BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒI PHƢƠNG
THỜI HẠN TẠM GIAM
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
THỜI HẠN TẠM GIAM
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Định hƣớng nghiên cứu
Mã số: 8380104
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Nguyên Thanh
Học viên: Nguyễn Thị Hoài Phƣơng
Lớp: Cao học Luật, Khóa 27
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Nguyên Thanh. Những thông tin, số liệu
được trình bày trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn tham khảo đầy đủ.
Những phân tích, kiến nghị được đề xuất dựa trên q trình tìm hiểu, nghiên cứu
của cá nhân, có sự tham khảo ý kiến của người hướng dẫn khoa học. Kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được cơng bố ở bất kỳ cơng trình
khoa học nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoài Phƣơng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CBXX
: Chuẩn bị xét xử
CQĐT
: Cơ quan điều tra
HĐXX
: Hội đồng xét xử
TAND
: Tòa án nhân dân
TAQS
: Tòa án quân sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSQS
: Viện kiểm sát quân sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM THEO LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ...........................................................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự
Việt Nam ................................................................................................................ 7
1.1.1. Khái niệm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam .............7
1.1.2. Đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam ............10
1.2. Phân loại thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam ........... 13
1.3. Mục đích, ý nghĩa của thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự
Việt Nam ............................................................................................................... 14
1.4. Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam và pháp luật một số nƣớc trên
thế giới về thời hạn tạm giam ............................................................................. 15
1.4.1. Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam về thời hạn tạm giam ...............15
1.4.2. Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về thời hạn tạm giam ....
............................................................................................................................20
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................27
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM .................................................................................28
2.1. Thời hạn tạm giam để điều tra và truy tố .................................................. 29
2.1.1. Thời hạn tạm giam để điều tra .................................................................29
2.1.2. Thời hạn tạm giam để truy tố ...................................................................31
2.2. Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm và sau khi
tuyên án ................................................................................................................ 32
2.2.1. Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm ......................................................32
2.2.2. Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm ..................................................35
2.2.3. Thời hạn tạm giam sau khi tuyên án ........................................................35
2.3. Thời hạn tạm giam khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung và điều tra lại
............................................................................................................................... 38
2.3.1. Thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra ..................................................38
2.3.2. Thời hạn tạm giam để điều tra bổ sung....................................................39
2.3.3. Thời hạn tạm giam để điều tra lại ............................................................40
2.4. Thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo dƣới 18 tuổi .............................. 41
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................50
CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỜI HẠN TẠM GIAM VÀ BIỆN
PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THỜI HẠN TẠM GIAM
...................................................................................................................................51
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định thời hạn tạm giam ........................................ 51
3.1.1. Kết quả áp dụng quy định thời hạn tạm giam ..........................................51
3.1.2. Những hạn chế của việc áp dụng quy định thời hạn tạm giam theo luật tố
tụng hình sự Việt Nam và nguyên nhân..............................................................52
3.2. Những biện phám nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thời hạn tạm giam ... 64
3.2.1. Biện pháp hoàn thiện pháp luật về thời hạn tạm giam ............................64
3.2.2. Các biện pháp khác ..................................................................................72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................................79
KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bảo đảm quyền con người, quyền công dân không chỉ là nội dung, bản chất
mà cịn trở thành mục tiêu của q trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nơi mà tinh thần “thượng tôn pháp luật” là tinh
thần chủ đạo, pháp luật phải luôn được tôn trọng và đề cao. Tuy nhiên, quyền con
người, quyền cơng dân vẫn có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường
hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng1. Các biện pháp hạn chế quyền con người mà Nhà
nước cho phép thực hiện trong “những trường hợp cần thiết” tồn tại chủ yếu dưới
hình thức là các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế hoặc trừng phạt đối với cá nhân
đã, đang hoặc chuẩn bị thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Các biện pháp ngăn
chặn, cưỡng chế hoặc trừng phạt được quy định khác nhau về hình thức, điều kiện,
thủ tục, thẩm quyền, phạm vi, mức độ áp dụng, tùy theo lĩnh vực, tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi vi phạm.
Trong lĩnh vực hình sự, tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
cao hơn so với các hành vi vi phạm pháp luật khác nên việc quy định và áp dụng
các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế và trừng phạt đối với các chủ thể thực hiện tội
phạm cũng nghiêm khắc hơn. Trong đó, các biện pháp ngăn chặn trong TTHS là
những biện pháp được cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự nhằm “Kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người
bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội hoặc để bảo đảm thi hành án”2.
Tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn quan trọng và nghiêm khắc
nhất trong luật TTHS. Người bị áp dụng biện pháp tạm giam sẽ bị cách ly khỏi xã
hội một thời gian, bị hạn chế một số quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân như:
quyền tự do đi lại, quyền ứng cử, bầu cử….Có thể nói biện pháp tạm giam có tính
“nhạy cảm đặc biệt”, do đó cần cân nhắc kỹ trước khi áp dụng, tránh sự tùy tiện,
xâm hại nghiêm trọng đến quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân.
Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Khoản 1 Điều 109 BLTTHS số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2015;
1
2
2
Việc áp dụng biện pháp tạm giam phải tuân thủ và hướng đến nguyên tắc tại
Khoản 2, Điều 31, Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công
bằng, công khai”. Theo đó, mọi hoạt động trong TTHS đều phải tuân thủ và hướng
đến nguyên tắc trên. Vì vậy, hoạt động TTHS được thực hiện khi áp dụng biện pháp
tạm giam đối với bị can, bị cáo cũng không là ngoại lệ.
Khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo, chủ thể tiến hành tố
tụng phải căn cứ vào thời hạn tạm giam theo luật định. Đó là khoảng thời gian nhất
định từ thời điểm bắt đầu tạm giam đến thời điểm kết thúc việc tạm giam được ghi
rõ trong lệnh tạm giam; là căn cứ quan trọng để các chủ thể trong TTHS thực hiện
các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình; nhằm đảm bảo cho hoạt động TTHS được
tiến hành một cách thuận lợi, xử lý công bằng, nghiêm minh mọi tội phạm mà vẫn
bảo đảm được các quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân.
Nhìn chung các quy định của pháp luật TTHS hiện hành về thời hạn tạm giam
đã tương đối hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho thực tiễn áp dụng quy định
về thời hạn tạm giam, thể hiện đầy đủ bản chất dân chủ của nhà nước, góp phần đảm
bảo quyền con người. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy quy định của
BLTTHS năm 2015 về thời hạn tạm giam còn một số hạn chế, bất cập nhất định.
Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật là một trong những nguyên
nhân dẫn đến những hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng. Nghiên cứu làm sáng
tỏ các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn áp dụng, trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật TTHS về thời hạn
tạm giam là một yêu cầu thiết yếu. Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Thời
hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm Luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng có vai trò
quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, việc nghiên cứu biện
pháp tạm giam khơng chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà cịn trong thực tiễn áp dụng.
Đã có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu các khía cạnh, mức độ, phương
diện khác nhau về biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, các cơng trình nghiên cứu chủ
yếu đề cập một cách tổng thể những khía cạnh chung nhất về biện pháp tạm giam,
chứ chưa có cơng trình nào nghiên cứu chun sâu khía cạnh thời hạn tạm giam
dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng.
3
- Về giáo trình, sách tham khảo: Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo
trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Công an nhân dân; Trường Đại học
Luật TP. HCM (2012), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Hồng
Đức; Trần Văn Biên & Đinh Thế Hưng (2015), Bình luận khoa học Bộ luật tố
tụng hình sự, NXB. Hồng Đức; Lê Tiến Châu (2009), Luật tố tụng hình sự Việt
Nam, NXB Trẻ; … Nhìn chung các giáo trình và sách tham khảo trên đều có
những nội dung đề cập đến thời hạn tạm giam với những khía cạnh tiếp cận khác
nhau. Các giáo trình luật TTHS của các cơ sở đào tạo luật thì nghiên cứu tất cả
những nội dung cơ bản của luật TTHS nên thời hạn tạm giam chỉ được đề cập với
dung lượng rất nhỏ trong phần về các biện pháp ngăn chặn của luật TTHS. Còn
trong các sách tham khảo, thời hạn tạm giam được đề cập rộng hơn, nhưng vẫn
chưa thật sự chuyên sâu, đầy đủ, toàn diện các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn
về thời hạn tạm giam.
- Về khóa luận, luận văn, luận án, có các cơng trình sau đây:
+ Trịnh Văn Thanh (2000), Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ
án hình sự của lực lượng cảnh sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Bộ Công an;
+ Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận
án tiến sĩ luật học, Học viện Tư pháp;
+ Phạm Thanh Bình (1996), Tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt
Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật, Tòa án nhân
dân tối cao;
+ Phạm Duy Trường (2006), Vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng
biện pháp tạm giam, Luận văn thạc sĩ luật, Tòa án nhân dân tối cao;
+ Nguyễn Bá Phùng (2010), Vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Học viện Tư pháp;
+ Lê Thanh Bình (2010), Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự Việt Nam, Luật văn thạc sĩ luật, Đại học quốc gia Hà Nội;
+ Tô Thị Thu Trang (2014), Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Đại học quốc gia Hà Nội;
4
+ Nguyễn Đăng Dũng (2014), Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ luật, Đại học quốc gia Hà Nội;
+ Ngô Quang Huy (2014), Thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều
tra trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội;
+ Triệu Văn Mẫn (2015), Biện pháp tạm giam trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Cạn), Luận văn thạc sĩ
luật, Đại học quốc gia Hà Nội;
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả nhận thấy hầu hết các cơng trình
nghiên cứu trên chỉ đề cập cơ bản và trực diện về các biện pháp ngăn chặn, chưa
đi sâu nghiên cứu các khía cạnh riêng biệt như đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng,
thời hạn áp dụng…của từng biện pháp ngăn chặn cụ thể. Riêng luận văn của tác
giả Tô Thị Thu Trang (2014), Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Đại học quốc gia Hà Nội đã tập
trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn
áp dụng về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn, trên cơ sở đó đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thời hạn các biện pháp ngăn chặn. Tuy
nhiên, cơng trình khoa học này nghiên cứu thời hạn của tất cả các biện pháp ngăn
chặn (như thời hạn tạm giữ, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú, thời hạn tạm
giam….), không nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện thời hạn của một biện pháp
ngăn chặn cụ thể. Do đó, có thể khẳng định hiện nay chưa có cơng trình khoa học
nào nghiên cứu về thời hạn tạm giam.
Luận văn này là cơng trình khoa học nghiên cứu một cách tồn diện, có hệ
thống, chun sâu về những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS và thực
tiễn áp dụng quy định thời hạn tạm giam. Vì vậy, khơng có bất kỳ một cơng trình
khoa học nào trùng lặp với đề tài luận văn mà tác giả chọn nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, quy định của
pháp luật và thực tiễn về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam, từ đó đưa ra những
giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và nâng cao hiệu
quả áp dụng thời hạn tạm giam trong thực tiễn.
