HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-------------------
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
Kỹ năng chung về cơng chứng
Chun đề: Khó khăn, vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác
mịnh, giám định trong hoạt động cơng chứng – đề xuất giải pháp hồn
thiện Luật công chứng
Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2023
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU........................................................................................................1
B. NỘI DUNG.....................................................................................................1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC MINH HOẶC GIÁM ĐỊNH TRONG
HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG................................................................................1
1. Khái niệm về xác minh, giám định........................................................1
2. Các trường hợp xác minh, giám định trong hoạt động công chứng...1
3. Đối tượng cần xác minh, giám định trong hoạt động công chứng......2
3.1. Xác minh hoặc kiểm tra năng lực hành vi dân sự của cá nhân liên
quan đến hoạt động công chứng......................................................................3
3.2. Các giấy tờ về tài sản........................................................................4
3.3. Giấy tờ tùy thân, giấy tờ hộ tịch.......................................................4
3.4. Tài sản...............................................................................................5
II. THỰC TIỄN VIỆC XÁC MINH, GIÁM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG
CÔNG CHỨNG VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT............................6
1. Thực trạng, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xác minh hoặc
giám định trong hoạt động cơng chứng..............................................................6
1.1. Chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý cho Công chứng viên thực hiện
quyền xác minh, giám định..............................................................................6
1.2. Vấn nạn giấy tờ giả, người giả mạo trong hoạt động công chứng
diễn ra phổ biến, phức tạp................................................................................8
1.3. Thực trạng thiếu trang bị máy móc, cơng nghệ hỗ trợ hoạt động
xác minh, giám định trong hoạt động công chứng..........................................8
1.4. Hành vi vi phạm liên quan đến giấy tờ giả chưa được xử lý thỏa
đáng................................................................................................................... 9
1.5. Kỹ năng hành nghề, chuyên mơn nghiệp vụ của Cơng chứng viên
cịn hạn chế.....................................................................................................10
2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh, giám định trong
hoạt động công chứng........................................................................................10
2.1. Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo cho Công chứng viên thực hiện
quyền xác minh, giám định.............................................................................11
2.2. Giải pháp đối với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan. 11
2.3. Giải pháp đối với các tổ chức hành nghề công chứng và Công
chứng viên.......................................................................................................12
C. KẾT LUẬN..................................................................................................14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................15
A. MỞ ĐẦU
Hiện nay, tình trạng giả mạo giấy tờ, tài liệu cũng như giả mạo người yêu cầu công
chứng trong hoạt động công chứng đã và đang diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp,
nghiêm trọng. Các loại giấy tờ làm giả rất đa dạng: từ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, bằng
cử nhân, chứng chỉ hành nghề, giấy xác nhận tình trạng hơn nhân, giấy xác nhận số chứng
minh nhân dân, chứng minh nhân dân và giấy tờ có giá trị lớn như giấy chứng nhận đăng
ký mơ tô, xe máy, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất,... Trong thời gian qua, mặc dù đã có sự phối hợp giữa Cơ quan cảnh sát điều tra các
địa phương và các cơ quan có liên quan nhằm đưa ra cũng như thực hiện nhiều giải pháp
ngăn ngừa, xử lý, tuy nhiên tình trạng giả mạo giấy tờ tài liệu vẫn diễn biến phức tạp.
Việc này không chỉ gây thiệt hại lớn về vật chất mà còn gây tâm lý hoang mang và bất ổn
cho xã hội mà người yêu cầu công chứng và Cơng chứng viên đều có thể trở thành nạn
nhân của vấn nạn này bất cứ lúc nào.
Để “…bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phịng
ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội.” cũng như để hồn thành tốt nhiệm vụ của mình thì Công
chứng viên phải nhận diện được các tài liệu, giấy tờ giả có trong hồ sơ cơng chứng; nhận
diện người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch từ đó đưa ra các hành động pháp lý phù
hợp. Tuy nhiên, để xác định được các tài liệu, giấy tờ giả có trong hồ sơ cơng chứng; nhận
diện người tham gia giao kết hợp đồng thì Cơng chứng viên phải thực hiện hoạt động xác
minh, giám định trong quá trình hành nghề công chứng. Đây là một trong những việc vô
cùng quan trọng trong hoạt động cơng chứng, có tính chất quyết định trong việc đảm bảo
việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự cũng như chứng
nhận tính chính xác, hợp pháp, khơng trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ
tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.
Trong phạm vi bài báo cáo này, học viên xin lựa chọn chuyên đề: “Khó khăn,
vướng mắc của Công chứng viên trong việc xác mịnh, giám định trong hoạt động công
chứng – đề xuất giải pháp hồn thiện Luật cơng chứng” nhằm phân tích chi tiết các vấn đề
pháp lý liên quan đến việc xác minh, giám định cũng như làm rõ những khó khăn, vướng
mắc từ đó đề xuất một số giải pháp để hồn thiện quy định của pháp luật về xác minh,
giám định trong hoạt động công chứng.
1
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC MINH HOẶC GIÁM ĐỊNH TRONG
HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
1. Khái niệm về xác minh, giám định
Xác minh trong hoạt động công chứng là việc Công chứng viên xem xét, kiểm
tra những thông tin do người yêu cầu công chứng cung cấp và các giấy tờ, tài liệu liên
quan tới nội dung cần công chứng để làm căn cứ đánh giá, kết luận về những thông
tin, giấy tờ, tài liệu và đối tượng của hợp đồng, giao dịch có đúng, phù hợp với quy
định của pháp luật.
Giám định trong hoạt động công chứng do Công chứng viên yêu cầu (theo đề
nghị của người yêu cầu cơng chứng) nhằm có cơ sở để đánh giá một cách chính xác
người tham gia giao dịch là có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp
đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Các trường hợp xác minh, giám định trong hoạt động công chứng
Việc xác minh hoặc giám định là một trong những hoạt động nghiệp vụ quan
trọng bậc nhất của Cơng chứng viên nhằm góp phần đảm bảo việc chứng nhận các
hợp đồng, giao dịch đúng luật.
