BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ HƢƠNG
ĐẶC ĐIỂM THƠ NÔM TỨ TUYỆT
CỦA HỒ XUÂN HƢƠNG.
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ NGUYỆT TRINH
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan trên đây là tồn bộ cơng trình nghiên cứu của cá nhân
tơi. Tất cả hệ thống số liệu đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là hoàn
toàn trung thực. Các kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công
bố tại bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Thị Nguyệt Trinh - ngƣời đã tận tình
hƣớng dẫn, đóng góp những ý kiến q báu giúp tơi hồn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Khoa học xã hội và nhân văn,
Phòng Sau đại học Trƣờng Đại học Quy Nhơn đã quan tâm, tạo mọi điều kiện cho
tơi trong suốt q trình thực hiện luận văn.
Xin đƣợc gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, cơ quan, đồng nghiệp, những ngƣời
ln động viên, khuyến khích, giúp đỡ tơi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 10
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 11
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 12
7. Cấu trúc luận văn ..................................................................................... 12
Chƣơng 1. HỒ XUÂN HƢƠNG VÀ THỂ LOẠI THƠ NÔM TỨ
TUYỆT TRONG VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM ................................ 14
1.1. Hồ Xuân Hƣơng – Tác gia Hán Nôm “đặc biệt” của văn học
Việt Nam
14
1.1.1. Hồ Xuân Hƣơng – Đối tƣợng của nhiều cuộc tranh luận trong
nghiên cứu văn học Việt Nam .................................................................. 14
1.12. Hồ Xuân Hƣơng – tác gia đa phong cách trong văn học cổ điển
Việt Nam .................................................................................................. 17
1.2. Thơ tứ tuyệt – Khái niệm và đặc trƣng................................................. 20
1.2.1. Khái niệm thơ tứ tuyệt và thơ Nôm tứ tuyệt .................................. 20
1.2.2. Một số đặc trƣng thơ tứ tuyệt trong văn học cổ điển Việt Nam .... 25
1.3. Thể loại thơ Nôm tứ tuyệt trong tiến trình học cổ điển Việt Nam ....... 30
1.3.1. Vấn đề Việt hoá thể thơ tứ tuyệt trong văn học cổ điển Việt Nam 30
1.3.2. Quá trình vận động của thể thơ Nôm tứ tuyệt ................................ 33
Tiểu kết chƣơng 1. ....................................................................................... 37
Chƣơng 2. THƠ NÔM TỨ TUYỆT HỒ XUÂN HƢƠNG - NHÌN TỪ
PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG....................................................................... 38
2.1. Ảnh hƣởng của văn hoá dân gian và tinh thần đối thoại với văn hố
bác học trong thơ Nơm tứ tuyệt Hồ Xn Hƣơng ....................................... 38
2.1.1. Những ảnh hƣởng của văn hoá dân gian ........................................ 38
2.1.2. Tinh thần đối thoại với văn hoá bác học ........................................ 43
2.2. Hệ thống chủ đề trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng .................. 49
2.2.1 Chủ đề về thân phận ngƣời phụ nữ ................................................. 49
2.2.2. Chủ đề về ngƣời quân tử - Nho sĩ .................................................. 54
2.2.3. Chủ đề về Phật giáo ........................................................................ 57
2.3. Thơ Nôm tứ tuyệt với sự thể hiện phong cách Hồ Xuân Hƣơng ......... 61
2.3.1. Thơ Nơm tứ tuyệt với sự thể hiện cá tính Hồ Xuân Hƣơng .......... 61
2.3.2. Thơ Nôm tứ tuyệt với sự thể hiện con ngƣời nhân văn
Hồ Xuân Hƣơng ....................................................................................... 66
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................ 70
Chƣơng 3. THƠ NÔM TỨ TUYỆT HỒ XUÂN HƢƠNG – NHÌN TỪ
PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN ..................................................................... 72
3.1. Cấu trúc thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng ........................................ 72
3.3.1. Niêm luật và kết cấu trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng .... 72
3.3.2. Vần đối và nhịp điệu trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng .... 76
3.2. Giọng điệu nghệ thuật trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng......... 80
3.2.1. Giọng điệu tự sự trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng ........... 80
3.2.1. Giọng điệu trữ tình trong thơ Nơm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng ....... 84
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng .......... 86
3.3.1. Sự độc đáo, tinh luyện trong ngôn ngữ thơ Nôm tứ tuyệt
Hồ Xuân Hƣơng ....................................................................................... 86
3.3.2. Ngôn ngữ nhục cảm trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng ..... 89
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 91
KẾT LUẬN .................................................................................................... 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 95
QUYẾT ĐỊNH GIAO TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là thời kỳ phát triển rực
rỡ của văn học trung đại Việt Nam, gắn liền với nhiều tác gia nổi tiếng nhƣ
Nguyễn Du, Đồn Thị Điểm, Nguyễn Cơng Trứ, Bà huyện Thanh Quan,
Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng,... Trong số đó, Hồ Xuân Hƣơng nổi bật lên với
tƣ cách là một nữ sĩ giàu cá tính cả ngồi đời lẫn trong thơ ca. Tuy số lƣợng
sáng tác không nhiều nhƣng Hồ Xuân Hƣơng chinh phục mạnh mẽ công
chúng đƣơng thời cũng nhƣ sau này. Trong tiến trình lịch sử phát triển của thơ
cổ điển Việt Nam, Hồ Xuân Hƣơng là hiện tƣợng độc đáo vô tiền khống hậu,
đƣợc mệnh danh là Bà chúa thơ Nơm. Mỗi một tác phẩm thơ của bà đều mang
đến cho ngƣời đọc những thông điệp độc đáo, ý nghĩa không chỉ về đời sống
hiện thực mà còn thể hiện những vấn đề liên quan đến thân phận con ngƣời.
Vì lẽ đó, thơ Nơm tứ tuyệt của Hồ Xn Hƣơng ln thu hút sự quan tâm của
các giới nghiên cứu, là đề tài có tính thời sự, đầy hứng thú đối với bạn đọc
trong và ngồi nƣớc.
Từ nhiều góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận thế giới
nghệ thuật Hồ Xuân Hƣơng với tƣ cách là một bức tranh nghệ thuật đa dạng,
phức điệu. Những kiến giải mới và hấp dẫn về hiện tƣợng đặc biệt này sẽ trở
thành những cơ sở cho q trình hồn thiện hố hồ sơ nghiên cứu về một tác
gia tiêu biểu của văn học Hán Nôm Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tế tiếp
nhận, các nội dung nghiên cứu truyền thống vẫn còn là những hƣớng đi minh
định giá trị văn chƣơng của nữ sĩ. Nhất là những nội dung liên quan đến vấn
đề thể loại và phong cách ngôn ngữ.
