BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
DƯ NGỌC DUNG
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THIẾU IỐT Ở
PHỤ NỮ CÓ THAI, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP SỬ DỤNG MUỐI IỐT
TẠI THỊ XÃ TÂN CHÂU NĂM 2013
Chuyên ngành: QUẢN LÝ Y TẾ
Mã số: 62 72 76 05. CK
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM THỊ TÂM
CẦN THƠ – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai cơng bố
trong bất kỳ cơng trình nào.
Tác giả luận án
Dư Ngọc Dung
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án và tốt nghiệp khóa học này, tơi chân thành và
trân trọng bày tỏ lòng biết ơn Ban Giám Hiệu, Phòng đào t ạo sau Đại học,
Khoa Y tế công cộng, Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ đã tạo điều kiện tốt
nhất, luôn đơn đốc, nhắc nhở, giúp đỡ và giải quyết khó khăn để tôi an tâm
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS. Phạm Thị Tâm,
Người đã hết lòng tận tụy giúp đỡ tơi thực hiện đề tài nghiên cứu và hồn
chỉnh luận án này.
Xin chân thành biết ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Y tế cơng cộng đã tận
tình truyền đạt những kiến thức mới, những kinh nghiệm vô cùng quý báu cho
chúng tôi.
Xin cảm ơn cán bộ TTYT Tân Châu, TTYTDP tỉnh Cần Thơ, khoa
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản TTYT Tân Châu đã nhiệt tình giúp đỡ tơi trong
q trình thu thập và xử trí số liệu thơng tin và hồn thành đề tài.
Trong q trình học tập nghiên cứu, tơi ln có sự thơng cảm, giúp đỡ,
động viên của tất cả những người thân trong gia đình.
Xin hứa sau khi tốt nghiệp về địa phương công tác, tôi sẽ vận dụng
những kiến thức mà Thầy, Cơ đã tận tình giảng dạy để phục vụ tốt hơn.
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU......................................................... 3
1.1 Giải phẫu tuyến giáp.......................................................................... 3
1.2 Sinh lý tổng hợp và vai trò của hormon tuyến giáp.............................. 3
1.3 Vai trò của iốt đối với sức khỏe.......................................................... 7
1.4 Hậu quả của thiếu iốt ......................................................................... 8
1.5 Tình hình thiếu iốt ở phụ nữ có thai.................................................... 9
1.6 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu iốt ..................................... 11
1.7 Các biện pháp can thiệp phịng thiếu iốt ........................................... 13
1.8 Các cơng trình nghiên cứu trước trong và ngoài nước ....................... 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 23
2.1.1 Đối tượng ................................................................................. 23
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu ................................................................ 23
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ .................................................................... 23
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu .............................................. 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu ................................................................. 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu .................................................................. 23
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu ................................................................... 23
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu ............................................................. 24
2.2.4 Nội dung nghiên cứu............................................................... 245
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu..................................................... 34
2.2.6 Các bước tiến hành thu thập số liệu............................................ 35
2.2.7 Biện pháp kiểm soát sai số ........................................................ 36
2.2.8 Nhập, xử lý và phân tích số liệu................................................. 37
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu................................................................ 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 38
3.1 Đặc điểm chung của phụ nữ có thai.................................................. 38
3.2 Tỷ lệ và mức độ thiếu iốt ở phụ nữ có thai........................................ 39
3.3 Tỷ lệ kiến thức, thực hành về sử dụng muối iốt và các yếu tố liên quan
đến thiếu iốt ở phụ nữ có thai ................................................................ 42
3.4 Kết quả và các yếu tố liên quan sau can thiệp bằng truyền thông sử
dụng muối iốt cho thai phụ .................................................................... 52
Chương 4 BÀN LUẬN ............................................................................ 59
4.1 Đặc điểm chung của phụ nữ có thai.................................................. 59
4.2 Tỷ lệ và mức độ thiếu iốt ở phụ nữ có thai........................................ 60
4.3 Tỷ lệ kiến thức, thực hành về sử dụng muối iốt và các yếu tố liên quan
đến thiếu iốt ở phụ nữ có thai ................................................................ 63
4.4 Kết quả và các yếu tố liên quan sau can thiệp bằng truyền thông sử
dụng muối iốt cho thai phụ .................................................................... 73
KẾT LUẬN............................................................................................. 79
KIẾN NGHỊ............................................................................................ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHCS:
: Chuyển hóa cơ sở
CS
: Cộng sự
DIT
: Thyroxin 2 iode
FAO :
: Food and Agriculture Organization – Tổ chức
lương thực và nông nghiệp
GH
: Growth Hormon - hormon sinh trưởng
IQ
: Intelligence quotient – chỉ số thông NNh
LN
: Lớn nhất
MIT
: Thyroxin 1 iode
NN :
: Nhỏ nhất
PCCRLTI
: Phòng chống các rối loạn thiếu iốt
PNCT
: Phụ nữ có thai
RLTI
: Rối loạn thiếu iốt
T3
: Triiodothyroxin
T4
: Thyroxin
THCS
: Trung học cơ sở
THTP
: Trung học phổ thơng
TTYTDP
: Trung tâm Y tế Dự phịng
UNICEF
: The United Nations Children's Fund – Quỹ Nhi
đồng Liên hợp quốc
WHO
: World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế
giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Nhu cầu iốt của các đối tượng .................................................... 12
