BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM VĂN VĨNH
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG GIAI ĐOẠN
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG GIAI ĐOẠN
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng nghiên cứu
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Thị Thúy
Học viên thực hiện: Phạm Văn Vĩnh
Lớp: Cao học Luật Khố 25
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam” là cơng trình
nghiên cứu khoa học của riêng tơi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn
bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của Luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Văn Vĩnh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BLHS
: Bộ luật Hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ CA
: Bộ Công an
Bộ TP
: Bộ Tư pháp
CA
: Công an
KSND
: Kiểm sát nhân dân
NĐ
: Nghị định
NĐ-CP
: Nghị định Chính phủ
NXB
: Nhà xuất bản
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
TTLT
: Thông tư liên tịch
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ....................................................... 9
1.1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt ....................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự ............................................................. 9
1.1.2. Khái niệm giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ............... 12
1.2. Quy định của Luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự trong
giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt ..................................... 25
1.2.1. Quy định của Luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự trong
gian đoạn chuẩn bị phạm tội ........................................................................ 25
1.2.2. Quy định về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn phạm tội chưa đạt 30
1.2.3. Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt .......................................................... 33
1.3. Quy định của pháp luật hình sự một số nước về trách nhiệm hình sự
trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt và kinh nghiệm
cho Việt Nam .................................................................................................. 37
1.3.1. Quy định của Bộ luật hình sự liên bang Nga về trách nhiệm hình sự
trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt................................. 37
1.3.2. Quy định của Bộ luật hình sự Thụy Điển về trách nhiệm hình sự trong
giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt .......................................... 39
1.3.3. Quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản về trách nhiệm hình sự trong
giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt .......................................... 44
1.3.4. Kinh nghiệm cho pháp luật hình sự Việt Nam .................................... 46
Kết luận Chương 1 ............................................................................................ 49
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM
TỘI CHƯA ĐẠT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ...................... 50
2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự trong
giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ......................................... 50
2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt .......................... 60
2.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt ......................................................................................... 60
2.2.2. Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt ......................................................................................... 65
Kết luận Chương 2 ............................................................................................ 67
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi Nhà nước ta mới được thành lập cho đến nay, luật hình sự
vẫn ln nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân bởi pháp
luật hình sự là một trong những công cụ quan trọng và hữu hiệu để bảo vệ chủ
quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền
con người, quyền cơng dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành
vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm (Điều 1 BLHS năm 2015). Để luật hình sự ngày càng
thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, việc hồn thiện Bộ luật hình sự là một
địi hỏi tất yếu khách quan.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng mức độ nguy hiểm của
các hành vi phạm tội, ở mỗi giai đoạn phạm tội khác nhau là khác nhau. Tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện qua nhiều dấu hiệu như: Tính
chất, tầm quan trọng và giá trị của quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại hoặc bị đe
dọa xâm hại; tính chất và mức độ hậu quả thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra;
mức độ thực hiện tội phạm; phương thức thực hiện tội phạm (riêng lẻ hay là đồng
phạm, đồng phạm giản đơn hay đồng phạm có tổ chức); cơng cụ, phương tiện
phạm tội, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm; hình thức
lỗi, mức độ lỗi, mục đích phạm tội và động cơ phạm tội, cũng như các đặc điểm
nhân thân của người phạm tội. Như vậy, mức độ thực hiện tội phạm cũng là một
trong các yếu tố thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Về phương
diện lý luận, mức độ thực hiện tội phạm được phân chia thành các giai đoạn phạm
tội là: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Tương ứng
với các giai đoạn này, hành vi phạm tội mang tính nguy hiểm cho xã hội ở các
mức độ khác nhau. Với mức độ nguy hiểm khác nhau thì trách nhiệm hình sự và
hình phạt áp dụng phải nặng, nhẹ khác nhau mới bảo đảm công bằng và được dư
luận xã hội đồng tình, người phạm tội tâm phục, khẩu phục. Do đó pháp luật hình
sự đã đặt ra quy định riêng về trách nhiệm hình sự trong các giai đoạn chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
2
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa-xã
hội, thực tiễn đấu tranh phịng, chống tội phạm đã cho thấy tình hình tội phạm
ở nước ta diễn biến hết sức phức tạp, tinh vi, với nhiều thủ đoạn khác nhau.