Là một tác gia lớn trong chƣơng trình Ngữ văn ở nhà trƣờng, những nghi
vấn xoay quanh tiểu sử, văn bản và giá trị thơ Hồ Xuân Hƣơng khiến cho giáo
viên, học sinh gặp khơng ít khó khăn trong q trình dạy và học. Do đó, nghiên
2
cứu tác giả, tác phẩm của Hồ Xuân Hƣơng dù ở mức độ nào cũng là một việc
làm cần thiết. Là giáo viên giảng dạy Ngữ văn, với tình cảm trân trọng tài năng
và tâm hồn của nữ sĩ Hồ Xn Hƣơng, chúng tơi mong muốn đóng góp thêm
cái nhìn khoa học, làm rõ thêm những nội dung cơ bản liên quan thể loại thơ
Nôm tứ tuyệt của nữ sĩ. Qua đó, tác giả luận văn nhấn mạnh đến cá tính sáng
tạo, những đóng góp quan trọng cho tiến trình phát triển thơ Nôm tứ tuyệt trong
văn học cổ điển Việt Nam của nữ sĩ Hồ Xuân Hƣơng.
Với nhận thức nói trên, chúng tơi tiếp tục đi sâu tìm hiểu đề tài Đặc
điểm thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương. Qua kết quả nghiên cứu đề tài,
chúng tôi hi vọng, đề tài sẽ góp phần hữu ích vào việc phục vụ cho công tác
dạy và học bộ môn Ngữ văn ở nhà trƣờng, nhất là phần văn học sử liên quan
đến tác gia Hồ Xuân Hƣơng trong văn học trung đại Việt Nam nửa cuối thế kỉ
XVIII nửa đầu thế kỉ XIX.
2. Lịch s nghiên cứu v n đề
Hồ Xuân Hƣơng là một hiện tƣợng độc đáo của thơ ca trung đại Việt
Nam. Ngay từ khi xuất hiện, Hồ Xuân Hƣơng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt
của giới nghiên cứu phê bình cũng nhƣ độc giả cả trong và ngoài nƣớc. Tiêu
biểu nhƣ: Nguyễn Văn Hanh, Hoa Bằng, Trƣờng Tửu, Ngô Lăng Vân,
Nguyễn Lộc, Nguyễn Đăng Na, Lê Trí Viễn, Xn Diệu, Nguyễn Tn, Đào
Thái Tơn, Nguyễn Văn Hoàn, Hà Minh Đức, Hoàng Kim Ngọc, Nghiêm
Thúy Hằng, Vũ Nho, Nhan Bảo, La Trƣờng Sơn, N.I.Niculin, H.Jopes, ... Quá
trình nghiên cứu, đánh giá về Hồ Xuân Hƣơng diễn ra theo nhiều hƣớng khác
nhau và khá phức tạp. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, hiện tại chƣa có
cơng trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu về đặc trƣng thơ tứ tuyệt của Hồ
Xuân Hƣơng và sự vận động của trong thế giới nghệ thuật thơ của bà. Các ý
kiến đánh giá về vấn đề này, nếu có, cũng chỉ dừng lại ở những nhận định
khái quát, sơ bộ. Tuy nhiên, đó chính là những hƣớng gợi mở giúp chúng tơi
trong q trình định hình những nội dung nghiên cứu cụ thể.
3
2.1. Lịch sử nghiên cứu và tiếp nhận Hồ Xuân Hương
Cho đến nay, nghiên cứu về Hồ Xuân Hƣơng luôn là đề tài thu hút sự
chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc. Theo thời gian, có thể chia lịch
sử nghiên cứu Hồ Xuân Hƣơng thành ba giai đoạn: giai đoạn trƣớc năm 1945,
giai đoạn từ năm 1945 đến trƣớc năm 1975 và giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
Có thể nói, lịch sử nghiên cứu về Hồ Xuân Hƣơng ở giai đoạn trƣớc năm
1945 về cơ bản cũng chỉ tập trung ở một số vấn đề liên quan đến văn bản học,
sƣu tập các tác phẩm thơ Nôm của bà qua một số cơng trình khảo cứu tiêu biểu
của Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thanh Ý, Dƣơng Quảng Hàm, Nguyễn Văn
Ngọc, Nguyễn Văn Hanh, Trƣơng Tửu… Trong Lời giới thiệu cuốn tuyển tập
Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Sơn và
Vũ Thanh đã khái quát về lịch sử nghiên cứu Hồ Xuân Hƣơng nhƣ sau:
Từ hai thập niên đầu thế kỷ XX trở về trước mới chỉ có lịch sử vấn
đề Hồ Xn Hương nói chung (bao gồm các lời tựa, bình phẩm và khắc
in văn bản) chứ chưa định hình lịch sử nghiên cứu Hồ Xuân Hương (với
ý nghĩa là sự tự ý thức về đối tượng và phương pháp, về mối quan tâm
tới lịch sử vấn đề về tác giả và tác phẩm...) [46; tr.17].
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các tác giả này đã góp phần minh
định những yếu tố mang tính mơ hồ truyện tụng về thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng
và bắt đầu tiếp cận thế giới nghệ thuật trong sáng tác của bà với tƣ cách là
một tác gia văn học viết cụ thể trong tiến trình văn học Nơm của Việt Nam.
Năm 1936 đƣợc xem là dấu mốc khá quan trọng trong tiến trình nghiên
cứu về Hồ Xuân Hƣơng với sự ra đời của công trình Hồ Xuân Hương – Tác
phẩm, thân thế và văn tài do Nguyễn Văn Hanh chấp bút và nhà in Aspar
Saigon xuất bản. Từ thời gian này trở đi, việc nghiên cứu Hồ Xuân Hƣơng đã
phát triển khá rầm rộ và bƣớc đầu thu đƣợc kết quả nhất định. Phần lớn các
nhà nghiên cứu đã xác định đƣợc những nét cơ bản về tiểu sử Hồ Xuân
Hƣơng, văn bản và giá trị nội dung cũng nhƣ nghệ thuật thơ của bà. Sau năm
4
1940, các nhà nghiên cứu bắt đầu chú ý nhiều hơn về con ngƣời và đặc điểm
thơ Hồ Xuân Hƣơng, từ đó phát hiện ra những nét đặc sắc có tính khu biệt với
những tác gia cùng thời, nhất là phƣơng diện châm biếm, đả kích và liên quan
đến thân phận ngƣời phụ nữ. Đúng nhƣ Tản Đà đã từng nhận xét trƣớc đó, thơ
Hồ Xuân Hƣơng là Thi trung hữu quỷ.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau năm 1954, ở cả hai
miền Nam Bắc, việc tìm hiểu Hồ Xn Hƣơng diễn ra trong khơng khí xây
dựng nền văn học mới. Qua những cơng trình nghiên cứu khảo cứu của Hoa
Bằng Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Sỹ Tế, Văn Tân, Xuân
Diệu… các nội dung nghiên cứu của giai đoạn trƣớc một lần nữa đƣợc kiến
giải sâu sắc hơn, hợp lý hơn mặc dù vẫn còn một số tồn tại khá nhiều quan
đểm có tính chất cực đoan, thiên kiến, phiến diện.
