019, TAND
tỉnh Hậu Giang sửa bản án sơ thẩm, theo đó xử lý giao chiếc xe ơtơ biển số 68A5
Bản án hình sự phúc thẩm số: 30/2019/HS-PT ngày 25/4/2019 của TAND tỉnh Hậu Giang.
11
084.97 cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang phối hợp
với Ngân hàng X xử lý bán đấu giá tài sản để Ngân hàng X thu hồi nợ vay, phần giá
trị còn lại (nếu có) thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Vụ án thứ hai (Phụ lục số 02)
Nội dung vụ án6
Khoảng 20 giờ ngày 01/12/2021, Lường Văn T và Vì Văn V ngồi uống bia
cùng với N và H (đều không rõ lai lịch, địa chỉ). Trong lúc ngồi uống bia, H đưa
cho T số tiền 1.400.000 đồng và nói “tý nữa ra quán hát bo cho nhân viên”. Khoảng
23 giờ 30 phút cùng ngày, H lấy ra 01 túi xách màu đen, bên trong đựng pháo nổ,
tổng khối lượng là 12 kg để ở cạnh bàn và nói với N và T “chở túi pháo này đi ra
cổng chợ NQ giao cho khách hộ anh”, T và N đồng ý. N xách túi pháo để lên phần
đèo hàng phía trước dưới yên xe mô tô biển số 26B2-666.01 của T, T điều khiển xe
chở N phía sau cịn H đi xe taxi đưa V về phòng trọ. Trên đường đi, N bảo T số tiền
1.400.000 đồng H đưa cho T ở quán bia là tiền công T vận chuyển pháo, đồng thời
dặn T tý giao cho khách thì nhận số tiền 12.500.000 đồng, T đồng ý. Đến khu vực
cổng chợ NQ thì T dừng xe lại, N xách túi pháo để dưới đường và gọi cho khách ra
lấy. N và T chờ khách đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 02/12/2021 thì bị cơng an
kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, lợi dụng sơ hở N đã bỏ trốn.
Đối với xe mô tô biển số 26B2- 666.01, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
Lường Văn T. Qua điều tra xác định T ký hợp đồng vay trả góp và thế chấp chiếc xe
này với Cơng ty tài chính TNHH Ngân hàng A (gọi tắt là Công ty A) từ ngày
01/4/2021 đến ngày 01/4/2022 với tổng số tiền 22.800.000 đồng; T còn 01 kỳ trả nợ
vào tháng 4/2022 với số tiền là 2.407.000 đồng. Cơng ty A đề nghị Tồ án giao xe cho
Công ty A xử lý thu hồi nợ; nếu khơng được nhận xe thì đề nghị giao xe cho cơ quan
thi hành án xử lý nhưng phải ưu tiên thanh toán trước khoản nợ của T với Công ty A.
Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng về xử lý vật chứng là chiếc xe mô
tô biển số 26B2- 666.01:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 29/3/2022, TAND
thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã tuyên bố Lường Văn T phạm tội “Vận
chuyển hàng cấm”. Về xử lý vật chứng, giao chiếc xe mô tô biển số 26B2- 666.01
của T cho Công ty A để xử lý thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế
6
Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 29/3/2022 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
12
chấp mô tô. Sau khi đối trừ số tiền nợ của T với Cơng ty A thì số tiền cịn lại bị tịch
thu sung vào ngân sách nhà nước, nên Cơng ty A có trách nhiệm chuyển số tiền cịn
lại cho Chi cục THADS thành phố Hải Dương để sung nộp vào ngân sách nhà nước.
