Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

Phòng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn quân khu 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.49 MB, 119 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN TRUNG HIẾU

PHỊNG NGỪA TỘI PHẠM CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ
QUÂN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN TRUNG HIẾU

PHỊNG NGỪA TỘI PHẠM CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ
QUÂN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số 60380104

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Pgs.Ts. Trần Văn Độ

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013


LỜI CAM ĐOAN


Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Độ. Các số liệu, tài liệu
nêu trong luận văn là trung thực.
Tôi xin cám ơn, q thầy cơ trong Khoa Luật Hình sự, Phịng Đào tạo
sau đại học, các cơ quan tố tụng, các đơn vị của Quân khu 7 đã giúp tôi thực
hiện luận văn này.

Tp. HCM, ngày 10 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn

Trần Trung Hiếu


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Câu hỏi điều tra xã hội học về tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn quân khu 7, dành cho quân nhân
Bảng 2: Câu hỏi điều tra xã hội học về tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn quân khu 7, dành cho cán bộ chỉ huy cấp Trung đội, Đại đội
Bảng 3: Câu hỏi điều tra xã hội học về tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn quân khu 7, dành cho các bộ cơ quan tố tụng
Bảng 4: Kết quả điều tra xã hội học về tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn quân khu 7, dành cho quân nhân
Bảng 5: Kết quả điều tra xã hội học về tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn quân khu 7, dành cho cán bộ chỉ huy cấp Trung đội, Đại đội
Bảng 6: Kết quả điều tra xã hội học về tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn quân khu 7, dành cho các bộ cơ quan tố tụng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1

CHƢƠNG 1.TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ ........................4
QUÂN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7 .....................................................4
1.1.

Thực trạng tình hình tội phạm ...................................................................4

1.1.1.

Thực trạng tình hình đã được phát hiện và xét xử ..................................6

1.1.2.
xử

Thực trạng tình hình tội phạm đã được phát hiện nhưng chưa qua xét
.................................................................................................................7

1.1.3.

Thực trạng tình hình tội phạm chưa được xử lý .....................................7

1.2. Tính chất, cơ cấu, động thái tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí
qn dụng ...............................................................................................................8
1.2.1.

Tính chất tình hình tội phạm ...................................................................8

1.2.2.

Cơ cấu của tình hình tội phạm ................................................................9


1.2.3.

Động thái của tình hình tội phạm .........................................................12

1.3.

Nhân thân ngƣời phạm tội ........................................................................14

1.4.

Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................18

CHƢƠNG 2. NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QN DỤNG VÀ THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA
TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7 ............................................................................20
2.1. Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân
dụng trên địa bàn Quân khu 7 ...........................................................................20
2.1.1.

Nguyên nhân về điều kiện kinh tế - xã hội ...........................................21

2.1.2.

Nguyên nhân về tâm lý xã hội ..............................................................23

2.1.3.

Nguyên nhân về giáo dục chính trị, tuyên truyền pháp luật .................26

2.1.4.


Ngun nhân về phía cơng tác bảo đảm an tồn của đơn vị.................36

2.2. Thực trạng cơng tác phịng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân
dụng trên địa bàn Quân khu 7 ...........................................................................43
2.2.1.

Ưu điểm ................................................................................................44

2.2.2.

Khuyết điểm ..........................................................................................46

2.3.

Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................47

CHƢƠNG 3. DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP PHỊNG NGỪA TỘI
PHẠM CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QUÂN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU
7 .................................................................................................................................49


3.1. Dự báo tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn
Quân khu 7 ...........................................................................................................49
3.1.1.

Phương pháp dự báo tình hình tội phạm ...............................................49

3.1.2.


Cơ sở dự báo .........................................................................................50

3.1.3.

Dự báo tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng ....................52

3.2. Các cơ sở khoa học, những quan điểm, nguyên tắc xây dựng các giải
pháp phòng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân
khu 7 .....................................................................................................................54
3.2.1.

Cơ sở khoa học xây dựng các giải pháp phòng ngừa ...........................54

3.2.2.

Những quan điểm, nguyên tắc xây dựng các giải pháp phòng ngừa ....55

3.3. Các giải pháp phòng ngừa ...........................................................................58
3.3.1. Nhóm giải pháp chung .............................................................................58
3.3.2. Nhóm giải pháp riêng ...............................................................................66
3.4. Kết luận chƣơng 3 .........................................................................................82
KẾT LUẬN ..............................................................................................................84


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quân khu 7 với đặc thù là địa bàn trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội của cả nước, đây là địa bàn phát triển đầy năng động của cả nước, bên cạnh

những thành quả đạt được về kinh tế, xã hội thì tình hình tội phạm của địa bàn này
cũng thuộc khu vực cao nhất cả nước, trong những năm gần đây tính chất mức độ
của các loại tội phạm ngày càng gia tăng, riêng đối với các loại tội phạm có sử dụng
vũ khí qn dụng để làm cơng cụ thực hiện tội phạm tăng lên rất nhanh. Hầu hết các
vụ án mà đối tượng phạm tội có sử dụng vũ khí qn dụng đều có hậu quả nặng nề
khơng chỉ ở khía cạnh nạn nhân của tội phạm mà cả đối với lực lượng thực thi pháp
luật, đã có rất nhiều cán bộ chiến sĩ Cơng an bị thương tích nặng, thậm chí hy sinh
vì các đối tượng phạm tội chống trả bằng vũ khí quân dụng.
Vũ khí quân dụng là loại tài sản đặc biệt do nhà nước thống nhất quản lý. Với
cơng dụng chính là cơng cụ dùng vào mục đích quốc phịng và an ninh. Tuy nhiên
với khả năng gây sát thương lớn cũng như tính đe dọa cao nên đây cũng là mục tiêu
chiếm đoạt của các đối tượng tội phạm. Là một trong các cơ quan được Nhà nước
giao nhiệm vụ quản lý các loại vũ khí quân dụng dùng cho mục đích quốc phòng,
Bộ Quốc phòng và các đơn vị trực thuộc đã làm tốt các mặt cơng tác trong việc giữ
gìn, bảo quản, bảo đảm an tồn các loại vũ khí, khí tài, qn sự trong đó có vũ khí
qn dụng, đảm bảo cho công tác sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của
đất nước. Trong số những đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Quân khu 7 cũng đã
làm tốt các mặt công tác này tuy nhiên cũng có ít một số đơn vị vẫn cịn để xảy ra
hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng, gây mất an toàn trong đơn vị, doanh trại, làm
ảnh hưởng đến sức mạnh của quân đội, giảm khả năng sẵn sàng chiến đấu và một
hậu quả lớn khác đó là làm cho tình hình tội phạm trên địa bàn phức tạp hơn khi số
vũ khí quân dụng này được các đối tượng phạm tội sử dụng. Mặc dù số lượng các
vụ chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân khu 7 từ năm 2000 đến nay là
không nhiều, tuy nhiên số vụ được các cơ quan bảo vệ pháp luật trong quân đội xác
minh, điều tra tìm ra người phạm tội cũng như thu hồi lại số vũ khí qn dụng bị
chiếm đoạt là rất ít. Chính vì vậy cần phải có giải pháp trong việc nâng cao hiệu quả
cơng tác phịng ngừa tội phạm này. Để đạt được hiệu quả cao trong cơng tác phịng
ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân khu, cần có những



