BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
SOMPHACKDY PHAISENGPHET
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ
NƯỚC CỘNG HỊA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng nghiên cứu
Mã số CN: 8380104
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ NGUYÊN THANH
Họ tên học viên: SOMPHACKDY PHAISENGPHET
Lớp: Cao học Luật, Khóa 30
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.
Các số liệu và tư liệu trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về cơng trình nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
SOMPHACKDY PHAISENGPHET
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Sau Đại học - Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh và sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn TS. LÊ NGUYÊN THANH
tôi đã thực hiện đề tài “Tội trộm cắp tài sản theo Luật hình sự nước Cộng hịa
Dân chủ Nhân dân Lào”.
Để hồn thành luận văn này, tơi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất đến TS. LÊ NGUYÊN THANH
đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn ban Lãnh đạo Tòa án Nhân dân Tối cao nước
CHDCND Lào, Tịa án nhân dân thủ đơ Viêng Chăn, Viện Kiểm sát nhân dân
thủ đô Viêng Chăn cùng bạn bè và gia đình đã động viên, tạo điều kiện và giúp
đỡ tơi trong suốt q trình thực hiện và hồn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,
song thiếu sót là điều khơng thể tránh khỏi. Rất mong nhân được sự đóng góp
của q Thầy, Cơ và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
SOMPHACKDY PHAISENGPHET
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
CHDCND
Cộng hịa Dân chủ Nhân dân
QH
Quốc hội
TAND
Tòa án nhân dân
TCTS
Trộm cắp tài sản
VAHS
Vụ án hình sự
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thực trạng của tình hình tội phạm trộm cắp tài sản giai đoạn
2015 – 2019 trong tình hình tội phạm chung ở CHDCND Lào ................. 36
Bảng 2.2: Hệ số tình hình tội trộm cắp tài sản tại thủ đơ Viêng Chăn ..... 37
Bảng 2.3: Tình hình truy tố và xét xử các vụ án về trộm cắp tài sản tại
thủ đô Viêng Chăn từ năm 2015 - 2019....................................................... 38
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỘI TRỘM
CẮP TÀI SẢN ..................................................................................................... 8
1.1. khái niệm tội trộm cắp tài sản ................................................................ 8
1.2. Dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản ............................................ 12
1.2.1. Dấu hiệu định tội .............................................................................. 12
1.2.2. Dấu hiệu định khung hình phạt......................................................... 15
1.2.3. Hình phạt .......................................................................................... 15
1.3. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm khác ................... 17
1.3.1. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản.... 17
1.3.2. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản .... 17
1.3.3. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản ................. 19
1.4. Quy định của pháp luật hình sự lào về tội trộm cắp tài sản trong các
Bộ luật hình sự .............................................................................................. 19
1.4.1. Tội trộm cắp tài sản theo Bộ luật Hình sự Lào năm 1990 ................ 19
1.4.2. Tội trộm cắp tài sản theo Bộ luật Hình sự Lào năm 2005 ................ 21
1.4.3. Tội trộm cắp tài sản theo Bộ luật hình sự Lào năm 2017 ................. 24
1.5. Pháp luật hình sự một số nước về tội trộm cắp tài sản ....................... 25
1.5.1. Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 ..... 25
1.5.2. Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức ... 28
1.5.3. Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Cơng hịa nhân dân Trung
Hoa ............................................................................................................. 30
1.5.4. Tội trộm cắp tài sản trong Luật hình sự Vương quốc Thái Lan ....... 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.................................................................................. 35
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI
TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC VÀ THỦ ĐÔ
VIÊNG CHĂN................................................................................................... 36
2.1. Khái quát tình hình xét xử tội trộm cắp tài sản trên cả nước và thủ
đô Viêng Chăn trong những năm gần đây .................................................. 36
2.2. Thực tiễn định tội danh tội trộm cắp tài sản ....................................... 38
2.2.1. Thực tiễn định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu thành tội phạm
cơ bản ......................................................................................................... 38
2.2.2. Thực tiễn định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu thành tội phạm
tăng nặng trên địa bàn thủ đô Viêng Chăn ................................................. 42
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản .............. 44
2.4. Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội trộm
cắp tài sản ...................................................................................................... 50
2.4.1. Kết quả đạt được .............................................................................. 50
2.4.2. Những hạn chế .................................................................................. 52
2.4.3. Nguyên nhân của các vướng mắc, hạn chế trong quá trình áp dụng
pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản ................................................... 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.................................................................................. 55
CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG
ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN................. 56
3.1. Các yêu cầu áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản
........................................................................................................................ 56
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội trộm
cắp tài sản ...................................................................................................... 58
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật.................................................. 58
3.2.2.Các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội
trộm cắp tài sản .......................................................................................... 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.................................................................................. 73
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở CHDCND Lào, quyền sở hữu là một quyền con người quan trọng được
quy định và bảo hộ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật ở các lĩnh vực:
hình sự, hành chính, dân sự....