Về thành tựu nghiên cứu sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng trong giai đoạn
sau 1945, các nhà nghiên cứu tiếp tục khẳng định con ngƣời và giá trị thơ
Hồ Xn Hƣơng. Một số cơng trình tiêu biểu nhƣ: Thân thế và thơ ca Hồ
Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm (Lê Tâm, 1950), Hồ Xuân Hương – nhà
thơ cách mạng (Hoa Bằng, 1950), Hồ Xuân Hương (Nguyễn Sỹ Tế, 1956),
Hồ Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm (Xuân Diệu, 1958)... Đặc biệt ở miền
Bắc giai đoạn 1945 - 1960, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã đứng
trên quan điểm Mác xít để viết bài nghiên cứu, phê bình về Hồ Xuân Hƣơng;
đồng thời các tác giải cũng vận dụng một số lý thuyết mới (Trƣơng Tửu vận
dụng quan điểm phân tâm học của Freud) để nghiên cứu thơ Nơm của Hồ
Xn Hƣơng.
Trong hồn cảnh chiến tranh, đất nƣớc bị chia cắt, lịch sử nghiên cứu về
Hồ Xuân Hƣơng cũng có sự khác biệt rõ rệt giữa hai miền Nam, Bắc. Ở miền
Nam, các nhà nghiên cứu chủ yếu đi tìm hiểu về địa vị xã hội, nguồn gốc của
hiện tƣợng Hồ Xuân Hƣơng, luận về thơ Hồ Xn Hƣơng. Nổi lên là cơng
trình nghiên cứu của Nguyên Sa Trần Bích Lan, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng,
5
Nguyễn Văn Trung, Hà Nhƣ Chi, Đỗ Long Vân, Phạm Việt Tuyền, Thái
Bạch... mặc dù khơng có điều kiện điền dã và sƣu tập các tƣ liệu mới về văn
bản, kết quả nghiên cứu cũng chỉ tập trung những vấn đề liên quan đến nội
dung, bút pháp nghệ thuật, ý nghĩa xã hội trong thơ Hồ Xuân Hƣơng.
Ở miền Bắc, vào thời gian này, nhờ công tác điền dã và sƣu tầm, các nhà
nghiên cứu đã phát hiện các văn bản mới nhƣ Lưu hương ký, Xuân đường
đàm thoại, Xuân đình đàm thoại... Việc phát hiện này đã tạo thêm sinh khí
cho việc nghiên cứu Hồ Xuân Hƣơng, tạo điều kiện cho một số bài viết của
Chế Lan Viên, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đức Dũng, Vũ Đức Phúc, Trần
Thanh Mại... về thơ Hồ Xuân Hƣơng đƣợc công bố.
Từ năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hƣơng tiếp tục diễn
ra sơi nổi trên tồn quốc. Trong thời gian này, xuất hiện nhiều hƣớng nghiên
cứu chuyên sâu về thơ Hồ Xn Hƣơng. Một số cơng trình tiêu biểu nhƣ: Thơ
Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục (Đào Thái Tôn, 1995), Văn bản
thơ Hồ Xuân Hương (Đào Thái Tơn, 1999), Hồ Xn Hương - Hồi niệm
phồn thực (Đỗ Lai Thúy, 1999), Hồ Xuân Hương – Thơ chữ Hán, chữ Nôm
và giai thoại (Bùi Hạnh Cẩn, 1999), Thơ Hồ Xuân Hương (Nguyễn Sĩ Cẩn,
2001), Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân
Hương (Trƣơng Xuân Tiếu, 2002), Thơ Nơm Hồ Xn Hương nhìn từ lý
thuyết nữ quyền (Phạm Thị Thuận, 2014), Ngôn ngữ văn học dân gian
trong thơ Nơm Hồ Xn Hương (Trần Xn Tồn, 2015) và khá nhiều các
luận văn, luận án đƣợc công bố...
Hệ thống những tiểu luận này ít nhiều đã có những phát hiện, đánh giá
mới, đóng góp nhất định cho tiến trình tìm hiểu, khảo cứu và nhận định, phê
bình về thơ Nôm Nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hƣơng. Qua các cơng trình trên,
chúng ta nhận thấy từ năm 1975 đến nay, lịch sử nghiên cứu về thơ Hồ Xuân
Hƣơng đã thực đạt đƣợc những thành tựu to lớn trên mọi phƣơng diện cụ thể
nhƣ văn bản học, thi pháp học, xã hội học, nữ quyền luận…
6
2.2. Lịch sử nghiên cứu về thể loại thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương
Quan khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy vấn đề thể loại thơ Nôm tứ
tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng đã đợc một số nhà nghiên cứu quan tâm và đánh giá:
Năm 1996, Nguyễn Thanh Phúc đã đặt vấn đề tìm hiểu thể loại thơ
Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng qua luận án Thơ Nôm Đường luật (từ Hồ
Xuân Hương đến Trần Tế Xương), Trƣờng ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong luận án này, tác giả đã khảo sát 12 bài thơ Nôm tứ tuyệt đƣợc cho là
của nữ sĩ Hồ Xuân Hƣơng.
Năm 1998, Lã Nhâm Thìn cơng bố chun luận Thơ Nơm Đường luật
(Nxb Giáo dục), một cơng trình cơng phu khảo sát về thể loại thơ Nôm
Đƣờng luật. Trong phần tuyển tác phẩm, Lã Nhâm Thìn đã sao lục và cho in
06 bài thơ Nôm tứ tuyệt của chủ nhân Cổ Nguyệt đƣờng.
Tác giả Đào Thái Tôn, chuyên gia về thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng trong
các tài liệu Thơ Nôm Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục (Nxb Giáo
dục 1995), Hồ Xuân Hương – Tiểu sử văn bản tiến trình huyền thoại hố,
dân gian hố (Nxb Hội Nhà văn, 1999), Về thơ chữ Nôm của Hồ Xuân
Hương (Nxb Phụ Nữ, 2013) đã khảo cứu 10 bài thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ
Xuân Hƣơng. Với 10 tác phẩm này, Đào Thái Tơn đã đánh giá những đóng
góp cụ thể của Hồ Xuân Hƣơng đối với tiến trình phát triển thơ Nôm tứ tuyệt
trào phúng trong văn học Việt Nam.