2

nghiên cứu về nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm từ đó đề xuất được những
giải pháp phịng ngừa hiệu quả tội phạm này trên địa bàn Quân khu 7.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Phịng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng
trên địa bàn Quân khu 7” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Việc nghiên cứu đề
tài trong thời điểm hiện nay có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả cơng
tác phịng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên
địa bàn Quân khu 7 nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số cơng trình nghiên cứu về tội phạm này như: Về tội phạm chiếm
đoạt và tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự trong Bộ luật
Hình sự năm 1999 của tác giả Bùi Quang Thạch; Bàn về các tội xâm phạm các quy
định về sản xuất quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
của tác giả Nguyễn Mai Bộ. Luận văn thạc sĩ “Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và
đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong quân đội” của tác giả Trần Việt Hùng,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1999. Các cơng trình trên đây hầu hết nghiên
cứu tội danh này ở khía cạnh hình sự hoặc là tội phạm học nhưng thời gian nghiên
cứu đã lâu khơng đáp ứng được tính thời đại cũng như chưa nêu lên được đặc thù
của tội phạm này trên địa bàn Qn khu 7. Vì vậy, đây là cơng trình nghiên cứu đầu
tiên về đề tài này trên địa bàn Qn khu 7. Các cơng trình nêu trên là những tài liệu
tham khảo có giá trị để tác giả nghiên cứu và hồn thiện đề tài luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.

Mục đích

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cơng tác phịng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí
quân dụng trên địa bàn Quân khu 7 luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu

quả công tác phịng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí qn dụng trên địa bàn Quân
khu 7.
3.2.

Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Phân tích tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân
khu 7 (bao gồm thực trạng, nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm).


3

- Dự báo tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trong thời gian tới.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm
chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân khu 7.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là hệ thống duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách
của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân; xây dựng quân đội cách mạng chính quy từng bước hiện đại.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, thống
kê và điều tra xã hội học.
5. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp thiết thực và hiệu quả đối
với cơng tác phịng ngừa tội phạm nói chung và phịng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ
khí qn dụng trên địa bàn Qn khu 7 nói riêng. Luận văn đã làm rõ tình hình,
nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng cũng
như những ưu, khuyết điểm trong công tác phịng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí
qn dụng trên địa bàn quân khu, từ đó có những đề xuất các giải pháp nâng cao

hiệu quả phòng ngừa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân khu
7.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ công tác
đang công tác tại các cơ quan tố tụng trong và ngoài quân đội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương
Chương 1: Tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân khu
7
Chương 2: Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân
dụng trên địa bàn Quân khu 7 và thực trạng phịng ngừa
Chương 3: Dự báo tình hình và giải pháp nâng cao hiệu quả phịng ngừa tội phạm
chiếm đoạt vũ khí quân dụng trên địa bàn Quân khu 7


4

CHƢƠNG 1.TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ
QN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7
1.1.

Thực trạng tình hình tội phạm
Khái niệm tình hình tội phạm là một trong những khái niệm cơ bản nhất của

tội phạm học. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này, theo
giáo trình của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình tội phạm là
hiện tượng xã hội trái pháp luật hình sự mang tính giai cấp, thay đổi theo quá trình
lịch sử, được thể hiện bằng tổng thể thống nhất các tội phạm xảy ra trong một
không gian, thời gian xác định1; theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hịa “Tình hình tội
phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc

loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định”2. Tuy
nhiên, có thể khái niệm một cách cơ bản nhất, tình hình tội phạm là trạng thái, xu
thế vận động của các tội phạm (nhóm tội phạm, loại tội phạm) đã xảy ra trên một
địa bàn nhất định. Nghiên cứu tình hình tội phạm sẽ cho chúng ta một cái nhìn khái
quát nhất, tổng quan nhất, toàn diện nhất về tội phạm, những quy luật biến đổi của
tội phạm từ đó có thể dự báo được tình hình tội phạm và đưa ra những biện pháp
đấu tranh phòng, chống hợp lý và hiệu quả.
Các tội phạm thông thường sẽ được nghiên cứu về thơng số, về thực trạng
của tình hình tội phạm, thơng số về cơ cấu của tình hình tội phạm, thơng số về động
thái và thông số phản ánh sự thiệt hại của tình hình tội phạm gây ra cho xã hội. Tuy
nhiên, dù không nằm trong Chương XXIII các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm
của quân nhân nhưng tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng trong luận văn đề cập
là loại tội phạm mang tính đặc thù vì là chủ thể đặc biệt, đối tượng bị hành vi tội
phạm xâm hại chủ yếu do quân đội quản lý và chủ thể tiến hành tố tụng với những
quy định riêng của quân đội, vì thế việc xem xét tình hình tội phạm này cũng được
xem xét dưới góc độ đặc thù quân đội, đặc thù địa bàn Quân khu 7.
Kể từ năm 1990 sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Campuchia,
quân đội ta đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển, đất nước ta đang trong giai
1

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng Tội phạm học, tr. 30-39.