5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đã đề ra như trên, trong luận văn này tác giả tập
trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến thời hạn tạm giam
theo luật TTHS Việt Nam;
- Phân tích, làm rõ những quy định của luật TTHS về thời hạn tạm giam;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng thời hạn tạm giam trong TTHS;
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện luật TTHS cũng như nâng cao
hiệu quả áp dụng thời hạn tạm giam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Là khía cạnh lý luận và thực tiễn về thời hạn tạm
giam theo luật TTHS Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt
Nam, trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Về không gian: Tác giả nghiên cứu, khảo sát thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật TTHS về thời hạn tạm giam trên phạm vi cả nước.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật
biện chứng; chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng về phòng, chống tội
phạm và bảo đảm quyền con người.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh; phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình; phương
pháp thống kê.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu luận văn có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn vì
đây là một trong những cơng trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống ở cấp độ Luận
văn thạc sĩ luật học về thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt Nam. Luận văn đã
6
giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan đến thời hạn
tạm giam theo luật TTHS Việt Nam. Từ đó phân tích rõ lý do tồn tại, hạn chế và đề
xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định, nâng cao hiệu quả áp dụng thời hạn
tạm giam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện
nay ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn được bố cục thành ba chương:
Chƣơng 1. Lý luận chung về thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự
Việt Nam.
Chƣơng 2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thời hạn
tạm giam.
Chƣơng 3. Thực tiễn áp dụng thời hạn tạm giam và biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng thời hạn tạm giam.
7
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian),
trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục, không ngừng. Thời gian và không
gian đều là vô tận. “Thời gian là khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự
kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng. Thời gian được xác định bằng số lượng
các chuyển động của các đối tượng có tính lặp lại (sự lượng hoá các chuyển động
lặp lại) và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó.”3.
Thời gian là khái niệm diễn tả trình tự diễn ra của các sự kiện, các biến cố và
“khoảng kéo dài của chúng” với các đặc điểm như tính một chiều, tính vận động và
gắn liền với vật chất, tính xác định được tương đối và tính vĩ mơ. Để xác định được
các “khoảng kéo dài của chúng”, chúng ta cần các “nút chặn” trên trục thời gian dài
vô tận. Những nút chặn đó gọi là thời điểm: “Là khoảng thời gian cực ngắn được
hạn định một cách chính xác, coi như một điểm trên trục thời gian”4. Các nút chặn
này sẽ là cơ sở để chia trục thời gian thành các khoảng nhất định, gọi là khoảng thời
gian. Khoảng thời gian được xác định từ điểm này đến điểm khác được gọi là thời
hạn5. Thời hạn hiểu đơn giản nhất chính là khoảng thời gian, được quy định để làm
một việc nào đó6. Khi thực hiện bất kỳ hoạt động hay công việc nào từ đơn giản đến
phức tạp thì chúng ta đều phải sử dụng một khoảng thời gian nhất định, đó chính là
thời hạn.
Thời hạn luật định là một khái niệm hẹp hơn so với thời hạn nói chung,
nhưng thời hạn luật định lại bao quát hơn nếu nhìn từ góc độ thời hạn trong TTHS.
Thời hạn luật định bao gồm thời hạn trong TTHS, thời hạn trong tố tụng hành
chính, thời hạn trong tố tụng dân sự, thời hạn trong luật hình sự, thời hạn trong luật
“Thời gian”, truy cập ngày 04/03/2020.
Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, tr.972.
5
Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa – Nhà xuất
bản Tư pháp, tr.718.
6
Ngôn ngữ Việt Nam (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh niên, tr.742.
3
4
8
dân sự….Đó “là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm
khác do pháp luật quy định cho từng hoạt động, công việc cụ thể”7.
Trong quá trình thực hiện các hoạt động TTHS, thời hạn có ý nghĩa rất lớn.
Đó là cơ sở để ràng buộc các chủ thể tiến hành TTHS phải thực hiện các hoạt động
tố tụng trong giới hạn luật định, đảm bảo được yêu cầu, hiệu quả của công tác tố
tụng mà vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thời hạn trong
TTHS là một khái niệm hẹp hơn so với thời hạn luật định, là bộ phận cấu thành của
thời hạn luật định. Khoảng thời gian này được BLTTHS quy định cho hoạt động,
hành vi tố tụng cụ thể. Thời hạn trong TTHS chứa đựng tất cả các thời hạn trong
các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Một số cơng trình nghiên cứu
trong nước đã đưa ra khái niệm thời hạn TTHS như sau:
Theo tác giả Phan Thị Thu Thủy thời hạn TTHS được hiểu như sau: “Thời
hạn tố tụng hình sự là một loại thời hạn pháp lý, do luật tố tụng hình sự quy định, là
khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để tiến hành
và kết thúc các hoạt động tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng cụ thể”8.
Theo tác giả Lê Minh Tuấn, thời hạn TTHS là khoảng thời gian để tiến hành
các hoạt động TTHS9.
Tác giả Hà Thị Minh Huế cho rằng: “Thời hạn tố tụng hình sự là một khoảng
thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác, là khoảng thời gian
cần thiết để giải quyết tốt nhất các nhiệm vụ của từng giai đoạn tố tụng”10.
Theo tác giả Nguyễn Bảo An, thời hạn TTHS là “khoảng thời gian được xác
định từ thời điểm này đến thời điểm khác”11.
Các khái niệm thời hạn TTHS mà các tác giả nêu trên đều có điểm chung là
mô tả nội hàm của khái niệm thời hạn TTHS trước hết là “khoảng thời gian”.
Trong khoảng thời gian đó, các chủ thể TTHS phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình, nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể theo luật
Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 265.
Phan Thị Thu Thủy (2014), Thời hạn tố tụng trước xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn
thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.15.
