BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
QUẢNG THỊ KIỀU DIỄM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Định hướng ứng dụng
Mã số 60.38.0103
Người hướng dẫn khoa học : GS -TS Đỗ Văn Đại
Học viên
: Quảng Thị Kiều Diễm
Lớp
: Cao học luật, Kiên Giang Khóa 3
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu khoa học thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS - TS Đỗ Văn Đại.
Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa
từng được cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tơi xin chịu trách nhiệm về nghiên
cứu của mình.
Tác giả
Quảng Thị Kiều Diễm
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ được viết tắt
BLDS năm 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005
BLDS năm 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015
Luật TNBTCNN năm 2009
Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước năm 2009
Luật TNBTCNN năm 2017
Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước năm 2017
Nghị định 68/2018
Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật TNBTCNN 2017
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
THADS
Thi hành án dân sự
TNBTCNN
Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
TNBTTT
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHI TÀI SẢN KHƠNG
CỊN ............................................................................................................................7
1.1. Xác định giá trị tài sản được bồi thường .....................................................7
1.1.1. Quy định pháp luật có liên quan ..............................................................7
1.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật...................................................................10
1.1.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật ..............................................................13
1.2. Thời điểm xác định giá trị tài sản được bồi thường .................................14
1.2.1. Quy định pháp luật .................................................................................14
1.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật...................................................................15
1.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: .............................................................21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................23
CHƯƠNG 2. THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHI TÀI SẢN KHÔNG
ĐƯỢC KHAI THÁC, SỬ DỤNG ..........................................................................24
2.1. Xác định thiệt hại về tài sản khi mất, giảm giá trị khai thác sử dụng
(quy đổi thành tiền).............................................................................................24
2.1.1. Quy định pháp luật .................................................................................24
2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật...................................................................27
2.1.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: .............................................................34
2.2. Thời gian không được khai thác sử dụng tài sản ......................................34
2.2.1. Quy định của pháp luật ..........................................................................34
2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật...................................................................36
2.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: .............................................................38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................39
KẾT LUẬN ..............................................................................................................40
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Định hướng cải cách tư pháp ở nước ta là phải xây dựng cho được hệ thống
Tòa án nhân dân độc lập, chuyên nghiệp, hiện đại, cơng bằng, văn minh, liêm chính,
phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; để Nhân dân cảm thụ công bằng, lẽ phải qua
mỗi phán quyết tư pháp. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi
được thi hành trên thực tế nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và nhà nước, góp phần giữ vững ổn
định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động nhân danh Nhà nước do người thi
hành công vụ thực hiện. Một khi hoạt động đó xâm hại đến tài sản của chủ thể khác
thì phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với tài sản đã bị xâm hại.
Việc bồi thường có thể thơng qua thương lượng hoặc khởi kiện theo thủ tục tố tụng
dân sự. Dù giải quyết theo phương thức nào thì việc nhận thức, xác định gía trị tài
sản bị thiệt hại là vấn đề cơ bản. Trong khi đó, vấn đề bồi thường khi tài sản bị xâm
phạm còn phức tạp vì có nhiều quan điểm khác nhau trong nghiên cứu, cũng như
thực tiễn áp dụng pháp luật về các khoản như: xác định giá trị tài sản, thời điểm xác
định thiệt hại và khoảng thời gian tài sản không được sử dụng cũng như thu nhập bị
mất, bị giảm sút trong thời gian không được sử dụng tài sản và các chi phí khác.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xâm phạm đến tài sản của hoạt động
THADS tuân theo những quy định chung trong các Bộ luật Dân sự các năm 1995,
2005 và được quy định cụ thể Luật TNBTCNN năm 2009. Tuy nhiên, những quy
định trên vẫn mang tính chung chung, trong q trình thực hiện phát sinh nhiều
vướng mắc, bất cập. Nhằm thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013
trong việc bảo vệ quyền con người và những quyền cơ bản của công dân, đồng thời
thống nhất với các bộ luật, luật mới được ban hành như Bộ luật Dân sự năm 2015,
Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015… ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa
XIV, kỳ họp thứ 3 đã thơng qua Luật TNBTCNN năm 2017, có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/7/2018. So với Luật TNBTCNN năm 2009, thì Luật TNBTCNN năm
2017 có nhiều điểm được sửa đổi, bổ sung mới, tiến bộ hơn, đã thể chế hóa được cơ
bản các chủ trương về cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết
2
của Đảng về bảo vệ quyền con người và hướng tới mục tiêu xây dựng thành công
Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (sau đây viết tắt là
Luật TNBTCNN 2017), được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 68/2018/NĐ-CP
ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật TNBTCNN 2017 (sau đây viết tắt là Nghị định 68/2018) là cơ sở cho việc giải
quyết nhiều vụ việc liên quan đến bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm hại trong
hoạt động thi hành án dân sự. Tuy nhiên, một số quy định chưa cụ thể, thiếu hướng
dẫn nên thực tiễn nghiên cứu, áp dụng vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, dẫn
đến không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Từ đó, ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự. Cụ thể, có những vướng mắc, bất cập như sau:
Thứ nhất, những quy định trong việc xác định giá trị thiệt hại tài sản khi tài
sản khơng cịn chung chung, chưa cụ thể, một số trường hợp khó xác định trong
thực tế, dẫn đến thực tiễn xét xử có những quan điểm khác nhau.
Thứ hai, thời điểm để xác định giá trị có ý nghĩa rất lớn, quyết định đến giá
trị tài sản được bồi thường. Tuy nhiên, quy định xác định thời điểm làm căn cứ xác
định thiệt hại tài sản còn chưa cụ thể, nhiều cách xác định khác nhau dẫn đến mỗi
phương thức ra một giá trị tài sản khác nhau, có khi sự chênh lệch này là rất lớn.
Thứ ba, đối với những tài sản bị hư hỏng làm giảm sút, mất giảm giá trị thì
ngun tắc đền bù là chi phí phục hồi hiện trạng. Tuy nhiên, vấn đề quy đổi thiệt hại
khi tài sản bị giảm sút, mất giảm giá trị thành tiền để tính bồi thường được xác định
như thế nào vẫn chưa có hướng dẫn.
