Tải bản đầy đủ (.pdf) (74 trang)

Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật hôn nhân gia đình việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.27 MB, 74 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT DÂN SỰ
----------------

ĐẶNG THỊ THANH NHÀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA
MẸ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT HÔN
NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chun ngành Luật Dân sự

TP HCM - 2012


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT DÂN SỰ
-----------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA
MẸ LY HƠN THEO PHÁP LUẬT HƠN NHÂN
GIA ĐÌNH VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐẶNG THỊ THANH NHÀN
Khóa: 2008- 2012
MSSV: 0855020087
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN: TH.S TRẦN THỊ HƢƠNG


TP HCM - 2012


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành khóa luận tốt nghiệp ngồi sự nỗ lực của bản thân tác giả đã nhận
đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ, động viên của gia đình, thầy cơ, bạn bè.
Đầu tiên xin tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hƣớng dẫn cô Trần Thị Hƣơng
đã tận tình hƣớng dẫn tác giả hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Xin cám ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tác giả trong
quá trình thực hiện khóa luận.
Cám ơn thƣ viện trƣờng Đại học Luật TP. HCM, Chi cục Thi hành án dân sự
quận Phú Nhuận (TP. HCM) đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tài liệu.


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. BDLB

Bộ Dân luật Bắc

2. BDLNK

Bộ Dân luật Nam kì

3. BDLT

Bộ Dân luật Trung

4. BLDS

Bộ luật Dân sự


5. HĐTCT

Hồng Đức thiện chính thƣ

6. HVLL

Hồng Việt luật lệ

7. LHNGĐ

Luật Hơn nhân và gia đình

8. NĐ 70/2001/NĐ-CP

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001
Chính phủ quy định chi tiết Luật Hơn nhân và
gia đình 2000

9. NĐ 110/2009/NĐ-CP

Nghị định số 110/2009/NĐ-CP
ngày 10/12/2009 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực phịng
chống bạo lực gia đình

10. NQ 02/2000/NQ-HĐTP

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán

Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng
một số quy định của
Luật hơn nhân và gia đình 2000

11. TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

12. QTHL

Quốc triều hình luật


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƢƠNG 1 ............................................................................................................ 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA
MẸ LY HƠN .......................................................................................................... 1
1.1.

Ly hơn và ảnh hƣởng của ly hôn đối với sự phát triển của con ................... 1

1.1.1.

Khái niệm ly hôn ......................................................................................... 1

1.1.2.

Ảnh hưởng của ly hôn đối với sự phát triển của con và sự cần thiết phải


bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn ........................................................... 3
1.2.

Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn theo pháp luật hơn nhân gia

đình Việt Nam trƣớc 1 - 1 - 2001 .............................................................................. 6
1.2.1.

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trước Cách

mạng tháng 8 năm 1945 ........................................................................................... 6
1.2.1.1. Thời kì quân chủ phong kiến (939 - 1858) ............................................... 6
1.2.1.2. Thời kì Pháp thuộc (1858 - 1945) ............................................................ 7
1.2.2.

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn từ sau Cách

mạng tháng 8 năm 1945 đến trước 1 - 1 - 2001 ...................................................... 9
1.2.2.1. Thời kì từ 1945 - 1959 .............................................................................. 9
1.2.2.2. Thời kì 1959 - 1986 ................................................................................ 10
1.2.2.3. Thời kì 1986 - 2000 ................................................................................ 11
CHƢƠNG 2 .......................................................................................................... 12
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA MẸ LY HƠN THEO LUẬT HƠN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 .................................................... 12
2.1.

Nhóm con là đối tƣợng đƣợc bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn ............. 12


2.2.


Xác định ngƣời trực tiếp nuôi con khi cha mẹ ly hôn ................................ 18

2.2.1.

Xác định người trực tiếp nuôi con khi có sự thỏa thuận của vợ chồng. 18

2.2.2.

Xác định người trực tiếp nuôi con dựa vào quyết định của tòa án ........ 19

2.3.

Nghĩa vụ và quyền của cha (mẹ) không trực tiếp nuôi con ........................ 22

2.3.1.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con .................................................................. 22

2.3.1.1. Khái niệm nghĩa vụ cấp dưỡng .............................................................. 22
2.3.1.2. Đặc điểm nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn ....... 23
2.3.1.3. Mức cấp dưỡng ....................................................................................... 25
2.3.1.4. Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng .......................................... 26
2.3.1.5. Thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng………………. .......................................................................................... 29
2.3.1.6. Tạm ngừng cấp dưỡng............................................................................ 29
2.3.1.7. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng ............................................................... 30
2.3.1.8. Các biện pháp chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ................... 31
2.3.2.
2.4.


Quyền thăm nom con ................................................................................ 33

Thay đổi ngƣời (cha hoặc mẹ) trực tiếp nuôi con ........................................ 34

2.4.1.

Điều kiện để thay đổi người (cha hoặc mẹ) trực tiếp nuôi con .............. 35

2.4.2.

Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ sau khi thay đổi người trực tiếp nuôi

con………………. ..................................................................................................... 35
CHƢƠNG 3 .......................................................................................................... 37
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN ..................................................................... 37
3.1.

Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn ................ 38

3.1.1.

Vấn đề nuôi con chung sau khi ly hôn .................................................... 38


3.1.1.1. Thực trạng vấn đề giao con .................................................................... 38
3.1.1.2. Thực trạng việc chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp
nuôi con ................................................................................................................ 39
3.1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên .................................................... 42

3.1.2.

Vấn đề thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. .................. 44

3.1.2.1. Thực trạng vấn đề thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con . 44
3.1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng trên ........................................................... 47
3.1.3.

Vấn đề thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn ................... 47

3.1.3.1. Thực trạng việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn ...... 47
3.1.3.2. Nguyên nhân của dẫn đến những thực trạng trên .................................. 52
3.2.

Giải pháp hồn thiện ..................................................................................... 55

3.2.1.

Nhóm giải pháp tâm lí - xã hội................................................................. 55

3.2.2.