Để bảo vệ quyền sở hữu được ghi nhận trong Hiến pháp, hệ thống pháp
luật Lào đã quy định bảo vệ bằng nhiều ngành luật khác nhau trong đó có luật
hình sự. Trong pháp luật hình sự hiện nay, Bộ luật hình sự năm 2017 có hiệu lực
từ ngày 26/06/2017 cũng bảo vệ sở hữu của các cá nhân, tổ chức khác nhau
thông qua các điều luật tại các Chương khác nhau và tập trung nhất ở Chương II
nhóm V (các tội xâm phạm sở hữu) trong đó có tội trộm cắp tài sản. Các quy
định của BLHS năm 2017 về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp
tài sản nói riêng đã thể hiện vai trị quan trọng của pháp luật hình sự trong việc
bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước, tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp năm
2015 quy định.
Thực tiễn áp quy định của BLHS về tội trộm cắp tài sản trên toàn quốc
cho thấy những bất cập, khó khăn trong việc xác định đối tượng tác động của tội
phạm, một số dấu hiệu định tội, một số tình tiết định khung hình phạt và mức
hình phạt đối với người phạm tội. Trong khi đó, văn bản hướng dẫn áp dụng
pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói
riêng chưa thống nhất; đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có hướng dẫn mới về các
tội này theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2017 dẫn đến thực tế áp dụng
quy định về các tội này còn lúng túng.
Để khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật hình sự và đề
xuất các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự
về tội trộm cắp tài sản trên phạm vi cả nước. Từ những lý do trên mà tác giả xin
chọn đề tài : “Tội trộm cắp tài sản theo Luật hình sự nước Cộng hịa dân chủ
nhân dân Lào” làm luận văn thạc sỹ Luật học.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài được giao, học viên tham khảo khá nhiều cơng trình về
hoặc liên quan đến đề tài, trong số đó có thể kể đến:
2
Nhóm thứ nhất: Các Giáo trình Luật hình sự, sách về Định tội danh của
các cơ sở đào tạo như:
- Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt NamPhần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội;
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt NamPhần Các tội phạm, Nxb Cơng an nhân dân, Hà Nội;
- Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM;
- Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam-Phần Các
tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội; …
Những giáo trình nêu trên có nội dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân
tích các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản, lý luận chung về định tội danh.
Đây là tài liệu quan trọng cho luận văn tham khảo khi nghiên cứu các dấu hiệu
pháp lý, lý luận về định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự
Việt Nam.
Nhóm thứ hai: Các bài viết liên quan đến tội trộm cắp tài sản có thể kể đến:
- Bài viết “Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội "trộm cắp tài
sản" của tác giả Mai Bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân - 5/2005, Số 9;
- Bài viết “Một số vấn đề cần hoàn thiện đối với tội trộm cắp tài sản” của
tác giả Nguyễn Văn Trượng, Tạp chí Tịa án nhân dân, Tịa án Nhân dân tối cao,
2008, Số 4;
- Bài viết “Một số dấu hiệu đặc trưng của tội "trộm cắp tài sản" cần nhận
biết khi định tội danh” của tác giả Trần Mạnh Hà, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, 2007, Số 3 (227);
- Bài viết “Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hồng Đức” của tác giả
Hồng Văn Hùng, tạp chí Luật học, 2006, Số 5;
3
- Bài viết “Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự
Việt Nam” của tác giả Hồng Văn Hùng, Tạp chí Luật học, 2006, Số 7; …
Các bài viết trên có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các dấu hiệu
pháp lý của tội trộm cắp tài sản trong luận văn.