2 Nguyễn Ngọc Hịa (2009), “Các khái niệm tội phạm và tình hình tội phạm trong tội phạm học”, Tạp chí
Luật học,(7).


5

đoạn hịa bình, hoạt động qn sự cũng đang ở thời bình, điều kiện quản lý, bảo
dưỡng đối với vũ khí quân dụng, tốt và chặt chẽ hơn. Tội phạm chiếm đoạt vũ khí

quân dụng trong giai đoạn hiện nay so với các thập kỷ trước khi đất nước ta bước
vào hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc sau đó là làm nghĩa vụ
quốc tế tại Campuchia đã giảm rất nhiều.
Quân khu 7 được thành lập ngày 10 tháng 12 năm 1945 tại xã Bình Hịa Nam
- Đức Huệ – Long An, bao gồm Thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Chợ
Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh. Nay gồm Thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng
Nai, Lâm Đồng, Long An và Tây Ninh3. Quản lý hành chính quân sự theo lãnh thổ,
đây là địa bàn trọng yếu về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội của đất nước. Là nơi
có GDP cao nhất cả nước với các đầu tàu kinh tế như Thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, là nơi tập trung nhiều nhân lực, vật lực
nhất phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển của đất nước. Địa bàn là nơi có
nhiều đơn vị quân đội đóng quân, thuộc bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực và các
đơn vị quân, binh chủng khác. Như vậy có thể thấy Qn khu 7 có vị trí chiến lược
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và cũng là
nơi mà các thế lực thù địch tập trung chống phá cũng như tình hình tội phạm phức
tạp, nguy hiểm cả về số lượng cũng như tính chất mức độ.
Trong thời gian qua, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã triển khai và thực
hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra trong các kỳ đại hội Đảng bộ Quân khu đó là
xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện đáp ứng được yêu cầu
về bảo vệ vững chắc biên giới, giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn Quân khu
phụ trách. Để đạt được mục đích xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh
tồn diện thì cơng tác phịng ngừa tội phạm đối với lực lượng vũ trang Qn khu có
vai trị rất quan trọng. Như đã nêu trên, đây là địa bàn hoạt động chính trị - kinh tế xã hội năng động nhất của đất nước và cũng là địa bàn hoạt động của rất nhiều loại
tội phạm, tính chất mức độ cũng cao hơn so với các địa bàn Quân khu khác ở miền
Bắc và miền Trung. Vì vậy, tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí qn dụng ở địa
bàn Quân khu 7 có phần phức tạp hơn.

3


Truy cập ngày
17/7/2013.


6

Về cơ cấu các cơ quan tố tụng trong quân đội, theo các quy định pháp luật về
tổ chức các cơ quan tố tụng trong quân đội4, các cơ quan này được tổ chức từ cấp
trung ương đến cấp khu vực bao gồm các cơ quan ở cấp Bộ (Cục điều tra hình sự
Bộ Quốc phịng; Viện kiểm sát qn sự trung ương; Tòa án quân sự trung ương),
cấp Quân khu và tương đương (Cơ quan điều tra hình sự Quân khu; Viện kiểm sát
Quân khu; Tòa án Quân Khu); cấp Khu vực (Cơ quan điều tra hình sự khu vực;
Viện kiểm sát khu vực; Tòa án khu vực). Cụ thể tại Quân khu 7 các cơ quan này
được tổ chức như sau: đối với Cơ quan điều tra hình sự được tổ chức thành 2 cấp là
Phòng điều tra hình sự Quân khu 7 và 05 Cơ quan điều tra khu vực; đối với Viện
kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát quân sự Quân khu 7 và 03 Viện kiểm sát quân sự
khu vực (Viện kiểm sát quân sự khu vực 71, Viện kiểm sát quân sự khu vực 72,
Viện kiểm sát quân sự khu vực 73); đối với Tòa án bao gồm Tòa án quân sự Quân
khu 7 và 02 Tịa án qn sự khu vực. Đây chính là các cơ quan làm nhiệm vụ tiếp
nhận, thụ lý và xử lý, đấu tranh phịng ngừa tội phạm chính của Qn khu. Ngồi
các cơ quan trên cịn có cơ quan Bảo vệ an ninh trực thuộc Tổng cục Chính trị Quân
đội nhân dân Việt Nam, cơ quan này ngoài nhiệm vụ được quy định tại Pháp lệnh
điều tra Hình sự là điều tra các án an ninh trong quân đội (đối với cơ quan an ninh
điều tra thì chỉ tổ chức 2 cấp là cục và phòng)5 còn làm nhiệm vụ bảo vệ chính trị
nội bộ, cơ quan này cũng được tổ chức thành 3 cấp đó là cấp Cục bảo vệ an ninh,
Phòng bảo vệ an ninh ở cấp Quân khu và Ban bảo vệ an ninh ở cấp Bộ Chỉ huy tỉnh
Thành phố, Sư đoàn, đây là cơ quan có vai trị quan trọng trong việc tiếp nhận tin
báo tội phạm sẽ được đề cập ở chương sau.
1.1.1. Thực trạng tình hình đã được phát hiện và xét xử
Qua tổng hợp các báo cáo của các cơ quan tố tụng của Quân khu 7 thì tình hình

tội phạm từ năm 2005 đến năm 2012 trên địa bàn được thống kê như sau:
 Tổng số tội phạm 360 vụ/ 473 người
Năm
4

2005

2006

2007

2008

2009 2010 2011

2012

Tổng số

Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 8 năm 2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổ

chức điều tra hình sự; Pháp lệnh số 05/2002/PL-UBTVQH11 ngày 04 tháng 11 năm 2002 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về tổ chức Viện kiểm sát quân sự; Pháp lệnh số 04/2002/PL-UBTVQH11 ngày 04
tháng 11 năm 2002 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tổ chức Toà án quân sự.
5

Điều 14, Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 8 năm 2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về tổ chức điều tra hình sự.