Nhận xét, đánh giá về quan điểm xử lý vật chứng trong vụ án thứ nhất
và vụ án thứ hai:
Trong vụ án thứ nhất, chiếc xe ô tô biển số 68A-084.97 thuộc sở hữu của P,
đã được P thế chấp để đảm bảo cho khoản nợ vay của Ngân hàng X - Chi nhánh
Kiên Giang; mặc dù xe ô tô đã được thế chấp Ngân hàng nhưng không làm mất đi
quyền sở hữu của P đối với xe ô tô. P dùng xe ô tô biển số 68A-084.97 để vận
chuyển hàng cấm nên xe ô tô này là phương tiện phạm tội đang thế chấp. P sử dụng
chiếc xe ô tô này dùng vào việc phạm tội nên việc tịch thu chiếc xe sung vào ngân
sách nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015
và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, mặc dù xe ô tô này là
vật chứng của vụ án, do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nhưng chiếc xe ô
tô này đã được thế chấp cho Ngân hàng trước đó và việc bị cáo dùng chiếc xe này
để phạm tội thì Ngân hàng hồn tồn khơng biết, nên Ngân hàng khơng có lỗi trong
việc để P dùng tài sản thế chấp làm phương tiện phạm tội. Do đó, nếu tịch thu tồn
bộ xe ơ tơ này để sung vào ngân sách nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và
lợi ích hợp pháp của Ngân hàng (bên nhận thế chấp). Việc xử lý vật chứng đối với
chiếc xe ô tô biển số 68A-084.97 của TAND thị xã Ngã Bảy là không phù hợp với
quy định của BLDS năm 2015 và tinh thần của Thông tư liên tịch số 06/1998.
Do vậy, cần giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền
phối hợp với Ngân hàng để kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp theo quy định pháp
luật. Giá trị tài sản thế chấp sẽ ưu tiên thanh toán nợ vay cho Ngân hàng, phần giá
trị còn lại (nếu có) sau khi đã thanh tốn xong nghĩa vụ bảo đảm thì cơ quan thi
hành án có trách nhiệm tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Do đó, TAND tỉnh
Hậu Giang đã xử lý vật chứng theo hướng này, một mặt vừa đảm bảo quyền lợi của
bên nhận tài sản đảm bảo, một mặt vừa xử lý được trách nhiệm của bị cáo khi sử
dụng tài sản làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Trong vụ án thứ hai, nếu chỉ xử lý vật chứng theo hướng giao toàn bộ xe mơ
tơ cho Cơng ty tài chính tự tổ chức phát mại, bán đấu giá để thanh toán nợ vay của
các bên trước đó thì sẽ thiếu cơ chế quản lý đối với hoạt động phát mại, bán đấu giá
tài sản và thanh tốn nợ, dẫn đến khơng đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp
13
của bên thế chấp, vì giá trị tài sản thế chấp có thể cao hơn nghĩa vụ phải thực hiện
hoặc là Cơng ty tài chính bán đấu giá thấp hơn mức thơng thường để có lợi hơn cho
mình. Ngồi ra, xử lý vật chứng trong trường hợp này sẽ không phù hợp với quy
định về xử lý vật chứng theo quy định của BLHS và BLTTHS. Do đó, cần có một
cơ chế quản lý trong trường hợp này, mà tốt hơn hết là giao xe mô tô (tài sản thế
chấp) cho cơ quan thi hành án cấp có thẩm quyền phối hợp với bên nhận thế chấp
để kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.
Trường hợp thứ hai: Tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng và được vợ
chồng thế chấp hợp pháp tại ngân hàng để bảo đảm khoản nợ vay, sau đó người
phạm tội là vợ hoặc chồng dùng tài sản này làm phương tiện phạm tội. Trường hợp
này các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều cách xử lý vật chứng như: Trả lại tài sản
thế chấp cho người vợ hoặc người chồng (không phải người phạm tội) tiếp tục quản
lý, sử dụng để đảm bảo khoản vay của ngân hàng; hoặc giao tài sản thế chấp cho cơ
quan thi hành án phối hợp với ngân hàng và người vợ hoặc người chồng (không
phải người phạm tội) để kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp, ưu tiên thanh toán nợ
(vốn và lãi) cho ngân hàng, giá trị cịn lại thì một nửa tịch thu sung vào ngân sách
nhà nước và một nửa trả lại cho người vợ hoặc người chồng (không phải người
phạm tội). Hoặc là, tiến hành định giá tài sản thế chấp, sau đó người vợ hoặc người
chồng (khơng phải người phạm tội) nộp ½ giá trị tài sản thế chấp này để tịch thu
sung vào ngân sách nhà nước và người này được nhận lại tài sản thế chấp để tiếp
tục quản lý, sử dụng và đảm bảo khoản vay của ngân hàng. Có thể phân tích điển
hình các vụ án sau đây:
Vụ án thứ ba (Phụ lục số 03)
Nội dung vụ án7
Ngày 24/11/2019, Nguyễn Văn C thuê xe ô tô biển số 65A-218.23 do Phan
Thanh T điều khiển đến thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để mua thuốc lá điếu
nhập lậu, mục đích bán lại kiếm lợi nhuận. Tại đây, C đã mua 2.990 bao thuốc lá
điếu nhập lậu (gồm 1.740 bao thuốc lá hiệu Hero và 1.250 bao thuốc lá hiệu Jet).