Bảng 1.2 Các liều khuyến cáo của WHO về việc bổ sung iốt hàng ngày hoặc
hàng năm ................................................................................................. 16
Bảng 1.3 Tiêu thụ dinh dưỡng được khuyến cáo......................................... 17
Bảng 1.4 Trung vị hoặc phạm vi của nồng độ iốt niệu (UI) được dùng để xếp
loại tiêu thụ iốt của phụ nữ mang thai, mẹ cho con bú và trẻ <2 tuổi............ 18
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi, trình độ, nghề nghiệp ...................................... 38
Bảng 3.2 Đặc điểm tuổi thai và nơi cư ngụ ………………………………39
Bảng 3.3 Iốt niệu trung vị của phụ nữ có thai (n = 223) .............................. 39
Bảng 3.4 Mức độ thiếu iốt của phụ nữ có thai ............................................ 40
Bảng 3.5 Phân bố tỷ lệ thiếu iốt theo tuổi của phụ nữ có thai ..................... 40
Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ thiếu iốt theo nghề nghiệp của phụ nữ có thai.......... 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ các kiến thức của phụ nữ có thai......................................... 42
Bảng 3.8 Kiến thức chung của phụ nữ có thai về tác hại khi thiếu iốt .......... 43
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng muối.............................................................. 43
Bảng 3.10 Cách bảo quản, thời điểm sử dụng và cách sử dụng muối iốt khi
nấu ăn của thai phụ ................................................................................... 44
Bảng 3.11 Các loại gia vị mặn thường dùng ............................................... 44
Bảng 3.12 Thực hành chung của phụ nữ có thai về phòng chống thiếu iốt ... 45
Bảng 3.13 Lý do không dùng muối iốt ....................................................... 45
Bảng 3.14 Sự tiếp cận thông tin của thai phụ.............................................. 46
Bảng 3.15 Phân loại sự tiếp cận thông tin của thai phụ ............................... 46
Bảng 3.16 Liên quan giữa thiếu iốt với tuổi, trình độ của thai phụ............... 46
Bảng 3.17 Liên quan giữa thiếu iốt và tuổi thai của thai phụ ....................... 47
Bảng 3.18 Liên quan giữa thiếu iốt và nghề nghiệp, nơi cư ngụ của thai phụ47
Bảng 3. 19 Liên quan giữa thiếu iốt với kiến thức của p hụ nữ có thai về tác
hại khi thiếu iốt......................................................................................... 48
Bảng 3.20 Liên quan giữa thiếu iốt với kiến thức chung của phụ nữ có thai. 48
Bảng 3.21 Liên quan giữa thiếu iốt và thực hành về phòng chống thiếu iốt của
thai phụ .................................................................................................... 49
Bảng 3.22 Liên quan giữa thiếu iốt và thực hành chung của thai phụ........... 50
Bảng 3.23 Liên quan giữa thiếu iốt và sự tiếp cận thông tin ........................ 50
Bảng 3.24 Phân tích đa biến hồi quy logistic giữa thiếu iốt và các yếu tố liên
quan ở thai phụ ......................................................................................... 51
Bảng 3. 25 Sự thay đổi nồng độ iốt niệu trước và sau can thiệp................... 52
Bảng 3.26 Tần số và tỷ lệ % can thiệp thành công ...................................... 52
Bảng 3.27 Mức độ thiếu iốt của phụ nữ có thai trước và sau can thiệp......... 52
Bảng 3.28 Sự thay đổi kiến thức chung trước và sau can thiệp .................... 53
Bảng 3.29 Sự thay đổi thực hành chung trước và sau can thiệp ................... 53
Bảng 3.30 Liên quan giữa thiếu iốt của thai phụ sau can thiệp với nhóm tuổi
................................................................................................................ 54
Bảng 3.31 Liên quan giữa thiếu iốt với trình độ của thai phụ sau can thiệp .. 54
Bảng 3.32 Liên quan giữa thiếu iốt với nghề nghiệp của thai phụ sau can thiệp
................................................................................................................ 55
Bảng 3.33 Liên quan giữa thiếu iốt với kiến thức về tác hại và kiến thức
phòng bệnh của phụ nữ có thai về tác hại khi thiếu iốt sau can thiệp............ 55
Bảng 3.34 Liên quan giữa thiếu iốt với kiến thức loại thực p hẩm, cách mua
muối và thời điểm iốt dễ bay hơi của thai phụ sau can thiệp........................ 56
Bảng 3.35 Liên quan giữa thiếu iốt với kiến thức chung của phụ nữ có thai về
tác hại khi thiếu iốt ................................................................................... 56
Bảng 3.36 Liên quan giữa thiếu iốt và thực hành về phòng chống thiếu iốt của
thai phụ sau can thiệp................................................................................ 57
Bảng 3.37 Liên quan giữa thiếu iốt với thực hành chung của phụ nữ có thai về
phịng chống thiếu iốt................................................................................ 58
Bảng 3.38 Liên quan giữa thiếu iốt với sự tiếp cận thơng tin của phụ nữ có
thai sau can thiệp ...................................................................................... 58
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thiếu iốt của phụ nữ có thai ............................................ 39
Biểu đồ 3. 2 Phân bố tỷ lệ thiếu iốt theo học vấn của phụ nữ có thai........... 41
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Iốt là một vi chất cần thiết cho đời sống con người, thiếu iốt có thể xảy
ra trong bất kỳ giai đoạn nào của đời người, tùy từng giai đoạn phát triển mà
thiếu iốt có tác động khác nhau. Thiếu iốt trong quá trình mang thai s ẽ làm
tăng nguy cơ sảy thai, thai chết lưu hoặc trẻ sinh ra bị thiểu năng tuyến giáp ,
bướu cổ, điếc, chậm phát triển cả trí não lẫn thể chất. Thiếu iốt gây ra một
loạt các tổn thương của hệ thống thần kinh trẻ em nên người ta thường gọi
chung là các rối loạn thiếu iốt, để nói lên thiếu iốt không chỉ gây nên bướu cổ
mà tác hại hơn cả là ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ của trẻ thơ [2],[16].
Thiếu iốt xảy ra khi lượng iốt qua thực phẩm ăn vào hàng ngày không đủ đáp
ứng nhu cầu cơ thể, gây ra một loạt các rối loạn ảnh hưởng đến sức khỏe con
người. Thiếu iốt là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng của nhiều nước trên
thế giới [38] kể cả Việt Nam [37]. Theo Tổ chức y tế thế giới, đây là nguyên
nhân quan trọng nhất gây tổn thương não và hệ thần kinh mà chúng ta có th ể
phịng ngừa được [45]. Ngay cả ở một số vùng đủ iốt thì tình trạng thiếu iốt ở
thai phụ cũng cao hơn so với các đối tượng khác [64].