Thứ tư, theo quy định thì người có tài sản bị xâm hại được bồi thường trong
khoảng thời gian không được sử dụng, khai thác được tài sản đó. Cách thức xác
định khoảng thời gian này như thế nào thì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Vì những lý do trên, với mong muốn tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu một cách
khoa học các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề, giúp các nhà nghiên cứu,
áp dụng pháp luật và đồng thời giúp cho bản thân có một cách nhìn tồn diện hơn
về vấn đề này trong thực tiễn. Phân tích, chỉ ra một số bất cập và đưa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về
tài sản, tác giả đã chọn đề tài: “Xác định thiệt hại về tài sản được bồi thường trong
hoạt động thi hành án dân sự” để làm Luận văn thạc sĩ.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát, thời gian qua đã có một số cơng trình nghiên cứu khoa học có
liên quan đến đề tài này như sau:
- Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (2018), Pháp luật Việt Nam về trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nxb. Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam. Cơng
trình này có đề cập đến vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong đó có
nêu và phân tích vấn đề thiệt hại về tài sản được bồi thường trong hoạt động thi
hành án dân sự. Tuy nhiên, cơng trình này tập trung làm rõ về lý luận, chưa phân
tích chuyên sâu, cũng như đi sâu phân tích thực tiễn xét xử về nội dung thiệt hại về
tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
- Hoàng Tuấn Tú (2015), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
trong hoạt động thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- Đại học
Quốc gia Hà Nội. Luận văn này có đề cập đến vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, có liên quan đến cơng trình
nghiên cứu. Tuy nhiên, thời gian thực hiện cơng trình này vào năm 2015 hiện nay
những quy định của luật đã có nhiều thay đổi nên khơng cịn phù hợp nữa.
- Ngô Thu Hiền (2017), “Một số vấn đề về xác định thiệt hại được bồi thường
khi tài sản bị xâm hại theo pháp luật Việt Nam” Tạp chí tồ án số 19 năm 2017.
Cơng trình nêu rõ vấn đề bất cập là cần quy định rõ ràng về lãi suất trong bồi
thường thiệt hại khi tài sản bị hư hỏng, xét thấy phần lãi suất cần đưa vào quy định
là cần thiết để đảm bảo lợi ích của các đương sự. Chưa nghiên cứu sâu về vấn đề
thiệt hại về tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
- Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Pháp luật
hợp đồng và Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức- Hội luật gia
Việt Nam. Cơng trình có đề cập đến những quy định của BLDS 2005 về bồi thường
thiệt hại ngồi hợp đồng trong đó có trường hợp bồi thường thiệt hại khi tài sản bị
xâm phạm trong đó có tài sản bị hư hỏng. Tuy nhiên, cơng trình chưa đi sâu phân
tích về vấn đề thiệt hại về tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân
sự cũng như những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn xét xử, từ đó hồn thiện
pháp luật về vấn đề này.
- Hồng Thế Liên (chủ biên): Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005,
Nxb Chính trị Quốc gia, 2013, tập II. Cơng trình có đề cập đến những quy định của
4
BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong đó có trường hợp bồi
thường thiệt hại khi tài sản bị xâm phạm có bình luận những bất cập của quy định
pháp luật về trường hợp tài sản bị xâm phạm. Cơng trình mang tính lý luận cao
nhưng được nghiên cứu, phân tích trên cơ sở pháp luật dân sự năm 2005. Đến nay
có nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung cần được phân tích làm rõ thêm.
Nhìn một cách tổng thể những cơng trình trên có giá trị lý luận, khoa học cao.
Đã phân tích làm rõ nhiều vấn đề về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người
thi hành công vụ gây ra, trong đó có cả hoạt động thi hành án dân sự. Có một số
cơng trình nghiên cứu trên cơ sở pháp luật cũ, đã được sửa đổi bổ sung; một số cơng
trình có phân tích, đánh giá liên quan vấn đề thiệt hại về tài sản được bồi thường
trong hoạt động thi hành án dân sự nhưng chưa chuyên sâu. Những cơng trình này
sẽ là nguồn tài liệu q giá để tác giả nghiên cứu, vận dụng trong quá trình nghiên
cứu, hồn thiện luận văn.
Trước thực trạng tình hình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy sự cần thiết của
việc nghiên cứu một cách toàn diện từ lý luận đến thực tiễn để hoàn thiện các quy
định về thiệt hại được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó
tác giả nghiên cứu đề tài một cách riêng biệt có chiều sâu và tồn diện về tài sản được bồi
thường trong hoạt động thi hành án dân sự. Q trình nghiên cứu có tham khảo, sử dụng
những thành quả nghiên cứu của các cơng trình khoa học đã cơng bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là tác giả muốn làm sáng tỏ những
quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Qua đó kiến nghị các giải pháp đồng bộ
nhằm hoàn thiện các quy định thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi
hành án dân sự.
Để đạt được mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành đối với thiệt hại tài
sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
về thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự thơng qua
việc bình luận các bản án đã xét xử.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam tại Bộ
luật Dân sự năm 2015 (sau đay viết tắt là BLDS 2015), Luật TNBTCNN 2017 và các
văn bản có liên quan về thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án
dân sự; việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn và phương hướng hoàn thiện
những quy định về thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
Phạm vi nghiên cứu: Các khoản thiệt hại được bồi thường do hoạt động thi
hành án dân sự, trong đó có thiệt hại về tài sản được bồi thường là rất rộng… nhưng
trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về thiệt hại được bồi
thường khi tài sản khơng cịn và thiệt hại về tài sản khi không được khai thác sử
dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể LBTTHCNN 2017;
BLDS năm 2015 và các luật khác có liên quan quy định về thiệt hại về tài sản được
bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự bởi trong thực tiễn hiện nay, các
tranh chấp về bồi thường thiệt hại tài sản trong hoạt động thi hành án dân sự là rất
phổ biến, chiếm số lượng lớn trong số các vụ án mà Tòa án thụ lý. Trong phạm vi
nghiên cứu, tác giả phân tích những quy định hiện hành về thiệt hại về tài sản được
bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó, phân tích những bất
cập, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng để từ đó đưa ra
những kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn tác giả đã chọn các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong suốt luận văn để phân
tích các nội dung của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thiệt hại về tài
sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân; đồng thời tác giả còn sử dụng
phương pháp này trong việc phân tích những khó khăn, vướng mắc của việc áp
dụng các quy định của pháp luật hiện hành khi giải quyết các tranh chấp đối với
thiệt hại về tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng trong cả chương 1 và chương 2
để so sánh đối chiếu với các quy định liên quan nhằm làm rõ thêm về những quy
định thiệt hại về tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự; so
sánh pháp luật hiện tại và pháp luật trước đây nhằm làm rõ từng vấn đề bất cập.