Khoảng 13 giờ ngày 24/11/2019, T điều khiển xe ô tô biển số 65A-218.23 chở C và
2.990 bao thuốc lá điếu nhập lậu về huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long để tiêu thụ, khi
đến thị trấn CD, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang thì bị lực lượng cơng an kiểm tra
7
Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
14
phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang
hồi 14 giờ 00 phút ngày 24/11/2019, Nguyễn Văn C thừa nhận đã mua 2.990 bao
thuốc lá nhập lậu tại Châu Đốc để về Vĩnh Long bán lại kiếm lời. Phan Thanh T
thừa nhận dùng xe ô tô biển số 65A-21823 để chở thuốc lá điếu nhập lậu cho C, chỉ
vận chuyển thuê cho C chứ khơng có mục đích mua bán thuốc lá điếu nhập lậu.
Xe ô tô biển số 65A-218.23 là tài sản chung của T và vợ là Nguyễn Thị Trúc
P, do P đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Trước đó, ngày 12/11/2019, T và P
vay 280.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam để mua xe ơ tơ này,
thời hạn vay trả góp là 48 tháng. Sau khi mua xe, vợ chồng P và T đã thế chấp xe ô
tô biển số 65A-218.23 cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay. Do đó, Ngân hàng
yêu cầu vợ chồng T và P phải thanh tốn tồn bộ vốn, lãi cho Ngân hàng và giao xe
ô tô biển số 65A-218.23 cho Ngân hàng xử lý, nếu không đủ thanh tốn nợ thì T và
P phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng. Đối với P không biết
chồng là T đã sử dụng xe vào việc vận chuyển hàng cấm nên P yêu cầu được nhận
lại xe ô tô và các giấy tờ kèm theo xe.
Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng về xử lý vật chứng là chiếc xe ô tơ
biển số 65A-218.23:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2020/HS-ST ngày 29/4/2020, TAND
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tuyên bố Nguyễn Văn C phạm tội “Buôn bán hàng
cấm” và Phan Thanh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Về xử lý vật chứng, giao
trả chiếc xe ô tô biển số 65A-218.23 và các giấy tờ có liên quan cho người vợ là
Nguyễn Thị Trúc P quản lý, sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của T và
P đối với Ngân hàng nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại xe cho P quản lý để
đảm bảo quyền về tài sản của bà P và Ngân hàng.
Vụ án thứ tư (Phụ lục số 04)
Nội dung vụ án8
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/7/2019, Tổ công tác của Công an thị xã
Tân Châu, tỉnh An Giang tiến hành tuần tra thì phát hiện Lê Thanh H điều khiển xe
ơtơ tải biển số 67C-096.48 bên trong có 26 bao nilon và 54 thùng giấy chứa tổng
cộng 26.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 10.500 bao thuốc lá hiệu
SCOTT, 10.500 bao thuốc lá hiệu JET, 5.500 bao thuốc lá hiệu Hero) nên Tổ cơng
8
Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 của TAND thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
15
tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật. Lê Thanh H
khai được người tên L (không rõ họ, tên địa chỉ cụ thể) thuê xe ôtô tải của H để chở
thuốc lá điếu nhập lậu với giá 2.500đ/10 bao thuốc lá; khi H điều khiển xe ôtô tải
chở thuốc lá đi giao cho người tên L thì bị Tổ tuần tra bắt quả tang. Ngoài ra, vào
cuối tháng 6/2019, Hiệp cũng đã vận chuyển thuê cho người tên L 1.000 bao thuốc
lá điếu nhập lậu hiệu SCOTT.