9
Lê Minh Tuấn (1995), Vấn đề thời hạn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội. tr.13.
10 Hà Thị Minh Huế (2013), Thời hạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.25.
11 Nguyễn Bảo An (2012), Thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn tiến sĩ, Đại học
Luật TP. HCM, tr.28.
7
8
9
định. Tuy nhiên, các khái niệm thời hạn TTHS mà các tác giả đưa ra chưa bao quát
được nội dung: trong thời hạn TTHS, các chủ thể TTHS thực hiện các hoạt động,
hành vi nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu cụ thể.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm thời hạn TTHS như sau:
Thời hạn TTHS là khoảng thời gian do pháp luật TTHS quy định để các chủ thể
TTHS thực hiện các hoạt động, hành vi tố tụng nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu cụ
thể trong TTHS.
Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, thời hạn TTHS bao gồm hai
loại: thời hạn của thủ tục tố tụng và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn.
Song song với việc thực hiện các hoạt động TTHS trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, nhằm
kịp thời ngăn chặn các hành vi phạm tội, ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện
tội phạm hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để đảm bảo
thi hành án. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn có ảnh hưởng lớn đến việc giải
quyết có hiệu quả nhiệm vụ của TTHS, cũng như nhằm đấu tranh phòng ngừa, ngăn
chặn tội phạm và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, không để
lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội.
Biện pháp ngăn chặn bao gồm các biện pháp sau: Giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để
bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh12. Mỗi biện pháp ngăn chặn được quy định căn cứ và
điều kiện áp dụng khác nhau, trên tinh thần bảo đảm thực hiện tốt các nguyên tắc
của TTHS nhằm ghi nhận, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân.
Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn là một trong các căn cứ quan trọng mà
cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ trong quá trình tố tụng, nhằm
đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đúng đắn, khách quan, cơng bằng,
góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống, ngăn chặn tội phạm, đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, hạn chế việc lạm quyền, xâm
phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Việc quy định thời hạn của các biện pháp
ngăn chặn trong pháp luật TTHS là vô cùng quan trọng và cần thiết, thể hiện sự dân
chủ, tính ưu việt, nghiêm minh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
12
Khoản 1, Điều 109 BLTTHS 2015
10
Bàn về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS chính là đề cập đến
thời hạn để thực hiện việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh đối
với bị can, bị cáo.
Thời hạn tạm giam là thời hạn của một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc
nhất trong các biện pháp ngăn chặn được áp dụng với bị can, bị cáo trong quá trình
tố tụng. Nếu như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi nơi cư trú,
bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh chỉ ảnh hưởng đến các quyền của
công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do giao tiếp, quyền
hội họp thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như giữ người trong trường hợp
khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ hạn chế quyền tự do của công dân. Tuy nhiên,
thời gian hạn chế tự do khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ ngắn hơn khi bị áp dụng biện pháp tạm giam.
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngơn ngữ học thì “tạm” là chỉ
trong một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi, mang tính tạm thời;
“giam” tức là giữ người bị coi là có tội ở một nơi nhất định không cho tự do đi lại,
tự do hoạt động, bị nhốt. Do đó, có thể hiểu khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp
tạm giam tức là họ bị cách ly khỏi xã hội trong thời gian nhất định, nhằm ngăn chặn
họ tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án.
Từ những nội dung trên, có thể đưa ra khái niệm thời hạn tạm giam như sau:
“Thời hạn tạm giam là một trong những thời hạn của tố tụng hình sự, là khoảng
thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác mà cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với bị can, bị
cáo hoặc người bị kết án theo quy định của luật tố tụng hình sự”.
1.1.2. Đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt Nam là một đơn vị thời hạn rất nhỏ
của thời hạn trong TTHS Việt Nam nên thời hạn tạm giam mang các đặc điểm
chung của thời hạn TTHS và các đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, thời hạn tạm giam có tính khách quan, đồng thời có tính chủ quan
Bản chất của thời hạn tạm giam là khoảng thời gian vật chất cần thiết để cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định áp dụng đối
11
với bị can, bị cáo hoặc người bị kết án theo quy định của luật TTHS. Khoảng thời
gian vật chất này là một đại lượng vật lý tự nhiên khách quan, được đo bằng các đơn
vị thời gian bằng nhau như năm, tháng, tuần, ngày, giờ…mà không phụ thuộc vào ý
chí con người. Trong khoảng thời gian này các chủ thể tham gia tố tụng phải chứng
minh được sự thật khách quan của vụ án, làm cơ sở cho việc xử lý tội phạm. Vì vậy,
thời hạn tạm giam tồn tại theo một quy luật khách quan, là điều kiện cần của quá trình
nhận thức về diễn biến vụ án và là yêu cầu cần thiết của quá trình TTHS.
Thời hạn tạm giam khơng chỉ có tính khách quan mà cịn mang tính chủ quan
vì việc xác định thời hạn tạm giam được thực hiện bởi con người (nhà làm luật và
người áp dụng pháp luật), nhà làm luật thông qua ý thức chủ quan của mình để đánh
giá khả năng và mức độ hồn thành cơng việc của chủ thể thực hiện công việc,
nhằm xác định khoảng thời gian cần thiết, đủ để thực hiện từng loại hoạt động, hành
vi tố tụng khi áp dụng biện pháp tạm giam trong các giai đoạn tố tụng nhất định.