Năm 2000, luận án Tiến sĩ Ngữ văn Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt
Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX của Nguyễn Kim Châu đƣợc bảo vệ chính
thức tại trƣờng Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh. Đây là luận án
đánh giá một cách bài bản về thơ tứ tuyệt Hán và Nơm trong tiến trình phát
triển 10 thể kỉ văn học cổ điển Việt Nam. Đánh giá về vai trị của thơ Nơm tứ
tuyệt Hồ Xn Hƣơng, nhà nghiên cứu cho rằng:
Thơ tứ tuyệt hoặc bát cú của Hồ Xuân Hương vẫn tuân thủ khá
nghiêm nhặt quy cách sáng tác thơ Đường luật, nếu khơng nói là thành
7
thục hơn so với thơ Nôm tứ tuyệt thế kỷ XV- XVI, thời kỳ mà chữ Nôm mới
chỉ vừa đạt được những thành công bước đầu trên con đường hội nhập
vào sáng tác văn chương bác học. Ở thế kỷ XVIII - XIX, chữ Nôm văn học
đã tiến một bước khá dài với nhiều thành tựu đỉnh cao và đó là điều kiện
cần thiết cho những cách tân thơ ca táo bạo. Mặt khác, Hồ Xuân Hương
còn kế thừa được phong cách nói bỏ lửng, ngắn gọn và hàm súc của thơ
ca cổ điển để tạo nên các giá trị đa nghĩa cho hình tượng, để có thể nói
nhiều điều trong một phạm vi ngôn từ nhỏ hẹp của bài tứ tuyệt. Các đề tài
lấy từ phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống, kể cả cuộc sống cung đình
lẫn cuộc sống dân gian từng được khai thác trong văn chương trước đó,
giờ lại được nữ thi sĩ này tiếp nối sử dụng. Trong thơ bà có cảnh non
nước, núi đèo, có những bài thơ cảm khái, đề vịnh danh lam thắng cảnh,
có những bức tranh tố nữ hay chiếc quạt được “chúa quý vua yêu” nơi
cung cấm và cả những quả mít sần sùi biết bao gần gũi với người bình
dân. Hệ thống đề tài này khơng hề xa lạ với thơ Nôm Đường luật thời
Hồng Đức [7, tr.57].
Trong công trình của mình, Nguyễn Kim Châu cũng ghi nhận những
đóng góp quan trọng của bà đối với vấn đề phát triển thơ Nơm tứ tuyệt trong
văn học Việt Nam. Có thể nói, những đánh giá của Nguyễn Kim Châu là
những nhận định mang tính khách quan và có tính gợi mở cho chúng tôi trong
việc tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng. Tuy
nhiên, trong luận án này, do giới hạn của nội dung nghiên cứu nên những vấn
đề về truyền bản vân xchuwa đƣợc tác giả giải quyết một cách cụ thể. Đây là
một vấn đề theo chúng tơi đến nay (2022) vẫn cịn để ngỏ và cần có sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu Ngữ văn Hán Nơm đầu tƣ tìm hiểu.
Năm 2001, Nguyễn Sĩ Cẩn đã công bố tập Thơ Hồ Xn hương (Nxb
Nghệ An). Cơng trình này đã thu thập đƣợc 15 bài thơ nôm tứ tuyệt của Hồ
Xuân Hƣơng. Đặc biệt, ở cơng trình này, nhà nghiên cứu đã công bố bản sƣu
8
tầm mới nhất là Quốc âm tập – Nữ nhân Hồ Xuân Hương soạn.
Năm 2008, Kiều Thu Hoạch trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương (Nxb
Văn học, tái bản lại năm 2022) đã khảo cứu văn bản chữ Nôm của 22 bài thơ
Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng. Đây là cơng trình khảo cứu đƣợc nhiều
nhất các tác phẩm thơ tứ tuyệt bằng chữ Nơm của nữ sĩ. Cơng trình của Kiều
Thu Hoạch có sự đối chiếu khã kĩ lƣỡng các tác phẩm đƣợc truyền tụng trong
dân gian vùng Nghệ Tĩnh.
Năm 2015, Đàm Thị Đào thực hiện luận văn thạc sĩ Thơ Nôm tứ tuyệt trào
phúng Hồ Xuân Hương và năm 2017, Nông Văn Mƣu triển khai luận văn Thơ
Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần tế Xương tại Trƣờng Đại học sƣ
phạm Thái Nguyên. Hai luận văn này bƣớc đầu khảo cứu một số phƣơng diện liên
quan đến nội dung trào phúng trong thơ tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng.
Trong thời gian gần đây, chúng ta cũng có thể ghi nhận số số thành tựu
nghiên cứu về thơ Hồ Xn Hƣơng nói chung và thơ tứ tuyệt Nơm của nữ sĩ
nói riêng qua các cơng trình nhƣ: Về thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương
(NXB Phụ nữ, 2019) của Đào Thái Tôn; Giai nhân di mặc (Đông Châu
Nguyễn Hữu Tiến) (NXB Tri Thức, 2018) do Nguyễn Hữu Sơn sƣu tầm và
giới thiệu; Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương (NXB Đà Nẵng, 2018) của
Đỗ Long Vân; Hồ Xuân Hương – Tài năng và bí ẩn (NXB Hội Nhà văn,
2021) của Mai Ngọc Phát; Thơ Hồ Xuân Hương siêu phẩm của tài năng thi
ca (khảo luận, NXB Trẻ, 2021) của Hà Minh Đức; Hồ Xuân Hương, Đời và
thơ (NXB Hội Nhà văn, 2022). Những cơng trình nói trên đều có những luận
giải mới mẻ về bộ phận thơ Nơm tứ tuyệt đƣợc truyền tụng của Hồ Xuân
Hƣơng rất đặc sắc và khoa học.
Nhìn chung, các tài liệu nên trên đã khái quát đƣợc một số vấn đề quan
trọng trong thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng. Những vấn đề cốt yếu chƣa
đƣợc xác định:
- Số lƣợng bài thơ thuộc nhóm thơ Nơm tứ tuyệt của Hồ Xn Hƣơng;
9
- Hệ thống chủ đề cơ bản của thơ Nôm tứ tuyệt (ngoại trừ chủ đề trào
phúng);
- Những đặc điểm về nội dung và phƣơng thức thể hiện trong các bài
thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng.
Trên cơ sở những tài liệu đã thu thập đƣợc trong thời gian vừa qua,
chúng tôi nhận thấy nghiên cứu về thơ tứ tuyệt Nôm của Hồ Xuân Hƣơng là
một vấn đề phức tạp, đòi hỏi rất cao về phƣơng diện văn bản học. Trong luận
văn này, chúng tôi về cơ bản kế thừa các quan điểm và thành tựu nghiên cứu
văn bản học thơ tƣ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng do các chuên gia đầu ngành về lĩnh
vực này thực hiện nhƣ Kiều Thu Hoạch, Đào Thái Tơn, Hồng Bích Ngọc,
Vũ Nho.