Nhóm thứ ba: Các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ liên quan đến tội trộm cắp tài
sản có thể kể đến:
- Luận văn thạc sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn tỉnh Long An” của tác giả Nguyễn Thị Mộng Thúy, Học viện Khoa
học xã hội, 2013;
- Luận văn thạc sĩ “Tội trộm cắp tài sản do người nước ngoài thực hiện từ
thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Bích Liên, Học viện
Khoa học xã hội, 2016;
- Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
TP. Hồ-Chí Minh” của tác giả Trương Minh Nhàn, Trường Đại học Luật Tp. 2008;
- Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Bình Phước” của tác giả Trần Văn Nhum, Trường Đại học Luật Tp. Hồ
Chí Minh, 2009;
- Luận án tiến sỹ luật học “Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh phòng, chống
tội này ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Văn Hùng, Đại học Luật Hà Nội, 2007 …
Trong thời gian qua, các đề tài liên quan đến tội phạm hình sự nói chung
và các tội xâm phạm sở hữu trong đó có tội trộm cắp tài sản nói riêng tại nước
CHDCND Lào cũng đã có một số đơn vị, cá nhân quan tâm nghiên cứu dưới
nhiều góc độ và mức độ khác nhau. Tuy nhiên những tài liệu tiếng Lào viết về đề
tài này vẫn chưa nhiều, có thể kể đến một số tài liệu sau:
- Giáo trình luật hình sự Lào, phần chung (2005), Nxb Bộ Tư Pháp
Viêng Chăn;
- Giáo trình luật hình sự Lào, phần các tội phạm (2005), Nxb Bộ Tư Pháp
Viêng Chăn;
- Trường Đại học Chăm Pa Sắc, giáo trình tội phạm học (2010), Nxb Bộ
Tư pháp Viêng Chăn;
4
- Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản cơng dân
tại nước Cộng hịa Dân chủ Nhân dân Lào” của tác giả PhạXaySồmBắt
SổmXạNúc, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 2010;
- ViLaXon NamPhone, “Phịng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản công dân
trên địa bàn tỉnh Chăm Pa Sắc nước CHDCND Lào”, Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, 2016;
Các kết quả nghiên cứu về giải pháp hồn thiện pháp pháp luật hình sự về
tội trộm cắp tài sản của các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nêu trên là tài liệu
tham khảo quan trọng cho đề tài luận văn.
Như vậy, qua các cơng trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản trong Luật
hình sự chúng tơi có một số nhận xét sau:
Từ trước đến nay đã có rất nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu về tội
trộm cắp tài sản tuy nhiên những cơng trình khoa học đó chỉ nghiên cứu về tội
trộm cắp tài sản dưới góc độ phạm tội, chỉ có một số ít nghiên cứu về thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự về trộm cắp tài sản. Một số nghiên cứu về việc thực
tiễn áp dụng pháp luật đã nêu được một số vướng mắc ở một số khía cạnh. Chưa
có cơng trình nào nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản dưới góc độ LHS một cách
toàn diện và đầy đủ trong những năm gần đây.
Do đó, đề tài “Tội trộm cắp tài sản theo Luật hình sự nước CHDCND
Lào” được tác giả sử dụng làm Luận văn Thạc sĩ Luật học đối chiếu với các
cơng trình nghiên cứu đã cơng bố trong những năm gần đây liên quan đến đề tài
về tổng thể vẫn cịn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, có giá trị lý luận và
thực tiễn.
Ngồi các cơng trình trên thì đến nay tác giả vẫn chưa thấy cơng trình nào
liên quan đến tội trộm cắp tài sản theo LHS nước CHDCND Lào với số liệu trên
địa bàn thủ đô Viêng Chăn được công bố. Do vậy, việc chọn đề tài “Tội trộm
cắp tài sản theo Luật hình sự nước CHDCND Lào” là khơng có sự trùng lặp về
mặt khoa học với bất cứ cơng trình nào. Những cơng trình nói trên sẽ là nguồn
tài liệu tham khảo quý giá và có ý nghĩa quan trọng giúp học viên hồn thành
luận văn này.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận của LHS và thực tiễn
áp dụng quy định về tội trộm cắp tài sản quy định trong BLHS năm 2005 (có đối
chiếu với BLHS 2017), luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật hình sự trong BLHS Lào và đề xuất những giải pháp bảo đảm áp dụng
đúng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trên tồn quốc nói chung và thủ đơ
Viêng Chăn nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm
vụ chủ yếu sau đây :
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản theo luật
hình sự Lào.
- Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hình sự của CHDCND
Lào và của một số nước về tội trộm cắp tài sản.
- Khảo sát, làm rõ thực trạng áp dụng các quy định luật hình sự về tội trộm
cắp tài sản trên toàn quốc; đưa ra nhận xét, đánh giá về những vướng mắc, bất
cập trong các quy định và thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự về tội
trộm cắp tài sản.
- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện các quy định về tội trộm cắp tài sản
trong Bộ luật hình sự và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp
luật về tội này trên phạm vi cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của Bộ luật hình sự
và của một số nước về tội trộm cắp tài sản và thực tiễn áp dụng tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn thủ đô Viêng Chăn
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung : Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy
định, áp dụng về tội trộm cắp tài sản trong LHS Lào dưới góc độ LHS.
6
- Phạm vi về thời gian : khảo sát thực tiễn áp dụng quy định về tội trộm
cắp tài sản từ năm 2015 đến năm 2019.
- Về địa bàn nghiên cứu : Khảo sát, nghiên cứu thông qua các bản án nổi
bật trên phạm vi cả nước và thủ đô Viêng Chăn
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu Luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như :
- Phương pháp lịch sử: phương pháp này được sử dụng để làm rõ sự hình
thành và phát triển của tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Lào từ sau giải
phóng đất nước đến nay.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp : phương pháp này được sử dụng để
làm rõ tình hình xử lý hình sự đối với tội trộm cắp tài sản.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để làm rõ những
vấn đề chung và những hạn chế, vướng mắc về tội trộm cắp tài sản.
- Phương pháp so sánh: được tác giả sử dụng để làm rõ những điểm giống và
khác nhau giữa tội trộm cắp tài sản với các tội phạm khác có liên quan và đối chiếu
quy định về tội trộm cắp tài sản trong LHS Lào với LHS của một số quốc gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn
về tội trộm cắp tài sản, từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật
hình sự về tội trộm cắp tài sản.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị
cho các cơ quan nhà nước thực hiện việc hoàn thiện hơn quy định về tội trộm
7
cắp tài sản, và góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này.
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được cịn có thể làm tài liệu
tham khảo cho các cơng trình nghiên cứu tiếp theo của chính tác giả và cho
những người có quan tâm trong q trình cơng tác, học tập và nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự nước CHDCND
Lào về tội trộm cắp tài sản.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản
trên phạm vi toàn quốc và thủ đô Viêng Chăn.
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật
hình sự về tội trộm cắp tài sản.
8
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1. khái niệm tội trộm cắp tài sản
Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ chính của
Đảng Nhân dân Cách mạng và nhà nước CHDCND Lào là tiếp tục củng cố giữ
vững nền độc lập dân tộc và lãnh đạo nhân dân các bộ tộc Lào cùng nhau xây
dựng Tổ quốc. Nhưng do ảnh hưởng của chế độ xã hội mà đế quốc Mỹ đã tiến
hành thống trị, tình hình an ninh trất tự xã hội diễn ra phức tạp nhiều loại tội
phạm tiếp tục hoạt động và phát triển, đòi hỏi phải đấu tranh triệt để, bảo vệ
chính quyền vẫn cịn non trẻ và đưa đất nước tiến lên theo con dường đã chọn –
đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước khi có bộ luật hình sự, Chính phủ đã ban hành một số sắc lệnh quy
định về một số hoạt động điều tra, bắt, xử lý tội phạm. Mặc dù các quy định
trong Sắc lệnh này còn đơn giản, nhưng đã tạo nền móng quan trọng đầu tiên cho
cơng tác điều tra, bắt, xử lý tội phạm, trong khi chưa có các văn bản pháp luật cụ
thể đề cập trong các lĩnh vực này.
Do nhu cầu phát triển, ngày 23/12/1989 Luật hình sự của CHDCND Lào
được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 09/01/1990 và lần đầu tiên tội phạm
trộm cắp tài sản được quy định cụ thể, rõ ràng tại Điều 119, mục V, phần các tội
phạm cụ thể.
Ngày 27/10/1999 văn bản hướng dẫn thực hiện Luật hình sự và các hoạt
động điều tra, xử lý tội phạm hình sự nói chung, cũng như đấu tranh phịng,
chống tội trộm cắp tài sản cơng dân nói riêng được ban hành. Do đây là vấn đề
phức tạp, nên chưa thể giải quyết được tất cả những khó khăn, vướng mắc trong
quá trình tố tụng hình sự, đặc biệt trong đấu tranh phịng, chống tội phạm nói
chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng.