Việc xác định các khoảng thời gian này phải dựa trên cơ sở các điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội; yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; đặc điểm loại tội phạm
về quy mô, mức độ phức tạp...; số lượng, phẩm chất, năng lực của các chủ thể tiến
hành tố tụng... Những điều kiện này thông qua nhận thức và đánh giá chủ quan của
nhà làm luật để hình thành nên khoảng thời gian vật chất cần thiết cho việc áp dụng
biện pháp tạm giam. Như vậy thời hạn tạm giam thể hiện sự nhận thức chủ quan của
nhà làm luật đối với sự vận động, phát triển của các qui luật khách quan, do đó nếu
logic chủ quan phù hợp với logic khách quan thì thời hạn tạm giam có tác động tích
cực, có hiệu quả đến việc thực hiện các mục đích của TTHS đã đặt ra, nếu khơng thì
có tác động ngược lại. Tuy nhiên, sự vận động, phát triển của các quy luật khách
quan không phải là bất biến nên quy định thời hạn tạm giam cũng cần được thay đổi
cho phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… Do đó,
thời hạn tạm giam phản ánh đặc điểm lịch sử ở từng thời kỳ, không chỉ là những đặc
điểm chung của xã hội đương thời mà còn phản ánh trình độ phát triển, sự hồn
thiện của các tổ chức tư pháp và đội ngũ những người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng vào quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bên cạnh đó,
trong quá trình áp dụng quy định tạm giam đối với bị can, bị cáo, thời hạn tạm giam
được áp dụng theo nhận thức chủ quan của người tiến hành tố tụng. Tùy thuộc vào
loại tội phạm, mức độ nguy hiểm của hành vi, độ phức tạp của vụ án, nhân thân của
bị can, bị cáo…mà chủ thể có thẩm quyền nhận thức khác nhau trong việc áp dụng
quy định thời hạn tạm giam. Đó cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến những
12
vi phạm đáng tiếc trong quá trình áp dụng biện pháp tạm giam, gây ảnh hưởng
không nhỏ đến những người tham gia tố tụng.
Thứ hai, thời hạn tạm giam được luật TTHS quy định. Cụ thể, thời hạn tạm
giam theo luật TTHS Việt Nam chỉ được thể hiện ở BLTTHS và các văn bản hướng
dẫn thi hành quy định thời hạn tạm giam. Thời hạn tạm giam không được thể hiện
trong các văn bản pháp luật của các ngành luật khác.Vì vậy, khơng thể sử dụng các
quy định về thời hạn trong các văn bản pháp luật của các ngành khác để áp dụng
cho hoạt động, hành vi tố tụng liên quan đến việc tạm giam. Đây cũng chính là đặc
điểm để phân biệt thời hạn tạm giam nói riêng và thời hạn TTHS với các thời hạn
trong các ngành luật khác nhau của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, thời hạn tạm giam có mối quan hệ chặt chẽ với các loại thời hạn
TTHS khác, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn
TTHS. Chẳng hạn như thời hạn tạm giam có phụ thuộc thời hạn điều tra; truy tố; xét
xử… (ví dụ thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra thường là ngắn hơn thời hạn
điều tra đối với một tội phạm nhất định).
Thứ tư, thời hạn tạm giam xác định khoảng thời gian để hoàn thành các thủ tục,
hành vi tố tụng khi áp dụng biện pháp tạm giam theo đúng luật định, góp phần đảm bảo
tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thứ năm, việc áp dụng thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt Nam phải
được thể hiện thông qua các quyết định tố tụng nhất định, như lệnh, quyết định tạm
giam của cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam.
Thứ sáu, thời hạn tạm giam được quy định ở dạng tối đa và có thể được gia
hạn. Các quy định thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt Nam được quy định ở
dạng tối đa, tức là thời hạn tạm giam mà chủ thể tiến hành tố tụng được phép áp dụng
đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng cụ thể được giới hạn theo thời gian
mà pháp luật cho phép, khơng được vượt q khoảng thời gian đó. Chẳng hạn như,
đối với thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Khoản 2 Điều 347 BLTTHS
Việt Nam năm 2015 quy định: “thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được
quá thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 346 của Bộ luật này”. Hay
đối với quy định thời hạn tạm giam bị can để điều tra: đối với tội phạm ít nghiêm
trọng thời hạn tạm giam không được quá 02 tháng, đối với tội phạm nghiêm trọng
không được quá 03 tháng, đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
13
nghiêm trọng không được quá 04 tháng13. Tuy nhiên, thời hạn tạm giam có thể được
gia hạn, tùy thuộc vào tính chất phức tạp, mức độ nguy hiểm của từng vụ án, có nhiều
vụ án q trình giải quyết cần rất nhiều thời gian. Chẳng hạn như hoạt động chứng
minh có tính phức tạp, việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn hay bị can bỏ trốn
trong q trình điều tra vụ án…thì các chủ thể tiến hành tố tụng cần có sự chủ động
về mặt thời gian để có thể linh hoạt triển khai cơng việc, nhằm đem lại hiệu quả tốt
nhất. Đây là sự linh hoạt mềm dẻo trong quy định thời hạn tạm giam, đảm bảo cho
việc giải quyết các vụ án hình sự có căn cứ, hợp lý, hợp pháp.
1.2. Phân loại thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Căn cứ vào giai đoạn tố tụng
Các mơ hình TTHS khác nhau có những cách phân chia tiến trình TTHS
thành những giai đoạn với số lượng, tên gọi và thậm chí nội dung của từng giai
đoạn khác nhau. Số lượng giai đoạn mà tiến trình TTHS phải trải qua phụ thuộc vào
quan điểm khoa học, truyền thống pháp luật, mơ hình TTHS của mỗi quốc gia. Tố
tụng hình sự Việt Nam được xác định như một hệ thống các giai đoạn nối tiếp nhau,
có quan hệ biện chứng với nhau, bao gồm: giai đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra; giai
đoạn truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm; giai đoạn thi
hành bản án, quyết định của Tòa án; giai đoạn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, tương ứng là thời hạn TTHS
của từng giai đoạn tố tụng này. Thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng
được quy định khác nhau tương ứng với các giai đoạn TTHS khác nhau, bao gồm:
+ Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra bao gồm: Thời hạn tạm giam để
điều tra; thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra; thời hạn tạm giam để điều tra bổ
sung và thời hạn tạm giam để điều tra lại.
+ Thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố: Thời hạn tạm giam trong giai
đoạn này là thời hạn tạm giam để truy tố.
+ Thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm: Thời hạn tạm giam để
xét xử sơ thẩm; thời hạn tạm giam để bảo đảm cho việc thi hành án sơ thẩm.
+ Thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm: Giai đoạn này cũng
có thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm và thời hạn tạm giam để bảo đảm cho
việc thi hành án phúc thẩm.
13
Khoản 1, Điều 173, BLTTHS 2015.
14
- Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm và mức độ phức tạp của vụ án
Pháp luật hình sự (Luật nội dung) và luật TTHS (Luật hình thức) có mối quan
hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Nội dung quyết định hình thức và hình thức là
trình tự, thủ tục để giải quyết nội dung. Bộ luật hình sự dựa vào tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để phân loại tội phạm thành tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng14. Việc phân loại tội phạm này có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở
để xác định các thời hạn TTHS khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Thơng thường tội phạm càng nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm càng cao, vụ án
càng phức tạp thì thời hạn TTHS càng kéo dài.
Đối với những vụ án do nhiều người thực hiện, xâm phạm nhiều khách thể, tội
phạm có tính nguy hiểm và độ ẩn cao, gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội…thì yêu
cầu chứng minh làm rõ sự thật khách quan của vụ án càng cao, đòi hỏi phải thu thập,
đánh giá nhiều chứng cứ, tài liệu, việc định tội danh và quyết định xử lý cũng phải
được cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng hơn. Do đó, thời hạn TTHS nói chung cũng như
thời hạn tạm giam nói riêng phải được kéo dài để đảm bảo tính chính xác, triệt để,
đúng pháp luật, đúng người, đúng tội trong quá trình giải quyết vụ án. Chẳng hạn như
trong giai đoạn điều tra, tổng thời hạn tạm giam bị can đối với: tội phạm ít nghiêm
trọng là không quá 02 tháng, tội phạm nghiêm trọng là không quá 03 tháng, tội phạm
rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là khơng q 04 tháng15.
1.3. Mục đích, ý nghĩa của thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự
Việt Nam
Việc quy định thời hạn tạm giam một cách hợp lý có ý nghĩa, mục đích nhất
định, thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất, quy định thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt Nam có tác động
tích cực đến cơ quan, người tiến hành tố tụng. Theo đó, thời hạn tạm giam mang ý
nghĩa ràng buộc cơ quan, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ pháp luật trên nền
tảng pháp chế và dân chủ. Thơng qua đó cơ quan, người tiến hành tố tụng tích cực
phát hiện và xử lý tội phạm, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình hay cũng
chính là thực hiện tốt nhiệm vụ của luật TTHS, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân.
14
15
Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015.
Khoản 1, Điều 173 BLTTHS 2015.
15
Thứ hai, việc quy định thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam góp phần đảm
bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.
Biện pháp tạm giam được áp dụng với bị can, bị cáo theo các thủ tục, trình
tự, thẩm quyền, thời hạn nhất định được luật TTHS Việt Nam quy định. Do đó, căn
cứ vào các quy định về thời hạn tạm giam, người bị tạm giam, người bào chữa bảo
vệ quyền lợi cho người bị tạm giam sẽ biết được tối đa thời hạn tạm giam là bao lâu
và nếu bị xâm phạm họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách chính đáng. Như
vậy, quy định thời hạn tạm giam góp phần hạn chế việc cơ quan, người tiến hành tố
tụng tạm giam bị can, bị cáo một cách tùy tiện, lạm dụng quyền lực, xâm phạm đến
các quyền công dân, đặc biệt là xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do của công dân.
Thứ ba, chế định thời hạn tạm giam tạo cơ sở để xã hội theo dõi, giám sát
hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước của cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo
quyền được làm chủ của công dân. Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân. Nhà nước đã thể chế hóa ý chí, lợi ích của nhân dân thành pháp luật và
thay mặt nhân dân thực thi quyền lực thông qua pháp luật. Vì vậy, thơng qua thời
hạn tạm giam, cả cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước và công dân đều có thể nắm
bắt được q trình đấu tranh phịng chống tội phạm, nhằm kiểm soát những hành vi
vi phạm pháp luật, sự lộng quyền, mâu thuẫn chồng chéo trong quá trình tạm giam
bị can, bị cáo, từ đó đảm bảo tốt nhất công lý và công bằng xã hội.
1.4. Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam và pháp luật một số nƣớc
trên thế giới về thời hạn tạm giam
1.4.1. Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam về thời hạn tạm giam
1.4.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi Bộ luật tố
tụng hình sự Việt Nam được ban hành lần đầu (năm 1988)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhận thức được tầm quan trọng và ý
nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong việc thiết lập trật tự mới
nhằm đấu tranh với thù trong, giặc ngồi, bảo vệ chính quyền cách mạng, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có quy định về các biện pháp ngăn
chặn. Tuy nhiên, trong thời kỳ này chưa có văn bản riêng nào quy định về biện pháp
ngăn chặn mà chỉ được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật mà Nhà nước
ban hành.