2.3. Những nhận xét đánh giá chung
Hồ Xuân Hƣơng với tài thơ độc đáo đã trở thành một “trung tâm” thu
hút biết bao nhiêu thế hệ nhà nghiên cứu và các độc giả yêu quý Xuân Hƣơng
cũng nhƣ thơ bà vào cuộc kiếm tìm, vì vậy mà thân thế và thi tài của bà liên
tục đƣợc định giá lại. Nghiên cứu về con ngƣời và thơ Hồ Xuân Hƣơng đã
nhƣ một vấn đề thời sự văn học.
Thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng đã đƣợc giới nghiên cứu tiếp nhận ở nhiều
góc độ nhƣ phê bình văn học, tiếp nhận văn học, nhiều khuynh hƣớng nhƣ
phân tâm học, văn bản học, xã hội học, văn hóa học… Qua các cơng trình
nghiên cứu về Hồ Xuân Hƣơng, từ trƣớc đến nay, chúng ta nhận thấy, việc
đánh giá về thơ Hồ Xuân Hƣơng đã diễn ra rất phức tạp. Riêng việc tiếp cận
thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng dƣới góc độ giới tính thì vẫn cịn có nhiều ý kiến
trái chiều khác nhau, các ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề dâm, tục trong
thơ của nữ sĩ đầy bí ẩn của văn chƣơng Nơm cổ điển Việt Nam.
Lịch sử nghiên cứu Hồ Xuân Hƣơng là lịch sử tiếp diễn của những vấn
đề chƣa bao giờ đứt đoạn của các vấn đề liên quan đến tiểu sử, hành trạng,
phong cách và văn bản thơ Nôm của nữ sĩ. Từ những cơng trình, bài viết và
10
quan điểm nghiên cứu đã thống kê và miêu tả trong mục này, chúng ta có thể
thống nhất rằng: mặc dù cịn khơng ít những tranh cãi về tiểu sử, văn bản và
giá trị thơ của Hồ Xuân Hƣơng, song về cơ bản, nữ sĩ họ Hồ có vị trí rất quan
trọng trong lịch sử văn học dân tộc.
Các tiểu luận, chuyên luận nêu trên đã có những đóng góp tích cực đối
với việc nghiên cứu về tiểu sử và thơ văn Hồ Xuân Hƣơng, nhƣng ở hƣớng
tiếp cận thể loại tứ tuyệt Nôm, tất cả mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu hoặc
giới thiệu khái lƣợc một số vấn đề cịn khá chung chung, chƣa có sự minh
định và tập trung khảo sát cụ thể trong thơ Hồ Xuân Hƣơng. Chúng tôi cho
rằng, những nghiên cứu về Hồ Xuân Hƣơng không chỉ dừng lại ở đây mà cần
tiếp tục đi sâu.
Ngoài ra, trên cơ sở tiếp nhận ý kiến của các tác giả đi trƣớc, chúng tôi
sẽ tiến hành triển khai vấn đề một cách hệ thống hơn. Từ đó, chúng tơi sẽ đƣa
ra những đánh giá tồn diện, những kết luận khoa học về hệ thống chủ đề
trong thơ nữ sĩ, góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của bà trong nền văn học
Nôm cổ điển Việt Nam. Với những cơng trình, chun luận và luận văn đã
tìm hiểu trên đã tạo nền tảng khoa học để chung tơi có thể tìm hiểu nội dung
của luận văn: Đặc điểm thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là hƣớng đến việc tìm hiểu những vấn
đề liên quan đến các bài thơ thuộc thể loại thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xn Hƣơng.
Thơng qua q trình nghiên cứu thể loại tứ tuyệt Nôm của nữ sĩ Hồ
Xuân Hƣơng, chúng tôi muốn làm sáng rõ những đặc trƣng về phong cách
trong sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng trong tiến trình văn học Nơm giai đoạn
nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về đặc điểm nội
11
dung, phƣơng thức thể hiện trong những sáng tác thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ
Xuân Hƣơng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn tập trung khảo sát hệ thống
văn bản thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng. Số lƣợng bài thơ đƣợc khảo
sát là 22 bài thơ tứ tuyệt đƣợc chúng tôi thống kê và thu thập đƣợc qua các
cơng trình nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bên cạnh những phƣơng pháp mang tính đặc trƣng của nghiên cứu văn học cổ
điển, để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phối kết hợp một số phƣơng pháp
cụ thể sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Để xây dựng các cơ sở khoa học và số liệu nghiên cứu đề tài, chúng tôi
sử dụng phƣơng pháp này để tiến hành khảo sát các bài thơ Nôm tứ tuyệt của
Hồ Xuân Hƣơng. Từ kết quả thống kê, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại các
bài thơ theo các vấn đề cụ thể làm minh chứng cho các luận điểm nghiên cứu
trong luận văn.
5.2. Phương pháp đối chiếu, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp so sánh
đối chiếu thơ của Hồ Xuân Hƣơng với các tác giả khác cùng thời với nữ sĩ.
Từ sự so sánh, đối chiếu cụ thể, chúng tôi sẽ làm nổi bật giá trị nội dung và
nghệ thuật của các bài thơ Nôm tứ tuyệt trong thơ Hồ Xuân Hƣơng. Đồng
thời, thông qua sự đối chiếu, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ một số vấn đề liên
quan đến những điểm chung và sự khác biệt trong sáng tác, quan niệm thẩm
mỹ và các phƣơng diện nội dung, nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt của Bà chúa
thơ Nôm so với các tác giả văn học cổ điển khác.
5.3. Phương pháp phân tích văn học
Để nhận thức đƣợc những giá trị cơ bản trong các chủ đề cụ thể, tác giả
12
luận văn sẽ vận dụng phƣơng pháp phân tích những vấn đề liên quan đến nội
dung và nghệ thuật trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng. Trong từng vấn
đề cụ thể, qua phân tích, chúng tơi sẽ làm nổi bật những giá trị của những
minh chứng cụ thể trong sáng tác thơ Nôm tứ tuyệt của của Hồ Xuân Hƣơng.
5.4. Phương pháp tổng hợp, khái quát hoá
Từ những luận điểm cụ thể đã phân tích, thơng qua phƣơng pháp này,
chúng tôi sẽ tổng hợp và đƣa ra những nhận định, những kết luận cần thiết về
từng vấn đề cụ thể cũng nhƣ toàn bộ hệ thống các vấn đề cơ bản liên quan đến
nội dung, nghệ thuật trong thơ Nơm tứ tuyệt của nữ sĩ Hồ Xn Hƣơng.