Năm 1995 Luật tố tụng hình sự nước CHDCND Lào được ban hành, tạo
khung pháp lý quan trọng trong các hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm.
Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như : Chỉ thị số
19/CP, nghị định 91/CP, số 158/CP của Chính phủ. Chỉ thị số 165/BNV của Bộ
9
trưởng Bộ Nội vụ ( nay là Bộ An ninh ) quy định nhiệm vụ quyền hạn của lực
lượng Cảnh sát trong cơng tác đấu tranh phịng, chống tội phạm ở CHDCND Lào.
Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành, đã tách tội phạm liên quan
đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu thành mục riêng được quy định tại Chương
II nhóm V “ Các tội xâm phạm sỡ hữu ”.
Do vậy trong thực tế các cơ quan chức năng khi tiến hành điều tra, truy tố,
xét xử với loại tội phạm này phải tính lượng tài sản bị chiếm đoạt theo Chương
III Điều 11 của BLHS nước CHDCND Lào năm 2017:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế
độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự an tồn xã
hội, quyền lợi hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tự do, tài sản các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cơng dân”1.
“Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm
cho xã hội không đáng kể mức thiệt hại dưới 1.000.000 kíp thì khơng phải là tội
phạm, trừ trường hợp cướp, cướp giật, tái phạm nguy hiểm”2.
Khái niệm tội phạm phản ánh những đặc điểm cơ bản: tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi và phải
xâm phạm đến các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ.
Tuy đã được luật hóa và sửa đổi bổ sung nhưng những quy định của pháp
luật chưa mô tả rõ hành vi. Trong khi đó chúng ta lại chưa có văn bản hướng dẫn
thi hành dẫn đến có nhiều ý kiến và cách hiểu không thống nhất về khái niệm tội
phạm trộm cắp tài sản cũng như dấu hiệu pháp lý của tội phạm này.
Từ điển Pháp luật hình sự định nghĩa “trộm cắp tài sản là hành vỉ lén lút
chiếm đoạt tài sản đang cỏ người khác quản lý”3
Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) do GS.TSKH.
Lê Cảm chủ biên thì để đưa ra khái niệm trộm cắp tài sản, cần khẳng định tội
Điều 11 khoản 1 BLHS nước CHDCND Lào năm 2017
Điều 11 khoản 2 BLHS nước CHDCND Lào năm 2017
3
Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn (2006), Từ điển Pháp luật hình sự, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 283.
1
2
10
trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, tức là thể hiện
ba bình diện với năm đặc điểm của nó là: bình diện khách quan – tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội; bình diện pháp lý – tội phạm là hành vi trái pháp
luật; bình diện chủ quan – tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi 4..
Theo Ths Đinh Văn Quế thì “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản
của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần
của người quản lý tài sản”5. Theo khái niệm này thì chưa chỉ ra được khách thể
cũng như chủ thể của tội trộm cắp tài sản.
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí
Minh định nghĩa:“Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang
trong sự quản lí của người khác 6.
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội định
nghia:“Tộỉ trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang cỏ chủ..”7.
Qua nghiên cứu, tham khảo một số văn bản liên quan tới pháp luật hình
sự, bình luận, bài viết...v.v. các tài liệu này đều đưa ra các khái niệm khác nhau
để xác định về tội trộm cắp nhưng điều có một nhận định chung là “Dùng thủ
đoạn lén lút, bí mật nhằm định đoạt tài sản của người khác”.
Sau khi nghiên cứu tổng hợp các khái niệm và trên cơ sở Điều 231 BLHS
năm 2017 CHDCND Lào. Mặc dù chưa quy định cụ thể về lượng tài sản bị
chiếm đoạt, nhưng vẫn quy định trộm cắp là hành vi lén lút bí mật để chiếm đoạt
tài sản của người khác. Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn đấu tranh chống loại
tội phạm này có thể nhận diện về tội phạm trộm cắp tài sản như sau :
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút bí mật nhằm chiếm đoạt tài sản đang
thuộc quyền sở hữu, quản lý của người khác mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ
Lê Cảm (2003), Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh, Chương 1, giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.105.
5
Đinh Văn Quế (2003), Thực tiễn xét xử và pháp luật hình sự, Nxb.Đà Nẵng, tr.116.