Tại Việt Nam, chương trình phịng chống các rối loạn do thiếu iốt đã
được triển khai từ năm 1995 trên toàn quốc. Kết quả điều tra cho thấy, năm
2005 Việt Nam đã hồn thành việc thanh tốn các rối loạn thiếu iốt ở cấp
quốc gia: có 92,3% các hộ gia đình dùng muối iốt đủ tiêu chuẩn phịng bệnh.
Tuy nhiên đến năm 2009 theo kết quả điều tra KAP của bệnh viện Nội Tiết
Trung ương thì mức độ phủ muối iốt và chế phẩm có iốt đủ tiêu chuẩn p hòng
bệnh (nồng độ iốt ≥15ppm) chỉ đạt 69,5%. Khu vực thành phố Hồ Chí NNh,
độ phủ muối từ 66,7% năm 2005 xuống cịn 54,2%, mức iốt niệu <100µg/l:
31,5%. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long độ phủ muối từ 88,4% năm 2005
2
xuống cịn 74,8%, mức iốt niệu <100µg/l: 33,2%. Như vậy tình trạng thiếu iốt
đã quay trở lại Việt Nam [3].
Năm 2010 Theo kết quả nghiên cứu của Bác sĩ Trần Thị NNh Hạnh
(Trung tâm dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí NNh) “Tình trạng thiếu iốt ở p hụ nữ
mang thai tại thành phố Hồ Chí NNh”, iốt niệu trung vị của thai phụ là 6,3µg/dl,
tỷ lệ thai phụ có iốt niệu <10µg/dl là 72,8%, (thiếu iốt trong cộng đồng khi iốt
niệu trung vị <10µg/dl [63]). Tình trạng thiếu iốt ở thai phụ tại thành phố Hồ Chí
NNh là rất cao và có xu hướng tăng lên qua các năm, [13], [20].
An Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Qua cuộc điều tra
dịch tễ học về chống rối loạn do thiếu iốt toàn quốc năm 1995, An Giang
được xếp vào tỉnh thiếu iốt nặng (iốt niệu trung vị: 1,7µg/dl). Năm 2005, đ ộ
phủ muối iốt ở An Giang là 80,7% và Iốt niệu trung vị đạt 8,9µg/dl, nhưng
đến năm 2011 thì 2 chỉ số này chỉ cịn 60,5% và 5,6µg/dl [32]. Qua đó cho
thấy tình hình thiếu iốt ở An Giang cần phải được quan tâm. Tuy nhiên cho
đến nay, trong tồn tỉnh nói chung và tại thị xã Tân Châu nói riêng v ẫn chưa
có số liệu về tình trạng dinh dưỡng iốt ở phụ nữ mang thai. Chính vì vậy
chúng tơi tiến hành khảo sát: “Nghiên cứu tình trạng thiếu iốt ở phụ nữ có
thai, đánh giá hiệu quả trước và sau can thiệp sử dụng muối iốt tại thị xã
Tân Châu năm 2013” với các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ và mức độ thiếu iốt ở phụ nữ có thai tại thị xã Tân
Châu năm 2013.
2. Xác định tỷ lệ phụ nữ có thai có kiến thức, thực hành về sử dụng
muối iốt và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thiếu iốt tại thị xã Tân Châu.
3. Đánh giá kết quả và xác định các yếu tố liên quan sau can thiệp bằng
truyền thông sử dụng muối iốt cho thai phụ tại thị xã Tân Châu năm 2013.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu tuyến giáp
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể, nằm ở phần trước của
cổ, ở trước các vịng sụn khí quản trên và hai bên thanh quản, ngang mức các
đốt sống cổ 5, 6, 7 và ngực 1. Là tuyến có nhiều mạch máu, có màu nâu đỏ,
nặng khoảng 30g. Tuyến giáp ở phụ nữ thường to hơn nam giới và to lên
trong thời kỳ kinh nguyệt và thai nghén.
Tuyến giáp có một tầm quan trọng về sinh lý cũng như bệnh lý, với
chức năng chuyển hoá iốt để sản xuất ra các hormon giáp tr ạng là thyroxin
(T4) và triiodothyroxin (T3), có tác dụng quan trọng trong việc chuyển hố và
tăng trưởng của cơ thể, nên thiếu chất đó sinh ra bệnh đần (Mi-xơ-đem), thừa
thì bị Basedow. Ở miền núi Việt Nam, những rối loạn chuyển hoá iốt; tuyến
giáp sinh ra bướu cổ với tỷ lệ cao (bướu thường hoặc bướu Basedow)[25].
1.2 Sinh lý tổng hợp và vai trò của hormon tuyến giáp
1.2.1 Sinh lý tổng hợp hormon tuyến giáp
Iốt là chất chủ yếu cho sự tổng hợp hormon giáp . Quá trình t ổng hợp
hormon gồm 4 giai đoạn :
1.2.1.1 Bắt iốt
Trong tuyến giáp, sự bắt iốt phải có mặt của TSH. Nó tăng khi tuyến bị
kích thích bởi TSH hay khi dự trữ hormon trong tuyến giáp giảm.
Sự bắt iốt của tuyến giáp sẽ giảm nếu như nguồn cung cấp vượt quá
4mg/ngày.
Sự bắt iốt cần năng lượng, nhờ vào (bơm iốt với sự hoạt động của NaK-ATPase, q trình này có thể bị chặn lại bởi ouabain và perclorat, các ch ất
này cạnh tranh với iốt. Khi vào trong tế bào giáp, các iốt này sẽ trộn lẫn với
4
iốt được giải phóng sau khi bài tiết hormon giáp và nhanh chóng được sử
dụng để tổng hợp phân tử hormon giáp mới [30], [21].
1.2.1.2 Tổng hợp và dự trữ hormon giáp
Sự tổng hợp và dự trữ hormon giáp liên kết với thyroglobulin. Đây là
chất cần thiết cho sự iốt hóa và tạo nên dạng dự trữ hormon giáp trước khi
bài tiết ra ngồi.