Luật hình sự đi vào đời sống xã hội có vai trị quan trọng trong cơng tác đấu
tranh phịng, chống tội phạm. Có thể thấy, hoạt động phạm tội cũng như bất kỳ
hoạt động nào khác của con người trong xã hội, được diễn ra theo một quá trình
và trong một khoảng thời gian nhất định. Người cố ý thực hiện tội phạm bao
giờ cũng mong muốn thực hiện trọn vẹn q trình đó để đạt được kết quả mong
muốn. Nhưng trong thực tế có những trường hợp vì ngun nhân ngồi ý
muốn, người phạm tội đã khơng thực hiện được tồn bộ q trình đó mà phải
dừng lại ở những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, khơng phải vì thế mà những
hành vi này khơng nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, để đánh giá mức độ thực hiện
tội phạm và qua đó có cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm hình sự của
người phạm tội, luật hình sự Việt Nam phân biệt ba mức độ thực hiện tội phạm:
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Bên cạnh việc
quy định trách nhiệm hình sự của tội phạm hồn thành thì việc quy định trách
nhiệm hình sự của giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là rất cần
thiết nhằm đảm bảo tính phịng ngừa, tính răn đe giáo dục người phạm tội của
luật hình sự.
Các quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt đã được tiếp tục hoàn thiện trong BLHS năm
2015, như: giới hạn phạm vi TNHS trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, quy định
rõ khung hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội, sửa đổi giới hạn quyết
định hình phạt trong giai đoạn phạm tội chưa đạt,…Tuy nhiên, quy định về
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt tại
BLHS năm 2015 vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu về mặt lập pháp, cũng
như thực tiễn áp dụng vẫn còn những vướng mắc nhất định: các quy định về
khung hình phạt và QĐHP đối với giai đoạn CBPT, PTCĐ cũng gây ra những
bất cập nhất định,...
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng cịn
gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật
hình sự về đến trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm
3
tội chưa đạt. Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài "Trách nhiệm hình sự
trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt
Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt đã được nghiên cứu trong một số cơng trình khoa học với những khía
cạnh nội dung khác nhau như:
Giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo: PGS.TS. Nguyễn Thị Phương
Hoa và TS. Phan Anh Tuấn đồng chủ biên (2017) sách Bình luận khoa học
Những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Nxb Hồng Đức; “Giáo trình Luật hình sự phần chung” của Trường Đại học Luật
TP. Hồ Chí Minh (2019),... Trong các cơng trình nghiên cứu trên, các tác giả đều
có những phân tích, bình luận chun sâu liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình
sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt qua việc phân tích khái
niệm, các giai đoạn thực hiện tội phạm, dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự
mà chủ thể phạm tội phải gánh chịu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ mang
tính khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu những bất cập cũng như vướng mắc trong
thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt.
Luận văn, luận án: “Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam” của tác giả Trần Anh
Tuấn, Luận văn Thạc sĩ, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2015); “Quyết
định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo
luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Trúc, Luận văn Thạc sĩ Luật,
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2012.
Trong hai luận văn này, bên cạnh tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận, các tác giả đã nêu ra một số tồn tại, hạn chế của việc quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, như: sai lầm trong
việc lựa chọn điều luật áp dụng, quyết định hình phạt quá nhẹ hoặc quá nặng
không tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi, hạn chế trong quy định
của pháp luật,…và các nguyên nhân cơ bản, từ đó đưa ra giải pháp.
4
Tuy nhiên, thời điểm các tác giả thực hiện luận văn thì BLHS năm 2015
chưa đi vào cuộc sống nên khơng giải quyết được các vấn đề cịn tồn đọng trong
BLHS năm 2015 liên quan trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt.
Về các bài viết khoa học, tạp chí chun đề có:
(i) TS. Trịnh Tiến Việt, Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức phạm
tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí Khoa học, chuyên san Kinh
tế - Luật, số 2/2009.
Nội dung bài viết, tác giả tập trung phân tích khái niệm và các đấu hiệu cơ
bản của phạm tội chưa đạt, phân biệt giai đoạn tội phạm chưa đạt với các giai
đoạn khác. Từ đó đề xuất hoàn thiện quy định về phạm tội chưa đạt trong BLHS
năm 1999.
(ii) TS. Lê Thị Sơn, “Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm
tội và phạm tội chưa đạt”, Tạp chí Luật học số 4 năm 2002;
Bài viết này, tác giả đã phân tích đánh giá, chỉ ra những điểm bất cập
trong các quy định của BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999. Vận dụng quy
định của BLHS một số nước trên thế giới mà điển hình là BLHS của CHLB
Đức và của CHND Trung Hoa, tác giả đề xuất sửa đổi theo hướng quy định bổ
sung giảm mức thấp nhất của khung hình phạt tù tương ứng với tỉ lệ giảm mức
cao nhất của khung hình phạt tù đã được quy định, giảm nhẹ tất cả các khung
hình phạt, quyết định hình phạt nhẹ hơn mức tối thiểu của khung hình phạt,
miễn hình phạt.