Nhóm giải pháp pháp lí ............................................................................ 56

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nơi ni dƣỡng con ngƣời. Gia đình đóng

vai trị quan trọng trong việc hình thành và giáo dục nhân cách mỗi ngƣời, nhất là
ngƣời chƣa thành niên. Một gia đình hạnh phúc với sự quan tâm, chăm sóc đầy đủ của
cả cha và mẹ là môi trƣờng tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con. Nhƣng hiện
nay tình trạng ly hơn giữa các cặp vợ chồng ngày càng tăng đến mức báo động. Khi vợ
chồng ly hôn những đứa con vốn cần sự yêu thƣơng, chăm sóc của cả cha và mẹ trong
một gia đình êm ấm phải chịu cảnh gia đình chia lìa, nếu khơng có sự bảo vệ thích hợp
sẽ rất dễ bị ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp. Trên thực tế khơng ít trƣờng hợp
sau khi ly hơn vợ chồng khơng quan tâm, chăm sóc con cái đúng mức dẫn đến tình
trạng trẻ đi vào con đƣờng sa ngã nhƣ bỏ học, nghiện hút, phạm tội… Đặc biệt trong
những năm gần đây tình hình phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên ngày càng tăng. Chính
vì vậy vấn đề bảo vệ quyền lợi của những đứa con sau khi cha mẹ ly hôn đã và đang
đƣợc xã hội rất quan tâm.
Luật Hơn nhân và gia đình ra đời đã góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền
lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ bản nhƣ: quy định xác định ngƣời
trực tiếp nuôi con vì quyền lợi mọi mặt của con, về việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi
con khi quyền lợi của con không đƣợc đảm bảo…
Tuy nhiên, việc vận dụng những quy định của pháp luật để giải quyết vấn đề
này vẫn gặp những khó khăn nhất định. Trên thực tế sự vi phạm về vấn đề giao con cho
một bên trực tiếp nuôi dƣỡng, thăm nom con đặc biệt là vi phạm nghĩa vụ cấp dƣỡng
nuôi con vẫn xảy ra, điều này gây ảnh hƣởng đến quyền lợi chính đáng của các con. Vì
vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nhằm làm hoàn thiện hơn các quy định của
pháp luật để bảo vệ quyền lợi của trẻ sau khi cha mẹ ly hơn là cần thiết.
Chính vì những lí do đó, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi
của con khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật hơn nhân và gia đình Việt Nam” là đề tài
nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp. Với đề tài này tác giả mong muốn trên cơ sở
nghiên cứu, phân tích những quy định của pháp luật, kết hợp với thực tiễn áp dụng các


quy định đó để thấy đƣợc những vƣớng mắc và đƣa ra một số giải pháp góp phần hồn
thiện hơn các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề bảo vệ quyền lợi

của con khi cha mẹ ly hôn.
 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các quy định của pháp luật hơn nhân và gia
đình và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của con
khi cha mẹ ly hôn.
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn trong quan hệ hơn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà không đề cập đến quan hệ hơn
nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngồi.
 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện khóa luận này, tác giả có sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu
nhƣ: phƣơng pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phƣơng pháp phân
tích, tổng hợp.
 Cơ cấu đề tài: gồm ba chƣơng
Chƣơng 1: Khái quát chung về vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn.
Trong chƣơng này, tác giả tìm hiểu khái niệm ly hôn, ảnh hƣởng của ly hôn đối
với sự phát triển của con và sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly
hôn, sơ lƣợc về vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn qua các thời kì theo
pháp luật hơn nhân gia đình Việt Nam.
Chƣơng 2: Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn theo Luật Hơn nhân và gia đình
Việt Nam năm 2000.
Trong chƣơng này, tác giả tìm hiểu những quy định của pháp luật thực định về
bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn: vấn đề xác định ngƣời trực tiếp nuôi con
khi cha mẹ ly hôn, nghĩa vụ cấp dƣỡng của ngƣời không trực tiếp nuôi con, vấn đề thay
đổi ngƣời trực tiếp nuôi con...


Chƣơng 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha
mẹ ly hôn.
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng của việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha

mẹ ly hôn tác giả đƣa ra một số giải pháp góp phần làm hồn thiện các quy định của
pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng nhƣng do kiến thức có hạn và chƣa có kinh
nghiệm thực tiễn dẫn đến đề tài cịn nhiều thiếu sót. Vì vậy, tác giả mong nhận đƣợc sự
quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI
CHA MẸ LY HƠN
1.1.

Ly hơn và ảnh hƣởng của ly hôn đối với sự phát triển của con
Khi thiết lập quan hệ hôn nhân các bên vợ chồng đều hƣớng đến việc “cùng

nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”1. Đó cũng
chính là mục đích của hơn nhân. Tuy nhiên, khơng phải hơn nhân nào cũng đạt đƣợc
mục đích nên pháp luật đã dự liệu chế định ly hôn. Ly hơn dẫn đến sự tan vỡ của một
gia đình để lại nhiều hậu quả không mong muốn cho các bên trong cuộc nhƣng đối
tƣợng chịu ảnh hƣởng nhiều nhất đó là các con. Chính vì vậy việc pháp luật quan tâm,
điều chỉnh đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn là rất cần thiết.
1.1.1. Khái niệm ly hôn
“Ly hôn là chấm dứt quan hệ hơn nhân do tịa án cơng nhận hoặc quyết định
theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” (khoản 8 điều 8 LHNGĐ
2000). Theo khái niệm trên thì ly hơn là việc chấm dứt hơn nhân khi cả hai vợ chồng
còn sống theo quyết định hoặc bản án của tịa án.
Hơn nhân chấm dứt bằng con đƣờng ly hôn phải là cuộc hôn nhân hợp pháp
đƣợc nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ. Trong trƣờng hợp vợ, chồng khơng đăng kí kết
hơn mà có u cầu ly hơn thì trừ một số trƣờng hợp hơn nhân thực tế đƣợc quy định cụ

thể tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về thi hành LHNGĐ
2000, tòa án thụ lí và tun bố khơng cơng nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại
khoản 1 Điều 11 LHNGĐ 2000, nếu có yêu cầu về con và tài sản thì áp dụng khoản 2
và khoản 3 Điều 17 LHNGĐ 2000 để giải quyết.
Theo quy định của LHNGĐ 2000 giải quyết việc ly hôn cho các bên vợ chồng
chỉ tịa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền. Vì vậy, nếu các bên vợ chồng muốn
chấm dứt hơn nhân thì họ phải làm đơn u cầu tịa án giải quyết việc ly hơn. Khi thụ lí
1

Điều 18 Luật Hơn nhân và gia đình 2000.