Oxy hố iốt: Bước đầu tiên của sự hình thành hormon giáp là oxy hóa
I- thành iodine (I2), đây là dạng có khả năng gắn với gốc aNNo acid tyrosin
của phân tử thyroglobulin. Q trình này có sự tham gia của men peroxydase
và kèm theo nó là hydrogen peroxydase. Peroxydase khu trú ở cực đỉnh của tế
bào giáp và sự oxy hóa iốt xảy ra đúng vị trí mà ở đó thyroglobulin được tạo
thành và đổ vào dịch keo. Khi hệ thống peroxydase bị cản hoặc do thiếu bẩm
sinh thì tốc độ hình thành hormon giáp giảm xuống bằng 0.
Sự gắn iốt vào tyrosin: Sự gắn iốt vào phân tử thyroglobulin gọi là sự
hữu cơ hóa thyroglobulin và gắn độ 1/6 gốc tyrosin trên phân tử thyroglobulin
nhờ men iodinase. Đầu tiên, tyrosin được gắn với 1 và 2 iốt để tạo thành MIT
(T1) và DIT (T2). Tiếp đó trong vài phút, vài giờ hoặc vài ngày, các DIT
ghép cặp để tạo thành thyroxin, một MIT ghép với một DIT để hình thành
Triiodothyroxin T3.
Như vậy, T3, T4 được tạo thành, chính là dạng hormon tuyến giáp và
vẫn gắn vào phân tử thyroglobulin ở dạng dự trữ.
Mỗi phân tử thyroglobulin chứa 1 đến 3 T4 và 14 thyroxin có 1 phân tử
T3. Ở dạng này, hormon giáp dự trữ trong dịch keo đủ cung cấp cho cơ thể
trong 2-3 tháng [21].
1.2.1.3 Sự di chuyển của hormon giáp
Quá trình này diễn ra ngược lại với sự thu nhận iốt: từ dịch keo đi qua
tế bào và từ cực đỉnh đến cực mạch máu. Bắt đầu bằng sự hình thành các chân
giả ở các nhung mao phía màng đỉnh của tế bào giáp. Chúng s ẽ lấy các giọt
5
keo tạo nên một cái túi trong lịng nó, rồi kết hợp với các lysosom chứa
enzym tiêu hóa. Proteinas là một trong số các enzym này, tiêu hóa p hân t ử
thyroglobulin và phóng thích T3, T4 bằng cách cắt các dây nối peptid gắn
hormon với phân tử protein này. Các hormon khuếch tán về cực mạch máu để
đổ vào mao mạch xung quanh, một số đi vào ống bạch huyết.
Khoảng 3/4 tyrosin đã được iốt hóa trong thyroglobulin vẫn ở dạng MIT
và DIT. Cùng với sự phóng thích T3, T4, các dạng này cũng được phóng thích
nhưng khơng được tiết vào máu, mà bị khử iốt bởi men deiodinase. Chính
những iốt này quay trở lại trong tuyến để góp phần tạo hormon giáp mới.
1.2.1.4 Sự bài tiết hormon giáp
Độ 93% hormon được phóng thích từ
giáp là thyroxine
(100nmol/24giờ) và chỉ hơn 7% là T3 (10 nmol/24giờ). Sau vài ngày phần
lớn T4 bị khử iốt để tạo thành T3. Cuối cùng hormon đến và hoạt động trên tổ
chức chủ yếu là T3, có độ 35 microgram T3 được tạo nên mỗi ngày nhưng
chúng khơng có hoạt tính và có thể bị phá hủy.
Hàm lượng T4 toàn bộ trong huyết tương trong khoảng 50-140 nmol/l
và T3 là 1,2-3,4 nmol/l, phần lớn được kết hợp với protein huyết tương.
T3,T4 tự do được đo trực tiếp bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ, T4 tự do (fT4) bằng 12 pmol/l, T3 tự do (f-T3) là 30pmol/l, đây chính là dạng hoạt động
của hormon [21].
1.2.2 Vai trò của hormon tuyến giáp
1.2.2.1 Tác dụng lên chuyển hóa tế bào
T4, T3 làm tăng tiêu thụ O2 ở hầu hết các mô trong cơ thể nên làm tăng
chuyển hóa cơ sở (CHCS), ngoại trừ não, tinh hồn, tử cung, lách, bạch huyết,
tiền yên. CHCS có thể tăng từ 60-100% trên mức bình thường khi một lượng
lớn hormon được bài tiết.
Tăng kích thước và số lượng ty lạp thể, do đó tăng ATP để cung cấp
năng lượng cho các hoạt động chức năng của cơ thể.
6
Khi T3, T4 tăng quá cao (cường giáp ), cá c ty l ạp t hể càng t ăng
hoạt động, năng lượng khơng tích lũy h ết dưới dạng ATP mà thải ra dưới
dạng nhiệt.
Hormon giáp có tác dụng hoạt hố men Na+ -K+ -ATPase do đó làm
tăng vận chuyển ion Na+ và K+ qua màng tế bào một số mơ, q trình này
cần sử dụng năng lượng và tăng sinh nhiệt nên được coi đây là cơ chế làm
tăng chuyển hoá của cơ thể [14].
1.2.2.2 Tác dụng trên sự tăng trưởng
Thể hiện rõ ở thời kỳ đang lớn của đứa trẻ, cùng với GH làm cơ thể
phát triển. Đặc biệt có tác dụng phát triển bộ não thai nhi và những năm đầu
sau sinh.
1.2.2.3 Tác dụng trên chuyển hóa
Glucid: hormon giáp tác dụng hầu hết các giai đoạn của q trình
chuyển hố glucid, bao gồm tăng thu nhận glucose ở ruột, tăng tạo đường
mới, tăng phân hủy glycogen thành glucose ở gan, do đó gây tăng glucose
máu nhưng chỉ tăng nhẹ.
Lipid: tăng thối hóa lipid ở mơ mỡ dự trữ, gây tăng nồng độ acid béo
tự do huyết tương và tăng oxy hóa acid béo tự do ở mơ để cho năng lượng.