(iii) “Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt” của tác giả Dương Tuyết Miên, Tạp chí Luật học số 4 năm 2001;
(iv)“Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt trong Luật Hình sự Việt Nam” của
Phạm Văn Báu, Tạp chí Tồ án nhân dân kỳ II tháng 8 năm 2015 số 16, (v) “Bàn
về chế định phạm tội chưa đạt từ những thực tiễn xét xử” của TS. Nguyễn Thị
Tuyết, Tạp chí Kiểm sát số 10 năm 2014,... Các bài viết trên có nghiên cứu về
trách nhiệm hình sự của giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, từ các
vấn đề lý luận đến những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp
luật và một số kiến nghị. Tuy nhiên, các bài viết đa số nghiên cứu các quy định
5
của BLHS 1999 mà chưa nghiên cứu các quy định của BLHS 2015 về trách
nhiệm hình sự của giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Đồng thời,
các bài viết nghiên cứu trong phạm vi hạn chế nên chưa di sâu nghiên cứu các
vấn đề lý luận, chưa bao quát hết những hạn chế trong quy định của pháp luật
cũng như vướng mắc trong thực tiễn bằng các vụ án thực tế, để từ đó có những
kiến nghị hoàn thiện dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn.
Tổng hợp lại, các cơng trình trên chưa nghiên cứu các quy định của BLHS
năm 2015 về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, một chế định có nhiều sửa
đổi, bổ sung so với các quy định của BLHS năm 1999. Chính vì vậy, trong phạm
vi của luận văn này, tác giả sẽ tiếp tục kế thừa kết quả nghiên cứu trong các cơng
trình khoa học kể trên về những vấn đề lý luận về chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt, lịch sử lập pháp hình sự về chế định chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt. Ngoài ra, tác giả sẽ phân tích, đánh giá những điểm bất cập trong
BLHS năm 2015 về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và
phạm tội chưa đạt, đây là nội dung mà các cơng trình khoa học kể trên chưa
nghiên cứu. Đồng thời, đánh giá những khó khăn vướng mắc trong q trình áp
dụng pháp luật để từ đó kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLHS năm 2015
về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định những điểm bất cập chưa hợp lý
trong quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn
điều tra, truy tố, xét xử đề từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hồn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về trách nhiệm hình sự trong giai
đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong
giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
6
- Phân tích, đánh giá, cũng như tìm ra những bất cấp trong các quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt.
- Phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
các quy định về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm
tội chưa đạt.
- Đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quan điểm khoa học
về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt,
các quy định của BLHS về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm
tội và phạm tội chưa đạt và thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm hình
sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các vụ án có liên
quan trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
từ ngày 01.01.2018 đến năm 2020 (áp dụng các quy định của BLHS năm 2015).
Tuy nhiên, BLHS năm 2015 mới có hiệu lực áp dụng, thực tiễn áp dụng chưa
nhiều nên luận văn nghiên cứu thêm các vụ án từ năm 2012 đến năm 2017.
Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trách nhiệm hình sự trong
giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt trên phạm vi cả nước. Trong
đó, tác giả chú trọng các vụ án xét xử trên địa bàn tỉnh Long An.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
7
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh,
lịch sử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tiến hành phân tích
và tổng hợp một cách khái quát các nội dung cần nghiên cứu trong Luận văn.
Qua đó, phân tích thành từng vấn đề để tìm hiểu cụ thể quy định về trách nhiệm
hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Đồng thời, Luận
văn tiến hành tổng hợp từng vấn đề lý luận đã phân tích, nhằm xây dựng một số
lý luận mới đầy đủ và cụ thể về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những điểm giống nhau và
khác nhau trong quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về trách nhiệm hình sự
trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt với pháp luật của một số
nước khác, để từ đó rút ra được những ưu điểm và hạn chế trong quy định về
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo
luật hình sự Việt Nam.
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu tiến trình hình thành và
phát triển qua từng thời kỳ của quy định pháp luật hình sự về trách nhiệm hình
sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt..
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách tồn diện, có hệ thống và đồng bộ những
vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm
tội và phạm tội chưa đạt. Trong luận văn này, tác giả giải quyết các vấn đề về
mặt lý luận sau:
- Phân tích một cách có hệ thống và tồn diện những vấn đề lý luận về
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt:
khái niệm, bản chất của trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội
và phạm tội chưa đạt; trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và
phạm tội chưa đạt trong pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự một số
quốc gia trên thế giới.
8
- Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ của
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt; đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Những nội dung của Luận văn đưa ra đã góp phần làm phong phú thêm lý
luận về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
đạt, đồng thời nâng cao nhận thức về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt trong luật hình sự Việt Nam.
Từ một số giải pháp hồn thiện trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt sẽ góp phần sửa đổi, bổ sung chế định luật về
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
trong thời gian tới.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên
cứu khoa học chuyên ngành và tài liệu tham khảo đối với cán bộ làm công tác
nghiên cứu, giảng dạy và cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 02 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về trách
nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự
trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt và một số kiến nghị
hoàn thiện.