1

3


và giải quyết việc ly hơn của vợ chồng tịa án phải dựa vào căn cứ ly hôn để ra quyết
định hay bản án xử cho ly hôn hoặc bác đơn của các bên đƣơng sự. Kể từ thời điểm
quyết định hay bản án của tòa án xử cho vợ chồng ly hơn có hiệu lực pháp luật thì quan
hệ vợ chồng chấm dứt. Giữa vợ, chồng khơng cịn có nghĩa vụ và quyền “chung thủy,
thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”2 các bên có quyền kết hơn với ngƣời khác.
Để có thể hiểu một cách tồn diện, hơn nhân phải đƣợc nhận diện dƣới hai góc
độ: kết hơn và ly hơn. Cũng nhƣ kết hơn thì ly hơn là quyền nhân thân gắn liền với cá
nhân mỗi ngƣời. Pháp luật không thể cƣỡng ép mọi ngƣời phải yêu nhau, phải kết hôn
với nhau thì cũng khơng thể bắt buộc họ phải sống chung với nhau khi cuộc hôn nhân
của họ chỉ là “cuộc hơn nhân đã chết sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối"3.
Pháp luật và xã hội thừa nhận quyền tự do kết hơn thì cũng đƣơng nhiên thừa nhận
quyền tự do ly hôn. Đồng thời với quy định tại khoản 1 điều 85 LHNGĐ thì quyền ly
hôn của vợ chồng cũng đƣợc đảm bảo, ghi nhận tại điều 42 Bộ luật Dân sự 2005

(BLDS 2005): “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền u cầu tịa án giải quyết việc
ly hôn”. Nhƣ vậy, theo quy định tại Mục II Chƣơng III BLDS 2005 thì quyền ly hôn là
quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho ngƣời khác. Ly
hôn là một sự kiện mang tính tự nguyện, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ, chồng.
Chỉ có vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền nộp đơn u cầu xin ly hơn.
Ngồi vợ, chồng ra khơng ai có thể thực hiện quyền này. Bởi chính những ngƣời trong
cuộc mới thực sự hiểu rõ họ có hạnh phúc, đời sống hơn nhân của họ có thể kéo dài
nữa hay không.
Ly hôn là một mặt của quan hệ hơn nhân. Nó là mặt trái, mặt bất bình thƣờng
nhƣng là mặt không thể thiếu đƣợc để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân. Ly hôn
đƣợc coi là biện pháp cuối cùng giải thoát cho cả hai vợ chồng khi mà hôn nhân trở
thành yếu tố cản trở cuộc sống của mỗi ngƣời, là một biện pháp nhằm củng cố chế độ
Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình 2000.
C.Mác (1978), Bản dự luật về ly hơn - C.Mác- Ph.Ăngghen - tập 1, Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội,
tr.219.
2
3

2

3


hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Khác với pháp luật của nhà nƣớc phong kiến, tƣ sản quy
định có thể cấm ly hôn hoặc hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn
nhân và thƣờng quy định xét xử hôn nhân dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng thì nhà
nƣớc ta thừa nhận việc ly hôn. Điều này thể hiện ở nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ đƣợc ghi nhận tại khoản 1 điều 2 LHNGĐ 2000. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực
thì ly hơn cùng với những hệ lụy của nó gia đình li tán, gây tổn thƣơng, làm xáo động
tâm lí của các thành viên trong gia đình nhất là con cái đang ở lứa tuổi vị thành niên.

Chính vì vậy mà việc nhà nƣớc thừa nhận, bảo đảm quyền tự do ly hơn của vợ, chồng
khơng có nghĩa là khuyến khích việc ly hơn, giải quyết ly hơn một cách tùy tiện, theo ý
chí, nguyện vọng của vợ, chồng mà thông qua những căn cứ cho ly hôn tại điều 89
LHNGĐ 2000 và các điều kiện hạn chế ly hôn tại khoản 2 điều 85 LHNGĐ 2000 đƣợc
hƣớng dẫn cụ thể tại mục 6 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của
LHNGĐ 2000 (NQ 02/2000/NQ-HĐTP) nhà nƣớc sẽ thực hiện quyền kiểm soát đối
với việc ly hơn ở một mức độ nhất định.
Tóm lại, ly hôn là sự lựa chọn cuối cùng khi cuộc sống gia đình trở thành “địa
ngục”, là hành vi pháp lí thực hiện quyền của vợ, chồng khi cịn sống, u cầu tịa án
chấm dứt hơn nhân khi hơn nhân đó khơng đạt đƣợc mục đích.
1.1.2. Ảnh hưởng của ly hôn đối với sự phát triển của con và sự cần thiết phải bảo
vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn
Khi đời sống tình cảm, u thƣơng giữa vợ, chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình
sâu sắc, mục đích của hơn nhân là xây dựng cho xã hội những gia đình khơng đạt đƣợc
thì ly hơn là điều cần thiết. Cũng giống nhƣ những sự vật, hiện tƣợng khác trong xã hội
luôn tồn tại hai mặt đối lập thì ly hơn cũng vậy. Bên cạnh những mặt tích cực thì ly hơn
cũng để lại cho gia đình và xã hội nhiều vấn đề phải giải quyết. Một trong những vấn
đề đó là sự ảnh hƣởng của ly hôn đối với sự phát triển của con cái, đặc biệt là đối với
con chƣa đến tuổi vị thành niên. Bởi đây là những đối tƣợng phát triển chƣa đầy đủ về
thể chất cũng nhƣ tinh thần nên dễ dàng chịu sự tác động bởi đổ vỡ từ cuộc hôn nhân
của cha mẹ.
3

3


Theo nghiên cứu của các chun gia tâm lí thì tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính,
cách thức mà đứa trẻ biết về sự ly hơn của cha mẹ, hồn cảnh sống trƣớc và sau khi cha
mẹ ly hôn…mà con trẻ sẽ có những phản ứng khác nhau nhƣng nhìn chung cuộc hôn