Theo quy định của Luật Cơng chứng năm 2014 thì việc xác minh, giám định
được tiến hành trong một số trường hợp như sau:
- Thứ nhất, “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công
chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa,
cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng
hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mơ tả cụ thể thì Công chứng viên
đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công
chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định…” - Khoản 5
Điều 40 Luật công chứng 2014.
- Thứ hai, “Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản
đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu
công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho
rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là khơng đúng pháp luật thì từ chối u cầu
cơng chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến
hành xác minh hoặc yêu cầu giám định”. - Điều 57 Khoản 3 Luật công chứng 2014.
Như vậy, trong hoạt động cơng chứng, có rất nhiều trường hợp mà Công
chứng viên cần phải xác minh hoặc giám định theo yêu cầu của người yêu cầu công
chứng. Việc xác minh hoặc giám định trong hoạt động công chứng nhằm mục đích
để bảo đảm tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Các nội dung cần xác
1
minh hoặc giám định trong hoạt động cơng chứng có thể là các vấn đề liên quan đến
chủ thể bao gồm tư cách của chủ thể, tính xác thực của chủ thể, về năng lực hành vi
dân sự của chủ thể yêu cầu công chứng; về đối tượng của hợp đồng, giao dịch; về
các giấy tờ pháp lý liên quan (giấy tờ chứng minh về quyền của chủ thể, giấy tờ về
tài sản) và các thông tin do các bên tham gia hợp đồng, giao dịch cung cấp.
Trong hoạt động công chứng khi phát sinh các trường hợp cần xác minh hoặc
giám định mà Công chứng viên bỏ qua không tiến hành xác minh, giám định hoặc
việc xác minh, giám định khơng chính xác sẽ có nguy cơ gây dẫn đến hợp đồng, giao
dịch dân sự bị vô hiệu, từ đó gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những
người liên quan khi tham gia công chứng hợp đồng, giao dịch.
Do vậy, nếu “Công chứng viên không tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám
định trong trường hợp có yêu cầu xác minh, giám định của người u cầu cơng
chứng” thì sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng - quy định tại điểm
o, khoản 3, Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020. Ngồi ra
thì “tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật” – Điều 71, 38 Luật công chứng 2014.
3. Đối tượng cần xác minh, giám định trong hoạt động công chứng
Khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì số lượng, loại và dạng tài sản ngày
càng nhiều, đa dạng dẫn đến các loại việc yêu cầu công chứng từ đó cũng ngày càng
đa dạng, phức tạp. Trong mỗi loại hợp đồng, giao dịch yêu cầu công chứng đều có thể
phát sinh những vấn đề phải xác minh hoặc giám định nhằm đảm bảo tính xác thực,
tính chính xác của hợp đồng, giao dịch.
Hoạt động xác minh của Công chứng viên có thể được tiến hành thơng qua việc
kiểm tra, đối chiếu hồ sơ lưu trữ, truy xuất và tra cứu thông tin điện tử; tiến hành xác
minh tại các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan; kiểm tra thực tế
đối tượng của giao dịch là tài sản; đề nghị các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ
chức có liên quan cung cấp thông tin cần thiết.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 17 Luật cơng chứng 2014 thì Cơng
chứng viên có quyền “d) Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp
thơng tin, tài liệu để thực hiện việc cơng chứng;”. Do vậy, ngồi biện pháp tự kiểm
tra, đối chiếu hồ sơ lưu trữ, truy xuất và tra cứu thông tin điện tử; tiến hành xác minh
tại các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan; kiểm tra thực tế đối
tượng của giao dịch là tài sản; thì Cơng chứng viên cịn có quyền đề nghị các cơ quan
có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan cung cấp thơng tin cần thiết nhằm xác
minh các nội dung, vấn đề cần làm rõ. Từ đó, giúp Cơng chứng viên xác nhận chính
xác người tham gia giao dịch có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc mục đích, nội dung
của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội hoặc đối
2
tượng của hợp đồng giao dịch là có thật, chữ ký trong hợp đồng, giao dịch là đúng chữ
ký của người tham gia hợp đồng, giao dịch. Từ đó góp phần ngăn chặn các hành vi vi
phạm pháp luật, bảo đảm hành lang pháp lý an toàn, ngăn ngừa các tranh chấp xảy ra.
Theo quy định của Luật công chứng 2014, chúng ta có thể xác định những đối
tượng cần phải xác minh hoặc giám định trong quá trình hành nghề của Cơng chứng
viên – khi có u cầu xác minh hoặc giám định của người yêu cầu công chứng. Cụ
thể:
3.1. Xác minh hoặc kiểm tra năng lực hành vi dân sự của cá nhân liên quan
đến hoạt động công chứng
Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 thì “Năng lực hành vi dân sự
của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự.”. Do vậy, khi tiếp nhận yêu cầu công chứng, thông qua việc trao đổi
và nghiên cứu hồ sơ, nếu Công chứng viên nhận thấy người có liên quan đến nội dung
yêu cầu cơng chứng có những dấu hiệu bất thường về tinh thần, tâm lý, về sự thể hiện
ý chí… thì Công chứng viên phải áp dụng các kỹ năng nghề và biện pháp nghiệp vụ để
xác định về trạng thái tinh thần, tâm lý của người đó. Nếu có những dấu hiệu cho thấy
người u cầu cơng chứng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn
chế, bị mất năng lực hành vi dân sự … thì phải tạm dừng việc cơng chứng và đề nghị
người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng,
Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định để xác định khả năng
nhận thức, làm chủ hành vi và thể hiện ý chí của người đó. Trường hợp khơng làm rõ
được thì Cơng chứng viên có quyền từ chối cơng chứng.