Chiếc xe ôtô tải biển số 67C-096.48 là tài sản chung của H và vợ là Nguyễn
BL, do H đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe. Vợ chồng H và BL đã thế
chấp xe ôtô tải này cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong để vay số tiền 400.000.000
đồng khi mua xe. Chị BL không biết H sử dụng xe để vận chuyển hàng cấm. Ngân
hàng yêu cầu giao xe ô tô tải cho Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Đối với chị BL yêu cầu Tòa án cho phát mãi, bán đấu giá chiếc xe ôtô tải để trả tiền
vay cho Ngân hàng, phần còn lại chị BL xin nhận lại để nuôi các con.
Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng về xử lý vật chứng là chiếc xe ơ tơ
tải biển số 67C-096.48:
Tại phiên tịa, VKSND thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đề nghị giao trả chiếc
xe ôtô tải biển số 67C-096.48 cho bị cáo H, chị Liên và Ngân hàng để xử lý theo
quy định của pháp luật. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HS-ST ngày
14/11/2019, TAND thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tuyên bố Lê Thanh H phạm tội
“Vận chuyển hàng cấm”. Về xử lý vật chứng, giao chiếc xe ôtô tải biển số 67C096.48 và các giấy tờ liên quan cho Ngân hàng phối hợp cùng Cơ quan Thi hành án
dân sự thị xã Tân Châu và người vợ BL để xử lý bán chiếc xe ôtô tải này để thu hồi
nợ vay vốn, lãi cho Ngân hàng và trả chi phí bán đấu giá. Số tiền bán xe ơtơ tải cịn
lại (nếu cịn) sẽ chia đơi, trong đó trả cho người vợ BL ½ số tiền; tịch thu sung vào
ngân sách Nhà nước ½ số tiền (phần của bị cáo H).
Nhận xét, đánh giá về quan điểm xử lý vật chứng trong vụ án thứ ba và
thứ tư:
Trong hai vụ án này, có điểm chung là xe ơ tô được dùng làm phương tiện
vận chuyển hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu), xe ô tô này là tài sản chung của vợ
chồng và đang thế chấp tại ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay; người vợ
hồn tồn khơng biết chồng mình sử dụng xe ơ tô làm phương tiện phạm tội. Giữa
TAND thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang và TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
có cách xử lý vật chứng khác nhau. Trong vụ án thứ ba, TAND huyện Châu Phú xử
16
lý giao trả xe ô tô cho người vợ (bà P) quản lý, sử dụng sẽ đảm bảo cho người vợ
được thực hiện quyền về tài sản của mình, do người vợ đứng tên trong giấy chứng
nhận đăng ký xe; khi đó người vợ sẽ đảm bảo nghĩa vụ thanh tốn cho ngân hàng
(trả góp theo định kỳ). Cách xử lý vật chứng này có vẻ như hợp lý nếu người vợ
thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, các bên không phát sinh
tranh chấp. Tuy nhiên, xử lý vật chứng trong trường hợp này vẫn chưa hoàn toàn
phù hợp với quy định của BLHS và BLDS, vì xe ơ tơ là phương tiện phạm tội, trong
đó có ½ giá trị thuộc quyền sở hữu của người phạm tội (bị cáo T) nên cần tịch thu
sung vào ngân sách nhà nước; ½ giá trị xe thuộc quyền sở hữu của người vợ (bà P),
người vợ khơng có lỗi trong việc để người chồng sử dụng xe làm phương tiện phạm
tội nên cần trả lại cho người vợ. Mặt khác, mặc dù xe ô tô đã thế chấp cho ngân
hàng nhưng người phạm tội đã sử dụng tài sản thế chấp để phạm tội là vi phạm thỏa
thuận trong hợp đồng thế chấp. Trong trường hợp này, ngân hàng có quyền yêu cầu
bên thế chấp thanh tốn tồn bộ nợ vay, cũng như u cầu xử lý tài sản thế chấp để
thu hồi nợ nên cần bán đấu giá tài sản thế chấp9.
Trong vụ án thứ tư, TAND thị xã Tân Châu có cách xử lý vật chứng tương tự
như quan điểm xử lý vật chứng của TAND tỉnh Hậu Giang trong vụ án thứ nhất,
đều xử lý bán đấu giá tài sản thế chấp. TAND thị xã Tân Châu đã xử lý vật chứng
có sự khác biệt là số tiền bán đấu giá còn lại (sau khi trừ chi phí bán đấu giá và
thanh tốn tồn bộ nợ cho ngân hàng) thì trả ½ giá trị cho người vợ và tịch thu 1/2
giá trị sung vào ngân sách nhà nước. Cách xử lý vật chứng này của TAND thị xã
Tân Châu phù hợp với quy định của BLHS, BLTTHS và BLDS, phù hợp hơn so với
quan điểm xử lý vật chứng của TAND huyện Châu Phú.