7

Số lượng

40

65

49

56

44

37

46

37

360

Số người

40

86

71


67

53

54

59

43

473

(Nguồn: báo cáo thống kê tình hình vi phạm tội phạm các năm của Viện Kiểm sát
quân sự Quân khu 7).
Trong số 360 vụ tội phạm nói trên thì tội phạm chiếm đoạt vũ khí qn dụng là:
 Tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng được phát hiện:
18 vụ/13 người.
Qua tổng hợp báo cáo xét xử từ năm 2005 đến năm 2012 của Tòa án quân sự Quân
khu 7 thì số vụ được đưa ra xét xử như sau:
 Đã xét xử 07 vụ/ 09 người.
 Tội phạm đã phát hiện nhưng không xử lý, lý do người phạm tội đã chết: 04
vụ/04 người.
1.1.2. Thực trạng tình hình tội phạm đã được phát hiện nhưng chưa qua xét xử
Trong tổng số 18 vụ/13 người thì có 07 vụ đã có hành vi chiếm đoạt vũ khí qn
dụng xảy ra nhưng q trình điều tra khơng tìm ra được người thực hiện hành vi tội
phạm.
1.1.3. Thực trạng tình hình tội phạm chưa được xử lý
Tội phạm ẩn là phần cịn lại trong thực trạng của tình hình tội phạm, là tội
phạm chưa bị phát hiện, xử lý. Tội phạm ẩn tự nhiên là tội phạm đã xảy ra nhưng cơ
quan chức năng hồn tồn khơng có thơng tin về tội phạm cho nên tội phạm không

bị xử lý và khơng đưa vào thống kê hình sự (tội phạm ẩn khách quan). Nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến sự tồn tại của tội phạm ẩn tự nhiên là do các cơ quan chức năng
khơng có thơng tin về tội phạm. “Tội phạm ẩn nhân tạo là tội phạm đã xảy ra trên
thực tế, đã bị các cơ quan chức năng phát hiện nhưng khơng bị xử lý do có sự che
đậy từ tội phạm ẩn tự nhiên khác (ẩn chủ quan). Sự cố tình che dấu, khơng xử lý tội
phạm của cơ quan chức năng là nguyên nhân chính dẫn đến sự tồn tại của loại tội
phạm này”6.
“Việc đánh giá tội phạm thường được dựa vào các số liệu thống kê của các
Cơ quan điều tra - Viện kiểm sát - Tịa án để đánh giá tình hình tội phạm. Tuy

6

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng Tội phạm học, tr. 40.


8

nhiên, số liệu này chỉ thể hiện một phần của số vụ cũng như số người phạm tội và
không đủ độ tin cậy để đánh giá về động thái của tình hình tội phạm qua các năm”7.
Thực tiễn nghiên cứu tình hình chiếm đoạt vũ khí qn dụng trên địa bàn
Quân khu 7 thời gian từ năm 2005 đến năm 2012 cho thấy ngoài những trường hợp
đã thống kê, ghi nhận và xử lý bằng biện pháp hình sự như khởi tố, điều tra, truy tố
và xét xử như trên theo số liệu nêu trên, có nhiều trường hợp chiếm đoạt vũ khí
qn dụng khơng được xử lý hình sự vì nhiều lý do. Tuy khơng thể thống kê một
cách chính xác nhưng có thể có một con số khái quát về tình hình tội phạm chưa
được phát hiện như sau: trong những năm từ 2005 đến 2012 thì số lượng các vụ
“Mất súng” mà các đơn vị không thông báo cho các cơ quan tố tụng trong Quân khu
là khoảng 08 vụ, “Mất đạn, vật liệu nổ” là khoảng hơn 02 vụ, trong số này thì hầu
hết các vụ “Mất súng”, “Mất đạn, vật liệu nổ” đều tìm được ngay số vũ khí bị mất,
có 02 vụ đơn vị nghi ngờ cho quân nhân thực hiện hành vi chiếm đoạt vũ khí, đơn

vị đã thi hành biện pháp kỷ luật và cho ra quân.
1.2. Tính chất, cơ cấu, động thái tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí qn
dụng
1.2.1. Tính chất tình hình tội phạm
- Mục đích của tội phạm
Trong số 07 vụ/08 người thực hiện tội phạm chiếm đoạt vũ khí qn dụng đã xét
xử có thể xác định được mục đích của tội phạm như sau:
Chiếm đoạt để đem đi bán: 04 vụ (mục đích tư lợi);
Chiếm đoạt để tàng trữ: 03 vụ (mục đích dùng vào việc phòng thân);
Trong số các vụ mà người thực hiện hành vi chiếm đoạt vũ khí qn dụng đã
chết thì 75% là chiếm đoạt để tự sát; 25% là giết người sau đó tự sát (phạm tội
khác).
- Hậu quả do hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng gây ra
Hậu quả của hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng gây ra thiệt hại không chỉ gây
thiệt hại cho quân đội nói chung và Quân khu 7 nói riêng, về nhiều mặt đó là thiệt
hại về vũ khí, qn số, ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng chiến đấu, an tồn đơn vị
mà cịn ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn trật tự xã hội. Riêng đối với các hậu
quả vật chất được thể hiện qua các số liệu thống kê như sau.
7

Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (1995), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự Việt
Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 47.


9

Về vũ khí:
Thiệt hại khơng thu hồi được: 10 súng tiểu liên AK 47, 04 súng trường CKC, 03
súng tiểu liên AR15, 02 súng ngắn K54. Hơn 600 viên đạn K56.
Làm hư hỏng không phục hồi được 02 súng tiểu liên AK47.