Trong trường hợp không làm rõ được mà Công chứng viên vẫn tiến hành hoạt
động cơng chứng thì tùy từng trường hợp hợp đồng, giao dịch đó có nguy cơ bị vô
hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 như:
- Điều 122 “Giao dịch dân sự khơng có một trong các điều kiện được quy định
tại Điều 117 của Bộ luật này thì vơ hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”
– Điểm a khoản 1 Điều 11 “a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi
dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;”
- Điều 125 “Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện”.
- Điều 127 “Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép”
- Điều 128 “Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm
chủ được hành vi của mình”
Vì vậy, việc xác minh hoặc giám định năng lực hành vi dân sự của người yêu
cầu công chứng giúp Công chứng viên nhận định đúng về chủ thể của giao dịch, bảo
3
đảm giao dịch dân sự có hiệu lực. Khơng những vậy, xác định chủ thể cịn giúp
Cơng chứng viên xác định được những yêu cầu về hồ sơ công chứng, yêu cầu về nội
dung của giao dịch khi pháp luật có quy định các điều kiện riêng cho mỗi loại chủ
thể, giúp Cơng chứng viên tránh những sai sót trong việc tư vấn, chứng nhận những
giao dịch có nội dung trái quy định pháp luật do loại chủ thể đó không được thực
hiện, khi thực hiện phải tuân theo điều kiện nhất định hoặc khi thực hiện giao dịch
họ không cần phải tuân theo những yêu cầu của pháp luật dành cho các chủ thể
thông thường khác.
Không những vậy, việc xác định được chủ thể, năng lực hành vi dân sự của
chủ thể còn giúp xác định đúng cá nhân, tổ chức có u cầu cơng chứng có đủ điều
kiện tham gia giao dịch hay không để đi đến việc từ chối hoặc nhận u cầu cơng
chứng. Từ đó giúp cho Cơng chứng viên có được những tư vấn đúng, đủ, cần thiết
trong những trường hợp cụ thể để người u cầu cơng chứng có thể thực hiện những
thủ tục pháp lý nhằm bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về mặt chủ thể, bảo đảm
quyền lợi của người tham gia giao dịch và quyền lợi của những người khác.
3.2. Các giấy tờ về tài sản
Việc xác minh hoặc giám định đối với các giấy tờ về tài sản trong q trình
thực hiện cơng chứng là việc Cơng chứng viên xem xét các giấy tờ chứng minh về
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản có được cấp đúng thẩm quyền hay không, hiện
trạng thực tế của tài sản có đúng với tình trạng pháp lý được ghi nhận trong giấy
tờ về tài sản hay không? Con dấu, chữ viết, chữ ký của người có thẩm quyền…có
đúng khơng.
Thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp hiện trạng thực tế của tài sản đã có
sự thay đổi so với hiện trạng được ghi nhận trên giấy chứng nhận, ví dụ như: đối với
động sản như xe mô tô, xe máy đã thay đổi màu sơn không đúng với giấy chứng nhận
đăng ký xe… Những trường hợp này, Công chứng viên phải hướng dẫn cho các bên
hoàn tất các thủ tục hợp thức hóa đối với những thay đổi nêu trên hoặc tiến hành xác
minh về hiện trạng và tình trạng pháp lý của tài sản, để bảo đảm cho việc cơng chứng
hợp đồng, giao dịch được chính xác, tránh tranh chấp về sau.
Ngoài ra việc xác minh, giám định có thể được tiến hành tại các cơ quan có
thẩm quyền cấp giấy tờ về quyền sử hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc Cơng chứng
viên có thể u cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ về quyền sử hữu, quyền
sử dụng tài sản như: Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ (đối với xe ô tô, mô tô, xe
máy …), Sở Giao thông vận tải (đối với phương tiện thủy nội địa), Văn phòng đăng
ký đất đai (đối với nhà ở, quyền sử dụng đất,…) phối hợp trong việc cung cấp thông
tin, dữ liệu nhằm xác minh nội dung, vấn đề cịn chưa rõ. Ngồi ra Cơng chứng viên
cũng có thể xác minh tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản hoặc nơi cư trú của
người yêu cầu công chứng.
4
3.3. Giấy tờ tùy thân, giấy tờ hộ tịch
Mặc dù “giấy tờ tùy thân” được sử dụng phổ biến hiện nay, nhưng chưa có văn
bản pháp luật nào định nghĩa cụ thể giấy tờ tùy thân là gì. Theo cách hiểu chung nhất,
giấy tờ tùy thân là những loại giấy tờ có thể giúp xác định đặc điểm và nhận dạng nhân
thân của một người. Giấy tờ tùy thân do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp và có
giá trị sử dụng trong một thời gian nhất định.
Đối với giấy tờ tùy thân của người tham gia giao dịch thì chứng minh nhân
dân là một trong những loại giấy tờ rất quan trọng, nhưng thường xuyên bị các đối
tượng làm giả mạo hoặc tẩy xóa, sửa chữa. Việc kiểm tra giấy tờ tùy thân là để nhận
diện thông tin của người tham gia giao dịch công chứng (ngày tháng năm sinh; họ tên;
nơi thường trú; đặc điểm nhận dạng; vân tay…) có phù hợp với các địa điểm ghi trên
giấy tờ tùy thân hay khơng hoặc có phù hợp với thông tin trên các loại giấy tờ khác
như hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn … hay khơng hoặc có phù hợp
với người u cầu cơng chứng hay không?
Thực tế xảy ra nhiều trường hợp người u cầu cơng chứng khơng phải là
người có tên trên giấy tờ tùy thân, nhưng lại sử dụng các thủ đoạn giả mạo, gian dối
để thay hình, chèn hình, chèn đặc điểm nhận dạng vào giấy tờ tùy thân, để qua mặt
Công chứng viên thực hiện thành công thủ đoạn giả mạo, gian dối.