6
Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tôi phạm), Quyển 1,
Nxb.Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.192.
7
Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập II, NXB Cơng an nhân dân, Hà
Nội, tr.33.
4
11
1.000.000 kíp trở lên hoặc dưới 1.000.000 kíp nhưng tái phạm nguy hiểm về tội
phạm chiếm đoạn tài sản.
Trở lại vấn đề nghiên cứu: Trộm cắp tài sản là một tội danh cụ thể được
quy định trong BLHS năm 2017 CHDCND Lào, tại Phần II “phần các tội phạm
cụ thể, nhóm V”, trong đó xâm phạm sở hữu được hiểu là sở hữu của bất kỳ ai.
Như vậy trộm cắp tài sản trước hết được hiểu là hành vi trộm cắp tài sản
thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của người khác. Hành vi trộm cắp tài sản có
đẩy đủ những dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 231
BLHS năm 2017 CHDCND Lào.
Những thay đổi trên đánh dấu bước phát triển của quá trình lập pháp: Bắt
đầu từ BLHS năm 1990 rồi tới BLHS năm 2005, các hành vi nguy hiểm cho xã
hội đã được pháp luật hóa, thời gian này đất nước đang chuẩn bị bước vào thời
kỳ đổi mới toàn diện, sâu sắc, đã mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế,
đất nước ngày càng phát triển, dân số ngày càng đông, về công tác đấu tranh
chống loại tội phạm xâm phạm tài sản cũng bắt đầu được chú trọng. BLHS năm
2017 mới ra đời thay thế BLHS năm 2005.
Từ những tiếp cận trên có thể nhận thấy những nét đặc trưng của trộm cắp
tài sản là hành vi “lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá
nhân.Tức là về mặt thủ đoạn, kẻ phạm tội phải có hành vi lén lút, bí mật chiếm
đoạt tài sản. Sự lén lút, bí mật này khơng chỉ đối với nạn nhân mà kể cả với
những người xung quanh. Mục đích của kẻ phạm tội là nhằm không để nạn nhân
và những người khác phát hiện được hành vi phạm tội đang xảy ra.
Đối tượng mà bọn tội phạm nhằm để chiếm đoạt đó là tài sản, có thể là
tiền bạc, hàng hóa, đồ trang sức hoặc vật phẩm khác có giá trị và giá trị sử dụng
do người khác quản lý. Người khác quản lý ở đây là các tổ chức, cá nhân thuộc
các thành phần kinh tế được quyền sở hữu cá nhân theo quy định của pháp luật .
Qua phân tích ở trên, theo tác giả : Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút
bí mật đối với người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản đó, do người có
năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
dưới hình thức lỗi cố ý. Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 1.000.000 kíp trở
lên nếu dưới 1.000.000 kíp nhưng gây hậu quả nghiêm trọng và tái phạm nguy
hiểm về tội chiếm đoạt tài sản.
12
1.2. Dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản
Ngày 15/05/2017 Bộ luật hình sự năm 2017 được Quốc hội thơng qua và
có hiệu lực thi hành từ ngày 26/06/2017. Tuy nhiên, khi chưa có hiệu lực, do có
một số điều cần phải bổ sung, hay tách ra thành điều mới. Vì tình hình tội phạm
hóa ngày càng chuyển hóa, biến dạng, phức tạp, pháp luật cũng phải hiện đại hóa
để đấu tranh, phịng ngừa tội phạm cho hợp lý và hiệu quả nhất. Như vậy, BLHS
năm 2017 có hiệu lực từ ngày 26/06/2017 và đang được áp dụng thay BLHS
năm 2005. Ở phần này, Luận văn trình bày dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài
sản (theo qui định tại Điều 119 BLHS năm 2005 và Điềụ 231 BLHS năm 2017)
1.2.1. Dấu hiệu định tội
* Khách thể của tội trộm cắp tài sản.
Khách thể của tội phạm trộm cắp tài sản là quyền sở hữu của tổ chức hay
người khác. Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 231 Nhóm V BLHS
năm 2017, là hành vi xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản. Đó là quan hệ xã hội
mà trong đó quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu được
tơn trọng và bảo vệ. Do đó hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là hành vi
xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản của người khác đều được pháp
luật hình sự bảo vệ gồm: Tài sản của cá nhân và của chủ sở hữu khác. Một trong
những điểm mới của tội trộm cắp tài sản Điều 231 BLHS năm 2017 có sự bổ
sung các cấu thành cơ bản so với luật cũ. Ở tội này, ngoài các dấu hiệu như đã
quy định như trước đây, nay BLHS mới bổ sung thêm dấu hiệu mới trong cấu
thành cơ bản, đó là giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 1.000.000 kíp trở lên.
Nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt nhỏ hơn 1.000.000 kíp thì phải thuộc các trường
hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm
đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản... nhưng chưa được xóa án tích mà
cịn vi phạm về hành vi trộm cắp.
*Mặt khách quan của tộỉ phạm
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm.
Đối với tội trộm cắp tài sản, đây là tội có cấu thành vật chất nên mặt khách quan
của tội phạm bao gồm: Dấu hiệu về hành vi, hấu hiệu hậu quả, mối quan hệ nhân
13
quả giữa hành vi và hậu quả và các dấu hiệu khách quan khác như: Thời gian,
địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội...
Về hành vi khách quan, tội phạm được thực hiện bởi thủ đoạn lén lút, bí
mật chiếm đoạt tài sản của người khác. Một hành vi chiếm đoạt được coi là lén
lút, bí mật nếu được thực hiện bằng những hình thức mà những hình thức đó có
khả năng làm cho chủ tài sản hoặc đang có người quản lý tài sản khơng biết có
hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra. Hành vi “lén lút, bí mật” chiếm đoạt
tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác. Lén lút thực hiện hành vi tức là
che giấu không cho người khác biết việc làm của mình khi thực hiện hành vi
phạm tội. Người phạm tội ln có ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt không để
chủ tài sản biết. Ý thức che giấu hành vi phạm pháp có thể đối với tất cả mọi
người nhưng cũng có thể chỉ đối với chủ tài sản. Ý thức che giấu này có thể là :
Che giấu toàn bộ hành vi phạm tội: là người phạm tội thực hiện hành vi
phạm tội không để cho nạn nhân biết bất cứ thông tin, hành động nào về việc
phạm tội của mình.
Che giấu một phần hành vi: lúc này, người phạm tội chỉ che giấu hành vi
phạm tội của mình, nghĩa là nạn nhân có thể biết tên người phạm tội, mặt người
phạm tội nhưng không hề biết về hành vi người phạm tội thực hiện.
Che giấu tính chất của hành vi phạm tội: là khi người thực hiện hành vi
phạm tội một cách công khai nhưng khơng ai biết đó là hành vi phạm tội.
Về hậu quả: Hậu quả của hành vi trộm cắp tài sản là thiệt hại về tài sản mà
cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Nói chung, tài sản do hành vi trộm cắp gây
ra có thể là tiền, hàng hóa, vật dụng và các giấy tờ có giá trị từ 1.000.000 kíp trở
lên, nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 1.000.000 kíp thì phải thỏa mãn một trong
những điều kiện là : gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc đã bị xử phạt hành chính về
hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án
tích mà cịn vi phạm.
Trong trường hợp một người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều
lần nhưng mỗi lần tài sản có giá trị dưới mức tối thiểu thì để truy cứu trách
nhiệm hình sự và khơng thuộc một trong các trường hợp khác, đồng thời trong
các lần trộm cắp đó chưa lần nào bị xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài
14
sản các lần trộm cắp từ 1.000.000 kíp trở lên thì vẫn xác định đủ yếu tố cấu
thành tội phạm nếu :
- Các vụ trộm cắp tài sản thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về
thời gian.
- Việc trộm cắp tài sản có tính chất chun nghiệp lấy tài sản trộm cắp làm
nguồn sống chính.
- Với mục đích trộm cắp tài sản, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách
quan nên việc trộm cắp phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị
xâm phạm mỗi lần dưới 1.000.000 kíp.
Bởi vì những dấu hiệu này góp phần xác định tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cũng thông qua đó giúp chúng ta xác
định được những nguyên nhân và điều kiện phạm tội để từ đó tìm ra giải pháp
hữu hiệu cho cơng tác đấu tranh phịng, chống tội phạm.
* Mặt chủ quan của tộì phạm.