Trường hợp thứ ba: Phương tiện phạm tội là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp
của người khác và đang được người này thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của mình đối
với bên nhận thế chấp. Sau đó chủ sở hữu cho người phạm tội thuê tài sản đang thế
chấp để sử dụng hoặc là tài sản đang thế chấp bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử
dụng trái phép, rồi người phạm tội đã sử dụng tài sản đang thế chấp này để làm
phương tiện phạm tội; chủ sở hữu tài sản hồn tồn khơng biết việc người phạm tội
đã sử dụng tài sản thế chấp để làm phương tiện phạm tội. Trường hợp này các cơ
quan tiến hành tố tụng xử lý vật chứng theo hướng trả lại tài sản thế chấp cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS năm
9
Các điều 299, 320 và 323 của BLDS năm 2015.
17
2015 và điểm b khoản 3 Điều 106 BLHS năm 2015. Nếu như chủ sở hữu có lỗi
trong việc để cho người phạm tội sử dụng tài sản của mình vào việc thực hiện tội
phạm thì tài sản thế chấp này có thể bị tịch thu theo quy định tại khoản 3 Điều 47
BLHS năm 2015. Có thể phân tích điển hình vụ án sau đây:
Vụ án thứ năm (Phụ lục số 05)
Nội dung vụ án10
Cuối tháng 8/2020, Lâm Hoài T được một người đàn ông (không rõ lai lịch)
thuê T chở thuốc lá điếu nhập lậu từ huyện Đ, tỉnh Long An về giao cho khách tại
huyện Gị Cơng Tây, tỉnh Tiền Giang với tiền công là 1.000.000 đồng, T đồng ý.
Đến ngày 01/9/2020, T điều khiển xe ô tô đi nhận thuốc lá điếu nhập lậu và chạy về
đến khu vực Gị Cơng Tây thì bị lực lượng công an phát hiện và bắt quả tang cùng
tang vật, trong đó bao gồm: 8.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 2.000 bao
thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott và 2.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero.
Đối với chiếc xe ô tô biển số 62A-189.54 thuộc sở hữu hợp pháp của anh
Nguyễn Văn T1, anh T1 đang thế chấp xe ô tô này tại Ngân hàng TMCP Tiên
Phong, sau đó T1 cho T th xe ơ tơ này để chở khách. Anh T1 hồn tồn khơng
biết người thuê xe đã sử dụng xe của anh làm phương tiện vận chuyển hàng cấm
nên anh T1 yêu cầu trả lại xe để tiếp tục quản lý, sử dụng.
Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng về xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô
biển số 62A-189.54:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2021/HS-ST ngày 25/3/2021, TAND
huyện Gị Cơng Tây, tỉnh Tiền Giang tun bố Lâm Hoài T phạm tội “Vận chuyển
hàng cấm”. Về xử lý vật chứng, trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 chiếc xe ô tô biển
số 62A-189.54 và các giấy tờ liên quan. Cách xử lý vật chứng này cũng đồng quan
điểm với đề nghị của đại diện VKSND huyện Gị Cơng Tây tại phiên tòa.
Nhận xét, đánh giá về quan điểm xử lý vật chứng trong vụ án thứ năm:
Trong vụ án này, Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu và cho Lâm Hồi T th xe ơ tơ
biển số 62A-189.54 để chở khách, T1 hồn tồn khơng biết mục đích T thuê xe ô tô
để làm phương tiện vận chuyển hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu), nên T1 không có
lỗi trong việc để cho T sử dụng tài sản của mình vào việc thực hiện tội phạm.
Trường hợp này xe ô tô biển số 62A-189.54 đã bị T sử dụng trái phép vào việc
10
Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2021/HS-ST ngày 25/3/2021 của TAND huyện Gị Cơng Tây, tỉnh Tiền Giang.