Giảm lượng cholesterol, phospholipid, triglycerid huyết tương, do đó người
nhược năng tuyến giáp có thể có tình trạng xơ vữa động mạch.
Protid: ở liều sinh lý, T3, T4 làm tăng tổng hợp protein giúp cho sự
phát triển và tăng trưởng cơ thể, nhưng ở liều cao, tác dụng dị hóa nổi bật,
gây mất protein ở mơ, vì vậy người bệnh cường giáp thường gầy.
Tác dụng trên chuyển hóa vitamin: T3,T4 cần cho sự hấp thu vitamin
B12 ở ruột và chuyển caroten thành vitamin A.
1.2.24 Tác dụng trên hệ thần kinh cơ
Hormon giáp thúc đẩy phát triển trí tuệ, liều cao gây hoạt bát, bồn
chồn, kích thích; nhược năng ở trẻ gây chậm phát triển về trí tuệ.
7
Hoạt hóa synap, làm ngắn thời gian dẫn truyền qua synap, do đó ở bệnh
nhân cường giáp, thời gian phản xạ gân xương ngắn, đồng thời, tăng hoạt động
các synap thần kinh ở vùng tủy chi phối trương lực cơ gây dấu hiệu run cơ.
1.2.2.5 Tác dụng lên tim mạch
Trên tim làm tăng số lượng receptor ở tim, do đó tim nhạy cảm với
catecholamine nhiều hơn, làm nhịp tim nhanh.
Trên mạch máu: tăng chuyển hóa và tăng các sản p hẩm chuyển hóa ở
mơ gây dãn mạch, làm tăng lưu lượng tim, có khi tăng trên 60% trong cường
giáp và giảm chỉ cịn 50% so với bình thường trong nhược năng giáp.
1.2.2.6 Tác dụng lên cơ quan sinh dục
Sự hoạt động bình thường của tuyến giáp cần thiết cho sự phát triển bình
thường của bộ máy sinh dục. Ở nam giới, thiếu hormon giáp gây mất dục tính
nhưng bài tiết nhiều có thể gây bất lực. Ở nữ giới, thiếu hormon giáp gây rong
kinh, đa kinh nhưng thừa hormon gây ít kinh, vô kinh hoặc giảm dục tính [14].
1.3 Vai trò của iốt đối với sức khỏe
Iốt là một trong những vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển cơ
thể. Thông qua tuyến giáp mà iốt ảnh hưởng đến sự điều chỉnh quá trình p hát
triển của hệ thần kinh trung ương, phát triển hệ sinh dục và các bộ phận trong
cơ thể như tim mạch, tiêu hóa, da – lơng – tóc – móng, duy trì năng lượng cho
cơ thể hoạt động… đặc biệt cần thiết cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh
ở những trẻ trước sinh, sơ sinh và đang phát triển. Chính vì lý do này mà p h ụ
nữ mang thai và cho con bú cần bổ sung đầy đủ iốt trong thực phẩm sinh hoạt
hàng ngày [52], [53].
Tuy nhiên, theo các nhà chuyên môn, nếu lượng iốt dư thừa trong cơ thể
do cung nhiều hơn cầu hoặc đang dùng thuốc chứa iốt thường xuyên… cũng sẽ
gây nên các bệnh cảnh như hội chứng cường giáp, hay gặp nhất là bệnh Grave
(Basedow), ngồi ra cịn có u độc tuyến giáp, viêm tuyến giáp… [65].
8
1.4 Hậu quả của thiếu iốt
Thiếu iốt là vấn đề sức khỏe cộng đồng, mà bệnh cảnh phổ biến nhất là
bướu cổ, được xem như phần nổi của tảng băng, cịn phần chìm ít được nhận
ra. Trẻ em và phụ nữ mang thai là những đối tượng rất dễ bị thiếu iốt do nhu
cầu ở nhóm đối tượng này tăng cao [41], [49]. Thiếu iốt ở thai p hụ dễ xảy ra
sẩy thai, thai chết lưu hoặc sinh non, nếu thiếu nặng trong giai đoạn mang thai
thì trẻ sinh ra sẽ bị đần độn, câm, điếc và các dị tật bẩm sinh khác. Thiếu iốt ở
trẻ em sẽ gây ra chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng…
ngồi ra thiếu iốt cịn gây ra bướu cổ, thiểu năng tuyến giáp , ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển và hoạt động của cơ thể, giảm khả năng lao động, mệt mỏi
[42], [59], [56].
"Thiếu iốt là nguyên nhân chính đe dọa sức khỏe và sự p hát triển của
con người trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em trước tuổi đến trường và p hụ
nữ trước khi sinh", tiến sĩ Lee Jong-Wook, giám đốc phụ trách sức khỏe Liên
Hiệp Quốc cho biết. "Thiếu iốt ảnh hưởng đến sự phát triển ở não trẻ khi
chúng còn trong bụng mẹ", bác sĩ Bruno de Benoist viết trong bản báo cáo.
"Nó cũng kìm hãm khả năng tiếp cận của trẻ khi đến trường và khi lớn lên.
Điều này tác động tích cực đến nền kinh tế quốc gia". Quỹ nhi đồng Liên
Hiệp Quốc ước tính trên thế giới có khoảng 66% số hộ gia đình đã tiếp cận
được với muối iốt, nhưng WHO cho biết vẫn cần thêm nhiều chương trình
thiết thực hơn để nâng cao tỷ lệ này. Trong khi đó, tình trạng tiêu thụ iốt q
nhiều lại đang diễn ra ở một số nước. WHO cũng cảnh báo điều này sẽ dẫn
đến rối loạn chức năng tuyến giáp do lượng iốt thừa gây ra [63].