Ngoài ra, đối với các giấy tờ hộ tịch của người yêu cầu công chứng như giấy
chứng nhận kết hơn, hộ khẩu, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy khai sinh, giấy
chứng tử … Công chứng viên cũng phải kiểm tra kỹ hoặc tiến hành xác minh tại cơ
quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ này nếu thấy có những nghi vấn về việc giả
mạo giấy tờ hoặc gửi công văn xác minh đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền.
3.4. Tài sản
Việc kiểm tra, xác minh tài sản là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến nhiều quy
định pháp luật, nhiều cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có liên quan, mất nhiều
thời gian. Nội dung xác minh có thể là: về hiện trạng của tài sản, tình trạng pháp lý
của tài sản trong thực tế với các giấy tờ về tài sản.
Có rất nhiều trường hợp thực tế tài sản khơng cịn hiện hữu nữa, mà chỉ cịn
giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu. Do vậy, khi Cơng chứng viên thấy có căn cứ để
nghi vấn nhưng không tiến hành xác minh, dẫn tới việc chứng nhận hợp đồng, giao
dịch khi tài sản khơng cịn trên thực tế sẽ dẫn đến tranh chấp và nếu phát sinh thiệt hại
thì Cơng chứng viên có khả năng phải chịu bồi thường.
Đối với nhà ở, các phát sinh thường gặp là nhà được xây dựng tăng thêm diện
tích sử dụng, làm thay đổi hiện trạng, kết cấu nhà mà phần tăng thêm này không được
chứng nhận sở hữu theo quy định pháp luật.
5
Đối với các tài sản khác không phù hợp giữa tài sản thực tế và giấy tờ chứng
minh quyền sở hữu như các phương tiện thủy nội địa, tàu biển đã có thay đổi về kích
thước, vật liệu đóng, thay đổi tính năng sử dụng nhưng khơng được chứng nhận quyền
sở hữu và không được cập nhật trên giấy tờ chứng minh quyền sở hữu.
Như vậy, việc xác minh, yêu cầu giám định của Công chứng viên khi hành
nghề là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi cho người tham gia giao dịch cơng chứng,
tránh tranh chấp có thể xảy ra và phòng ngừa giả mạo trong hoạt động công chứng.
II. THỰC TIỄN VIỆC XÁC MINH, GIÁM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG
CƠNG CHỨNG VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT
1. Thực trạng, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xác minh hoặc giám
định trong hoạt động cơng chứng
1.1. Chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý cho Công chứng viên thực hiện quyền xác
minh, giám định
- Với hoạt động xác minh:
Luật Công chứng năm 2014 quy định Công chứng viên phải bảo đảm các nội
dung như chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hồn tồn tự nguyện, có
năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm
pháp luật, không trái đạo đức xã hội; chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao
dịch đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch.
Tuy nhiên, với quy định trên thì Cơng chứng viên chịu trách nhiệm về nội dung
công chứng nhưng lại không đương nhiên có quyền thực hiện xác minh nội dung
trong hợp đồng công chứng. Luật Công chứng cũng như các văn bản pháp lý có liên
quan trong lĩnh vực cơng chứng chưa thực sự tạo ra một cơ chế pháp lý ổn định, đồng
nhất và đầy đủ cho Công chứng viên thực hiện quyền xác minh trong hoạt động công
chứng.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 thì Cơng chứng viên
chỉ tiến hành hoạt động xác minh trong trường hợp “Trong trường hợp có căn cứ cho
rằng trong hồ sơ u cầu cơng chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao
dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép… thì …. theo đề nghị của người yêu cầu công
chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định”.
Điều này có nghĩa là Cơng chứng viên khơng được quyền đương nhiên xác
minh những vấn đề còn lại trong nội dung giao dịch mà chỉ xác minh, giám định “…
theo đề nghị của người u cầu cơng chứng”.
Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 17 Luật Cơng chứng
2014 quy định Cơng chứng viên có quyền “Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên
quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng”. Tuy nhiên, đó là tất
cả căn cứ pháp luật mà Cơng chứng viên có thể áp dụng để tìm kiếm thông tin. Luật
công chưng và các văn bản hướng dẫn khác khơng có quy định nào bắt buộc các cơ
quan, tổ chức có liên quan phải cung cấp thơng tin, tài liệu cho Công chứng viên trong
6
thời hạn bao lâu, giới hạn đến đâu và nếu khơng cung cấp thì chế tài như thế nào.
Chính vì vậy, Công chứng viên hoặc tổ chức hành nghề công chứng thực hiện hoạt
động xác minh thì gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt khi làm việc với các cơ quan quản
lý nhà nước, thậm chí các cơ quan này không cung cấp thông tin cho Công chứng viên
hoặc tổ chức hành nghề công chứng.
Với những quy định trên, Luật Công chứng năm 2014 chưa thực sự tạo ra một
hành lang pháp lý đủ để tạo điều kiện cho Công chứng viên thực hiện việc xác minh,
kiểm tra và xử lý giấy tờ giả. Do đó, các Cơng chứng viên gặp rất nhiều khó khăn,
khơng được cung cấp đầy đủ thơng tin chính xác từ phía các cơ quan chức năng trong
q trình hành nghề, dẫn đến cịn xảy ra trên thực tiễn rất nhiều những vụ việc giấy tờ
giả lọt vào hoạt động công chứng1 2.