9
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG GIAI ĐOẠN
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
1.1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn
chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Thuật ngữ “trách nhiệm” trong các sách, báo, tạp chí kinh tế - chính trị
thường được dùng theo hai nghĩa. Một là, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của
một người trước cá nhân, tập thể, xã hội hoặc trước Nhà nước. Hai là, trách
nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu do đã có hành vi vi phạm
nghĩa vụ, bổn phận.
Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, được dùng theo nghĩa
thứ hai. Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình
sự Việt Nam bên cạnh hai chế định khác (tội phạm và hình phạt). Tội phạm và trách
nhiệm hình sự (TNHS) là những chế định cơ bản của luật hình sự bởi chính những
chế định này trong mối liên hệ với nhau đã tạo tính chỉnh thể của ngành luật hình
sự, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng các chế định khác của luật hình sự. Trong
khoa học pháp lý, trách nhiệm hình sự là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là trong những năm gần đây tại Việt Nam. Tuy
nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có nhận thức thống nhất về TNHS trong khoa học luật
hình sự. Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm trách
nhiệm hình sự, được phân chia theo từng nhóm như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất: nêu khái niệm trách nhiệm hình sự dưới góc độ
hậu quả pháp lý: TNHS được hiểu là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện
ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước1. “TNHS là hậu
quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối
với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật
hình sự quy định”2.
1
2
Đào Trí Úc (1993), Mơ hình lý luận về BLHS Việt Nam (Phần Chung), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 41.
Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 609.
10
Nhóm quan điểm thứ hai: nhìn nhận trách nhiệm hình sự với tư cách là
một dạng của trách nhiệm pháp lý: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là
trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong PLHS bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện”3, “TNHS là một
dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt
động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình
phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích”4.
Như vậy, các nhà nghiên cứu luật hình sự chỉ mới cùng nhận thức TNHS
là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội
phạm. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất về nội dung
của TNHS. Nghiên cứu về nội dung của TNHS cần phải bắt đầu từ nhận thức về
bản chất của TNHS. Bản chất của TNHS là sự lên án của Nhà nước đối với
người có lỗi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy
định là tội phạm, là sự phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm5. Với ý nghĩa là
phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm, nội dung cụ thể của TNHS phải là
những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự mà người phạm
tội phải gánh chịu trước Nhà nước vì đã thực hiện một tội phạm. Những tác động
bất lợi đó là bị Nhà nước lên án bằng một bản án kết tội, phải chịu hình phạt,
chịu tác động bất lợi khác về hình sự. Tuy nhiên, khơng phải hậu quả pháp lý bất
lợi nào do việc phạm tội đều là nội dung cụ thể của TNHS. Việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong quá trình điều tra tuy là những tác động bất lợi gắn
liền với việc phạm tội nhưng không phải là nội dung cụ thể của TNHS vì mục
đích của các biện pháp này là phục vụ điều tra chứ không phải là sự trừng phạt
của Nhà nước đối với người phạm tội.
Như vây, từ sự tìm hiểu các quan điểm khác nhau về trách nhiệm hình sự
kết hợp với việc nhận thức một số vấn đề có liên quan đến trách nhiệm hình sự,
khái niệm trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa như sau: trách nhiệm hình
Đỗ Ngọc Quang (1997), Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong luật hình
sự Việt Nam, NXB Cơng an nhân dân, Hà Nội, tr.14.
4
Trường Đại học luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật hình sự Tập 1, Nguyễn Ngọc Hịa (chủ biên), NXB
Cơng an nhân dân, tr. 210.
5
Kiều Đình Thụ (2000), Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 66.
3
11
sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc phạm tội
thể hiện ở trách nhiệm của người phạm tội trước Nhà nước phải chịu những tác
động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự do Tịa án áp dụng theo
một trình tự tố tụng nhất định.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở khái
niệm trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng có thể nhận thấy trách nhiệm hình
sự có một số đặc điểm cơ bản như sau:
TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
Xuất phát từ ngun tắc pháp chế, tức khơng có tội nếu khơng có luật, nên
TNHS chỉ đặt ra khi có một tội phạm được thực hiện. Điều 2 BLHS quy định:
“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu
trách nhiệm hình sự”.
TNHS là một dạng trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các trách nhiệm
pháp lý
Xét về mức độ nghiêm khắc, trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm
pháp lý nghiêm khắc nhất bởi vì trong số các vi phạm pháp luật như vi phạm
pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật đất đai, vi phạm pháp luật dân sự,… thì
vi phạm pháp luật hình sự là loại vi phạm nghiêm trọng nhất và nó chỉ phát sinh
khi có sự việc phạm tội. Mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự xuất phát
từ vai trò quan trọng của các quan hệ pháp luật hình sự. Tính chất nghiêm khắc
của TNHS thể hiện ở chỗ người phạm tội bị Tòa án kết án; phải chịu hình phạt
và một số biện pháp tư pháp và phải mang án tích.