6
- Phương pháp bình luận án được tác giả sử dụng chủ yếu trong mục 1.1, 1.2,
2.1, 2.2 để phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật; từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm hồn thiện pháp luật hiện hành.
- Sau cùng là phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để hoàn thành luận
văn trên cơ sở tập hợp các tài liệu đã thu thập được.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn giải quyết vấn đề cơ bản về mặt lý
luận. Đánh giá khách quan, toàn diện về các quy định của pháp luật; phân tích thực
tiễn xét xử về thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
Góp phần hồn thiện các quy định của pháp luật còn vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng về thiệt hại tài sản được bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
Giá trị ứng dụng của đề tài: Luận văn này có thể sử dụng để làm tài liệu tham
khảo cho cơ quan thi hành án dân sự, các Chấp hành viên, Thẩm phán, Thư ký, Luật
sư. Ngồi ra, luận văn cịn có thể sử dụng để học tập, nghiên cứu.
7. Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn bao gồm 02 chương, cụ thể như sau:
Chương 1.Thiệt hại được bồi thường khi tài sản khơng cịn
Chương 2. Thiệt hại được bồi thường khi tài sản không được khai thác sử dụng
7
CHƯƠNG 1
THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHI TÀI SẢN KHÔNG CÒN
Vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường khi tài sản khơng cịn theo Điều
598 BLDS năm 2015, Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước sau đây viết tắt là
(Luật TNBTCNN năm 2017) và Nghị định 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 (Nghị
định 68/2018) đã được quy định khá chi tiết và đầy đủ. Tuy nhiên, hiện nay thực
tiễn xét xử đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc xác định giá trị
tài sản được bồi thường và thời điểm xác định giá trị tài sản được bồi thường. Có
nhiều quan điểm khác nhau giữa các Tòa án địa phương và các cấp Tịa, cịn có
nhiều cách hiểu khác nhau về quy định của luật về vấn đề xác định giá trị tài sản
được bồi thường và thời điểm xác định giá trị tài sản được bồi thường. Từ đó, dẫn
đến nhiều bản án bị hủy sửa, kéo dài và gây khó khăn cho Tòa án cũng như cho
đương sự nên cần phải nghiên cứu một cách toàn diện để hoàn thiện nhằm bảo vệ
quyền lợi chính đáng của các bên đương sự.
Trong chương này, tác giả tập trung phân tích những quy định của pháp luật
về trường hợp thiệt hại được bồi thường khi tài sản khơng cịn trong hoạt động thi
hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam, theo đó tác giả tập trung vào hai trường
hợp phổ biến và có nhiều bất cập nhất hiện nay đó là: Thứ nhất, xác định giá trị tài
sản được bồi thường; Thứ hai, thời điểm xác định giá trị tài sản được bồi thường.
Tác giả nêu lên những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật đồng
thời đưa ra những kiến nghị giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện vấn đề này.
1.1. Xác định giá trị tài sản được bồi thường
1.1.1. Quy định pháp luật có liên quan
Theo quy định của Luật Dân sự 2005 tại Điều 608 và Luật trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nhà nước năm 2009 có sự giống nhau cơ bản về vấn đề xác định
thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Tài sản bị mất, bị phát mại là những tài sản đã khơng tìm thấy hoặc đã thuộc
quyền sở hữu của người khác. Trong trường hợp này căn cứ để xác định thiệt hại
cho tài sản là giá tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ
thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất tại thời điểm giải
quyết bồi thường. Có nghĩa thước đo giá trị cho các tài sản bị phát mại, bị mất là
8
một tài sản khác (vật đo ngang giá) chứ không phải là tài sản đã bị phát mại, đã
mất. Tuy nhiên, phải tính đến mức độ hao mịn của tài sản đã mất, đã phát mại,
điều này thể hiện sự tương đương giá trị sử dụng của tài sản mà mốc thời gian để
đo giá trị tài sản, giá trị hao mòn của loại tài sản này là tại thời điểm giải quyết bồi
thường. Việc quy định như vậy cũng thể hiện sự khách quan trong việc xác định
giá trị tài sản trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường. Nếu chúng ta xác
định mốc thời gian trong quá khứ hoặc giá trị trong quá khứ để đo ngang giá với
các loại tài sản này sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khách quan hay khi xác định mốc
thời gian trong tương tai hoặc một tài sản sẽ hình thành trong tương lai để đo
ngang giá với những tài sản này thì tính khách quan, giá trị tương đương (vật đo
ngang giá) cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quy luật giá trị hàng hóa và ảnh
hưởng đến nguyên tắc khách quan của tài sản trên thị trường trong quá trình giải
quyết bồi thường.
Để xác định thiệt hại đối với tài sản khơng cịn, bị mất, hư hỏng hiện nay luật
khơng quy định cụ thể rõ ràng do đó dẫn đến nhiều quan điểm và có cách hiểu khác
nhau, đáng chú ý có các quan điểm của những chuyên gia nhà hoạt hoạt động thực
tiễn chẳng hạn có ý kiến cho rằng: “Nếu tài sản bị mất, bị hủy hoại thì có thể bồi
thường bằng vật tương đương hoặc bằng tiền tương ứng với tài sản bị mất, bị hủy
hoại. Nếu vật bị hư hỏng thì bồi thường bằng cách tự sửa chữa vật, thuê người khác
sửa chữa hoặc trả chi phí cho người bị thiệt hại tự sửa chữa”1. Về quan điểm này,
tác giả hoàn toàn đồng ý trong việc xác định tài sản hư hỏng khi bị xâm phạm nếu
vật bị hư hỏng thì bồi thường bằng cách tự sửa chữa vật, thuê người khác sửa chữa
hoặc trả chi phí cho người bị thiệt hại tự sửa chữa.