Ngày 19 tháng 11 năm 2020 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 172/NQ-CP
năm 2020 về chính sách phát triển nghề cơng chứng. Theo đó, Chính phủ có quyết
nghị về việc ban hành chính sách phát triển nghề cơng chứng trong đó có nội dung:
“b) Xây dựng kế hoạch triển khai, hướng dẫn việc kết nối, chia sẻ dữ liệu về đất đai,
nhà ở, doanh nghiệp, dân cư với cơ sở dữ liệu công chứng bảo đảm việc kết nối liên
thông giữa các Sở, ban, ngành có liên quan với các tổ chức hành nghề công chứng.”
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại thì việc kết nối, chia sẻ những dữ liệu về
đất đai, nhà ở, doanh nghiệp, dân cư với cơ sở dữ liệu công chứng vẫn chưa được triển
khai thực hiện.
- Với hoạt động giám định: Theo quy định tại khoản 5 Điều 40 và khoản 3
Điều 57 Luật công chứng 2014 thì “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ
u cầu cơng chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu
bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu
công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mơ tả cụ thể thì Cơng
chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người
yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định;
trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối cơng chứng.” “Công chứng viên
phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng
di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản
là không đúng pháp luật thì từ chối u cầu cơng chứng hoặc theo đề nghị của người
yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định.”
Tuy nhiên, hiện nay pháp luật khơng có quy định hay hướng dẫn nào về giám
định công chứng. Liên quan đến vấn đề giám định, hiện nay có Luật giám định tư
pháp 2012 sửa đổi 2020 tuy nhiên luật này chỉ quy định “… về giám định viên tư
pháp; tổ chức giám định tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức
1
/> />2
7
giám định tư pháp theo vụ việc; hoạt động giám định tư pháp; chi phí giám định tư
pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp và trách nhiệm của cơ
quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động giám định tư pháp.”
Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 2 Luật giám định tư pháp thì “Người
trưng cầu giám định bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng.” “Người yêu cầu giám định là người có quyền tự
mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà khơng được
chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ
việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình
sự của bị can, bị cáo.”.
Như vậy, nếu căn cứ vào quy định của Luật giám định tư pháp thì Cơng chứng
viên khơng phải là người có quyền u cầu giám định nhằm làm rõ một vấn đề nào đó
khi thực hiện hoạt động công chứng.
1.2. Vấn nạn giấy tờ giả, người giả mạo trong hoạt động công chứng diễn ra
phổ biến, phức tạp
Thời đại công nghệ 4.0 bên cạnh những mặt tích cực rõ ràng trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, thì đồng thời, những mặt trái của xã hội cũng gia tăng. Một trong
những hạn chế đó chính là vấn nạn giấy tờ giả trong hoạt động công chứng.
Nguyên nhân của việc để lọt giấy tờ, tài liệu giá trong hoạt động cơng chứng
thì khơng chỉ do các đối tượng làm giả giấy tờ hiện nay sử dụng thiết bị máy móc,
cơng nghệ hiện đại nên “sản phẩm” hết sức tinh vi, từ dấu giáp lai, dấu nổi cho đến
dấu chìm trên giấy đều rất giống con dấu thật. Do đó, đa số các vụ việc giả mạo giấy
tờ xảy ra trong hoạt động cơng chứng thì các Công chứng viên cũng chỉ là nạn nhân.
1.3. Thực trạng thiếu trang bị máy móc, cơng nghệ hỗ trợ hoạt động xác
minh, giám định trong hoạt động công chứng
Hiện nay, đối tượng được làm giả mạo là giấy tờ trong hoạt động công chứng
được tạo ra rất tinh vi và hiện đại, bằng kỹ năng quan sát thông thường thì rất khó phát
hiện ra. Do đó, việc các Cơng chứng viên cũng như các bên tham gia giao dịch công
chứng bị “qua mặt” là chuyện rất dễ xảy ra trên thực tế. Do vậy, để phát hiện ra các
dấu hiệu giả mạo trong giấy tờ đó cũng cần phải sử dụng đến một số các thiết bị máy
móc, cơng nghệ hiện đại, tinh vi.
Tuy nhiên, các trang thiết bị, cũng như máy móc được sử dụng tại các tổ chức
hành nghề cơng chứng hiện nay đa số chỉ có các thiết bị văn phịng cơ bản, có sử dụng
cơng nghệ thông tin. Các tổ chức hành nghề công chứng trang bị các thiết bị, máy
8
móc chuyên dụng trong việc phát hiện các dấu hiệu giả mạo trong giấy tờ hiện nay
cịn rất thơ sơ và hạn chế. Hầu hết là các tổ chức hành nghề cơng chứng cịn thiếu các
thiết bị, máy móc hiện đại hỗ trợ cho việc phát hiện giấy tờ giả mạo trong hoạt động
cơng chứng. Đây cũng chính là một trong những ngun do mà các Cơng chứng viên
khó khăn trong việc phát hiện các dấu hiệu giả mạo trong giấy tờ công chứng.
1.4. Hành vi vi phạm liên quan đến giấy tờ giả chưa được xử lý thỏa đáng
Trên thực tế có nhiều trường hợp Cơng chứng viên phát hiện ra hoặc nghi ngờ
giấy tờ giả mạo hoặc người giả mạo thì cũng chỉ dừng ở cấp độ từ chối công chứng
bởi tổ chức hành nghề công chứng cũng khơng có thẩm quyền tạm giữ người bị tình
nghi.
Cơng chứng viên phát hiện ra hoặc nghi ngờ giấy tờ giả mạo hoặc người giả
mạo thì cũng chỉ dừng ở cấp độ từ chối cơng chứng, mà khơng có quyền giữ người giả
mạo hay thực hiện việc thu giữ giấy tờ. Khi tiến hành lập biên bản để tạm giữ giấy tờ
có dấu hiệu giả mạo, đa số các trường hợp người vi phạm từ chối ký biên bản và tự ý
bỏ về.