TNHS là trách nhiệm cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi
phạm tội trước Nhà nước.
Tại Điều 2 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều
76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”
12
Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà
nước và người phạm tội và hàm chứa hai nội dung: Thứ nhất, TNHS là trách
nhiệm cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội. Thứ hai, chỉ có Nhà nước mới
có thẩm quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
TNHS được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong luật tố
tụng hình sự
TNHS là một loại trách nhiệm pháp lý rất nghiêm khắc. Do vậy, việc xác
định và thực hiện nó phải theo một trình tự đặc biệt được quy định trong luật tố
tụng hình sự. Theo đó chỉ những cơ quan tiến hành tố tụng mới có thẩm quyền
xác định TNHS đối với người phạm tội. Việc xác định TNHS đó khơng được tùy
tiện mà phải tn thủ trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ để tránh oan sai, bảo đảm
quyền con người trong tố tụng hình sự.
TNHS được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tịa án
Chỉ có bản án kết tội của Tồ án mới xác định một người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội có phải là có tội hay không sau khi tội phạm mà họ thực hiện
được chứng minh. Nếu khơng có bản án kết tội của Tịa án có hiệu lực hiện pháp
luật thì khơng thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người. Quyết định về
TNHS chỉ có thể được thể hiện trong bản án hoặc quyết định của Tòa án.
1.1.2. Khái niệm giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm
Người phạm tội không phải lúc nào cũng thực hiện được hành vi phạm tội
đến cùng mà trong nhiều trường hợp do những nguyên nhân khách quan mà
hành vi phạm tội dừng lại ở những bước sớm nên chưa thỏa mãn hết các dấu
hiệu trong CTTP quy định trong BLHS. Tội phạm được thực hiện ở các giai
đoạn khác nhau thì mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Tuy nhiên, trong
BLHS Việt Nam qua các thời kỳ không đưa ra khái niệm về các giai đoạn thực
hiện tội phạm. Để có cơ sở thống nhất trong việc xác định trách nhiệm hình sự
của hành vi phạm tội xảy ra trước khi tội phạm hồn thành, khoa học luật hình
sự Việt Nam đã xây dựng chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm dưới góc độ
khoa học pháp lý hình sự.
13
Trong khoa học pháp lý thế giới, các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra
những tên gọi chung cho trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt như
“tội phạm chớm nở” (inchoate crime) hoặc “tội phạm sơ bộ” (preliminary
crime). Các trường hợp nêu trên được hiểu là “hành vi bị coi là tội phạm nhưng
không gây ra thiệt hại thực tế, với điều kiện thiệt hại nó có thể gây ra là thiệt hại
mà pháp luật muốn ngăn chặn”. Bên cạnh đó, tại các nước theo truyền thống
pháp luật Anh - Mỹ, quá trình thực hiện tội phạm thông thường về lý thuyết
được các nhà khoa học pháp lý chia làm bốn giai đoạn như sau: 1) Ý định phạm
tội (Intention), 2) Chuẩn bị phạm tội (Preparation), 3) Thực hiện tội phạm
(Implementation), 4) Tội phạm hoàn thành (Accomplishment). Trong giai đoạn
thực hiện tội phạm có thể diễn ra ngoại lệ là “nỗ lực bất thành” (Incomplete
attempt) mà gọi cách khác chính là “phạm tội chưa đạt”. Trong đó, chuẩn bị
phạm tội là “hành vi được thực hiện bởi người phạm tội trong bất kỳ thời điểm
nào kể từ khi có ý định phạm tội đến trước khi thực tế tiến hành tội phạm đó”
“thường được mơ tả bằng các hành vi chuẩn bị cơng cụ, tìm cách phạm tội” và
“bị coi là phạm chính tội được chuẩn bị đó”. Nỗ lực bất thành (hay phạm tội
chưa đạt) là trường hợp “người phạm tội đã nỗ lực thực hiện tội phạm, tiến xa
hơn là chuẩn bị phạm tội nhưng chưa đạt đến việc hồn thành nó”.6
Tại Việt Nam, các nhà khoa học luật hình sự đã đưa ra những định nghĩa
khác nhau về các giai đoạn thực hiện tội phạm. Có quan điểm cho rằng: “Các
giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hồn thành.”7 Cũng có quan
niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm “là các bước phát triển theo một trình tự
nhất định mà tội phạm trải qua, được thể hiện bằng việc thực hiện các dấu hiệu
thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng và bằng mức độ khác
nhau của việc thực hiện sự cố ý phạm tội của chủ thể”.8 Tác giả Đinh Văn Quế
cho rằng: “Giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình phạm tội
do cố ý. Khoa học luật hình sự chia giai đoạn thực hiện tội phạm thành 3 bước
Trần Anh Tuấn (2015), Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luận văn Thạc sĩ, khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.9-10.