Trong phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thiệt hại tồn tại
khi tài sản bị mất (khoản 1 Điều 589 BLDS năm 2015), đối với Luật TNBTCNN năm
2017, tài sản bị mất không sử dụng được cũng được coi là thiệt hại được bồi thường
(khoản 1 Điều 23). Bên cạnh đó Luật TNBTCNN năm 2017 cịn coi tài sản bị phát
mãi, bị mất là thiệt hại vì người có tài sản khơng thể nhận lại tài sản bị phát mại nên
cũng coi họ có tài sản bị mất. Theo khoản 1 Điều 23 Luật TNBTCNN năm 2017 quy
định: “Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ
vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ
Hồng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia,
tập II, tr.724.
1
9
thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy định
tại khoản 2 Điều 22 của Luật này”. Trước đây Luật TNBTCNN năm 2009 cũng đã
quy định tài sản bị phát mãi là thiệt hại được bồi thường (khoản 1 Điều 45)2.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật TNBTCNN năm 2017 quy định
về trường hợp xác định thiệt hại: “Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính tại
thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường quy định tại Điều 43 của Luật này hoặc
tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị thiệt hại đối với trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều 52 và Điều 55 của Luật này. Trường hợp người yêu cầu bồi
thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại
khoản 2 Điều 52 của Luật này thì giá trị thiệt hại vẫn được tính tại thời điểm thụ lý
hồ sơ yêu cầu bồi thường trước đó”.
Để xác định mức bồi thường chúng ta phải xác định được thực trạng tài sản
bị phát mại, bị mất khi không sử dụng được.
Ở đây, Luật TNBTCNN năm 2017, yêu cầu xem xét “mức độ hao mòn của
tài sản” và Nghị định 68/2018 theo hướng “mức độ hao mòn của tài sản quy định tại
khoản 1 Điều 23 Luật TNBTCNN năm 2017 được xác định theo quy định của pháp
luật về quản lý, sử dụng, trích khấu hao tài sản cố định”. Thực ra, khi xác định giá
trị tài sản chúng ta phải lưu ý tới việc tài sản này mới hay đã sử dụng, và khi đã sử
dụng rồi thì chỉ tính giá trị của tài sản sau khi sử dụng. Khi xem xét thực trạng tài
sản bị mất, phát mãi, hư hỏng, khi không sử dụng được chúng ta cũng cần quan tâm
tới thời điểm xác định. Ở đây, khoản 1 Điều 23 Luật TNBTCNN năm 2017 theo
hướng hướng “thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính bồi thường
thiệt hại là thời điểm thiệt hại xảy ra”. Tuy nhiên, “thời điểm thiệt hại xảy ra” là
khái niệm chưa rõ và Nghị định 68/2018 xác định đó là “ngày phát sinh thiệt hại
thực tế” (khoản 7 Điều 3)3.
Thị trường để xác định giá trị: So với quy định chung về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Luật TNBTCNN năm 2017 đi xa hơn với quy định cho biết cách
thức xác định giá trị tài sản bị mất hay coi như bị mất, không sử dụng được tài sản.
Trước đây, theo khoản 1 Điều 45 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định về
thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, theo đó: “1. Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị
Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (Chủ biên) (2018), Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước, Nxb. Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, tr.178.
3
Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (Chủ biên) (2018), tlđd (2), tr.181.
2
10
mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc
tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị
phát mại, bị mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường”. Hiện nay,
khoản 1 Điều 23 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định: “Trường hợp tài sản đã bị
phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản
cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ
hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của
Luật này”. Liên quan đến thị trường, khoản 1 Điều 3 Nghị định áp dụng năm 2018
hướng dẫn “Giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng,
tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và chất lượng trên thị trường quy định tại Khoản 1
Điều 23 của Luật là giá giao dịch phổ biến trung bình trên thị trường của 03 tài sản
đó do 03 cơ sở kinh doanh khác nhau trên thị trường cung cấp”, ở đây theo hướng
“là giá giao dịch phổ biến trung bình trên thị trường cung cấp”, đi xa hơn vấn đề
Nghị định 68/2018 cũng đã xác định “Thị trường quy định tại Khoản 1 Điều 23 của
Luật là thị trường trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây
gọi là thị trường cấp huyện) nơi phát sinh thiệt hại thực tế”.
1.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật
Cả Luật TNBTCNN năm 2017 và Nghị định 68/2018 đều không quy định rõ
cách thức cũng như chi tiết việc xác định giá trị tài sản được bồi thường, so sánh với
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong dân sự cũng khơng quy định rõ. Trong
khi đó, như đã phân tích tác giả nhận thấy để tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc
xác định “giá trị tài sản được bồi thường” trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại
về tài sản trong hoạt động thi hành án dân sự, tác giả cho rằng cần sớm ban hành
Nghị quyết mới, Nghị quyết mới cần tập trung làm rõ xác định “giá trị tài sản được
bồi thường”. Có thể hướng dẫn cách xác định giá trị tài sản được bồi thường theo
kết quả của cơ quan chuyên môn thẩm định giá trị tài sản sản do Tòa án trưng cầu
theo một trình tự thủ tục tố tụng để xác định rõ giá trị tài sản bị mất, phát mãi,
khơng sử dụng được, hướng dẫn này sẽ giúp Tịa án thống nhất trong thực tiễn xét
xử và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Hiện nay, trong thực tiễn xét xử đặt ra vấn đề là xác định tình trạng tài sản để
xác định giá trị tài sản yêu cầu bồi thường.
Ngoài ra, qua nghiên cứu một số bản án tác giả nhận thấy, trong thực tiễn xét
xử tại Tồ án vẫn cịn một số tồn tại sau:
11
Thứ nhất, Giá được xác định dựa vào giá thị trường của tài sản cùng loại
hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn
của tài sản trên thị trường tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường.Vấn đề đặt
ra là xác định vào giá thị trường như thế nào? Tịa án có thể dựa vào căn cứ là hóa
đơn, chứng từ thực tế? Căn cứ vào chứng thư định giá của tổ chức thẩm định giá?
Hay áp dụng khung giá của Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành lập hội đồng định giá
trong tố tụng dân sự. Trong một số trường hợp, Toà án chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường căn cứ vào kết quả thẩm định giá tài sản giá của cơ quan định giá.