Về phía người u cầu cơng chứng, mặc dù Điều 7 Luật Công chứng 2014
nghiêm cấm cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự
thật; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để
u cầu cơng chứng. Theo đó, người vi phạm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ
bị phạt tiền tới 10 triệu đồng nếu có hành vi làm giả giấy tờ, văn bản hoặc giả mạo,
thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng để được công chứng
hợp đồng, giao dịch; làm giả giấy tờ, văn bản để được công chứng bản dịch. Tuy
vậy, mức phạt này còn quá thấp so với giá trị tài sản giao dịch nên những kẻ lừa đảo
thường chấp nhận việc nộp phạt. Ngoài ra, người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc
giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả
thực hiện hành vi trái pháp luật cịn có thể bị khởi tố “Tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên về phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Các cơ quan tiến hành tố
tụng rất ít khi khởi tố các đối tượng sử dụng giấy tờ, tài liệu giả khi chưa có hậu quả
thiệt hại thực tế xảy ra với lý do chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Ví dụ điển hình, có thể nói đến hoạt động của Phịng cơng chứng số 7 Thành
phố Hồ Chí Minh. Tháng 12/2009, trong quá trình hoạt động phát hiện một vụ việc sử
dụng hợp đồng ủy quyền giả để mua, bán nhà đất. Vụ việc này cũng được Phịng cơng
chứng số 7 chuyển hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 6 để điều tra từ
tháng 12/2018 và sau đó tiếp tục có cơng văn nhưng vẫn chưa nhận được thông tin
giải quyết từ cơ quan này3 .
3
/>
9
Chính vì khơng có sự xử lý nghiêm khắc, triệt để từ các cơ quan chức năng có
thẩm quyền nêu trên mà tình trạng làm giả giấy tờ xảy ra tràn lan, mất kiểm sốt. Điều
này khơng chỉ gây nguy hại lớn cho người dân, cho xã hội mà còn là một nỗi ám ảnh
đối với Công chứng viên gây ra tâm lý e ngại, bất an.
1.5. Kỹ năng hành nghề, chun mơn nghiệp vụ của Cơng chứng viên cịn
hạn chế
Ngồi những ngun nhân khách quan do ra thì việc để xảy ra những vi phạm,
sai sót trong việc xác minh, giám định dẫn đến tình trạng giấy tờ giả, người giả lọt qua
cửa cơng chứng chính là do kỹ năng hành nghề, chuyên môn nghiệp vụ của nhiều
Công chứng viên hiện nay còn hạn chế, kiến thức cũng như khả năng nhận biết về tài
liệu, giấy tờ giả còn thiếu và yếu.
Khi hành nghề, Công chứng viên ở một số địa phương hầu như chỉ biết dựa vào
hệ thống mạng liên kết nội bộ của ngành tư pháp địa phương, có thể gọi là “mạng
ngăn chặn” và “mạng thơng tin giao dịch công chứng”, mà không được liên kết và
truy cập thông tin của hệ thống dữ liệu đất đai của cơ quan công an nơi cấp giấy tờ tùy
thân, để xác minh xem các giấy tờ đó có thông tin phù hợp hay không.
Một số Công chứng viên khi hành nghề không thực hiện việc xác minh tại
UBND phường, xã, thị trấn nơi có bất động sản và nơi thường trú của người chủ tài
sản để kiểm tra thơng tin liên quan hay về hiện trạng có thay đổi giữa thực tế và chứng
từ pháp lý hay không mà chỉ dựa vào cam kết của các bên ghi nhận trong hợp đồng,
giao dịch. Đặc biệt hoạt động công chứng tại một số địa phương đang gặp vấn nạn
người mạo danh, giấy tờ giả mạo rất phức tạp, gây những hậu quả pháp lý không hề
nhỏ cho cư dân và xã hội.
Ngồi ra, Cơng chứng viên khơng phải là người được đào tạo chuyên môn
trong việc xác định giấy tờ, tài liệu giả. Nếu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7
Luật giám định tư pháp 2012 sửa đổi năm 2020 thì một trong những điều kiện để bổ
nhiệm giám định viên là phải “b) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt
động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.”. thì điều kiện bổ
nhiệm Cơng chứng viên là: “1. Có bằng cử nhân luật;2. Có thời gian công tác pháp
luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật; 3.
Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 9 của Luật này hoặc
hồn thành khóa bồi dưỡng nghề cơng chứng quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật
này; 4. Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng;”
2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh, giám định trong
hoạt động công chứng
Từ những thực trạng nêu trên cho thấy, vấn đề xác minh, giám định trong hoạt
động cơng chứng hiện nay cịn nhiều tồn tại, bất cập. Hoạt động xác minh, giám định
của Công chứng viên cịn gặp rất nhiều khó khăn. Dẫn đến nhiều vụ việc sai phạm xảy
10
ra trong lĩnh vực công chứng, đặc biệt là vấn nạn giấy tờ giả và người giả mạo khi
tham gia giao dịch cơng chứng. Từ đó dẫn đến rất nhiều những thiệt hại về vật chất
cho cả người tham gia giao dịch công chứng lẫn Công chứng viên. Để khắc phục tình
trạng này học viên xin được đề xuất một số giải pháp sau đây:
2.1. Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo cho Công chứng viên thực hiện quyền
xác minh, giám định
- Xây dựng quy trình cơng chứng trong Luật Công chứng năm 2014 theo
hướng chi tiết và cụ thể hơn. Đặc biệt tạo ra cơ chế cho Công chứng viên có thẩm
quyền được tiến hành hoạt động xác minh, giám định tất cả những vấn đề trong nội
dung được cơng chứng. Vì hiện tại Luật Cơng chứng quy định Công chứng viên phải
chịu trách nhiệm với nội dung của giao dịch công chứng nhưng chưa mặc nhiên cho
Công chứng viên quyền được xác minh, giám định những nội dung trong giao dịch
công chứng. Quy định rõ hơn về các khoản chi phí khi phải tiến hành việc xác minh,
giám định.