Theo tác giả Mariacarla Moleti, cho rằng: Có bằng chứng ngày càng tăng
thậm chí rối loạn chức năng tuyến giáp nhẹ có thể liên quan đến tổn thương phát
triển não của thai nhi. Hơn nữa một nghiên cứu theo dõi 10 năm thế hệ con của
người mẹ thiếu iốt nhẹ cho thấy đến 70% trẻ sinh ra bị bệnh rối loạn tăng động
9
thiếu chú ý và điểm IQ giảm ở các trẻ sinh ra từ bà mẹ giảm thyroxin trong máu
(nhưng không phải nhược giáp) trong thời kỳ đầu mang thai. Mariacarla Moleti
và cs đã chứng NNh rằng chương trình muối iốt kéo dài cải thiện đáng kể chức
năng tuyến giáp của mẹ và giảm nguy cơ suy giáp mẹ trong lúc mang thai, có lẽ
là do khơi phục dự trữ iốt trong tuyến giáp [43].
Tác giả Phạm Ngọc Oanh và cs thuộc Trung Tâm dinh dưỡng Thành
phố Hồ Chí NNh, tiến hành khảo sát : nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại
96 phường xã thuộc 24 quận huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí NNh 2016
hộ gia đình bao gồm 171 trẻ dưới 5 tuổi và 2016 phụ nữ 15-49 tuổi tham gia.
Mục đích của khảo sát nhằm đánh giá tình trạng thiếu iốt của trẻ dưới 5 tuổi
và phụ nữ 15-49 tuổi. Đối tượng tham gia được thu mẫu nước tiểu, thu mẫu
muối đang sử dụng tại hộ gia đình và phỏng vấn theo bảng câu hỏi. Tình trạng
thiếu iốt được đánh giá khi iốt niệu < 10µg/dl. Kết quả: iốt niệu trung vị của
trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ 15-49 tuổi lần lượt là 18,1µg/dl và 9,1µg/dl. Tỉ lệ
thiếu iốt ở trẻ dưới 5 tuổi là 21,6% và phụ nữ 15-49 tuổi là 56,3%. Tỉ lệ hộ gia
đình có sử dụng muối iốt là 76,2%. Tỉ lệ dùng muối iốt đủ tiêu chuẩn p hòng
bệnh là 73,8%. Với kết luận: tình trạng thiếu iốt của phụ nữ 15-49 tuổi là vấn
đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm [23].
Theo kết quả điều tra Đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam
năm 2011, chỉ có 45,1% hộ dân sử dụng muối iốt đủ tiêu chuẩn p hòng bệnh.
Việc sử dụng muối iốt khác biệt giữa các vùng, tỷ lệ này vẫn thấp hơn nhiều so
với tiêu chuẩn Quốc tế (phải có ít nhất 90% hộ gia đình sử dụng muối iốt) [29].
1.5 Tình hình thiếu iốt ở phụ nữ có thai
1.5.1 Tình hình thiếu iốt ở phụ nữ có thai trên thế giới
Nồng độ iốt niệu trung vị ở học sinh được khuyến cáo dùng để đánh giá
dinh dưỡng iốt trong cộng đồng. Nếu iốt niệu trung vị là đủ ở lứa tuổi học
sinh, người ta thường giả định sự tiêu thụ iốt cũng đủ trong cộng đồng còn lại,
10
kể cả phụ nữ có thai. Nhưng nhu cầu iốt tăng khá cao trong lúc mang thai.
Một trung tâm Chăm sóc sức khoẻ tại Thái Lan đã thực hiện đo iốt niệu từng
cặp ở phụ nữ có thai và con của họ sống trong cùng một gia đình, dùng chung
thức ăn, để trực tiếp đánh giá, liệu gói thực phẩm trong nhà có cung cấp đủ iốt
cho trẻ học sinh cũng như nhu cầu của phụ nữ có thai. Iốt niệu trung vị được
đo ở các mẫu nước tiểu theo từng cặp (302) của người mẹ mang thai khoẻ
mạnh và con của họ (ở thủ đô Bangkok). Iốt niệu trung vị của phụ nữ có thai
là {108 (11–558) mg/L hay 0.85 (0.086–4.41) mmol/L} thấp hơn của con của
họ {200 (25–835) mg/L hay 1.58 (0.20–6.52) mmol/L} (p = 0.001), cho th ấy
tình trạng iốt tối ưu ở con nhưng ở mẹ đang mang thai thì thiếu từ nhẹ cho
đến trung bình. Điều này cho thấy iốt niệu trung vị ở con không được dùng
thay thế cho iốt niệu của mẹ đang mang thai. Phụ nữ có thai cần được giám
sát trực tiếp [57].
- Mỹ lần đầu tiên xem xét thiếu hụt iốt từ khi muối ăn bắt đầu iốt hoá tự
nguyện vào năm 1924. Tuy nhiên, cho đến nay muối ăn chỉ còn chiếm 15%
muối ăn vào mỗi ngày ở Mỹ. Hàm lượng iốt tự nhiên trong rau và hạt tương
đối thấp và khá thay đổi tuỳ theo vùng đất. Iốt cũng có thể có trong các s ản
phẩm sữa do bổ sung iốt vào thức ăn của gia súc. Qua nhiều thập kỷ, tình
trạng rối loạn iốt của cộng đồng dân cư Mỹ đã giảm 50% từ nồng độ iốt niệu
(UIC:urinary iodine concentrations) trung vị 320 mcg/l xuống còn 145 mcg/l.
Tuy vậy vẫn cịn nhiều nhóm phụ nữ có thai và phụ nữ trong diện tuổi sinh đẻ
ở Mỹ có nguy cơ thiếu iốt [38].