nhân thất bại của cha mẹ luôn để lại những “sang chấn” tâm lí nhất định cho trẻ.
Trƣớc hết, đó là tâm lí sợ thay đổi. Ly hơn - cha mẹ đôi đƣờng đôi ngả, trẻ sẽ
phải thay đổi chỗ ở. Trong khi tâm lí đang chịu rất nhiều sự xáo động do cuộc hôn
nhân đổ vỡ của cha mẹ thì trẻ lại phải làm quen, thích nghi với môi trƣờng sống mới
điều này gây nên rất nhiều khó khăn, áp lực cho trẻ. Và khơng phải bất cứ đứa trẻ nào
cũng có thể thích nghi với tất cả những sự thay đổi đó, dần dần sẽ hình thành nên ở trẻ
tâm lí mặc cảm, tự ti, ngại tiếp xúc với bạn bè, có xu hƣớng co mình lại, cá biệt có
nhiều trẻ đã tìm đến cái chết. Theo số liệu nghiên cứu khoa học đƣợc thực hiện tại
Bệnh viện Nhi Đồng 2 trong năm 2004 cho thấy: 16/20 ca tự tử trẻ em (14 - 17 tuổi) có
ngun nhân từ gia đình. “Gia đình xung đột, cãi vã và đặc biệt cha mẹ ly hôn đều
khiến trẻ tuyệt vọng, đau khổ muốn tìm đến cái chết” - bác sĩ khoa tâm lý Thái Thanh
Thủy, chủ nhiệm đề tài, cho biết4.
Khi cha mẹ ly hơn, trẻ có thể rơi vào nỗi ám ảnh bị bỏ rơi. Nỗi ám ảnh bị bỏ rơi
khơng chỉ ảnh hƣởng đến tâm lí của trẻ ở giai đoạn hiện tại mà nó cịn chi phối đến tinh
thần, cảm xúc, tình cảm tƣơng lai của trẻ. Khi đứa trẻ lớn lên, nó có thể có suy nghĩ
lệch lạc về quan điểm hạnh phúc trong gia đình. Do chịu ám ảnh từ cuộc hơn nhân thất
bại của cha mẹ nên khi đến tuổi trƣởng thành trẻ em trong các gia đình có cha mẹ ly
hơn cũng gặp một số khó khăn nhất định trong mối quan hệ với ngƣời khác giới. Khi
bƣớc vào mối quan hệ yêu đƣơng, nam, nữ thanh niên lớn lên trong những gia đình này
thƣờng có tâm lí lo sợ bị phản bội, bị ruồng bỏ, sợ phải mất mát, cô đơn, sợ bị tổn
thƣơng nhƣ cha mẹ chúng. Để đối phó với nỗi lo sợ này khơng ít thanh niên đã chọn
cho mình giải pháp là cùng một lúc yêu nhiều ngƣời để khi ngƣời này phản bội thì cịn

4

Tố Oanh- Thi Ngôn, Ly hôn- nỗi đau của ai, báo Tuổi trẻ online, thứ 7 ngày 29/10/2005.

4

3



có ngƣời kia. Đặc biệt, những cơ gái thƣờng chọn giải pháp “cặp bồ” với những ngƣời
lớn tuổi hơn mình rất nhiều, những ngƣời ít có khả năng phản bội một cơ gái trẻ5.
Cha mẹ ly hơn, gia đình tan vỡ không những con trẻ không cảm nhận đƣợc sự
quan tâm cùng một lúc của cả cha và mẹ mà đơi khi trẻ cịn mất đi các quan hệ gắn bó
với những thành viên khác trong gia đình. Những mối quan hệ giữa ơng bà, cơ gì, chú
bác cũng có thể bị trở ngại. Các mối quan hệ này khi bình thƣờng tƣởng nhƣ đơn giản
nhƣng nếu bị tƣớc mất có thể trở thành nguyên nhân của những phản ứng tiêu cực, thái
độ bất mãn của trẻ.
Cũng có một số trƣờng hợp dƣờng nhƣ cuộc hôn nhân không thành của cha mẹ
chẳng hề ảnh hƣởng đến tâm lí của con trẻ. Chúng vẫn ngày ngày đến trƣờng, vẫn học
hành chăm chỉ, vẫn sinh hoạt nhƣ bình thƣờng. Nhƣng nếu tìm hiểu một cách sâu hơn
thì dù ít hay nhiều những trẻ em này đều bị ảnh hƣởng bởi hoàn cảnh gia đình mình.
Chính vì muốn thốt khỏi thực tại, khơng muốn suy nghĩ, mệt mỏi vì sự chia tay của
cha mẹ mà một số em đã dồn nén tất cả những thú vui của mình vào học tập, lấy học
tập làm niềm vui. Trong trƣờng hợp này thì có lợi cho trẻ về mặt học hành, nhƣng cũng
đem đến không ít bất lợi. Bởi vì khi trẻ quá tập trung vào một lĩnh vực thì nó lại khơng
cân bằng ở các lĩnh vực khác. Ngoài việc học ra trẻ chẳng biết và cũng chẳng muốn
làm gì, khơng thích va chạm, khơng thích giao tiếp. Về lâu về dài những điều này sẽ
làm mất đi tính hồn nhiên của con trẻ, trẻ sẽ không học đƣợc các kĩ năng sống từ xã hội
và có thể dẫn đến tình trạng bị trầm cảm.
Nhƣ đã phân tích ở trên, cuộc hơn nhân đổ vỡ của cha mẹ đã để lại những hậu
quả hết sức nặng nề đối với tâm lí trẻ từ đó sẽ chi phối đến hành vi của trẻ. Cha mẹ ly
hôn, hơn lúc nào hết đây là lúc những đứa trẻ cần nhận đƣợc sự quan tâm nhiều nhất.
Nhƣng không ít đấng sinh thành đã làm ngơ, tạm thời quên đi trách nhiệm của mình bỏ
mặc những đứa trẻ vơ tội, đẩy trẻ vào hồn cảnh “mồ cơi” khi cả cha lẫn mẹ cịn sống.
Thiếu sự giáo dục, tình thƣơng của gia đình làm cho các em ln mặc cảm, tự ti và rồi
Nguyễn Thị Minh Hằng (2003), “Một số đặc điểm tâm lí của trẻ em có cha mẹ ly hơn”, Tạp chí tâm
lí học, (2), tr.27.

5

5

3


các em tìm đến xã hội để mong bù đắp tình cảm. Nhƣng vì cịn q nhỏ khơng đủ sức
để tránh những cạm bẫy, cám dỗ bên ngồi khơng ít em đã bƣớc chân vào con đƣờng
phạm pháp, trộm cắp, cƣớp giật, sử dụng các chất kích thích nhƣ ma túy… Theo số
liệu của Trung tâm nghiên cứu tội phạm học (Học viện cảnh sát nhân dân) đã nghiên
cứu về tội phạm giết ngƣời trong giai đoạn từ tháng 1 - 2009 đến tháng 9 - 2010 trên
4000 phạm nhân đang thụ án tại 4 trại giam thuộc Bộ Công an quản lí, kết quả cho thấy
về hồn cảnh gia đình của ngƣời phạm tội thì 11% tội phạm có bố mẹ ly hơn6. Chính vì
vậy việc bảo vệ quyền lợi của con trẻ khi cha mẹ ly hôn là một vấn đề cấp bách. Cần có
nhiều chế tài để ràng buộc trách nhiệm của những bậc làm cha làm mẹ, buộc họ phải
thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Xã hội khơng hề muốn nhận thêm
một đứa trẻ bị bỏ rơi để rồi lại bị cuốn vào đời quá sớm.
1.2.

Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn theo pháp luật hơn nhân gia

đình Việt Nam trƣớc 1 - 1 - 2001
Sau khi cha mẹ ly hôn, con trẻ là đối tƣợng cần đƣợc pháp luật bảo vệ nhất. Tuy
nhiên, tùy thuộc vào từng thời kì, hồn cảnh lịch sử, xã hội khác nhau mà vấn đề bảovệ
quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn cũng đƣợc ghi nhận một cách khác nhau.
1.2.1. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trước Cách mạng
tháng 8 năm 1945
1.2.1.1.


Thời kì quân chủ phong kiến (939 - 1858)

Trong suốt thời kì qn chủ phong kiến chƣa có một văn bản pháp luật riêng
biệt nào điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình mà những vấn đề này thƣờng
đƣợc quy định trong các bộ luật giữ vai trò điều chỉnh tổng quát các mối quan hệ trong
xã hội. Pháp luật trong giai đoạn này đƣợc thể hiện trong ba bộ luật tiêu biểu: Quốc
triều hình luật (QTHL); Hồng Đức thiện chính thƣ (HĐTCT); Hồng Việt luật lệ
(HVLL).

6

/>
6

3


Ly hôn là một vấn đề đƣợc pháp luật nƣớc ta thừa nhận từ rất sớm. Trong
QTHL và HVLL đều quy định về việc ly hơn. Theo đó, vợ chồng có thể ly hơn do
ngƣời vợ có lỗi (điều 310 QTHL, điều 332 HVLL) hoặc khi ngƣời chồng có lỗi (điều
308, điều 333 QTHL; điều 108 HVLL). Hậu quả pháp lí của ly hơn: quan hệ nhân thân
giữa vợ chồng chấm dứt, hai bên có quyền kết hơn với ngƣời khác mà không bị pháp
luật ngăn cấm. Tuy nhiên, vấn đề phân chia con cái và bảo đảm quyền lợi của con chƣa
đƣợc quy định và thƣờng đƣợc giải quyết theo các phong tục tập quán, thông thƣờng
con cái sẽ ở với cha.
Do chịu ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho giáo phong kiến nên quan niệm về gia
đình trong thời kì quân chủ phong kiến đƣợc xây dựng dựa trên ba nguyên tắc: củng cố
chế độ đại gia đình, đề cao quyền gia trƣởng, thực hành nguyên tắc trọng nam và trọng
trƣởng. Quan hệ giữa cha mẹ và con là quan hệ giữa ngƣời bề trên với ngƣời bề dƣới,
theo nguyên tắc trên ra lệnh, dƣới phục tùng, đó là tƣ tƣởng cốt lõi của đạo hiếu. Pháp

luật sẽ trừng trị nghiêm khắc những hành vi không phục tùng mệnh lệnh của cha mẹ và
xem đó là một trong những tội thuộc thập ác tội (khoản 2 điều 7 QTHL). Cha mẹ có
tồn quyền trong việc ni dƣỡng, giáo dục, quyết định hôn nhân của con, thƣa kiện
con bất hiếu (điều 82, điều 83 HVLL). Khơng chỉ có vậy, pháp luật nhà Lê cịn gián
tiếp cho phép cha mẹ có quyền bán con (điều 312, điều 313 QTHL), quyền từ con (điều
269 HĐTCT).
Nhƣ vậy, dƣới chế độ quân chủ phong kiến vị trí của con cái trong gia đình bị
xem nhẹ. Các quyền lợi của con không đƣợc đảm bảo mà ln gắn với quyền lợi, ý chí
của cha mẹ. Chính vì vậy mà khi cha mẹ ly hơn quyền lợi các con chƣa đƣợc quan tâm
đúng mức.
1.2.1.2.

Thời kì Pháp thuộc (1858 - 1945)

Năm 1858 thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, qua các hịa ƣớc bại trận do triều
đình nhà Nguyễn kí với Pháp vào các năm 1862, 1874, 1883 và 1884 nƣớc ta hoàn toàn
lệ thuộc vào Pháp. Lúc này, đất nƣớc ta bị chia làm 3 miền: miền Bắc và miền Trung là
đất bảo hộ, miền Nam là thuộc địa và đƣợc coi nhƣ là lãnh thổ của Pháp. Về mặt hình
7

3


thức, ở Trung kì và Bắc kì tồn tại song song hai hệ thống chính quyền: chính quyền của
ngƣời Pháp và chính quyền của nhà Nguyễn. Từ đó để thực hiện chính sách cai trị
Pháp ban hành ba bộ luật dân sự tƣơng ứng với mỗi miền: miền Bắc có Bộ dân luật
Bắc (DLB), ở miền Trung có Bộ dân luật Trung (DLT), ở miền Nam có Bộ dân luật
Nam kì (DLNK). Nhìn chung, chế định ly hơn trong ba bộ luật này đều đƣợc xây dựng
theo khuôn mẫu của pháp luật Pháp đồng thời đề cao việc bảo vệ quyền và lợi ích của
ngƣời chồng. Quyền ly hơn đƣợc thừa nhận cho cả vợ và chồng nhƣng ngƣời vợ khơng