- Cần có quy định về giám định trong hoạt động công chứng nhằm sử dụng tối
đa nguồn lực, hỗ trợ cho Công chứng viên trong hoạt động công chứng.
2.2. Giải pháp đối với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan
- Cần sớm triển khai quyết nghị của Chính phủ tại Nghị quyết 172/NQ-CP năm
2020 về chính sách phát triển nghề cơng chứng về việc “Xây dựng kế hoạch triển
khai, hướng dẫn việc kết nối, chia sẻ dữ liệu về đất đai, nhà ở, doanh nghiệp, dân cư
với cơ sở dữ liệu công chứng bảo đảm việc kết nối liên thơng giữa các Sở, ban, ngành
có liên quan với các tổ chức hành nghề công chứng.”
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Chính phủ ban hành quy định công
khai thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ đạo tạo qua trang điện tử của các trường
Đại học, cơ sở giáo dục đào tạo,… để Cơng chứng viên có thể tra cứu thơng tin một
cách thuận lợi và nhanh chóng, tránh tình trạng mất thời gian chờ đợi kết quả xác
minh.
- Cần xây dựng, bổ sung quy chế phối hợp liên ngành trong hoạt động thông
báo, tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm về sử dụng giấy tờ, tài liệu giả trong
hoạt động công chứng giữa các tổ chức hành nghề công chứng với các các cơ quan
tiến hành tố tụng. Từ đó xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ xử lý thông tin, tiến hành
kiểm tra xác minh các hành vi vi phạm để xử lý theo quy định của Pháp luật.
- Xử lý nghiêm khắc các hành vi giả mạo giấy tờ. Việc xử lý trách nhiệm pháp
lý các đối tượng làm giả giấy tờ, hồ sơ tài liệu công chứng, giả mạo chủ thể khi tham
gia giao dịch trong lĩnh vực hình sự hoặc hành chính cịn tương đối nhẹ, khơng đủ tính
phịng ngừa, răn đe, trừng phạt. Lợi dụng vấn đề này, hoạt động của các đối tượng nêu
trên ngày càng tinh vi và gia tăng về số lượng. Vì vậy, cần có những quy định chế tài
11
nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm của các đối tượng làm giả giấy tờ liên
quan đến hoạt động công chứng và hành vi giả mạo chủ thể.
Cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý, kiểm sốt chặt chẽ phơi giấy
chứng nhận, tránh để thất lạc như đã từng xảy ra. Cơ quan Công an cũng cần kiên trì
đấu tranh, phát hiện, xử lý nghiêm khắc những hành vi giả mạo giấy tờ, con dấu để
lừa đảo. Tăng cường công tác phát hiện, điều tra, xử lý các tổ chức, cá nhân có dấu
hiệu vi phạm các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động cơng chứng nhằm
phịng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật này.
Hậu quả từ việc giả mạo giấy tờ, giả mạo người trong hoạt động cơng chứng là
rất nặng nề. Do đó, các ban, ngành chức năng cần tích cực, quyết liệt trong quá trình
giải quyết nguồn tin tội phạm. Có biện pháp xử lý nghiêm minh hành vi xuất trình
giấy tờ giả, giả mạo chủ thể khi tham gia hoạt động công chứng, hành vi làm giả giấy
tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức để tăng cường tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa vi
phạm. Cơ quan chức năng, đặc biệt là báo chí cần đẩy mạnh cơng tác tun truyền để
người dân có sự cảnh giác đối với loại tội phạm này.
- Các cơ quan truyền thông cần đẩy mạng công tác tuyên truyền, phổ biến trên
các phương tiện thông tin đại chúng cho người dân về các thủ đoạn lừa đảo tinh vi,
đánh tráo giấy tờ, giả mạo chủ thể trong các giao dịch để người dân nâng cao ý thức
cảnh giác, tinh thần phát giác và tố giác các vi phạm.
2.3. Giải pháp đối với các tổ chức hành nghề công chứng và Công chứng
viên
- Đối với các tổ chức hành nghề cơng chứng.
Trang bị máy móc, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ cho Công chứng viên có thể
thực hiện việc kiểm tra, xác minh phát hiện ra những giấy tờ giả mạo trong hoạt động
công chứng một cách dễ dàng hơn. Từ thực tế nêu trên cho thấy ngày nay cơng nghệ
càng hiện đại thì các thủ đoạn, kỹ thuật làm giả giấy tờ càng hết sức tinh vi bằng mắt
thường rất khó phát hiện. Một số trường hợp sử dụng công cụ thông thường như dùng
kính lúp, đèn chiếu tia cực tím, Cơng chứng viên cũng có thể phát hiện ra, tuy nhiên,
cách phân biệt này cũng mang tính tương đối mà thơi.
Vì vậy, cần đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại, phần mềm tương thích để
soi chiếu, nhận diện giấy tờ giả đáp ứng kịp thời phát hiện những giấy tờ giả mạo
trong hoạt động công chứng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của
người u cầu cơng chứng, tổ chức hành nghề công chứng, Công chứng viên phải
tuân thủ các quy định của pháp luật khi hành nghề, phải trang bị kiến thức sử dụng
máy móc, thiết bị hiện đại như kính hiển vi, phần mềm ứng dụng hỗ trợ soi chiếu, …
để vận dụng trong quá trình kiểm tra giấy tờ, chứng nhận hợp đồng, giao dịch.
- Đối với Công chứng viên
12
+ Một trong những giải pháp để khắc phục được vấn nạn giấy tờ giả trong
hoạt động công chứng là chú trọng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của Công chứng
viên. Để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của Công chứng viên, Công chứng viên cần
thường xuyên tham gia các buổi tập huấn, cập nhật thông tin nghề công chứng.