Thứ hai, trường hợp các bên đương sự đạt được thỏa thuận thì chúng ta có
nên theo giá trị mà các bên đã được thỏa thuận hay khơng?
Ngồi ra, hiện nay một số Tịa án xác định mức bồi thường thiệt hại theo hóa
đơn, chứng từ. Tuy nhiên, đây là xác định tài sản ở trạng thái tài sản mới, trong khi
đó tài sản khi bị gây thiệt hại đã được sử dụng nên khơng cịn trạng thái mới nữa,
giá trị khơng cịn như ban đầu. Trong trường hợp này, cần xác định giá trị của tài
sản bị thiệt hại ở trạng thái đang có ở thời điểm không sử dụng tài sản (nên thấp hơn
giá trị ở tình trạng mới).4
Để hiểu rõ vấn đề tác giả xin đưa ra ví dụ minh họa như sau:
Ví dụ: Vụ án xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2020/TLPT-DS
ngày 29 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về tài sản”,
giữa nguyên đơn: Bà Đào Thị T, sinh năm 1973 với bị đơn: Chi cục Thi hành án
dân sự huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.
Nội dung vụ án: Xuất phát từ việc Chi cục thi hành án dân sự huyện LH
không bàn giao được tài sản mua trúng đấu giá cho bà Đào Thị T là diện tích
5.530m2 đất thuộc thửa số 201 và 125 tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại thôn Tân Đức, xã
Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cùng toàn bộ tài sản trên đất do kết quả bán
đấu giá bị huỷ nên bà T yêu cầu Toà án buộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH
phải thanh toán lại giá trị tài sản theo giá thị trường tại thời điểm Toà án xét xử. Chi
cục Thi hành án dân sự huyện LH đồng ý bồi thường cho bà T nhưng không thoả
thuận được phương án bồi thường nên các bên phát sinh tranh chấp5.
4
5
Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (Chủ biên) (2018), tlđd (2), tr.182.
Bản án số 89/2020/DS-PT ngày 30/7/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
12
Nhận xét:
Quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DSST ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử: Chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà Đào Thị T về việc: “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về tài
sản” với Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH, tỉnhLâm Đồng. Buộc Chi cục Thi
hành án dân sự huyện LH, tỉnh Lâm Đồng phải bồi thường cho bà Đào Thị T số tiền
là 3.674.570.000đ.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai
đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên tồ hơm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã
chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm đề
nghị: Không chấp nhận kháng cáo của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH. Căn
cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Chi cục thi hành án dân sự: Ngày 27/5/2020 bị đơn Chi cục
Thi hành án dân sự huyện LH có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm căn cứ
khung giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành để làm cơ sở tính toán, xác
định thiệt hại của bà Đào Thị T.
Quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm: Cấp phúc thẩm đã nhận định việc
bà T mua trúng tài sản bán đấu giá ngày 17/10/2005 là ngay tình và bà đã nộp đủ
tiền tương ứng với giá trị tài sản tại thời điểm mua năm 2005. Kết quả bán đấu
giá tài sản bị hủy là do lỗi của Chi cụcThi hành án dân sự huyện LH, dẫn đến bà
T bị thiệt hại. Do đó, “Tồ án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào kết quả thẩm định giá
tài sản” tại thời điểm tranh chấp để xác định giá trị bồi thường cho bà T là có
căn cứ. Vì vậy, khơng có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Quan điểm của tác giả: Tác giả đồng ý với quan điểm với cấp sơ thẩm và cấp
phúc thẩm đã căn cứ vào kết quả thẩm định giá tài sản tại thời điểm tranh chấp để
xác định giá trị bồi thường cho bà T. Không đồng ý với quan điểm của Chi cục thi
hành án dân sự về việc đề nghị cấp phúc thẩm căn cứ khung giá do Uỷ ban nhân
dân tỉnh Lâm Đồng ban hành để làm cơ sở tính tốn, xác định thiệt hại của bà Đào
Thị T, vì khung giá do Uỷ ban nhân dân ban hành sẽ bất lợi cho bà T trong việc xác
định giá trị sẽ thấp hơn gây thiệt hại cho bà T. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác
13
giả, nếu căn cứ vào kết quả thẩm định giá tài sản tại thời điểm tranh chấp để xác
định giá trị bồi thường cho bà T thì chỉ mang tính chất tương đối cũng chưa thật sự
thuyệt phục, vì tổ chức thẩm định giá theo yêu cầu của đương sự sẽ không thật sự
vô tư khách quan khi đưa ra mức giá vì chính đương sự là người phải bỏ tiền ra thuê
và hiện nay vấn đề thuê tổ chức thẩm định giá tư nhân cũng xuất hiện bất cập. Theo
tác giả, để thật sự khách quan nên thành lập Hội đồng định giá của cơ quan chuyên
môn trong tố tụng dân sự xác định giá trị thiệt hại sẽ chính xác hơn. Chúng ta chỉ sử
dụng chứng thư thẩm định giá khi các đương sự thống nhất với chứng thư và không
yêu cầu định giá lại.
Đi xa hơn vấn đề, tác giả cũng dự báo nếu trong trường hợp bị đơn bất hợp
tác trong quá trình định giá và xác định thiệt hại hoặc không thể xác định được giá
trị thiệt hại thì coi như từ bỏ quyền lợi của mình được pháp luật bảo vệ và trong
trường hợp này Tòa án đã căn cứ vào chứng cứ khác để buộc chấp nhận bồi thường
là thuyết phục.
1.1.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Tác giả kiến nghị Bộ Tư pháp nên ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết Nghị
định 68/2018 về việc xác định giá trị thiệt hại là tài sản theo hướng như sau:
Thứ nhất, Trong trường hợp để xác định giá trị tài sản thiệt hại cần thành lập
Hội đồng định giá của cơ quan chuyên môn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự để xác định giá trị thiệt hại. Chúng ta chỉ sử dụng chứng thư thẩm định giá khi
các đương sự thống nhất với chứng thư và không yêu cầu định giá lại. Khơng sử
dụng hóa đơn chứng từ để xác định giá trị thiệt hại tài sản vì đây là xác định tài sản
ở trạng thái tài sản mới, trong khi đó tài sản lúc bị gây thiệt hại đã được sử dụng nên
khơng cịn trạng thái mới nữa, giá trị khơng cịn như ban đầu.