có quyền xin ly hơn vì lí do ngƣời chồng ngoại tình, trong khi ngƣời chồng lại có
quyền xin ly hơn với lí do vợ ngoại tình. Việc ly hơn do tòa án quyết định trong những
trƣờng hợp đƣợc luật dự kiến. Hậu quả pháp lí của ly hơn: sau khi có án ly hơn quan hệ
nhân thân giữa vợ chồng hồn tồn chấm dứt “sự ly hơn phá hoại hết hiệu lực của giá
thú, kể từ ngày đã thành thất định” (điều 141 DLB), “kể từ ngày án ly dị đã chung
thẩm rồi, thời hiệu của sự giá thú đều tiêu diệt” (điều 139 DLT). Về con cái, cả ba bộ
luật đều quy định việc nuôi dƣỡng con sau ly hơn do tịa án quyết định “Án ly hơn sẽ
xử cả về tiền cấp dưỡng cho người vợ, về sự trông nom con cái và về quyền lợi tài sản
của người vợ” (điều 144 DLB). Cả ba bộ luật cũng có xem xét đến ý kiến, nguyện
vọng của con khi giải quyết vấn đề nuôi dƣỡng con sau khi vợ chồng ly hôn: “khi nào
những đứa trẻ ấy đã tới 15 tuổi nếu khơng có cớ gì ngăn trở, thì tùy ý chúng nó muốn ở
với cha hay với mẹ, sẽ giao cho người ấy trông coi” (điều 146 DLB). Tuy nhiên, việc
chăm sóc, ni dƣỡng con thƣờng đƣợc ƣu tiên giao cho ngƣời cha, chỉ trừ một số
trƣờng hợp nhất định vì lợi ích của con tịa án mới quyết định giao con cho mẹ hoặc
ngƣời thứ ba (điều 146 DLB). Hơn nữa các bộ dân luật lại khơng có quy định về việc
thăm nom chăm sóc con của ngƣời không trực tiếp nuôi dƣỡng. Với những quy định
này dù ngƣời mẹ có những điều kiện thuận lợi đảm bảo cho cuộc sống của con thì cũng
khó lịng mà giành đƣợc quyền nuôi con sau khi ly hôn và cũng rất khó khăn trong việc
thăm nom con. Điều này ảnh hƣởng đến sự phát triển của con bởi một đứa trẻ chỉ có
thể lớn lên và phát triển tồn diện trong tình u thƣơng của cả cha và mẹ ngay cả khi
cha mẹ chúng khơng cịn sống chung với nhau nữa.

8

3


Nhƣ vậy, so với thời kì quân chủ phong kiến thì trong thời kì Pháp thuộc pháp
luật đã có nhiều điểm tiến bộ hơn khi đề cập đến vấn đề ngƣời trực tiếp nuôi dƣỡng con
sau khi vợ chồng ly hơn. Tuy nhiên, do pháp luật thời kì này đƣợc xây dựng dựa trên

những nguyên tắc không tiến bộ nhƣ: trọng nam khinh nữ, củng cố quyền lợi của ngƣời
con trƣởng… nên vấn đề bảo vệ quyền lợi của con trẻ sau khi cha mẹ ly hơn vẫn cịn
những hạn chế nhất định.
1.2.2. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn từ sau Cách mạng
tháng 8 năm 1945 đến trước 1-1-2001
1.2.2.1.

Thời kì từ 1945 - 1959

Cách mạng tháng 8 thành công, nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hịa ra đời
(2/9/1945). Do hồn cảnh lịch sử, hồn cảnh xã hội có nhiều thay đổi về mọi mặt nên
các chế định trong các bộ dân luật cũ về hơn nhân và gia đình khơng cịn phù hợp nữa.
Chính vì vậy, năm 1950 nhà nƣớc ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh quan
hệ hơn nhân và gia đình đó là Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nƣớc về sửa
đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 của
Chủ tịch nƣớc quy định về vấn đề ly hơn.
Sắc lệnh 97/SL đã có nhiều quy định đảm bảo quyền lợi của các con trong gia
đình nhƣ: việc kết hôn của con đã thành niên không bắt buộc phải có sự đồng ý của cha
mẹ (điều 2), xóa bỏ quyền “trừng giới” của cha mẹ với con “cha mẹ khơng có quyền
xin giam cầm con cái” (điều 8).
Cùng với Sắc lệnh 97/SL, Sắc lệnh 159/SL đã có nhiều nội dung tiến bộ bảo vệ
quyền lợi của con chƣa thành niên khi cha mẹ ly hôn. Theo quy định tại điều 6 Sắc
lệnh 159/SL thì tịa án sẽ căn cứ vào quyền lợi của con để quyết định ngƣời trực tiếp
nuôi con khi vợ chồng ly hôn chứ không phải dựa trên nguyên tắc ƣu tiên giao con cho
cha nhƣ thời kì Pháp thuộc. Đặc biệt là lần đầu tiên pháp luật đã quy định nghĩa vụ cấp
dƣỡng của cha mẹ đối với con “hai vợ chồng đã ly hơn phải cùng chịu phí tổn về việc
ni dạy con, mỗi người tùy theo khả năng của mình” (điều 6). Quy định này thể hiện

9


3


rõ trách nhiệm của cha mẹ trong việc nuôi nấng, giáo dục con. Việc nuôi dƣỡng con
phải do cả cha và mẹ thực hiện.
Những quy định tiến bộ và mới mẻ trong Sắc lệnh 159/SL sẽ mở đƣờng cho
việc phát triển các quy định về việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn sau
này.
1.2.2.2.

Thời kì 1959 - 1986

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (năm 1954) tuy nhiên đất nƣớc
ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc
tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam vẫn dƣới sự thống trị của thực dân Pháp.
Trong bối cảnh lịch sử đó Luật Hơn nhân gia đình 1959 (LHNGĐ 1959) ra đời.
LHNGĐ 1959 đã ghi nhận việc ly hơn xuất phát từ ý chí của cả vợ và chồng hay của cả
hai vợ chồng. Đặc biệt, vấn đề quyền lợi của các con sau khi vợ chồng ly hôn đƣợc quy
định chi tiết, cụ thể hơn rất nhiều so với Sắc lệnh 159/SL. Pháp luật quy định rõ “vợ
chồng đã ly hơn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền lợi đối với con cái” (điều 31 LHNGĐ
1959). Vẫn dựa trên nguyên tắc quyết định ngƣời trực tiếp nuôi con dựa trên quyền lợi
mọi mặt của con, cả hai vợ chồng cùng phải chịu phí tổn về việc nuôi nấng, giáo dục
con, LHNGĐ 1959 đã bổ sung thêm trƣờng hợp “con còn bú phải giao cho mẹ phụ
trách” (điều 32 LHNGĐ 1959). Con còn bú cần đƣợc sống trong sự chăm sóc, ni
dƣỡng của ngƣời mẹ bởi thiên chức của ngƣời mẹ sẽ giúp cho việc thực hiện việc trơng
nom, ni dƣỡng, chăm sóc con ở độ tuổi này tốt hơn bất kì ngƣời nào khác. Chính vì
vậy mà pháp luật đã đặt ra quy định này. Mặt khác nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi
ích mọi mặt của con, LHNGĐ 1959 quy định “có thể thay đổi việc ni dưỡng hoặc
việc góp phần vào phí tổn ni nấng, giáo dục con cái”. Vợ chồng đều có quyền và
nghĩa vụ bình đẳng trong việc chăm sóc giáo dục con. Khi giải quyết các quan hệ sau

khi ly hôn nguyên tắc tự thỏa thuận các bên vợ chồng luôn đƣợc ƣu tiên hàng đầu “việc
trông nom, ni nấng và giáo dục con cái, việc góp phần vào phí tổn ni nấng và
giáo dục con cái sẽ do hai bên thỏa thuận giải quyết” (điều 33 LHNGĐ 1959). Việc
ƣu tiên sự thỏa thuận của vợ chồng nhằm hạn chế những xung đột, giảm tổn thƣơng
giữa các bên, nhất là đối với con trẻ.
10

3


Nhƣ vậy, thông qua những quy định chi tiết tại Chƣơng V LHNGĐ 1959 vấn đề
quyền lợi của con sau khi cha mẹ ly hôn đã đáp ứng đƣợc nhu cầu của thực tiễn một
cách cơ bản.
1.2.2.3.