Tham dự đầy đủ lớp bồi dưỡng, tập huấn về phát hiện giấy tờ giả do Sở Tư pháp tổ
chức.
+ Luôn tuân thủ thực hiện đúng các trình tự, thủ tục công chứng và quy tắc đạo
đức hành nghề công chứng nhằm đảm bảo việc chứng nhận văn bản công chứng
không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; đồng thời, Công chứng viên luôn
khách quan, trung thực, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình hành nghề.
Khi công chứng hợp đồng, giao dịch Công chứng viên cần kiểm tra, thẩm tra
kỹ các giấy tờ pháp lý có trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng mà ta cho
là bản thật như: Mẫu giấy đó được dùng thời điểm nào, quốc hiệu, tên gọi của cơ ban
hành, mẫu con dấu…Giấy tờ giả được thực hiện ngày càng tinh vi, nhưng nếu nhìn kỹ
bằng mắt thường Cơng chứng viên vẫn có thể phát hiện ra nếu được kiểm tra cẩn thận.
Một số cách cụ thể để phát hiện giấy tờ giả như sau: Việc tẩy xóa trên giấy tờ, nếu
bằng cơ học thì thường lộ ra nhược điểm tại nơi tẩy xóa mất độ liền mạch cần thiết, do
có nhiều vết trầy xước; giấy ở chỗ tẩy xóa sẽ mỏng hơn bình thường; nền in ở vị trí
tẩy, bao gồm cả dòng kẻ, bị phá hủy; chữ viết chỗ tẩy xóa có khi bị nhịe, độ đậm,
nhạt của chữ cũng khác; các nét chữ xung quanh vùng tẩy có thể bị mất hoặc thay đổi
màu; các nét viết, in sau khi tẩy xóa thường to, đậm, nhịe; xem xét chữ ký và con
dấu: Chữ ký giả thường không tự nhiên, lưu lốt, đường nét run, gãy, khơng có mối
liên kết các nét, nét bắt đầu và nét kết thúc không sắc gọn… Với con dấu, nếu dấu giả
khoảng cách giữa các vành thường không đều; đường nét không liên tục, tự nhiên; nét
chữ không thẳng; kiểu chữ không đúng quy cách; bố cục các dịng chữ, hình khơng
cân đối; các chi tiết như quốc huy, quốc hiệu khó thể hiện đầy đủ nên thường hay
đọng mực, mờ nhòe…
Bên cạnh đó, khi tiếp nhận giấy tờ, Cơng chứng viên cũng nên xem phần in
nổi của giấy tờ; nghiêng trước ánh sángđể xem có nổi dấu chìm hay khơng; quan sát
kỹ chữ ký xem có dấu vết của lực tỳ ấn khi ký hay không…
+ Không ngừng trau dồi, nâng cao bản lĩnh, tri thức, trách nhiệm nghề nghiệp
trong quá trình hành nghề; ln tận tâm với cơng việc, phát huy năng lực, sử dụng
kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp để bảo đảm tốt nhất tính an toàn pháp
lý cho hợp đồng, giao dịch khi chứng nhận; có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết u
cầu cơng chứng của cá nhân, tổ chức một cách nhanh chóng, kịp thời mà vẫn đảm bảo
không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
+ Nắm vững các quy định của pháp luật, thường xuyên nghiên cứu, cập nhật
những quy định mới của pháp luật, đồng thời yêu cầu về kinh nghiệm thực tiễn nghiệp
13
vụ cũng là yếu tố quan trọng địi hỏi Cơng chứng viên phải không ngừng học hỏi và
trau dồi kinh nghiệm thực tiễn.
C. KẾT LUẬN
Theo quy định của Luật công chứng 2014, Công chứng là việc
Công chứng viên của một tổ chức hành nghề cơng chứng chứng
nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác
bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác,
hợp pháp, khơng trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản
từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang
tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật
phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện u cầu cơng
chứng.
Cơng chứng là hoạt động có vai trò rất lớn đối với đời sống xã
hội và phát triển kinh tế. Để bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên
tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, Công chứng viên cũng phải trách nhiệm rất nặng nề về hậu
quả của hành vi cơng chứng do mình thực hiện cũng như việc từ chối công chứng.
Các trách nhiệm mà Công chứng viên phải gánh chịu có thể là trách nhiệm hành
chính, trách nhiệm dân sự (bồi thường) hoặc trách nhiệm hình sự.
Để loại trừ được trách nhiệm nêu trên đối với hậu quả của việc cơng chứng
hay từ chối cơng chứng thì hoạt động xác minh, giám định trong hoạt động công
chứng có ý nghĩa vơ cùng quan trọng nhằm đảm bảo hiệu lực pháp luật của văn bản
cơng chứng. Góp phần hạn chế tối đa những rủi ro và hậu quả nghiêm trọng có thể
xảy ra. Cơng chứng viên thơng qua việc kiểm tra kỹ lưỡng, xác minh, giám định
chính xác những vấn đề liên quan đến nội dung yêu cầu cơng chứng để từ đó kẻ gian
sẽ khơng dám và không thể giả mạo, gian dối trước Công chứng viên, khiến cho xã
hội thực sự tin tưởng vào hoạt động công chứng, để cho hoạt động công chứng thực
sự trở thành lá chắn phòng hộ pháp lý, bảo đảm cho các giao dịch an toàn, thuận lợi.
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kỹ năng hành nghề Công chứng Tập 3 – Nhà xuất bản Tư pháp
2. Luật Công chứng 2014
3. Bộ Luật dân sự 2015
4. Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ về Quy định xử
phạt trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp; Hành chính tư pháp; Hơn nhân và gia đình; Thi
hành án dân sự; Phá sản doanh nghiệp, Hợp tác xã
5. Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012 sửa
đổi, bổ sung năm 2020.
7 . Một số bài viết trên các web:
- />- />- />
15