1.5.2 Tình hình thiếu iốt ở phụ nữ có thai tại Viêt Nam
Trong nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh về tình trạng thiếu iốt ở
PNCT tại thành phố Hồ Chí NNh năm 2010. Tác giả tiến hành điều tra cắt
ngang 776 PNCT, iốt niệu trung vị là 6.3µg/dl, tỷ lệ PNCT có iốt niệu
<10µg/dl là 72,8%, với tỷ lệ thiếu iốt nhẹ (iốt niệu 5-9,9µg/dl) là 33,6%, thiếu
11
vừa (2-4,9µg/dl) là 27,3% và thiếu nặng (iốt niệu <2µg/dl) là 11,9%. PNCT
sống ở vùng ngoại thành hoặc vùng ven có nguy cơ thiếu iốt cao gấp 1,4 lần
so với sống ở vùng nội thành. Cứ thêm mỗi tháng tăng lên trong thai kỳ sẽ
tăng nguy cơ bị thiếu iốt lên 20%. Dùng muối iốt đủ tiêu chuẩn p hòng bệnh
giúp giảm 45% nguy cơ bị thiếu iốt. Tỷ lệ PNCT sử dụng muối iốt là 68,1%
và dùng muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh là 56,8%. Cuối cùng tác giả kết
luận tỷ lệ thiếu iốt cao ở PNCT & giai đoạn sau thai kỳ có nguy cơ thiếu iốt
cao so với giai đoạn đầu [12].
1.6 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu iốt
Trong thiên nhiên phần lớn iốt được dự trữ trong nước biển. Từ biển iốt
theo hơi nước bốc lên được đưa vào đất liền. Mưa bổ sung iốt cho đất, nhưng
cũng chính mưa lũ gây ra nạn xối mịn làm trơi iốt ra biển, làm nghèo iốt trong
đất. Thức ăn là nguồn cung cấp iốt chủ yếu, con người và động vật dùng lương
thực và cây cỏ nuôi trồng trên đất thiếu iốt sẽ dẫn đến tình trạng thiếu iốt [30].
Phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ em là đối tượng có nguy cơ bị thiếu iốt cao
hơn cả. Ngoài ra, việc sử dụng muối iốt cịn bị ảnh hưởng bởi trình độ văn hố
(tỷ lệ sử dụng muối iốt tăng theo trình độ văn hoá), hiểu biết của người dân về
tác hại của việc thiếu iốt và nhiều người cho rằng muối iốt có mùi vị khó chịu,
thói quen sử dụng muối thường để tiện cho nấu ăn và nuôi gia súc…
Nhu cầu iốt Lượng iốt tối ưu cho cơ thể người trưởng thành là
200µg/ngày, giới hạn an tồn là 1000µg/ngày. Theo khuyến nghị của Viện
nghiên cứu khoa học Mỹ (1989), nhu cầu hàng ngày của một số đối tượng
như sau [16].
12
Bảng 1. 1 Nhu cầu iốt của các đối tượng [51]
Tuổi và đối tượng
Nhu cầu/ngày(µg)
Trẻ 0 – 6 tháng
40 – 90
Trẻ 6 – 12 tháng
50 – 90
Trẻ 1 – 3 tuổi
70 – 90
Trẻ 4 - 6 tuổi
90
Trẻ 7 – 10 tuổi
120
Thanh thiếu niên
150
Phụ nữ có thai
175 – 200
Phụ nữ cho con bú
200
Năm 2003, Tạ văn Bình và cs đã phân tích mẫu nước tiểu tại xã Kiến
Thành, An Giang và xã Duyên Hoà, Hà Nội, tại thời điểm điều tra, 2 xã đã s ử
dụng muối iốt từ năm 1998. Tác giả so sánh các mẫu đậu đũa, đất và nước xã
Kiến Thành đều thấp hơn xã Duyên Hoà (iốt trung bình 2,63530 so với
3,03630, với p<0,001). Iốt niệu trung vị của nhân dân xã Kiến Thành ở mức
thấp 6 mcg/dl với mức độ thiếu iốt nặng là 8,2%, trung bình 29,7%, nhẹ
32,2%. Đủ iốt chỉ chiếm 29,9% [3].
Tác giả Đoàn Khắc Hoa và Nguyễn Văn Tỉnh với nghiên cứu “xác định
hàm lượng iốt tồn lưu trong muối trộn iốt để phòng chống bệnh bướu cổ” cho
thấy: iốt được trộn trong muối sẽ giảm dần theo thời gian. Qua 12 tháng, hàm
lượng iốt có giảm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. Hàm lượng iốt sau khi rang
khô 5 phút giảm đi trung bình 50%, nên khơng đảm bảo chất lượng qui định.
Hàm lượng iốt tồn lưu trong muối iốt sau khi đun sơi 4, 8 và 30 phút có giảm
dần đi nhưng vẫn đảm bảo chất lượng [13].
TTYTDP tỉnh An Giang báo cáo: Kết quả giám sát muối iốt tại hộ gia
đình năm 2011, phụ nữ trong độ tuổi 15-49 được chọn là đối tượng điều tra,
với lý do: là đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu iốt, điều đó sẽ ảnh hưởng đến sự
13
phát triển của bào thai và trẻ em đang bú mẹ; p hụ nữ lứa tuổi này thường là
người quyết định việc mua muối nào để sử dụng trong gia đình.
Qua khảo sát cho thấy:
+ Trình độ văn hóa và các nguồn cung cấp thơng tin đại chúng có vai
trị quan trọng trong nhận thức về sử dụng muối iốt của người dân. Trình độ
càng cao, hiểu biết càng tăng thì việc dùng muối iốt tăng lên và ngược lại.
+ Nồng độ iốt niệu liên quan chặt chẽ với việc sử dụng muối iốt đủ chất
lượng phòng bệnh.
+ Đối tượng sử dụng muối iốt khơng đủ chất lượng p hịng bệnh hoặc
khơng sử dụng muối iốt có mức iốt niệu ≥10µg/dl chiếm thấp (22,7%).
+ Đối tượng sử dụng muối iốt đủ chất lượng phịng bệnh có mức iốt
≥10µg/dl cao hơn (34%).
+ Tỷ lệ sử dụng muối iốt đủ chất lượng phịng bệnh nhưng có mức iốt
niệu <10µg/dl chiếm 66%. Điều này là do việc sử dụng các loại nước chấm
khác kèm theo, đặc biệt là nước mắm. Do đó, ngồi muối iốt thì nước mắm có
vai trị quan trọng trong việc bổ sung iốt cho người dân [32].