7
Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Tập I), Nxb Công an nhân dân, .tr. 60.
8
Lê Cảm (2002), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự, Tập IV, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.114.
6
14
cơ bản, đó là: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành”.9
Theo quan điểm khác thì “các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình
thực hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và
tội phạm hoàn thành"10 v.v... Như vậy, mặc dù các tác giả đưa ra những quan
điểm khác nhau về các giai đoạn thực hiện tội phạm nhưng có hai vấn đề mà các
tác giả đều thống nhất đó là: các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong
quá trình thực hiện tội phạm và lỗi của tội phạm phải là lỗi cố ý.
Thứ nhất, về dấu hiệu lỗi: chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa đạt chỉ đặt
ra đối với các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, không đặt ra đối với
tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vơ ý. Lý do là vì đối với
những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hoặc vơ ý (vơ ý vì q tự
tin hoặc vơ ý do cẩu thả) thì người phạm tội khơng có ý định phạm tội, không
mong muốn cho hậu quả xảy ra, chính vì vậy khơng thể có sự chuẩn bị phạm tội
cũng như phạm tội chưa đạt. Tội phạm chưa hoàn thành chỉ đặt ra đối với các tội
phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi
của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong
muốn hậu quả xảy ra (Khoản 1 Điều 10 BLHS) thì người phạm tội mới có ý định
phạm tội, mong muốn thực hiện nó, khi đó họ mới có những hoạt động nhằm tạo
điều kiện cho việc thực hiện ý định phạm tội và hành vi của họ mới có chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt.11
Thứ hai, về các giai đoạn thực hiện tội phạm cụ thể: các giai đoạn thực
hiện tội phạm là các bước trong quá trình thực hiện tội phạm và khi nghiên cứu
về các bước trong quá trình thực hiện tội phạm thì có thể có đến 5 bước: hình
thành ý định phạm tội, biểu lộ ý định phạm tội, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa
đạt và tội phạm hoàn thành. Bước đầu tiên là hình thành ý định phạm tội: Tội
phạm là một dạng hành vi của con người nên nó cũng diễn ra theo một q trình
tâm lý chung xuất phát từ động cơ, mục đích đến việc hình thành ý định phạm
Đinh Văn Quế (2018), Cấu thành tội phạm và các giai đoạn thực hiện tội phạm: Những vấn đề lý luận và
thực tiễn, truy cập ngày 04/11/2020.
10
Trịnh Tiến Việt (2009), “Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự: Những nội dung pháp lý – xã
hội”, Tòa án nhân dân, tr.126.
11
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Hồng ĐứcHội Luật gia Việt Nam, tr.185.
9
15
tội. Bước thứ hai là biểu lộ ý định phạm tội: Ý định phạm tội sau khi hình thành
có thể được thể hiện ra bên ngồi bằng lời nói, chữ viết hoặc bằng cách nào khác
gọi là biểu lộ ý định phạm tội. Bước thứ ba là chuẩn bị phạm tội: người phạm tội
chuẩn bị công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm gọi là chuẩn bị phạm tội. Bước
thứ tư: tiếp đó người phạm tội thực hiện tội phạm nhưng chưa thỏa mãn hết các
dấu hiệu của cấu thành tội phạm gọi là phạm tội chưa đạt. Bước thứ năm: khi
hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
thì gọi là tội phạm hồn thành. Tuy nhiên, Luật Hình sự Việt Nam không quy
định cả năm bước thành năm giai đoạn thực hiện tội phạm xác định chỉ có ba
bước cuối là các giai đoạn thực hiện tội phạm, bao gồm: chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và tội phạm hồn thành là có ý nghĩa pháp lý hình sự và vấn
đề trách nhiệm hình sự mới được đặt ra ở các bước này. Cịn những bước trước
đó của quá trình thực hiện tội phạm (hình thành ý định phạm tội, biểu lộ ý định
phạm tội) không được coi là các giai đoạn thực hiện tội phạm.12
Thông qua các nghiên cứu trên, tác giả đồng quan điểm với ý kiến cho rằng:
“Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội
phạm bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hồn thành.”13
Như vậy, theo pháp luật hình sự Việt Nam, có ba giai đoạn thực hiện tội
phạm gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (hai giai đoạn này được ghi
nhận tại Phần chung BLHS) và tội phạm hoàn thành (quy định tại phần Các tội
phạm BLHS - Các dấu hiệu của tội phạm được quy định ở Phần các tội phạm Bộ
luật hình sự phản ánh tội phạm hoàn thành). Với quy định này, cho phép xác
định mức hình phạt áp dụng đối với người thực hiện những hành vi chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt cụ thể hơn và quy định tỷ lệ hình phạt tối đa so
với hình phạt có thể được áp dụng trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Việc
quy định các giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở để
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm
tội chưa đạt, phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các mức độ thực hiện tội
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), tlđd (11), tr.182-184.