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ xác định rõ những vấn đề cụ thể
trong di sản thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hƣơng. Việc làm này sẽ giúp cho
quá trình tiếp nhận tìm hiểu về thế giới nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hƣơng đƣợc
trọn vẹn hơn.
Từ góc độ tiếp nhận, luận văn sẽ cung cấp thêm một cái nhìn tổng quan
về những biểu hiện sinh động của thể loại thơ Nôm tứ tuyệt cụ thể trong bối
cảnh văn học, văn hoá Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVII, nửa đầu thế kỉ XIX.
Hƣớng tiếp cận này sẽ góp phần kiến tạo nên bức tranh đa diện về thể loại văn
học Việt Nam giai đoạn này.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xác định vị trí văn học sử
của Hồ Xuân Hƣơng trong tiến trình phát triển của thơ Nơm tứ tuyệt nói riêng
và văn học cổ điển Việt Nam nói chung.
7. C u trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn đƣợc triển khai thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau:
Chương 1. Hồ Xuân Hương và thể loại thơ Nôm tứ tuyệt trong văn
học cổ điển Việt Nam
Nội dung nghiên cứu của chƣơng này tập trung giải quyết các vấn đề lý
13
thuyết về tác giả Hồ Xuân Hƣơng và thể loại thơ Nôm tứ tuyệt trong văn học
cổ điển Việt Nam. Bên cạnh đó, chƣơng này, chúng tơi cịn giải quyết những
vấn đề về cơ sở văn học, xã hội, lịch sử và nhất là cơ sở văn hoá liên quan đến
quá trình hình thành và phát triển của thể loại thơ Nôm Tứ tuyệt.
Chương 2. Đặc điểm nội dung trong thế giới nghệ thuật thơ Nôm tứ
tuyệt của Hồ Xuân Hương
Từ cơ sở lý thuyết đã xác định, qua thực tế tác phẩm thơ Nôm Hồ Xuân
Hƣơng chúng tôi xác định những đề về ảnh hƣởng văn hố, hình tƣợng trữ tình,
hệ thống đề tài, chủ đề. Các vấn đề này đƣợc xác định trên cơ sở kế thừa quan
điểm của các nhà nghiên cứu tiền bối và so sánh đối chiếu với một số phong
cách đƣơng thời. Hệ thống chủ đề này đã thể hiện rõ những nét đặc trƣng cơ
bản trong thế giới nghệ thuật thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hƣơng.
Chương 3. Một số phương thức thể hiện chính trong thê giới nghệ
thuật thơ Nơm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương
Để góp phần làm rõ các giá trị về hình thức nghệ thuật và phƣơng thức thể
hiện, nội dung nghiên cứu của chƣơng 3 tập trung nghiên cứu thế giới biểu
tƣợng, đặc trƣng giọng điệu và giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật trong
thơ Nôm tứ tuyết của Hồ Xuân Hƣơng. Với những phƣơng thức thể hiện cụ thể
đƣợc nghiên cứu, chúng ta sẽ kiến giải những hấp dẫn đặc trƣng trong thơ Hồ
Xuân Hƣơng và khẳng định sự lan toả và vang vọng của thơ Nôm tứ tuyệt Hồ
Xuân Hƣơng đối với đời sống văn học đƣơng thời và hậu thế.
14
CHƢƠNG 1. HỒ XUÂN HƢƠNG VÀ THỂ LOẠI THƠ NÔM
TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
1.1. Hồ Xuân Hương – Tác gia Hán Nôm “đặc biệt” của văn học Việt Nam
1.1.1. Hồ Xuân Hương – Đối tượng của nhiều cuộc tranh luận trong
nghiên cứu văn học Việt Nam
Thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng là một hiện tƣợng văn học “kì lạ” trong tiến
trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Nó đã mang một số nét đặc thù,
cá biệt luôn thách thức các giới hạn tiếp nhận văn học trong lịch sử. Vì vậy,
trong thực tế nghiên cứu, hiện tƣợng thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng không chỉ là
một cách trở về với kinh nghiệm lịch sử của q khứ để tìm hƣớng tiếp cận mà
cịn là đối tƣợng của nhiều cuộc tranh luận trên diễn đàn văn chƣơng nhiều thập
kỉ qua. Song chính điều ấy đã đồng thời góp phần hƣớng đến một góc nhìn
đánh giá cởi mở, hợp lý hơn đối với các hiện tƣợng văn học khác.
Trong lịch sử tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hƣơng, tài năng và phong cách của
đã đƣợc các nhà nghiên cứu Ngữ văn học cổ điển khẳng định qua nhiều danh
xƣng khác nhau: Thiên tài, kỳ nữ, ca nữ, thi hào dân tộc, Bà chúa thơ Nơm.
Các nhà phê bình văn học mỗi khi đặt bút viết về Bà đều chau mày, kết luận:
không rõ năm sinh, năm mất, không rõ thân phụ Hồ Xuân Hƣơng là ai. Chỉ
biết rằng “nguồn nước ẩn” (chữ dùng của Đỗ Long Vân) này ở Quỳnh Đôi –
Quỳnh Lƣu – Nghệ An. Trong bài viết Vấn đề Hồ Xuân Hương đã rõ, Nhà
nghiên cứu Trần Nhuận Minh đã khẳng nhận:
Những bài thơ Nôm đầu tiên được coi là của Hồ Xuân Hương, xuất
bản ở Hải Phịng, năm 1913, như một tài liệu khơng chính thức. Bốn
năm sau, năm 1917, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến xuất bản Giai nhân
di mặc, toàn những chuyện hư cấu… trong đó có chuyện Hồ Xuân
Hương và thơ Hồ Xuân Hương… dĩ nhiên, cũng là những thứ “hư cấu”.
Ấy thế mà có nhà phê bình lại dựa vào đó mà soạn ra Thân thế và sự
15
nghiệp của Hồ Xuân Hương và đánh giá thơ văn của bà, như một tác giả
chính thức và tác giả đó có mặt thực sự trong đời sống xã hội [33, tr.12].
Theo chúng tôi, cách tiếp cận và đánh giá của nhà nghiên cứu có những
chỗ khả thủ nhƣng cũng có những vấn đề cần thảo luận thêm. Cho đến nay,
những văn bản thơ của Hồ Xuân Hƣơng mà chúng ta có đƣợc hồn tồn chỉ là
những văn bản chép tay bởi ngƣời đời sau và những bản thơ Nôm khắc ván in
vào đầu thế kỉ này. Chƣa ai thấy đƣợc một văn bản nào đƣợc xem nhƣ là thủ
bút của bà hay ngƣời cùng thời với nữ sĩ ghi chép lại. Trong Hồng Xn
Hương thiên tình sử (2002), Hồng Xn Hãn khẳng định những tác phẩm
Nơm hiện tồn chính là những bài thơ đƣợc chép thuê, công việc này đƣợc học
giả Antony Landes thực hiện từ năm 1892 đến tháng 3.1893. Còn văn bản thơ
Hồ Xuân Hƣơng in bằng chữ quốc ngữu sớm nhất là các văn bản ra đời từ
nhà in Xuân Lan của Nguyễn Ngọc Xuân vào các năm 1913 – 1914.