Thời kì 1986 - 2000

Cuộc kháng chiến chống Mĩ thắng lợi (30/4/1975), đất nƣớc thống nhất, giang
sơn quy về một mối. LHNGĐ 1959 sau một thời gian dài áp dụng đã bộc lộ nhiều bất
cập, dẫn đến việc cần phải có sự bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của
đất nƣớc và yêu cầu của xã hội lúc bấy giờ. Đó là ngun nhân ra đời của Luật Hơn
nhân và gia đình 1986 (LHNGĐ 1986). LHNGĐ 1986 cũng thừa nhận ly hôn là quyền
của vợ chồng (điều 40), những nguyên tắc về việc giải quyết con chung sau khi ly hôn
trong LHNGĐ 1959 vẫn đƣợc quán triệt trong luật mới. Tuy nhiên, điểm đặc biệt so
với LHNGĐ 1959 là LHNGĐ 1986 đã quy định thêm chế tài cụ thể về việc thực hiện
nghĩa vụ đóng góp phí tổn ni dƣỡng con “Người khơng ni giữ con có nghĩa vụ và
quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn ni dưỡng, giáo dục con.
Nếu trì hỗn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì tịa án nhân dân quyết định khấu trừ
vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó” (điều 45 LHNGĐ 1986).
Với quy định này nhà làm luật mong muốn khắc phục các trƣờng hợp cha mẹ trốn

tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với con sau ly hơn đảm bảo hơn nữa quyền
lợi của các con.
Vẫn trên cơ sở kế thừa những quy định của LHNGĐ 1959, LHNGĐ 1986 với
một số điểm bổ sung giúp làm hoàn thiện hơn chế định bảo vệ quyền lợi của con khi
cha mẹ ly hơn.
Q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc với các điều kiện kinh tế, văn
hóa xã hội khơng ngừng phát triển đã ảnh hƣởng, tác động đến tình hình thực tế các
quan hệ hơn nhân và gia đình. Để phù hợp với các quan hệ xã hội mới phát sinh,
LHNGĐ 2000 ra đời. Trên cơ sở kế thừa LHNGĐ 1986 và sửa đổi, bổ sung một số quy
định mới, vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hơn ngày càng hồn thiện
hơn, đảm bảo quyền lợi của con trẻ trong bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi.
11

3


CHƢƠNG 2
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA MẸ LY HƠN THEO LUẬT
HƠN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000
2.1.

Nhóm con là đối tƣợng đƣợc bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn
Sự tan vỡ của một gia đình ln gây ra những ảnh hƣởng khơng mong muốn

cho các chủ thể của quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, đối tƣợng phải gánh chịu thiệt thòi
lớn khi quan hệ hơn nhân của vợ chồng thất bại lại chính là các con chung của họ.
Chính vì vậy việc pháp luật quan tâm bảo vệ quyền lợi của những đối tƣợng này là điều
cần thiết và phù hợp. Tuy nhiên không phải tất cả các con chung đều đƣợc bảo vệ mà
pháp luật chỉ quan tâm đến những nhóm con dễ bị tổn thƣơng nhất nhƣ con chƣa thành
niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, khơng có khả năng lao

động và khơng có tài sản để tự ni mình.
Căn cứ để xác định con chung của vợ chồng theo quy định LHNGĐ 2000 là dựa
trên sự kiện sinh đẻ và sự kiện ni dƣỡng. Sinh đẻ là một sự kiện mang tính huyết
thống tự nhiên, là căn cứ cơ bản để xác lập quan hệ cha mẹ con. Theo đó, nếu giữa vợ
chồng tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì việc xác định con chung đƣợc tiến
hành theo nguyên tắc suy đốn pháp lí: “con sinh ra trong thời kì hơn nhân hoặc do
người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng” (khoản 1 điều 63
LHNGĐ 2000). Việc xác định con chung của vợ chồng trong trƣờng hợp này dựa vào
thời kì hơn nhân của cha mẹ. Theo khoản 7 điều 8 LHNGĐ 2000: “thời kì hơn nhân là
khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng kí kết hơn đến ngày chấm
dứt hôn nhân”.
Nhƣ vậy, con chung của vợ chồng xác định theo ngun tắc suy đốn pháp lí
bao gồm: trƣờng hợp thứ nhất là con đƣợc sinh ra trong thời kì hơn nhân và trƣờng hợp
thứ hai là con do ngƣời vợ có thai trong thời kì hơn nhân.
Đối với trƣờng hợp thứ nhất, con sinh ra trong thời kì hơn nhân có thể có hai
khả năng xảy ra. Khả năng thứ nhất là con do ngƣời vợ có thai và sinh ra trong thời kì
hơn nhân. Đứa trẻ này đƣơng nhiên là con chung của hai vợ chồng trừ truờng hợp
12

3


ngƣời cha khơng thừa nhận thì phải có chứng cứ xác thực (khoản 2 điều 63 LHNGĐ
2000). Khả năng thứ hai, con chung là con do ngƣời vợ có thai trƣớc thời kì hơn nhân
và sinh ra trong thời kì hơn nhân. Hiện nay, tình trạng sống chung, sống thử trƣớc hôn
nhân rất phổ biến. Nhiều trƣờng hợp nam nữ sống chung với nhau đến khi ngƣời phụ
nữ mang thai họ mới tiến hành đăng kí kết hơn thì con sinh ra trong trƣờng hợp này
cũng là con chung của vợ chồng, bởi thỏa mãn quy định tại khoản 1 điều 63 LHNGĐ
2000 “con sinh ra trong thời kì hơn nhân”.
Đối với trƣờng hợp thứ hai, con do ngƣời vợ có thai trong thời kì hơn nhân và