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), tlđd (11), tr.181; Trần Thị Quang Vinh – Vũ Thị Thúy (2018), Luật
hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.110.
12
13
16
phạm khác nhau. Hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội bao giờ cũng có tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn phạm tội chưa đạt và tội phạm
hoàn thành. Quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là cơ sở để truy
cứu trách nhiệm hình sự, xác định đúng mức nguy hiểm cho xã hội của hành vi
nhằm bảo đảm sự thống nhất chặt chẽ trong quyết định hình phạt một cách công
minh, không để oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội (bao
gồm pháp nhân thương mại) theo đúng cơ sở của trách nhiệm hình sự: "Chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự" (Điều 2 Bộ luật hình sự) và “Mọi hành vi phạm tội do người thực
hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, cơng minh theo đúng pháp
luật” (Điều 3 Bộ luật hình sự).
Khái niệm về giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Trong các giai đoạn thực hiện tội phạm, chuẩn bị phạm tội là bước thứ ba
trong quá trình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý và được pháp luật hình sự Việt
Nam ghi nhận là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm. Giai đoạn
chuẩn bị phạm tội được giới hạn bởi bước biểu lộ ý định phạm tội và giai đoạn
phạm tội chưa đạt. Ở giai đoạn này, hành vi phạm tội đã có những biểu hiện cụ
thể hướng tới việc xâm hại các quan hệ xã hội bằng các hành vi cụ thể mang tính
nguy hiểm, do vậy các quan hệ xã hội đó đã bắt đầu bị đặt vào tình trạng nguy
hiểm. Tức là, hành vi chuẩn bị phạm tội trong một số trường hợp đã có tính nguy
hiểm đáng kể cho xã hội dù ở mức độ hạn chế. Chính vì vậy nó địi hỏi phải có
sự can thiệp của pháp luật ngay từ giai đoạn này và xác định trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội.
Xét theo nghĩa của từ, “chuẩn bị” là làm cho có sẵn cái cần thiết để làm
việc gì.14 Như vậy, chuẩn bị phạm tội có thể được hiểu là tạo ra các điều kiện cần
thiết để thực hiện tội phạm. Theo GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa: “Chuẩn bị phạm
tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần
thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó”15.
Theo tác giả Đinh Văn Quế cho rằng: “chuẩn bị phạm tội là giai đoạn người
phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm
14
15
truy cập ngày 05/11/2020.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), tlđd (7), tr. 162.
17
nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó”16. Như vậy, các tác giả nhìn chung
đều thống nhất về khái niệm giai đoạn chuẩn bị phạm tội, trong đó có ba vấn đề
cần lưu ý như sau: i, Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn thực hiện tội phạm; ii,
Chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện
tội phạm; iii, Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, người phạm tội chưa đắt đầu
thực hiện tội phạm.
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định của BLHS năm 2015, chuẩn bị phạm
tội là tìm kiếm, sửa soạn cơng cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác
để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp
quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299
của BLHS (Điều 14 BLHS năm 2015).
Như vậy, khái niệm chuẩn bị phạm tội theo BLHS 2015 khá tương đồng với
các quan điểm khoa học nêu trên, tuy nhiên có nêu rõ một số dạng hành vi tạo ra
những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm như: tìm kiếm, sửa soạn
công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm
hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm. Khái niệm về chuẩn bị phạm tội tại
khoản 1 Điều 14 BLHS thể hiện chính sách hình sự và đường lối của Đảng và Nhà
nước ta về xử lý tội phạm, là căn cứ pháp lý để xác định trách nhiệm hình sự và
quyết định hình phạt đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội. Đây là căn cứ để
phân hóa trách nhiệm hình sự, để có mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt hợp
lý áp dụng đối với người phạm tội. Tuy nhiên, chuẩn bị phạm tội là trường hợp có
mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với trường hợp phạm tội chưa đạt và tội
phạm hồn thành, vì hành vi chuẩn bị phạm tội chưa trực tiếp xâm hại đến khách
thể của loại tội định thực hiện và chưa thể gây ra được những hậu quả nguy hiểm
cho xã hội. Do vậy, luật hình sự Việt Nam chỉ quy định vấn đề trách nhiệm hình
sự đối với những trường hợp chuẩn bị phạm một tội đã được liệt kê tại Điều 14
BLHS năm 2015. Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định
theo các điều của Bộ luật hình sự về các tội định phạm tương ứng tùy theo tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội
và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.
Đinh Văn Quế (2018), Tìm hiểu chế định chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí
Kiểm sát, số 20-2018; />html, truy cập ngày 05/11/2020.