Về con người:
Làm chết 04 quân nhân (01 chiến sĩ, 01 quân nhân chuyên nghiệp, 02 sỹ quan
cấp úy); 01 dân quân tập trung.
1.2.2. Cơ cấu của tình hình tội phạm
“Cơ cấu của tình hình tội phạm là thành phần, tỉ trọng và sự tương quan giữa
các tội phạm, loại tội phạm trong một chỉnh thể tình hình tội phạm. Cơ cấu của tình
hình tội phạm được biểu thị bằng chỉ số tương đối, tức là chỉ số phản ánh mối tương
quan giữa các loại tội phạm, các tội phạm cụ thể trong tổng thể tình hình tội
phạm”8. Dựa vào cơ cấu của tội phạm xác định được mức độ tội phạm trong một
giai đoạn cụ thể “Cơ cấu của tình hình tội phạm là tỉ trọng và mối tương quan giữa
các loại tội phạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong một khoảng thời
gian nhất định và ở một lãnh thổ (địa bàn) nhất định...”9.
Cơ cấu của tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí qn dụng trên địa bàn Quân
khu 7 là chúng ta nói đến tỉ trọng của tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng so với
tổng số tội phạm xảy ra trên địa bàn Quân khu từ năm 2005 đến năm 2012. Theo số
liệu thống kê tình hình tội phạm trên địa bàn Quân khu 7 là 360 vụ/ 473 người,
trung bình là 45 vụ/ 59 người mỗi năm, nếu so sánh với số liệu tình hình tội phạm
của 9 tỉnh thành nằm trên địa bàn Quân khu 7 thì đây là con số rất nhỏ, tuy nhiên
với đặc thù của quân đội thì tỉ lệ trên là cao so với tồn quân (theo thống kê của
Viện kiểm sát quân sự Trung ương thì Qn khu 5 có tỉ lệ trung bình là 47 vụ, Qn
khu 9 có tỉ lệ trung bình là 42 vụ, Quân khu 4 có tỉ lệ trung bình là 41 vụ.).
Số vụ chiếm đoạt vũ khí qn dụng từ năm 2005 đến năm 2012 là 18 vụ/13
người .

8
9

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng Tội phạm học, tr. 41.

Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (1985), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự Việt

Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 21.


10

Qua xem xét con số trên (18 vụ/13 người) chúng ta có thể thấy trong 8 năm
qua số lượng các vụ án chiếm đoạt vũ khí quân dụng ít (trung bình 2,3 vụ/năm) và
có chiều hướng giảm.
Bảng 1. Tỉ lệ tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng so với tổng số tội phạm được
phát hiện

5%
Tội phạm chiếm đoạt
VKQD

Tổng số tội phạm

95%

Từ bảng 1 chúng ta nhận thấy tỉ lệ số vụ tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân
dụng chỉ chiếm 5% so với tổng số vụ tội phạm phát hiện.
Bảng 2. Tỉ lệ giữa tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng chưa phát hiện và tội
phạm phát hiện

35%
Tội phạm ẩn
65%

Tội phạm hiện



11

Theo bảng 2 tỉ lệ giữa tội phạm chưa phát hiện và tội phạm phát hiện trong thời
gian này là 35% ẩn (10 vụ), 65% hiện (18 vụ).
Nếu như tổng số vụ tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng bao gồm cả tội phạm
chưa phát hiện là 28 vụ thì tỷ lệ là 7,7% so với tổng số 360 vụ tội phạm (bảng 3).
Bảng 3. Tỉ lệ tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng bao gồm cả tội phạm ẩn so
với tổng số vụ tội phạm phát hiện

[8%]

Tội phạm CĐVKQD
Tổng số tội phạm
[92%]

Trong tổng số 360 vụ tội phạm phát hiện thì số vụ tội phạm được đưa ra xét
xử là 287 vụ trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2012 chiếm tỉ lệ 79% số vụ tội
phạm được phát hiện. Trong khi đó số vụ chiếm đoạt vũ khí qn dụng mà ngành
Tịa án qn sự Quân khu 7 xét xử là 07 vụ trên tổng số 18 vụ tội phạm chiếm đoạt
vũ khí quân dụng được phát hiện chiếm tỉ lệ 38% trên tổng số vụ (bảng 4).
Bảng 4. Tỉ lệ số vụ chiếm đoạt vũ khí quân dụng đã xét xử trên tổng số tội
phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng đƣợc phát hiện


12

Nếu so sánh số vụ chiếm đoạt vũ khí quân dụng mà ngành Tòa án quân sự
Quân khu 7 xét xử là 07 vụ trên tổng số 18 vụ tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân
dụng được phát hiện với số vụ tội phạm được đưa ra xét xử là 287 vụ trên tổng số

360 vụ tội phạm được phát hiện trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2012 thì tỉ lệ
là 2,4%.
Trong số 07 vụ/09 người được đưa ra xét xử thì trong đó số lượng hình phạt
trong khung ít nghiêm trọng (đến 3 năm tù) là 03 người, số lượng hình phạt trong
khung nghiêm trọng (đến 7 năm tù) là 06 người (bảng 5). Như vậy có thể nói tội
phạm chiếm đoạt vũ khí qn dụng đã được xét xử có tỉ lệ tội phạm nghiêm trọng
khá cao chiếm 66%.
Bảng 5. Tỉ lệ tội phạm theo phân loại tội phạm

Ít nghiêm
trọng
34%
Nghiêm
trọng
66%

1.2.3. Động thái của tình hình tội phạm
Động thái của tình hình tội phạm là sự thay đổi về thực trạng và cơ cấu của
tình hình tội phạm tại một không gian, thời gian xác định. Sự thay đổi này được xác
định bằng tỉ lệ tăng, giảm tội phạm so với điểm thời gian được lựa chọn làm mốc
(xác định là 100%). Động thái về thực trạng là sự thay đổi về số tội phạm, số người
phạm tội tại một địa bàn trong một khoảng thời gian xác định so với thời điểm làm
mốc.


13

Động thái về cơ cấu là sự thay đổi về thành phần, tỉ trọng các tội, nhóm tội
trong tổng tình hình tội phạm tại một địa bàn trong một khoảng thời gian xác định
so với điểm thời gian làm mốc10.