sinh ra sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt cũng đƣợc xác định là con chung của vợ
chồng. Trong trƣờng hợp này pháp luật đã dự liệu một cách cụ thể khoảng thời gian tối
đa con sinh ra phải đáp ứng đƣợc điều kiện trong vòng 300 ngày kể từ ngày bản án,
quyết định của tòa án xử cho vợ chồng ly hơn có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày
ngƣời chồng chết là con chung của vợ chồng (khoản 2 điều 21 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Hơn nhân và gia
đình 2000).
Ngồi ra, tại khoản 1 điều 63 LHNGĐ 2000 còn bổ sung thêm trƣờng hợp “con
sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của
vợ chồng”.
Đối với trƣờng hợp sinh con theo phƣơng pháp khoa học, việc xác định quan hệ
cha mẹ - con đƣợc quy định tại Chƣơng V Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày
12/2/2003 của Chính phủ về sinh con theo phƣơng pháp khoa học. Theo đó, con chung
của vợ chồng là con đƣợc sinh ra từ ngƣời mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh (khoản 1
điều 20 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP).
Bên cạnh mối quan hệ huyết thống tự nhiên thì quan hệ pháp luật giữa cha mẹ
con còn phát sinh dựa vào sự kiện nuôi dƣỡng. Nuôi con nuôi là một chế định pháp lí
xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử pháp luật nƣớc ta. Ở thời kì phong kiến việc ni con
ni thƣờng xuất phát từ lợi ích của ngƣời nhận ni nhằm mục đích có ngƣời để thờ
tự, có ngƣời làm cơng khơng phải trả tiền hay để “gánh vạ” cho gia đình… có sự phân
13

3


biệt giữa con đẻ và con nuôi, trọng nam khinh nữ, thì hiện nay chế định ni con ni
đã có nhiều thay đổi. Hiện nay nuôi con nuôi là nhằm “xác lập quan hệ cha, mẹ và con
lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho
con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong một mơi trường gia đình” (điều 2
Luật Ni con ni). Nhƣ vậy, mục đích cơ bản của chế định nuôi con nuôi là “đem

đến cho đứa trẻ một gia đình chứ khơng phải đem đến cho gia đình một đứa trẻ”7.
Khác với quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ phát sinh bằng con đƣờng sinh sản
tự nhiên, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con ni đƣợc hình thành khi có quyết định của
cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng của các chủ thể
trong quan hệ. Chính vì vậy mà quan hệ ni con ni chỉ đƣợc thiết lập khi việc xác
lập nuôi con nuôi tuân thủ theo những điều kiện do pháp luật quy định. Con nuôi là con
chung của vợ chồng nếu cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi. Việc nuôi con nuôi làm phát
sinh mọi quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi nhƣ giữa cha mẹ đẻ và con
đẻ. Con ni đƣợc hƣởng những quyền và có những nghĩa vụ nhất định nhƣ con đẻ “kể
từ ngày giao nhận con ni, giữa cha mẹ ni và con ni có đầy đủ các quyền, nghĩa
vụ của cha mẹ và con” (điều 24 Luật Nuôi con nuôi).
Nhƣ vậy, pháp luật không có sự phân biệt giữa con đẻ và con ni, nghĩa vụ
ni dƣỡng, chăm sóc giữa cha mẹ và con xuất phát từ chính quan hệ huyết thống hay
quan hệ nhận ni con ni chứ khơng phải từ tính chất quan hệ hơn nhân của cha mẹ.
Chính vì vậy mà khi cuộc hơn nhân của cha mẹ tan vỡ thì không phải mọi nghĩa vụ và
quyền của cha mẹ đối với con cũng chấm dứt theo mà những nghĩa vụ và quyền này
vẫn tồn tại nhằm đảm bảo những điều kiện nhất định cho sự tồn tại và phát triển của
con.
Sự kiện sống chung giữa cha dƣợng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng
nhằm tạo điều kiện để họ có thể chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, xóa đi mọi khoảng cách
giữa các thành viên trong một gia đình mới hình thành trên cơ sở những gia đình cũ
trƣớc đó. Điều này thể hiện truyền thống nhân đạo, tƣơng thân tƣơng ái, đùm bọc yêu

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng Luật hơn nhân và gia đình, tr.108.

7

14

3



thƣơng nhau của con ngƣời Việt Nam. Khi vợ chồng ly hơn, sự kiện sống chung khơng
cịn, sợi dây liên kết giữa cha dƣợng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng cũng mất
đi, vì vậy những nghĩa vụ và quyền giữa họ cũng chấm dứt theo, cha dƣợng, mẹ kế
khơng có nghĩa vụ phải cấp dƣỡng cho con riêng của vợ hoặc chồng.
Nhƣ đã trình bày ở trên thì đối tƣợng đƣợc bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn
là con chung của vợ chồng. Nhƣng không phải tất cả các con chung đều cần sự quan
tâm, sự nuôi dƣỡng của cha mẹ mà pháp luật chỉ đặt ra nghĩa vụ của cha mẹ đối với
những nhóm con dễ bị tổn thƣơng nhất, đó là nhóm con chƣa thành niên và nhóm con
đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, khơng có khả năng lao động và
khơng có tài sản để tự ni mình. Đây là những nhóm con khơng thể tự chăm sóc, lo
lắng cho bản thân mình. Việc xác định những nhóm con này có thể phụ thuộc vào độ
tuổi, năng lực hành vi, khả năng lao động, tài sản mà họ có.
 Đối với nhóm con chƣa thành niên:
Theo quy định tại điều 18 BLDS 2005 thì con chƣa thành niên là con chƣa đủ
18 tuổi. Nhóm con chƣa thành niên đƣợc chia ra thành: nhóm con chƣa thành niên dƣới
6 tuổi, nhóm con chƣa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chƣa đủ 15 tuổi và nhóm con chƣa
thành niên từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi.
Nhóm con chƣa thành niên dƣới 6 tuổi là những ngƣời khơng có năng lực hành
vi dân sự, mọi giao dịch của con đều do ngƣời đại diện theo pháp luật là cha, mẹ hoặc
ngƣời giám hộ xác lập, thực hiện.
Nhóm con chƣa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chƣa đủ 15 tuổi là những ngƣời có
năng lực hành vi dân sự một phần. Nhóm con này chỉ đƣợc thực hiện các giao dịch dân
sự nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, các giao dịch dân
sự khác phải đƣợc sự đồng ý của cha hoặc mẹ.
Nhóm con chƣa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi là những ngƣời có
năng lực hành vi dân sự chƣa đầy đủ. Nhóm con này nếu có tài sản riêng bảo đảm thực

15


3


×