16
Biện pháp ngăn chặn tạm giam lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh số
40 ngày 29/03/1946 của Nhà nước ta về đảm bảo quyền tự do cá nhân16, được thể
hiện tại Điều 9 của Sắc lệnh: Sau khi tạm bắt giữ, nếu xét thấy không thể tạm tha thì
Ủy ban kháng chiến Hành chính liên khu phải ra lệnh tạm giam. Về thời hạn tạm
giam, lần đầu tiên được nhắc đến tại Điều 4 của Sắc lệnh này: Đối với người bị bắt
truy tố về tiểu hình thì thời hạn tạm giam không được quá 01 tháng kể từ ngày bắt;
đối với người bị bắt bị truy tố về đại hình thì khơng được q 03 tháng kể từ ngày
bắt; đối với người đã bị Tòa tuyên án thì cũng khơng được q 03 tháng. Trong
trường hợp nếu xét thấy cần thiết thì cơ quan tư pháp có thể gia hạn thêm hai lần
nữa, thời gian gia hạn là một hoặc ba tháng tùy theo người bị bắt bị truy tố tiểu hình
hay đại hình. Người bị tạm giam có thể đệ đơn xin tạm tha theo hình thức mà pháp
luật hiện hành quy định.
Miền Bắc được giải phóng (năm 1954), tình hình đất nước ta có nhiều biến
chuyển, miền Bắc bước vào giai đoạn vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa, vừa phải
tiến hành công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Nhà nước ta ban hành các Sắc
luật, Sắc lệnh phù hợp với thực tiễn hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu chính trị, xã hội
trong giai đoạn mới, tạo điều kiện tốt nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm, là
cơ sở để bảo vệ, thống nhất đất nước. Trong giai đoạn này, biện pháp tạm giam
được ghi nhận trong Điều 6 Luật số 103-SL/L005 ngày 20/05/1957 quy định việc
đảm bảo tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín
của nhân dân17 (sau đây gọi tắt là Luật số 103-SL/L005) và Điều 6 Nghị định 301TTg ngày 10/07/1957 quy định chi tiết thi hành Luật số 103-SL/L00518 như sau:
Sau khi hết thời hạn tạm giữ, nếu xét thấy khơng thể tạm tha, tha cho kẻ phạm tội
thì Cơ quan công an ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam phải ghi rõ lý do tạm giam,
lúc ra lệnh tạm giam phải báo tin cho thân nhân của người bị tạm giam biết, trừ
trường hợp việc báo tin đó gây trở ngại cho công tác điều tra trinh sát hoặc khơng
có cách nào báo tin được. Thời hạn tạm giam được quy định tại Điều 7 Luật số
“Sắc lệnh số 40/SL của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hồ thơng qua ngày 29/03/1946 về
bảo đảm tự do cá nhân,”, truy cập 20/03/2020.
17
“Luật số 103-SL/L005, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hịa thơng qua ngày 20/05/1957 quy định
việc đảm bảo tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân”,
/>&document_id=2422, truy cập ngày 20/03/2020.
18
“Nghị định 301-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/07/1957 quy định chi tiết thi hành Luật số 103SL/L005 đảm bảo tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân”,
/>document_id=2419, truy cập ngày 20/03/2020.
16
17
103-SL/L005, theo đó: Thời hạn tạm giam khơng được q hai tháng đối với các
vụ thường phạm mà luật pháp quy định hình phạt từ năm năm tù trở xuống; bốn
tháng đối với các vụ phạm đến an toàn Nhà nước và các vụ thường phạm mà luật
pháp quy định hình phạt trên năm năm tù. Nếu xét thật cần thiết cho cuộc điều tra
thì cơ quan ra lệnh tạm giam có thể gia hạn một hoặc hai lần nữa. Đối với những
vụ án phức tạp, cần phải điều tra lâu hơn, thì phải được sự chuẩn y của cơ quan tư
pháp trung ương.
Sau ngày giải phóng miền Nam đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta
ban hành Sắc luật số 02/SL ngày 15/03/1976 quy định việc bắt, giam, khám người,
khám nhà ở, khám đồ vật19. Sắc luật đã quy định chặt chẽ hơn về biện pháp tạm
giam, mở rộng thẩm quyền bắt để tạm giam đến cấp huyện. Sắc luật quy định về
biện pháp tạm giam và thời hạn tạm giam như sau: Sau khi bắt hoặc nhận người bị
bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp, cơ quan an
ninh hoặc Viện kiểm sát nhân dân phải xét hỏi ngay. Trong hạn 3 ngày kể từ khi
bắt hoặc nhận người bị bắt, các cơ quan này phải xét, quyết định trả lại tự do, tha
hẳn, tạm tha hoặc giải người bị bắt lên cấp trên nếu vụ án thuộc thẩm quyền của
cấp trên. Nếu xét cần phải tạm giam thì việc tạm giam phải có lệnh viết của
VKSND từ cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên, hoặc lệnh viết
của cơ quan an ninh cấp tương đương, đã được sự phê chuẩn trước của VKSND
cùng cấp, nếu là vụ án hình sự, hoặc của Ủy ban nhân dân cách mạng cùng cấp,
nếu là trường hợp tập trung cải tạo. Thời gian tạm giam không được quá: Hai
tháng đối với các vụ thường phạm mà pháp luật quy định hình phạt từ năm năm tù
trở xuống; Bốn tháng đối với các vụ phạm đến an ninh chánh trị và các vụ thường
phạm mà pháp luật quy định hình phạt trên năm năm tù. Nếu xét thật cần thiết cho
cuộc điều tra thì cơ quan ra lệnh tạm giam có thể ra hạn một hoặc hai lần nữa. Đối
với những vụ án phức tạp, cần phải điều tra lâu hơn, thì phải được sự chuẩn y của
cơ quan Tư pháp Trung ương20. Quy định biện pháp tạm giam trong Sắc luật
02/SL đã góp phần vào cơng cuộc đấu tranh phịng chống tội phạm, xóa bỏ tồn
bộ những quy định của chính quyền cũ, thiết lập những quy định mới phù hợp,
hiệu quả hơn.