Bảng 7. Diễn biến tình hình tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng
Năm

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Số lượng

02 vụ

05 vụ

02 vụ

03 vụ

01 vụ


02 vụ

02 vụ

01 vụ

Tăng

100%

250%

100%

150%

50%

100%

100%

50%

Lấy năm 2005 (tương ứng 100%) làm căn cứ thì số vụ tội phạm chiếm đoạt
vũ khí qn dụng năm 2006 tăng đột biến lên đến 250%, sau đó giữ mức tăng từ
100% đến 150% từ năm 2007, 2008 có giảm vào năm 2009, tiếp tục tăng 100% vào
các năm 2010, 2011 và giảm xuống còn 50% năm 2012 (bảng 7).
Bảng 8. Số vụ và số người đã bị xét xử

Năm

Số vụ

Số ngƣời

Tội phạm, hành vi đƣợc thực hiện cùng với
tội chiếm đoạt VKQD

2005

02

03

Tội chiếm đoạt vật liệu nổ 232

2006

0

0

2007

01

01

2008


01

02

2009

01

01

2010

0

0

2011

01

01

2012

01

02

Tội tàng trữ, mua bán VKQD 230


Trong tổng số 18 vụ/ 13 người thì có 07 vụ/09 người được đưa ra xét xử còn
lại 11 vụ/ 04 người, 11 vụ này bao gồm 03 vụ/03 người là có hành vi chiếm đoạt vũ
khí qn dụng sau đó thực hiện hành vi tự sát, 01 vụ/01 người thực hiện hành vi giết
người sau đó tự sát, cịn lại là 07 vụ tạm đình chỉ vì khơng tìm ra người thực hiện
tội phạm.

10

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng Tội phạm học, tr. 43-44.


14

So sánh diễn biến của tình hình tội phạm và tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân
dụng đã phát hiện và xét xử nhận thấy trong năm 2006 tình hình tội phạm nói chung
và tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng gia tăng rất nhanh.
70

65
56

60
49

49

50
40
40


46

44

42

40

37

34

37
33

31

31

27

30

20
10

5

2 2


0

2 1

3

1

1 1

2

0

2 1

1 1

0
2005

2006

Tổng số tội phạm

2007
Tội phạm đã xét xử

2008


2009

Tội phạm CĐVKQD

2010

2011

2012

Tội phạm CĐVKQD đã xét xử

Các đơn vị xảy ra tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng:
Khối nhà trường: 08 vụ (cấp Quân khu: 02 vụ; cấp tỉnh, thành phố: 06 vụ);
Khối quân sự địa phương: 04 vụ;
Khối đơn vị thực binh cấp tỉnh thành phố: 04 vụ;
Khối đơn vị thực binh cấp quân khu: 02 vụ;
Khối cơ quan: 0 vụ.
Có thể thấy khối nhà trường là nơi có tội phạm chiếm đoạt vũ khí quân dụng
nhiều nhất kế đến là khối quân sự địa phương và khối đơn vị thực binh cấp tỉnh,
thành phố. Khối cơ quan không xảy ra vụ nào. Đặc biệt các kho vũ khí đạn không
xảy ra bất kỳ hành vi chiếm đoạt nào.
Đối tượng thực hiện hành vi phạm tội người trong, ngoài quân đội thực hiện:
Số vụ do người trong quân đội thực hiện: 17 vụ;
Số vụ do người ngoài quân đội thực hiện: 0 vụ;
Số vụ do người trong và ngoài quân đội cùng thực hiện: 01 vụ.
1.3.

Nhân thân ngƣời phạm tội


Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng nhất phản
ánh bản chất người phạm tội. Những đặc điểm, dấu hiệu này tác động với những


15

tình huống, hồn cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội11. Các đặc điểm
nhân thân của người phạm tội được nghiên cứu ở một số khía cạnh như: Giới tính,
độ tuổi, trình độ học vấn, nơi cư trú, nghề nghiệp, hồn cảnh gia đình.
Giống như nghiên cứu tội phạm khác, người phạm tội chiếm đoạt vũ khí
quân dụng cũng có những đặc điểm nhân thân riêng, chủ thể của hành vi tội phạm
chiếm đoạt vũ khí quân dụng vừa là chủ thể đặc biệt (quân nhân) vừa là chủ thể
thơng thường (người ngồi qn đội). Tuy nhiên trong thời gian nghiên cứu số chủ
thể này quá ít (01 người) nên không thể thống kê được các đặc trưng cơ bản về nhân
thân người phạm tội bên cạnh đó vai trị của người này chỉ là đồng phạm giúp sức.
Các thông tin về nhân thân người phạm tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng cũng được
nghiên cứu xem xét như các đặc điểm đã nêu trên. Qua công tác khảo sát, thống kê
thì có 11 vụ/13 người thực hiện hành vi tội phạm được phát hiện, tuy nhiên trong số
này có 01 trường hợp là dân sự vì vậy không đủ điều kiện để tổng hợp nhân thân
người phạm tội đối với trường hợp dân sự này, nên tác giả chỉ tổng hợp nhân thân
người phạm tội của 12 trường hợp người thực hiện hành vi tội phạm là qn nhân.
Qua cơng tác tổng hợp có thể xác định đặc điểm nhân thân người phạm tội chiếm
đoạt vũ khí quân dụng được thể hiện như sau:
- Về độ tuổi: Theo thống kê, độ tuổi của tội phạm này vào khoảng từ 18 tuổi
đến 27 tuổi (trong số 12 người phạm tội thì có 09 người từ 18 tuổi đến 23 tuổi, có
03 người từ 25 tuổi đến 27 tuổi).
Đây là lứa tuổi chiếm tỉ trọng dân số lớn của nước ta hiện nay cũng là độ tuổi
đặc trưng của quân nhân. Đặc trưng của lứa tuổi này là sự năng động, nhạy bén,
thích khám phá, thích cái mới tuy nhiên lứa tuổi này do đặc điểm sinh học về tuổi