Thứ hai, Theo tác giả trong nhiều trường hợp này, để xác định chính xác mức
bồi thường, đáng lẽ Toà án phải yêu cầu cơ quan chuyên môn thẩm định xác định rõ
giá trị tài sản bị mất, phát mãi, không sử dụng được. Nếu như đương sự khơng hợp
tác thì Tịa án khơng thể tiến hành trưng cầu cơ quan chuyên môn thực hiện được và
trong trường hợp này Tịa án có thể xác minh thu thập chứng cứ khác để giải quyết
vụ án là hoàn toàn phù hợp.
Thứ ba, Nếu như các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận thì chúng ta có nên
theo giá trị mà các bên đã được thỏa thuận như vậy sẽ hợp lý hơn.
14
1.2. Thời điểm xác định giá trị tài sản được bồi thường
1.2.1. Quy định pháp luật
Theo quy định Điều 589 BLDS 2015 quy định thiệt hại do tài sản bị xâm
phạm bao gồm: “Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với
việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lý để ngăn chặn,
hạn chế và khắc phục thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định”. Với quy định này
thì “Tài sản bị hư hỏng” là một loại thiệt hại khi tài sản bị xâm phạm. BLDS năm
2015 để “tài sản bị hư hỏng” bên cạnh “tài sản bị hủy hoại”, “bị mất” và khơng có
sự phân biệt. Thật ra, việc phân biệt “hư hỏng”, “hủy hoại” và “mất” đôi khi cần
thiết về mặt nhận thức. Nếu tài sản bị hư hỏng thì chúng ta có thể sửa chữa, khắc
phục. Ngược lại, nếu tài sản bị hủy hoại, bị mất thì chúng ta khơng thể sửa chữa,
khắc phục và buộc phải thay thế hay thanh toán khoản tiền tương ứng với tài sản bị
hủy hoại6. “Nếu tài sản bị mất, bị hủy hoại thì có thể bồi thường bằng vật tương
đương hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị tài sản bị mất, bị hủy hoại. Nếu là vật bị
hư hỏng thì bồi thường bằng cách tự sửa chữa vật, thuê người khác sửa chữa hoặc
trả chi phí cho người bị thiệt hại tự sửa chữa vật”7.
Giá trị của tài sản trên thị trường biến động theo thời gian nên việc xác định
giá trị của tài sản ở thời điểm nào cũng rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến mức
bồi thường. Về vấn đề này, điều khoản vừa nêu trong Luật TNBTCNN năm 2009, theo
hướng giá trị tài sản được xác định “tại thời điểm giải quyết bồi thường” (Điều 45).
Theo quy định tại Điều 23 Luật TNBTCNN năm 2017 Thiệt hại do tài sản bị
xâm phạm: “1. Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác
định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng,
tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời
điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này. Thời điểm để xác định hiện trạng
tài sản làm căn cứ tính mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra”.
Về thời điểm xác định giá trị tài sản, quy định trên trong Luật TNBTCNN
năm 2017 theo thời điểm được quy định tại khoản 2 Điều 22, tức “Giá trị thiệt hại
được bồi thường được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường quy định
tại Điều 43 của Luật này hoặc tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị
Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Luật bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng Việt Nam Bản án và Bình luận bản án,
Nxb. Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, 2018, tr.452-453.
7
Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), tlđd (1), tr.724.
6
15
thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 và Điều 55 của Luật này.
Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu
bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này thì giá trị thiệt hại vẫn
được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ u cầu bồi thường trước đó”.
Cịn theo quy định tại Điều 52 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về việc
khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án: “1. Trong thời hạn 03
năm kể từ ngày nhậnđược văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu
bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong
các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu bồi thường chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người
thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 51 của Luật này.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi
thường quy định tại Điều 47 của Luật này mà người yêu cầu bồi thường khơng đồng
ý với quyết định đó hoặc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành quy
định tại khoản 7 Điều 46 của Luật này mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành
công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc kể từ ngày có
biên bản kết quả thương lượng không thành quy định tại khoản 7 Điều 46 của Luật
này thì có quyền khởi kiện u cầu Tịa án giải quyết yêu cầu bồi thường”.
Những nội dung đã được sửa đổi trong Luật TNBTCNN năm 2017 là cụ thể,
rõ ràng hơn nhưng có điểm chưa thuyết phục. Bởi lẽ, từ thời điểm thụ lý đến thời
điểm người bị thiệt hại nhận được tiền bồi thường thì khoảng thời gian này thường
rất dài và giá cả thường có biến động do tiền mất giá, có lẽ sẽ là thuyết phục khi
chúng ta tính thêm tiền lãi chậm thanh tốn đối với giai đoạn từ thời điểm thụ lý đến
thời điểm nhận tiền bồi thường8.
1.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật
Hiện nay vấn đề xác định giá trị tài sản được bồi thường vẫn cịn có nhiều
quan điểm và cách hiểu khác nhau, dẫn đến mỗi nơi, mỗi Tòa án áp dụng khác nhau
dẫn đến không thống nhất trong thực tiễn xét xử. Có nơi, Tịa án xác định: thời điểm
xác định giá trị tài sản được bồi thường tại “thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi
8
Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (Chủ biên) (2018), tlđd (2), tr.185.
16
thường” có nơi Tịa án lại xác định vào “thời điểm tranh chấp”, rõ ràng hai khoảng
thời gian này là hoàn toàn khác nhau. Để hiểu rõ hơn thực tiễn áp dụng pháp luật về
trường hợp xác định thời điểm xác định giá trị tài sản được bồi thường tác giả xin
diện vẫn vụ án sau:
Ví dụ 1: Bản án số: 89/2020/DS-PT ngày 30/7/2020 của Toà án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng, về việc: “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về tài sản”, đã viện
dẫn ở mục 1.1.2.