18
phạm tội, nên mặc dù xe ô tô này là phương tiện phạm tội trong vụ án hình sự
nhưng cần trả lại cho chủ sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS năm
2015. Do đó, quan điểm của VKSND và TAND huyện Gị Cơng Tây xử lý vật
chứng trả lại xe ô tô cho T1 là phù hợp. Trong thực tiễn xét xử, việc xử lý vật chứng
trong trường hợp này khơng có nhiều quan điểm, do BLHS và BLTTHS đã quy
định rõ ràng, cụ thể. Vấn đề mấu chốt là xác định lỗi của chủ sở hữu trong việc để
cho người phạm tội sử dụng tài sản vào việc thực hiện tội phạm hoặc là xem xét chủ
sở hữu có phải đồng phạm trong vụ án hay không.
Trường hợp thứ tư: Trong trường hợp phương tiện phạm tội thế chấp vào thời
điểm sau khi đã phạm tội, nghĩa là thời điểm này tài sản là vật chứng trong vụ án
hình sự nên khơng thể đem đi thế chấp. Lúc này bên nhận thế chấp có nghĩa vụ biết
hoặc phải biết tài sản thế chấp có hợp pháp hay không, nên nếu ngân hàng nhận thế
chấp trong trường hợp này thì khơng thể bảo vệ lợi ích của ngân hàng và ngân hàng
phải gánh chịu thiệt hại; việc xử lý vật chứng trong trường hợp này thực hiện như
đối với tài sản khơng có thế chấp. Trường hợp này thực tế hiếm khi xảy ra trong
thực tiễn xét xử.
Như vậy, trong các trường hợp xử lý vật chứng nêu trên thì trường hợp thứ
nhất và trường hợp thứ hai có nhiều quan điểm xử lý vật chứng khác nhau, cơ quan
có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để thống nhất áp dụng pháp luật.
Do đó, cần có những giải pháp, kiến nghị để góp phần áp dụng thống nhất pháp luật
trong các cơ quan tiến hành tố tụng.
1.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quan điểm xử lý vật chứng đối với phương
tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp, xác định một số hạn chế khi xử lý vật chứng
thuộc trường hợp này trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, tác giả đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và áp dụng thống nhất pháp luật, cụ thể
như sau:
Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn về xử lý
vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp:
Hiện nay do chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn việc xử
lý vật chứng theo quy định tại Điều 106 BLTTHS năm 2015, nên thời gian qua có
những trường hợp các CQTHTT cịn tham khảo, áp dụng tinh thần của TTLT số
19
06/1998 để xử lý vật chứng đối với phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp.
Tuy nhiên, TTLT số 06/1998 là văn bản hướng dẫn xử lý vật chứng quy định tại
Điều 58 BLTTHS năm 1988. Xét về mặt lý luận thì việc áp dụng văn bản dưới luật
(hướng dẫn cho văn bản luật cũ) để hướng dẫn thực hiện quy định của văn bản luật
mới sẽ không đảm bảo tính khoa học và giá trị pháp lý.
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cho thấy nhiều hạn chế, vướng mắc
mới xuất hiện chưa được TTLT số 06/1998 đề cập, giải quyết. Do đó, trong khi
những hạn chế, bất cập của BLTTHS năm 2003 và BLHS năm 1999 chưa được
BLTTHS năm 2015 và BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung triệt để thì TAND tối cao
cần phải ban hành Nghị quyết hướng dẫn hoặc các cơ quan có thẩm quyền phối hợp
ban hành Thơng tư liên tịch mới để kịp thời hướng dẫn về xử lý vật chứng trong
một số trường hợp cụ thể, trong đó có hướng dẫn về xử lý vật chứng đối với phương
tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp theo hướng vừa đảm bảo quyền lợi của bên
nhận thế chấp và những người đồng sở hữu, vừa đảm bảo xử lý vật chứng đối với
phương tiện phạm tội theo quy định của BLHS và BLTTHS, cụ thể cần hướng dẫn
theo định hướng như sau:
- Trường hợp thứ nhất, phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp chỉ
thuộc quyền sở hữu của người phạm tội, hợp đồng thế chấp đúng quy định pháp
luật, tài sản thế chấp còn giá trị sử dụng (hoặc tài sản bị hư hỏng nhưng vẫn xác
định được giá trị sử dụng và có thể phát mại), thì giao tài sản thế chấp cho cơ quan
thi hành án có thẩm quyền phối hợp với bên nhận thế chấp để phát mại tài sản thế
chấp. Giá trị tài sản thế chấp sau khi được phát mại sẽ ưu tiên thanh tốn các chi phí
phát sinh khi phát mại tài sản; tiếp theo là thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm cho
bên nhận thế chấp; phần giá trị cịn lại sau khi trừ ra chi phí phát mại tài sản và
thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, thì cơ quan thi hành án có thẩm quyền có trách
nhiệm tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Nếu như giá trị tài sản thế chấp sau
khi được phát mại mà khơng đủ thanh tốn nghĩa vụ được bảo đảm cho bên nhận
thế chấp thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu tiếp tục giải quyết trong vụ án khác
theo thủ tục tố tụng dân sự. Xử lý vật chứng theo hướng này áp dụng cả khi hợp
đồng thế chấp còn thời hạn hoặc hết thời hạn.