16
18
Đặc điểm của chuẩn bị phạm tội
Đặc điểm thứ nhất: Chuẩn bị phạm tội tồn tại dưới dạng “hành vi” và thời
điểm sớm nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội là thời điểm người phạm tội đã
bắt đầu có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần nhằm làm cho
việc thực hiện tội phạm được tiến hành thuận lợi và dễ dàng hơn17.
Chúng ta có thể dựa vào đặc điểm này để phân biệt chuẩn bị phạm tội với
các bước trước đó trong q trình thực hiện tội phạm như hình thành ý định
phạm tội hoặc biểu lộ ý định phạm tội. Thông thường một người sau khi có ý
định phạm tội thì sẽ thể hiện ý định đó ra ngồi thế giới khách quan qua các
bước: chuẩn bị phạm tội và thực hiện tội phạm.
Về các dạng hành vi thực hiện trong giai đoạn này: theo khoản 1 Điều 14
BLHS có nêu rõ một số dạng hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc
thực hiện tội phạm như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra
những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội
phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm
a khoản 2 Điều 299 của BLHS.
Công cụ, phương tiện phạm tội là những vật được người phạm tội sử dụng
để thực hiện tội phạm. Ví dụ: xe máy để cướp giật tài sản là phương tiện phạm
tội; dao dùng để giết người là cơng cụ phạm tội,v.v..
Tìm kiếm các cơng cụ, phương tiện phạm tội là dùng các biện pháp có thể
để có được cơng cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm. Tức là người
phạm tội chưa có công cụ, phương tiện phạm tội mà đang thực hiện hành vi để
có được nó. Việc tìm kiếm cơng cụ, phương tiện phạm tội có thể thực hiện bằng
biện pháp hợp pháp (như ra chợ mua dao để đi cướp tài sản,…) hoặc bất hợp
pháp (như mua súng để giết người,…).
Sửa soạn công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm: đây là trường hợp
người phạm tội đã có sẵn cơng cụ, phương tiện rồi tiến hành sửa chữa, thay đổi
kích thước, hình dạng,… cơng cụ, phương tiện đã có sẵn cho phù hợp với việc
thực hiện tội phạm, như lao chùi súng, mài dao,…. Bên cạnh đó, hành vi sửa
soạn cơng cụ và phương tiện phạm tội cũng có thể là hành vi tập sử dụng các
17
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), tlđd (11), tr. 187.
19
cơng cụ, phương tiện đó sao cho chính xác và có hiệu quả cao như tập ném lựu
đạn, tập bắn cung, thử pha chế thuốc độc,… Tất cả hành vi nói trên đều có sự
chuẩn bị rất kỹ lưỡng và rõ ràng để thực hiện hành vi phạm tội.
Trên thực tế hành vi chuẩn bị phạm tội dưới dạng chuẩn bị công cụ,
phương tiện là phổ biến nhất như mua súng để giết người, tìm xe để cướp giật tài
sản, làm chìa khóa vạn năng để trộm cắp tài sản, trộm xe,…
Tạo ra các điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm - thường được
thể hiện qua các hành vi như: nghiên cứu, xem xét địa hình nơi dự định sẽ thực
hiện tội phạm, tìm kiếm đồng bọn, lên phương án thực hiện tội phạm v.v.. Chuẩn
bị phạm tội có thể là hành vi việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội
phạm như: chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm nhằm thực hiện tội
phạm; thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại; loại trừ bớt trở ngại
khách quan để thực hiện tội phạm…
Thành lập, tham gia nhóm tội phạm: Thành lập nhóm tội phạm được hiểu
là hành vi hướng đến việc hình thành, tồn tại và phát triển của nhóm tội phạm.
Tham gia nhóm tội phạm được hiểu là hành vi tự nguyện gia nhập nhóm tội
phạm. Đây là dạng hành vi mới được xem là chuẩn bị phạm tội được bổ sung
vào BLHS 2015. Tuy nhiên, hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm chỉ được
xem là giai đoạn chuẩn bị phạm tội một tội phạm cụ thể khi không thuộc trường
hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều
299 của BLHS.
Thông thường hành vi chuẩn bị phạm tội được thể hiện dưới dạng hành
động, nhưng cũng có khi hành vi chuẩn bị phạm tội được thể hiện dưới dạng
khơng hành động. Ví dụ: Một bảo vệ doanh nghiệp đã cố tình khơng khóa cửa
nhà kho để tạo điều kiện cho đồng bọn đêm đến lẻn vào lấy cắp tài sản doanh
nghiệp, mặc dù anh ta có trách nhiệm khóa cửa sau giờ làm việc.
Đặc điểm thứ hai: Thời điểm muộn nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội
là thời điểm trước lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được
phản ánh trong CTTP hoặc trước lúc người phạm tội bắt tay vào việc thực hiện
những hành vi đi liền trước hành vi khách quan được mô tả trong CTTP.18
18
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), tlđd (11), tr.189.