Theo nội dung vụ án: Chi cục thi hành án dân sự huyện LH không bàn giao
được tài sản mua trúng đấu giá cho bà Đào Thị T là diện tích 5.530m2 đất thuộc
thửa số 201 và 125 tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại thôn Tân Đức, xã Tân Hà, huyện
Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cùng toàn bộ tài sản trên đất do kết quả bán đấu giá bị huỷ
nên bà T yêu cầu Toà án buộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH phải thanh
toán lại giá trị tài sản theo giá thị trường tại thời điểm Toà án xét xử.
Nhận xét: Trong vụ án này quan điểm giải quyết vụ án như sau: Xét
kháng cáo của bị đơn Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH thì thấy rằng việc
bồi thường cho bà T được thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước ngày 20 tháng 6 năm 2017. Cụ thể, tại Điều 22 quy định
“Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu
bồi thường quy định tại Điều 43 của Luật này hoặc tại thời điểm Tòa án cấp sơ
thẩm xác định giá trị thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52
và Điều 55 của Luật này. Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của
Luật này thì giá trị thiệt hại vẫn được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi
thường trước đó”. Việc bà T mua trúng tài sản bán đấu giá ngày 17/10/2005 là
ngay tình và bà đã nộp đủ tiền tương ứng với giá trị tài sản tại thời điểm mua
năm 2005. Kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy là do lỗi của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện LH, dẫn đến bà T bị thiệt hại. Do đó, Tồ án cấp sơ thẩm đã căn cứ
vào kết quả thẩm định giá tài sản tại thời điểm tranh chấp để xác định giá trị bồi
thường cho bà T là có căn cứ.
Quan điểm tác giả: Tác giả cho rằng cả hai cấp Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa
án cấp phúc thẩm cụ đã căn cứ vào kết quả thẩm định giá tài sản tại “thời điểm
tranh chấp” để xác định giá trị bồi thường là chưa phù hợp, không đúng với tinh
thần của văn bản hướng dẫn xác định “Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính
17
tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường”. Tác giả cho rằng, “thời điểm thụ lý
hồ sơ yêu cầu bồi thường” và “thời điểm tranh chấp” là hai khoảng thời gian là
hoàn toàn khác nhau về xác định thời điểm tính giá trị thiệt hại được bồi thường.
Như vậy, việc bồi thường thiệt hại được xác định căn cứ vào thời điểm thụ lý hồ
sơ yêu cầu bồi thường và quan điểm này cũng cần được ghi nhận chấp nhận trong
thực tiễn xét xử.
Tác giả xin đưa thêm ví dụ về xác định thời điểm tính giá trị thiệt hại được
bồi thường khi tài sản khơng cịn như sau:
Ví dụ 2: Vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong hoạt động thi hành
án dân sự” của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữa các đương sự: Nguyên đơn
ông Vũ Đức Liêm với bị đơn Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh
Đồng Nai.
Nội dung vụ án: Việc bán đấu giá lần hai không tổ chức định giá lại mà lấy
giá lần một để tổ chức bán đấu giá tài sảnn là sai với Nghị định 69/CP ngày
18/10/1993; khi kê biên Đội thi hành án không áp dụng điều 29 và 34 để hướng dẫn
đương sự khởi kiện ra Tòa án để phân chia tài sản ngay mà mãi đến ngày 21/5/1996
và ngày 01/7/1996 mới hướng dẫn là quá chậm. Khi bán đấu giá tài sản khơng trả
lại giá trị ½ tài sản cho ông Liêm mà chia cho các đương sự được thi hành án phần
tài sản của bà Dung là sai. Đồng thời, bản án hình sự phúc thẩm số 13/2010/HS-PT
ngày 19/01/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao, tại TP. Hồ Chí Minh
đã nhận định: Khi tổ chức thi hành án đối với bà Phạm Thị Dung, ông Chất và ông
San đã không xem xét giải quyết khiếu nại, không thông báo cho đương sự biết việc
định giá, bán đấuu giá tài sản và không định giá tại nơi có tài sản; sau khi bán đấu
giá lần hai không cho định giá lại tài sản. Hậu quả là việc thi hành án chưa giải
quyết dứt điểm. Bản án hình sự phúc thẩm này đã quyết định xử phạt ông Chất và
ông San về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và bản này đã có
hiệu lực thi hành. Do đó có đủ căn cứ xác định việc chấp hành viên của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Trảng Bom tổ chức bán đấu giá tài sản và thi hành án không
đúng quy định của pháp luât, gây thiệt hại về tài sản cho ơng Liêm9.
Bình luận:
Quan điểm của Tịa án cấp sơ thẩm: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường giá trị tài sản cho nguyên đơn. Quan
9
Bản án phúc thẩm số 81/2013/DS-PT ngày 06/5/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
18
điểm của Tòa án cấp phúc thẩm: Cấp phúc thẩm đã nhận định về thiệt hại xảy ra:
Quyền sử dụng đất thửa số 83, tờ bản đồ số 28 ở xã Bắc Sơn, huyện Thống Nhất
(hay là huyện Trảng Bom) và tài sản trên đất tại thời điểm năm 1997 là sản chung
của vợ chồng ông Vũ Đức Liêm và bà Phạm Thị Dung, nên 1/2 giá trị tài sản nêu
trên là của ông Liêm. Theo quy định tại Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của
nhà nước và Điều 8 của Thơng tư số 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011 thì
thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản
có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn, của tài sản đã bị phát
mãi hoặc mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường, nên chênh lệch giá
nhà đất tại thời điểm bán đấu giá với thời điểm định giá tài sàn là thiệt hại toàn bộ
thiệt hại gây ra.
Tại thời điểm giải quyết bồi thường, theo biên bản định giá ngày 04/5/2012
(bút lục 128, 129) thì “giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là 4.786.636.200
đồng, nên phần giá trị tài sản của ông Liêm 2.393.318.100 đồng”. Đồng thời, sau
khi bị kê biên tài sản để thi hành án, ông Liêm và các con khơng có chỗ ở phải ở
nhờ nhà mẹ ơng Liêm, nên ông Liêm yêu cầu tiền thuê nhà từ khi bị kê biên tài sản
đến khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm chấp nhận 178.000.000 đồng là có căn cứ. Như
vậy, tổng thiệt hại về tài sản của ông Liêm là 2.571.318.100 đồng.