“Sắc luật số 02/SL ngày 15/03/1976 quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật”,
/>&document_id=2448, truy cập ngày 20/03/2020.
20
Điều 5 Sắc luật số 02/SL ngày 15/03/1976 quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật.
19
18
Trong giai đoạn này, mặc dù đã có quy định về thời hạn tạm giam, tuy
nhiên các quy định này cịn đơn giản, quy định rải rác, chưa hình thành được hệ
thống các quy phạm pháp luật quy định riêng về biện pháp ngăn chặn, trong đó có
biện pháp tạm giam. Hiến pháp 1980 ngày 18/12/198021 ra đời, đã đánh dấu đất
nước ta bước sang một thời kỳ cách mạng mới, hệ thống pháp luật từng bước hoàn
thiện hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, vẫn tồn tại tình trạng các biện pháp
ngăn chặn được áp dụng tùy tiện, vì những quy định của pháp luật về các biện
pháp này chưa thật sự rõ ràng.
1.4.1.2. Giai đoạn từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến nay
BLTTHS năm 198822 ra đời, là một bước tiến vượt bậc trong công tác xây
dựng pháp luật. Bộ luật đã quy định căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn
các biện pháp ngăn chặn tại chương V và một số điều được quy định rải rác ở các
chương khác. Các quy định này đã tương đối cụ thể, hồn chỉnh và có hệ thống hơn.
Biện pháp tạm giam nói chung hay thời hạn tạm giam nói riêng cũng được quy định
rõ ràng hơn trong Bộ luật này. Điều 71 BLTTHS 1988 quy định về thời hạn tạm
giam như sau:
Thời hạn tạm giam để điều tra không được q hai tháng đối với tội ít nghiêm
trọng; khơng được quá bốn tháng đối với tội phạm nghiêm trọng. Trong trường hợp
vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra
thì Viện trưởng VKSND cấp tỉnh trở lên và Viện trưởng VKSQS cấp quân khu trở
lên có quyền gia hạn tạm giam, nhưng không được quá hai tháng đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, khơng được q bốn tháng đối với tội phạm nghiêm trọng. Viện
trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSQS trung ương có thể gia hạn thêm
nhưng không được quá bốn tháng. Trong trường hợp cần thiết, đối với tội phạm đặc
biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng VKSND tối cao có
quyền gia hạn thêm.
Sự ra đời của BLTTHS 1988 đã đánh dấu sự phát triển của nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý
“Hiến pháp 1980 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/12/1980”,
truy cập ngày
20/03/2020.
22
"Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, do Quốc hội Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
28/06/1988”, truy cập
ngày 21/03/2020.
21
19
nghiêm minh tội phạm, thực hiện hiệu quả công tác đấu tranh phịng chống tội
phạm. Tuy nhiên BLTTHS 1988 nói chung và những quy định về biện pháp tạm
giam nói riêng vẫn tồn tại những nhược điểm, khơng cịn phù hợp với thực tế, gây
khó khăn, lúng túng cho các chủ thể tiến hành tố tụng, khi mà tình hình tội phạm
ngày càng phức tạp, thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi, tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội ngày càng cao.
Trên cơ sở kế thừa và phát huy có chọn lọc từ BLTTHS 1988, BLTTHS 2003
đã được Quốc hội thơng qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực ngày 01/07/2004 với
những sửa đổi, bổ sung phù hợp với tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính
trị về một số vấn đề cấp bách trong tư pháp. BLTTHS 2003 là một bước tiến quan
trọng trong quá trình hội nhập quốc tế, nhằm đảm bảo tiến trình tố tụng được thuận
lợi hơn, nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền tự do dân chủ của công dân đã được Hiến
pháp ghi nhận.
Tuy nhiên, tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS 2003 cho thấy, bên
cạnh những kết quả đạt được thì cũng bộc lộ khơng ít vướng mắc, bất cập. Chế định
thời hạn tố tụng trong BLTTHS 2003 chưa thật hợp lý, vẫn còn những hoạt động tố
tụng chưa bị ràng buộc bởi thời hạn; thời hạn tạm giam còn dài; một số thời hạn quá
chặt chẽ nên thiếu tính khả thi. Bên cạnh đó, các nghị quyết của Đảng và Hiến pháp
2013 đặt ra nhiều yêu cầu mới, nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, thể hiện sâu sắc
quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền cơng
dân. Trước tình hình đó, cần ban hành một BLTTHS mới nhằm thể chế hóa đầy đủ
các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp
năm 2013, khắc phục những vướng mắc, bất cập và tiếp thu có chọn lọc kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới.
Bộ luật tố tụng hình sự 101/2015/QH13 ra đời, có hiệu lực ngày 01/07/2016,
là một bước tiến của q trình hồn thiện hệ thống pháp luật, phù hợp với các Điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Bộ luật
là sự kế thừa và phát huy những nội dung còn phù hợp của BLTTHS hiện hành,
đồng thời, bổ sung một số quy định mới, bảo đảm xây dựng BLTTHS tiến bộ, hoàn
thiện hơn. Chẳng hạn như, BLTTHS năm 2003 quy định việc gia hạn thời hạn tạm
giam để điều tra đối với tội phạm nghiêm trọng và rất nghiêm trọng là 02 lần, đối
với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 03 lần. Quy định này dẫn đến thời hạn tạm