- Trường hợp thứ hai, phương tiện phạm tội là tài sản thế chấp thuộc quyền sở
hữu của nhiều người (sở hữu chung theo phần11), nhưng nghĩa vụ của hợp đồng thế
11
Theo Điều 209 BLDS năm 2015.
20
chấp chỉ liên quan đến người phạm tội và người phạm tội chỉ thế chấp phần tài sản
thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp đúng quy định pháp luật, tài sản còn giá trị
sử dụng (hoặc tài sản bị hư hỏng nhưng vẫn xác định được giá trị sử dụng và có thể
phát mại), thì giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền phối hợp
với bên nhận thế chấp và các chủ sở hữu chung để phát mại tài sản thế chấp. Các chủ
sở hữu chung có quyền ưu tiên mua theo quy định khoản 3 Điều 218 BLDS năm
2015. Sau đó chia theo phần để xác định giá trị tài sản thuộc sở hữu của người phạm
tội. Đối với phần giá trị tài sản thuộc sở hữu của các chủ sở hữu chung thì thanh tốn
cho họ phần thuộc sở hữu của họ, nếu các chủ sở hữu chung không đồng ý thì có
quyền u cầu Tịa án giải quyết trong vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.
Đối với phần giá trị tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội thì sau khi phát
mại sẽ ưu tiên thanh tốn các chi phí phát sinh khi phát mại tài sản; tiếp theo là
thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm cho bên nhận thế chấp; phần giá trị còn lại sau
khi trừ ra chi phí phát mại tài sản và thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm cho bên
nhận thế chấp, thì cơ quan thi hành án có thẩm quyền có trách nhiệm tịch thu sung
vào ngân sách nhà nước. Nếu sau khi trừ đi chi phí phát mại tài sản mà giá trị tài sản
thuộc sở hữu của người phạm tội khơng đủ thanh tốn nghĩa vụ được bảo đảm cho
bên nhận thế chấp thì bên nhận thế chấp có quyền u cầu Tịa án giải quyết trong
vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Xử lý vật chứng theo hướng này áp dụng cả
khi hợp đồng thế chấp còn thời hạn hoặc hết thời hạn.
- Trường hợp thứ ba, phương tiện phạm tội là tài sản thế chấp thuộc sở hữu
chung của vợ chồng, nghĩa vụ được bảo đảm của hợp đồng thế chấp là nghĩa vụ
chung của vợ và chồng, hợp đồng thế chấp đúng quy định pháp luật, tài sản thế chấp
còn giá trị sử dụng (hoặc tài sản bị hư hỏng nhưng vẫn xác định được giá trị sử
dụng và có thể phát mại). Do sở hữu chung của vợ chồng thuộc loại sở hữu chung
hợp nhất có thể phân chia12 nên trường hợp này việc định đoạt tài sản phải được
thực hiện theo thỏa thuận của vợ và chồng, nên khi ký kết hợp đồng thế chấp thì
phải có sự ký kết của cả vợ và chồng, nếu chỉ có mỗi vợ hoặc chồng ký kết thì hợp
đồng thế chấp thì không đúng quy định pháp luật và sẽ bị vô hiệu. Do đó, trong
trường hợp này khi người phạm tội sử dụng tài sản thế chấp để làm phương tiện
phạm tội thì vẫn giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền phối
hợp với bên nhận thế chấp và người vợ hoặc người chồng (không phải người phạm
12
Theo Điều 213 BLDS năm 2015.