Quan điểm của tác giả: Tác giả đồng ý với quan điểm của các cấp tòa
trong trường hợp này. Như vậy, tài sản bị phát mãi cũng là một dạng thiệt hại và
cũng phải bồi thường. Theo Tịa án giá trị về tài sản của ơng Liêm ở thời điểm
bán đấu giá năm 1997 là 76.000.000 đồng nhưng ở thời điểm giải quyết bồi
thường năm 2012 là 2.3 tỷ đồng và Tòa án đã xác định giá trị bồi thường theo giá
trị hiện tại của tài sản: Theo Tòa án, “Theo kết quả định giá tài sản tổng giá trị
tài sản chung của của bà Dung và ông Liêm là khoảng 4.786.200 đồng. Như vây,
Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom có nghĩa vụ bồi thường số tài sản
trên là có căn cứ”.
Về vần đề này có quan điểm của các chuyên gia cũng có ý kiến10: Giá trị thiệt
hại được bồi thường được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường là
khơng hợp lý vì từ thời điểm thụ lý đến thời điểm người bị thiệt hại nhận được tiền
bồi thường thì khoảng thời gian này thường rất dài và giá cả thường có biến động
do tiền mất giá, và có nhiều quan điểm cho rằng sẽ hợp lý hơn nếu tính thêm tiền lãi
10
Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (Chủ biên) (2018), tlđd (2), tr.185.
19
chậm thanh toán. Tác giả cho rằng quan điểm này là hợp lý vì thời gian yêu cầu giải
quyết bồi thường và thời điểm xét xử vụ án cũng như đến khi người yêu cầu nhận
được khoảng tiền bồi thường sẽ rất lâu, sẽ có nhiều biến động. Tuy nhiên, tác giả
cho rằng khi Tòa án ra bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật thì người được thi
hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án khơng trả số tiền
nêu trên thì cịn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian
chậm thi hành án. Do đó, việc tính thêm tiền lãi chậm trả là đương nhiên và hợp lý.
Theo tác giả, trong trường hợp giá cả có sự biến động mạnh thì có thể cho phép
người u cầu bồi thường thiệt hại có quyền u cầu tính giá trị thiệt hại được bồi
thường được tính tại thời điểm xét xử trước khi Tòa án ra bản án. Thiết nghĩ, trong
thời gian tới rất cần có văn bản hướng dẫn về vấn đề này.
Ví dụ 3: Bản án phúc thẩm số 44/2019/DS- PT ngày 24 tháng 10 năm 2019
về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của nhà
nước”, giữa nguyên đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 với bị đơn: Chi cục
Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nội dung vụ án: Ông H cho rằng Chấp hành viên - Chi cục thi hành án dân
sự huyện T đã ra quyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản của người phải thi hành
án là ông K dẫn đến việc ông K đã rút hết tiền trong tài khoản làm ảnh hưởng đến
quyền lợi được Thi hành án của ông H. Không đồng ý với Quyết định của Chấp
hành viên, ông H đã khiếu nại yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện T bồi
thường nhưng không được chấp nhận nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chi
cục Thi hành án dân sự huyện T phải bồi thường thiệt hạ cho ông theo Luật trách
nhiệm bồi thường của nhà nước. Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đồng ý bồi
thường cho ông H nhưng không đưa ra cách tính thiệt hại, đề nghị HĐXX tính tốn
ở mức tương đối11.
Bình luận:
Quan điểm của Tịa án cấp sơ thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2019/DSST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã xử: Đình chỉ giải quyết u cầu
của ơng H buộc bị đơn phải trả tiền tổn thất tinh thần là 30 tháng lương x 1.390.000
đồng/tháng bằng 41.700.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H
buộc bị đơn phải bồi thường cho vợ chồng ông số tiền 484.850.000 đồng. Cấp sơ
11
Bản án số 44/2019/DS-PT ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
20
thẩm xác định quyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản không gây bất kỳ thiệt hại
nào cho nguyên đơn12.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hải Dương nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Từ
khi thụ lý vụ án, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, thư ký và các đương sự tham gia phiên tòa tuân thủ đúng quy định
của pháp luật tố tụng. Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX không chấp
nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm và quyết định về nghĩa vụ chịu án phí
theo quy định.
Quan điểm của Chi cục thi hành án dân sự huyện T: Đề nghị HĐXX giữ
nguyên bản án sơ thẩm. Chi cục THADS huyện T cho rằng ông H yêu cầu bồi
thường tiền đi lại trong 20 ngày là nhiều. Ông T xác định ông H đến Chi cục
THADS huyện T làm việc theo giấy báo 07 lần, còn một số lần ông H tự đến nộp
đơn, cung cấp tài liệu và làm việc các cơ quan khác nên không xác định được số
ngày cụ thể, đề nghị HĐXX tính tốn ở mức tương đối13.
Quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm: Cấp phúc thẩm đã nhận định về việc
xác định thiệt hại: Nguyên đơn tại giai đoạn sơ thẩm và kháng cáo chỉ đề nghị bồi
thường ba khoản: Đi lại, mất thu nhập và thiệt hại về tài sản.
Mặc dù Chấp hành viên ban hành Quyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản
thiếu căn cứ và ông H, bà M không được thi hành khoản tiền 967.940.000đ nhưng
ông H, bà M không bị mất khoản tiền trên; ông H bà M vẫn có quyền yêu cầu Cơ
quan thi hành án buộc ông K, bà G phải trả 967.940.000 đồng. Trong trường hợp
ông K, bà G chậm thi hành án, ông H, bà M cịn có quyền u cầu ơng K, bà G
phải chịu lãi suất chậm thi hành án tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi
hành. Thực tế trong vụ án này do không được thi hành án nên ông H phải vay nợ
với lãi suất cao hơn lãi suất nợ quá hạn và khoản chênh lệch giữa hai lãi suất là
thiệt hại của ông H14.
Vấn đề đặt ra cần xác định nếu Chi cục THADS huyện T khơng chấm dứt
phong tỏa tài khoản thì ơng H được thi hành là bao nhiêu trong khi khoản tiền
850.000.000đ là tiền bà G được bồi thường do oan sai, phải khấu trừ khoản tiền cho
Bản án số 44/2019/DS-PT ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Bản án số 44/2019/DS-PT ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
14
Bản án số 44/2019/DS-PT ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
12
13