Nhƣ đã nói, thơ Nơm Hồ Xuân Hƣơng là một hiện tƣợng văn học độc
đáo và có sức lan toả lớn trong cơng chúng văn chƣơng. Những bài thơ này
tồn tại trong xã hội phong kiến nho giáo, nhƣng thể hiện cảm nhận thế giới
với cái nhìn thấm đẫm tính dục và nhục thể. Nội dung trữ tình trong những
bài thơ này thể hiện một ý thức cá nhân mạnh mẽ. Đó là cá tính của tâm trạng
trữ tình thể hiện trong những khao khát rất con ngƣời, vƣợt ra ngồi phạm vi
ngơn chí; là cá tính trong cách nhìn nhận đánh giá cuộc sống, con ngƣời và
thiên nhiên, vƣợt ra ngoài quan niệm nho giáo. Nhƣng tiêu biểu hơn cả là cá
tính trong nghệ thuật ngôn từ, qua sự sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, và qua
một quan niệm mới về ngôn ngữ nhƣ là một phƣơng diện hình thức thẩm mĩ,
khơng có sự phân giới nhã/tục, vƣợt ra ngồi phạm vi quan niệm ngơn ngữ
thẩm mĩ của nho giáo.
Hồ Xuân Hƣơng đã để lại cho nền văn học dân tộc một số lƣợng tác
phẩm thơ Nôm không lớn nhƣng lại vô cùng hấp dẫn. Cuộc đời và tác phẩm
thơ của bà đã trở thành một đối tƣợng nghiên cứu với nhiều quy mô khác
16
nhau. Tiếp cận những cơng trình, chúng tơi nhận thấy tình hình nghiên cứu
thơ Hồ Xuân Hƣơng rất phức tạp. Xuất hiện nhiều ý kiến đánh giá, lý giải và
tiếp cận theo nhiều phƣơng pháp ở nhiều thời điểm khác nhau. Qua từng giai
đoạn các nhà nghiên cứu đã có bƣớc phát triển về chất, ngày càng giúp cho
độc giả nhận diện đúng bản chất thẩm mỹ của đối tƣợng. Tuy Hồ Xuân
Hƣơng đƣợc đánh giá cao, nhƣng từ nhiều góc nhìn, bình diện, trên nhiều vấn
đề thì vẫn có sự nhìn nhận khác biệt thậm chí mâu thuẫn nhau. Trong Hoa
Bằng đề cao Hồ Xuân Hương – nhà thơ cách mạng (1949), Nguyễn Tuân ca
ngợi Hồ Xuân Hương, người đàn bà độc đáo, nhà thơ vô song, hiện thực trữ
tình (1978), Xuân Diệu thì gọi thẳng nữ sĩ là “nhà thơ dịng Việt, Bà chúa thơ
Nơm” (1988), cịn Trƣơng Tửu – Nguyễn bách Khoa lại cho Hồ Xuân Hƣơng
là “thiên tài hiếu dâm đến cực điểm” (1950)… Đối với trƣờng hợp Hồ Xuân
Hƣơng, các thành tựu nghiên cứu còn ngổn ngang, phức tạp, có thể gây nhiều
cản trở cho ngƣời thƣởng thức, học tập thơ Hồ Xuân Hƣơng hiện nay. Hồ
Xuân Hƣơng là một hiện tƣợng nghệ thuật độc đáo ngay từ trong bản thể, mà
cái phần độc đáo nhất, hấp dẫn và lí thú, gây nhiều tranh luận sôi nổi nhất là
bàn về yếu tố tục và dâm trong thơ Bà, đúng nhƣ nhà nghiên cứu ngƣời Pháp
- M.Durand đã nhận định:
Cái mới mà Hồ Xuân Hương đóng góp cho văn học Việt Nam, và
táo tợn đến sửng sốt vì đó lại là văn chương do phụ nữ viết, đó là sự phá
vỡ khn khổ những cấm đốn văn học và đạo đức. Bà dám nói những
vấn đề tính dục [48, tr.77].
Việc nắm vững tình hình nghiên cứu thơ và đời Hồ Xuân Hƣơng đã trở
thành công việc tốn nhiều thời gian và tâm sức.Tình hình đó đặt ra một u cầu
nghiêm túc: Cần có một cơng trình để tìm hiểu vấn đề, đánh giá thơ Hồ Xuân
Hƣơng nhất là lý giải yếu tố tục và dâm trong thơ Bà. Qua đó chỉ ra những mặt
đóng góp tích cực, những hạn chế còn tồn tại đồng thời đề xuất hƣớng lý giải
phù hợp để hiểu đúng hơn, sâu hơn về hiện tƣợng thơ Hồ Xuân Hƣơng.
17
1.12. Hồ Xuân Hương – tác gia đa phong cách trong văn học cổ điển Việt Nam
Giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là thời kỳ phát triển rực
rỡ của văn học trung đại Việt Nam, gắn liền với nhiều tác gia nổi tiếng nhƣ
Nguyễn Du, Đồn Thị Điểm, Nguyễn Cơng Trứ, Bà huyện Thanh Quan...
Trong số đó, Hồ Xuân Hƣơng nổi bật lên với tƣ cách là một nữ sĩ giàu cá tính
cả ngồi đời lẫn trong thơ ca. Tuy số lƣợng sáng tác không nhiều nhƣng Hồ
Xuân Hƣơng chinh phục mạnh mẽ công chúng đƣơng thời cũng nhƣ sau này.
Trong tiến trình lịch sử phát triển của thơ cổ điển Việt Nam, Hồ Xuân Hƣơng
là hiện tƣợng độc đáo vơ tiền khống hậu, đƣợc mệnh danh là Bà chúa thơ
Nôm. Mỗi một tác phẩm của bà đều mang đến cho ngƣời đọc những thông điệp
độc đáo, ý nghĩa không chỉ về đời sống hiện thực mà còn thể hiện những vấn
đề liên quan đến thân phận con ngƣời. Vì lẽ đó, tiểu sử và văn nghiệp của bà
luôn thu hút sự quan tâm của các giới nghiên cứu, là đề tài có tính thời sự, đầy
hứng thú đối với bạn đọc trong và ngoài nƣớc.