1.7 Các biện pháp can thiệp phịng thiếu iốt
Có nhiều biện pháp phịng chống rối loạn do thiếu iốt, một trong những
biện pháp đó là bổ sung thêm iốt vào muối ăn hàng ngày. Các nghiên cứu
trong và ngoài nước đều cho thấy rằng đây là một biện p háp p hòng bệnh có
hiệu quả nhất, đơn giản nhất và chi phí thấp nhất. Việc bổ sung iốt p hải diễn
ra thường xuyên đều đặn hàng ngày, hết năm này qua năm khác, hay nói cách
khác, việc bổ sung iốt ln tiếp diễn trong suốt cả đời người. Trong những
năm vừa qua, thực tế này đã được chứng minh. Việt Nam là một trong những
nước đã đạt được thành tựu kiểm soát chống rối loạn do thiếu iốt vào năm
2005. Rối loạn do thiếu iốt là một rối loạn dinh dưỡng dễ và rẻ tiền nhất trong
cơng tác dự phịng. Thêm một lượng iốt vào muối đủ để p hòng bệnh nhưng
14
không thay đổi lượng muối mà người dân dùng mỗi ngày. Thế giới đã chứng
minh rằng tổn thương não do thiếu hụt iốt-ngun nhân có th ể p hịng ngừa
được. Loại trừ các rối loạn do thiếu iốt là một vấn đề quan trọng, Vì vậy nên
là vấn đề ưu tiên cao nhất của chính phủ và các cơ quan quốc tế [63].
1.7.1 Chương trình phịng chống rối loạn do thiếu iốt
Năm 1994, một phiên họp đặc biệt của Liên Uỷ ban WHO và UNICEF
về chính sách sức khoẻ đã khuyến cáo về chương trình iốt hố muối phổ
thơng (Universal Salt Iodization, USI) như là một chiến lược an toàn, có lợi
và có thể bảo đảm đủ nhu cầu iốt cho tất cả người trưởng thành. Phiên h ọp
cũng gợi ý bổ sung iốt tạm thời ở các vùng thiếu iốt nặng nơi mà muối iốt hố
phổ thơng khơng thể thực hiện được.
Hội nghị cũng đưa ra kết luận: dựa vào bằng chứng và các bài học
trong những năm vừa qua, người ta thấy các nhóm dễ mắc bệnh nhất là các
thai phụ, các bà mẹ cho con bú và các trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, đây là các đối
tượng nếu khơng được cung cấp đầy đủ muối iốt thì có thể làm tổn hại cho sự
phát triển não của thai nhi và nhũ nhi.
Để nhắm vào vấn đề này, WHO đã triệu tập một Hội nghị tư vấn kỹ
thuật về dự phịng và kiểm sốt tình trạng thiếu iốt ở bà mẹ mang thai, cho
con bú và các trẻ em dưới 2 tuổi, được tổ chức vào các ngày 24-26/1/2005 t ại
Geneva, Thuỵ Sĩ. Bước đầu tiên, các quốc gia cần đánh giá và xếp loại mức
độ thực hiện chương trình muối iốt và dựa vào phân tích này, xem xét lại
chiến lược kiểm soát các rối loạn thiếu iốt, nếu cần [33].
1.7.1.1 Phân loại các quốc gia dựa vào mức độ thực thi chương trình muối iốt
Các nước hoặc vùng lãnh thổ có thể được xếp thành 4 nhóm dựa vào tỷ
lệ các thành viên trong gia đình sử dụng muối iốt:
Nhóm 1: 90%, nhóm 2: 50-90%, nhóm 3: 20-50% và nhóm 4: <20%
15
1.7.1.2 Kế hoạch bổ sung iốt ở phụ nữ mang thai, cho con bú và trẻ em 7-24
tháng tuổi.
Nhóm 1: (Độ phủ muối iốt đạt ≥ 90%) duy trì thành qu ả của iốt hoá
muối. Đánh giá lại kết quả thực hiện chương trình theo chu kỳ.
Nhóm 2: (Độ phủ muối iốt đạt từ 50-90%), cần nỗ lực tăng cường
khuyến cáo người dân sử dụng muối iốt dựa vào các hướng dẫn có sẵn. Nếu
khơng có tiến bộ trong vịng 2 năm, cần tăng cường dùng muối iốt hoặc thức
ăn có bổ sung iốt cho các nhóm dễ mắc bệnh: phụ nữ mang thai, p hụ nữ cho
con bú và trẻ em 7-24 tháng tuổi, sau đó đánh giá lại.
Nhóm 3: (Độ phủ muối từ 20-50%) cần đánh giá tính khả thi của việc
tăng cường iốt dưới dạng bổ sung iốt vào thức ăn cho các nhóm dễ mắc bệnh
theo các bước được mơ tả sau đây:
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng iốt trong cộng đồng, độ bao p hủ muối
iốt và chương trình iốt hố để xác định vấn đề thuộc tầm quốc gia hay khu
vực. Một đánh giá nhanh ban đầu là cần thiết để so sánh và để giám sát trong
tương lai.
- Phát triển một kế hoạch mới nhằm củng cố chương trình muối iốt bao
gồm: tăng cường cam kết chính trị, hỗ trợ, xây dựng kỹ nghệ muối iốt để sản
xuất và bảo đảm chất lượng, thông qua thực thi các điều luật và luật lệ thích
hợp, một hệ thống giám sát muối iốt hiệu quả tại nơi sản xuất (hoặc nhập
khẩu), ở mức độ bán lẻ và cộng đồng.
- Nếu không thành công trong việc mở rộng (scaling up) chương trình
muối iốt trong vịng 2 năm, thì việc bổ sung iốt cho nhóm dễ mắc bệnh bằng
cách tăng cường thức ăn có chứa iốt được xem như một biện p háp t ạm thời,
trong khi chờ thực thi chương trình muối iốt. Trong các vùng thiếu iốt trung
bình và nặng (iốt niệu trung vị <5 mcg/dl hoặc tỷ lệ bướu cổ chung >20%),
mục tiêu là cung cấp thêm iốt dưới dạng bổ sung cho tất cả p hụ nữ có thai,
phụ nữ cho con bú và thực phẩm tăng cường iốt đối với trẻ em 7-14 tháng.