cũng như kinh nghiệm sống còn nhiều hạn chế nên dễ bị cái xấu tác động điều này
được thể hiện qua các yếu tố sau đây: 1. Tuổi trẻ thích tự do, khơng thích gị bó
trong kỷ luật, nhất là kỷ luật quân đội, thường xuyên có biểu hiện khơng phục tùng,
có hành vi trả đũa khi bị nhắc nhở, kỷ luật, khi bị ức chế về tâm lý do hạn chế về
nhận thức chính trị hay nảy sinh hiện tượng chiếm đoạt vũ khí quân dụng sử dụng
để trả thù; 2. Chiếm đoạt vũ khí quân dụng để gây mất an toàn trong đơn vị; 3.
Chiếm đoạt để thể hiện bản lĩnh với người khác về việc sở hữu vũ khí quân dụng
hoặc để thoả mãn nhu cầu về vật chất.

11

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng Tội phạm học, tr. 90.


16

Ví dụ: Nguyễn Văn T sau khi bị nhắc nhở trước Đại đội về hành vi rời bỏ
đơn vị, đến 5 giờ sáng ngày hôm sau T dùng xẻng quân dụng cạy tủ súng đơn vị
chiếm đoạt 01 súng AK cùng 03 hộp tiếp đạn chứa 75 viên đạn AK, T đến phòng
nghỉ Đại đội dùng súng AK bắn vào đầu đồng chí Đại đội trưởng rồi tự sát.
- Giới tính: 100% nam giới
Do đặc điểm sinh học của giới tính quân nhân nữ hầu hết rất nghiêm túc
trong việc tuân thủ kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, ít khi có những hành động
mang tính bộc phát đáp trả (trong thời gian nghiên cứu số lượng quân nhân nữ thực
hiện nghĩa vụ quân sự là rất ít). Đối với nam quân nhân, một số trước khi nhập ngũ
có thói quen khơng lành mạnh như hút thuốc, rượu bia, cờ bạc thậm chí có một bộ
phận nghiện các chất kích thích bị cấm khi vào quân đội mang theo những thói quen
này khó có thể dứt bỏ ngay, từ đó trong một phút khơng suy nghĩ có thể thực hiện
hành vi chiếm đoạt vũ khí qn dụng để có điều kiện thực hiện các hành vi tiếp sau
đó nhằm thỏa mãn các thói quen trên.

Ví dụ: Ngày 05 tháng 4 năm 2008, Lê Văn D - Thiếu úy chuyên nghiệp sau
khi thực hiện ca gác, D đã cạy tủ súng đơn vị lấy 01 súng AK cùng 01 hộp tiếp đạn
chứa 25 viên đạn súng AK cho vào bao tải rồi ném qua tường rào đơn vị cho
Nguyễn Sỹ T là bạn gần nhà đem về cất giữ để sau đó kiếm người bán lấy tiền trả
nợ do tiêu xài cá nhân hoang phí.
- Nơi cư trú (vùng miền): Thành thị chiếm 75% (09 người), nông thôn chiếm
25% (03 người).
Theo kết quả thống kê của các Cơ quan tố tụng Quân khu 7,75% đối tượng
thực hiện hành vi chiếm đoạt vũ khí qn dụng là cơng dân sinh sống ở thành phố,
thị trấn, thị xã (nói chung là thành thị). Điều này phản ánh một hiện tượng là tuy
trình độ văn hóa, giao tiếp xã hội và sự phát triển tâm sinh lý của thanh niên thành
thị cao hơn nhưng ý thức chấp hành kỷ luật, pháp luật kém hơn và có nhiều thủ
đoạn tinh vi hơn trong quá trình chiếm đoạt. Đây cũng là điều kiện xã hội dễ tiếp
xúc với các hoạt động, các thói quen xấu, không lành mạnh như hút thuốc, rượu bia,
la cà hàng quán, chơi game, cá độ bóng đá, cờ bạc thậm chí nghiện các chất kích
thích. Đối với các đối tượng có hành vi chiếm đoạt vũ khí qn dụng xuất thân nơng
thơn thì có hành vi chiếm đoạt đơn giản, hầu hết mục đích khơng phải dùng vũ khí
qn dụng làm công cụ phương tiện phạm tội khác mà mục đích chủ yếu là thể hiện
bản thân, khoe khoang cùng bạn bè về việc có được vũ khí qn dụng.


17

- Học vấn: từ 9/12 đến 12/12
Cụ thể cho thấy có 11 vụ/ 12 người thực hiện chiếm đoạt vũ khí qn dụng
đã phát hiện ra người phạm tội thì có 05 trường hợp trình độ lớp 9, có 03 trường
hợp có trình độ lớp 10, 02 trường hợp có trình độ lớp 11, 01 trường hợp có trình độ
lớp 12, trong số này có 01 trường hợp có học vấn đại học. Điều này cho thấy, người
phạm tội có trình độ học vấn cao hơn sẽ có nhận thức xã hội cao hơn, ý thức cao
hơn trong việc chấp hành pháp luật và điều lệnh quản lý bộ đội, do đó có thể thấy