Từ nhiều lý thuyết, góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận
thế giới nghệ thuật Hồ Xuân Hƣơng với tƣ cách là một bức tranh nghệ thuật
đa dạng, phức điệu. Những kiến giải mới và hấp dẫn về hiện tƣợng đặc biệt
này sẽ trở thành những cơ sở cho q trình hồn thiện hố hồ sơ nghiên cứu
về một tác gia tiêu biểu của văn học Hán Nôm Việt Nam. Tuy nhiên, trong
thực tế tiếp nhận, các nội dung nghiên cứu truyền thống vẫn còn là những
hƣớng đi minh định giá trị văn chƣơng của nữ sĩ. Nhất là những nội dung liên
quan đến ngơn ngữ, hình tƣợng và hệ thống chủ đề cơ bản. Là một tác gia lớn
trong chƣơng trình Ngữ văn ở nhà trƣờng, những nghi vấn xoay quanh tiểu sử,
văn bản và giá trị thơ Hồ Xuân Hƣơng khiến cho giáo viên, học sinh gặp khơng
ít khó khăn trong q trình dạy và học. Việc nghiên cứu tác giả, tác phẩm của
Hồ Xuân Hƣơng dù ở mức độ nào cũng là một việc làm cần thiết.
Trong lịch sử tiếp nhận, Hồ Xuân Hƣơng đƣợc đánh giá là một tác gia
phức tạp, đa phong cách. Điều này đƣợc thể hiện qua hệ thống đa chủ đề,
18
phƣơng thức thể hiện phong phú và cá tính. Chẳng hạn, về chủ đề ngƣời phụ
nữ, trong thơ mình Hồ Xn Hƣơng, bà khơng đi theo lối mịn của ca dao hay
một số nhà nhà thơ nam nhân khác. Bà khơng hƣớng tác phẩm và tƣ duy nghệ
thuật của mình đến việc miêu tả/kể về toàn bộ nỗi khổ của ngƣời phụ nữ.
Dƣờng nhƣ bà chỉ hƣớng đến những vấn đề có tính chất giới tính của đời sống
nhân sinh con ngƣời. Nữ sĩ thƣờng tập trung, xoáy sâu vào các ngóc ngách éo
le của cuộc đời để nêu lên những bi kịch khơng kém phần chua chát, song bình
thƣờng nó bị xóa nhịa trong một cuộc sống vốn dĩ đã dập khuôn theo những
chế ƣớc nặng nề của lễ giáo. Hồ Xuân Hƣơng nêu lên một nét điển hình nổi bật
của chế độ hơn nhân phong kiến đó là “Cảnh chồng chung”. Bên cạnh việc,
vạch ra cảnh làm lẽ chẳng qua chỉ nhƣ một thứ làm mƣớn, thậm chí là làm
mƣớn khơng cơng, bà cịn nói đến trách nhiệm của ngƣời đàn ơng với những
ngƣời vợ của mình nhƣ một sự thực thi cơng bằng. Do đó, chúng ta thƣờng bắt
gặp những câu thơ của bà cất lên với nỗi niềm đồng cảm xót thƣơng:
Năm thì mười họa chăng hay chớ,
Một tháng đơi lần có cũng khơng,
Cố đấm ăn xơi xơi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn khơng cơng!
Có thể, trong lúc uất ức không chịu đƣợc bà đã lên tiếng chửi mắng quyết
liệt nhƣng điều kiện xã hội vẫn ngang nhiên cho phép nó tồn tại. Trƣớc thực tại,
bà cũng đành bất lực trong tiếng thở dài. Tiếng thở dài này càng tô đậm thêm cái
mỉa mai, chán chƣờng của thực tại:
Thân này ví biết đường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong!
Hiện sinh là một kiểu thể hiện khác trong thơ Hồ Xuân Hƣơng. Trong
các thi phẩm của mình, chúng ta có thể cảm nhận thấy, bà không hề dửng
dƣng lạnh nhạt với các vấn đề nhân sinh mà ln có một trái tim bỏng cháy,
nói cái gì là nói với tất cả sự chân thành xúc động của mình.. Đối với các hiện
19
tƣợng xã hội cụ thể, bà ln nhìn nhận sự việc với thái độ cảm thông, khoan
dung Khi giận dữ thì thét mắng, khi yêu đƣơng thì đằm thắm ngọt ngào đại
lƣợng với cảnh ngộ của họ, chẳng hạn hiện tƣợng Không chồng mà chửa.
Trong xã hội phong kiến, ngƣời phụ nữ chửa hoang là trọng tội, làm ảnh
hƣởng đến gia đình, dịng tộc, làng xóm. Họ coi ngƣời phụ nữ mà đã thơng
gian thì đã mất hết cả liêm sỉ nên khi hành hình thì bắt cới áo cánh, để cho
mặc váy gia hình cịn những tội khác khi phạt cũng đƣợc mặc áo. Với Hồ
Xuân Hƣơng, bà quan niệm đó khơng phải là tội lỗi mà đó chỉ là chuyện rất
ngƣời của những đơi tình nhân. Bà gọi đó là sự “cả nể’, bởi vì cả nể nên mới
nhƣ thế: Cả nể cho nên hóa dở dang. Ý thức đƣơng đầu với tất cả. “Mảnh tình
một khối thiếp xin mang” và tuyên chiến với lễ giáo phong kiến đƣợc bà thể
hiện qua bằng lời lẽ hùng hồn đanh thép:
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Khơng có, nhưng mà, có mới ngoan.
Những văn bản thơ của Hồ Xuân Hƣơng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đặt
trong tâm điểm của sự giao thoa giữa những triết luận sƣ tƣ về nhân thế, tình
đời, tình ngƣời và những địn đả kích sâu cay với lề thói truyền thống đang
dần “gặm nhấm” tinh thần của con ngƣời. Về phong cách ngôn ngữ, thơ Hồ
Xuân Hƣơng là một minh chứng cho khả năng kì diệu của tiếng Việt và văn
chƣơng Nôm. Ngôn ngữ đa dạng, nhuần nhuyễn, đa tầng đƣợc “trộn lẫn” và
chính trong lịch sử tiếp nhận ngôn ngữ thơ của nữ sĩ, ngƣời đọc dƣờng nhƣ
đƣợc khai mở một nhãn quan mĩ học mới, có phần đối dị với lối tƣ duy thơng
thƣờng vậy.
Có lẽ, chính sự tồn tại và tranh đấu lẫn nhau giữa nhiều con ngƣời, nhân
cách trong một hồn thơ Hồ Xuân Hƣơng đã góp phần kiến tạo nên một tầm
thế “vƣợt thời đại” của nữ sĩ. Phức tạp, đa dạng là những định từ đƣợc dùng
để gọi tên cho phong cách của Hồ Xuân Hƣơng trong mặt bằng chung thơ
Nôm cổ điển chặng nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX. Đây cũng