hầu hết các trường hợp chiếm đoạt vũ khí quân dụng đều rơi vào các đối tượng có
học vấn dưới lớp 12. Duy nhất có một trường hợp có bằng đại học thực hiện hành vi
chiếm đoạt vũ khí quân dụng để tự sát.
- Nghề nghiệp, quan hệ xã hội: 12 người là quân nhân chiếm 92%, 01 người
là dân sự chiếm 8%.
Nghề nghiệp của các quân nhân trước khi nhập ngũ là lao động phổ thơng
khơng có chun mơn là 09 người, học sinh là 02 người, sinh viên 01 người.
Tất cả các trường hợp chiếm đoạt vũ khí quân dụng được phát hiện và tìm ra
người phạm tội 11 vụ/12 người đều có mối quan hệ ngồi xã hội rất phức tạp, thậm
chí có trường hợp quan hệ với đối tượng nghiện hút, côn đồ, có tiền án. Về địa bàn
xuất phát của mối quan hệ này thì có 07 trường hợp là từ địa phương sinh sống, còn
lại là từ các địa bàn nơi đơn vị đóng qn.
- Hồn cảnh gia đình:
Về điều kiện kinh tế: Chỉ có 01 trường hợp là có hồn cảnh xuất thân từ gia
đình có điều kiện kinh tế khá, 03 trường hợp có điều kiện kinh tế trung bình, cịn lại
08 trường hợp có điều kiện kinh tế dưới trung bình thậm chí ở mức khơng đủ sống.
Trong số 07 vụ/08 người (trường hợp dân sự phạm tội không đủ điều kiện tổng hợp
như đã nêu ở trên) được đưa ra xét xử thì có 05 trường hợp có hồn cảnh kinh tế
dưới trung bình, 02 người có hồn cảnh kinh tế trung bình. Trong số 04 vụ/04 người
không khởi tố vụ án do người phạm tội đã chết (tự sát) thì có 01 trường hợp có điều
kiện kinh tế khá, 01 trường hợp có hồn cảnh kinh tế dưới trung bình, 02 trường
hợp có hồn cảnh kinh tế dưới trung bình.
Về hồn cảnh gia đình: Có 10 người trên tổng số 12 người thực hiện chiếm
đoạt vũ khí qn dụng có hồn cảnh gia đình khơng hạnh phúc, cha mẹ ly hôn, cha
mẹ không chung sống cùng nhau, phải ở chung với ông, bà nội ngoại, có trường hợp
gia đình có người phạm tội đang thi hành hình phạt tù. Trong số 04 vụ/04 người


18


không khởi tố vụ án do người phạm tội đã chết (tự sát) thì tất cả đều có hồn cảnh
gia đình khơng hạnh phúc.
- Cấp bậc khi thực hiện hành vi tội phạm:
Sỹ quan cấp úy thực hiện: 01 vụ;
Sỹ quan cấp tá thực hiện: 0 vụ;
Quân nhân chuyên nghiệp cấp úy thực hiện: 03 vụ;
Quân nhân chuyên nghiệp cấp tá thực hiện: 0 vụ;
Hạ sỹ quan, binh sĩ thực hiện: 06 vụ;
Cơng nhân viên quốc phịng thực hiện: 0 vụ;
Dân quân thực hiện: 02 vụ.
Hạ sỹ quan, binh sĩ chiếm hơn một nửa số người phạm tội vì đây là đối
tượng có trình độ nhận thức và chấp hành kỷ luật thấp nhất so với các đối tượng
khác. Hơn nữa, về tuổi tác cịn trẻ, suy nghĩ chưa chín chắn, chưa ý thức được hậu
quả của hành vi tội phạm. Khơng có trường hợp nào là sỹ quan cấp tá hoặc quân
nhân chuyên nghiệp cấp tá phạm tội, điều này tương xứng với độ tuổi phạm tội và
trình độ học vấn.
Trong số 04 vụ/04 người thuộc trường hợp không khởi tố vụ án do người
phạm tội đã chết thì sỹ quan cấp úy thực hiện 01 vụ; Quân nhân chuyên nghiệp cấp
úy thực hiện 01 vụ; Hạ sỹ quan, binh sĩ thực hiện 01 vụ; Dân quân thực hiện 01 vụ.
- Tình trạng hơn nhân: Chưa lập gia đình 09 trường hợp, kết hôn 01 trường
hợp và kết hôn có con là 01 trường hợp.
Gần như các trường hợp phạm tội (chiếm 90%) đều chưa kết hôn. Đây là các
trường hợp có quan hệ chưa chín chắn, phức tạp, chưa nhận thức được hết trách
nhiệm đối với gia đình, xã hội, quân đội nên dễ dẫn đến hành vi tội phạm.
- Lý lịch tư pháp (tiền án, tiền sự), vi phạm pháp luật khác: 100% khơng có
tiền án.
Khác với một số tội phạm khác, người phạm tội chiếm đoạt vũ khí quân
dụng hầu hết là quân nhân nên khi xét lý lịch trước khi nhập ngũ thường có lý lịch
trong sạch, chưa vi phạm pháp luật hoặc vi phạm hành chính đã hết thời hiệu.
1.4.


Kết luận chƣơng 1

Mặc dù các hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng xảy ra không nhiều so với
tỉ lệ tội phạm được phát hiện trên địa bàn Quân khu, tuy nhiên hậu quả của nó vơ
cùng lớn, khi xảy ra hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng tại đơn vị, hầu hết các


19

đơn vị phải tạm ngừng các hoạt động, quân nhân cắm trại 100%, các hoạt động
huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bị ảnh hưởng nghiêm trọng (báo động, kiểm tra
quân số, qn trang, vũ khí), ảnh hưởng đến tình hình an toàn trật tự đơn vị, an toàn
trật tự xã hội. Quan trọng hơn nữa là số vụ tội phạm được phát hiện, điều tra, truy
tố, xét xử là rất ít so với số vụ xảy ra. Có một số vụ chiếm đoạt vũ khí qn dụng
vừa xảy ra thì liền sau đó là các vụ phạm pháp hình sự có sử dụng vũ khí qn dụng
xảy ra, theo các lời khai, chứng cứ cũng như công tác khám nghiệm hiện trường và
các công tác điều tra khác cho biết thì chủng loại vũ khí được sử dụng để phạm
pháp rất giống với loại mà các đơn vị bị mất. Mặc dù trong thời gian nghiên cứu của
đề tài chưa có vụ án nào xảy ra bên ngồi xã hội có liên quan trực tiếp đến vũ khí
qn dụng bị chiếm đoạt, tuy nhiên trước đó các vụ án có liên quan đến vũ khí quân
dụng do quân đội quản lý xảy ra rất nhiều, hậu quả cũng như tính chất mức độ rất
nguy hiểm điển hình như vụ án Trương Văn Cam (Năm cam), Phạm Đức Bình
(Bình kiểm)…


×