Khoa học luật hình sự chỉ ra rằng, tội phạm là một thể thống nhất giữa hai
mặt khách quan và chủ quan. Nếu như mặt khách quan là những biểu hiện bên
ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm
tội. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm : Lỗi, mục đích và động cơ phạm tội.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức
cố ý hoặc vô ý. Cũng như các loại tội chiếm đoạt tài sản khác, tội trộm cắp tài
sản trong luật hình sự Lào luôn được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý.
Trong tội trộm cắp tài sản, động cơ và mục đích vụ lợi ln là dấu hiệu
đặc trưng. Động cơ và mục đích vụ lợi được hiểu khơng chỉ trong trường hợp
chiếm lấy tài sản của người khác và biến tài sản đó thành tài sản của mình mà
cịn cả trong trường hợp chuyển tài sản đó cho người khác hoặc nhằm mục đích
khác mà người phạm tội mong muốn. Nhưng động cơ và mục đích phạm tội
khơng phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, trên thực
tế điều tra làm rõ động cơ, mục đích của hành vi trộm cắp tài sản trong những
trường hợp cụ thể có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong đó có tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
15
* Chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,
nhưng không phải thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể
của tội phạm mà chỉ những người ở độ tuổi nhất định và có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự theo luật định.
Đối với tội trộm cắp tài sản, theo quy định của pháp luật hình sự Lào, đây
là tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Vì vậy, người
thực hiện hành vi phạm tội phải đạt từ đủ 18 tuổi trở lên mới phải chịu trách
nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
1.2.2. Dấu hiệu định khung hình phạt
Dấu hiệu định khung hình phạt là dấu hiệu trong luật phản ánh mức độ
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phù hợp với một khung hình
phạt nhất định và là cơ sở pháp lý để định khung hình phạt đối với hành vi đó.
Khung hình phạt là việc một trong những vấn đề quan trọng trong việc thi
hành pháp luật, vì việc định khung hình phạt cũng có tầm quan trọng khơng thể
thiếu so với việc định tội, khung hình phạt vừa mang tính săn đe giáo dục, vừa
thể hiện sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, ai làm người đó chịu và nặng
hay nhẹ dựa vào hậu quả thiệt hại của hành vi đó đối với xã hội.
Định tội và và định khung có mối quan hệ tương tác lẫn nhau khơng thể
tách rời nhau được, ln ln gắn bó và đi cùng nhau thơng qua hoạt động điều
tra tìm ra kẻ phạm pháp thông qua các tang vật, chứng cứ, động cơ, mục đích của
tội phạm; từ đó mới chứng minh được hành vi đó có phạm pháp hay khơng, nếu
có thì tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ ra sao. Muốn trừng trị, răn đe, giáo dục
những người đã vô ý hay cố ý mắc phải sai lầm đi vào con đường tội phạm hãy
quay lưng cho con đường đó và người đang lâm vào hay chưa vào con đường tội
lỗi như thế này bỏ ý định đó, rồi tuân theo pháp luật khiến cho mình thành người
có ích cho xã hội.
1.2.3. Hình phạt
Điều 231 Bộ luật hình sự năm 2017 CHDCND Lào quy định 03 khoản
hình phạt bao gồm :
16
Người nào trộm cắp tài sản của người khác thành tài sản của mình bằng
cách lén lút sẽ bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm hay cải tạo khơng giam giữ và
sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 kíp đến 5.000.000 kíp.
Người nào trộm cắp tài sản bằng cách cạy phá, phá hàng rào, cổng, phá
cửa, tủ... sẽ bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm và sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 kíp
đến 10.000.000 kíp.
Người nào trộm cắp tài sản, có tính tổ chức, hoạt động chun nghiệp
hoặc gây thiệt hại lớn thì bị phạt tù từ 03 năm đến 08 năm và sẽ bị phạt tiền từ
5.000.000 kíp đến 15.000.000 kíp.
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự8
BLHS năm 2017 đã phân hóa các khung hình phạt theo các mức độ khác
nhau. Tuy nhiên, quy định hình phạt tại Điều 231 này vẫn còn nhiều cái bất cập
và chưa thật sự tách bạch, vẫn cịn sự chồng lắp về hình phạt khơng có nói lên về
tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ, mỗi mức độ chỉ nói lên như :
Mức 1 quy định mức cao nhất 03 năm và phạt tiền cao nhất 5.000.000 kíp,
ở mức 2 lại quy định phạt tù thấp nhất 06 tháng, mức 3 quy định mức cao nhất
08 năm và phạt tiền 15.000.000 kíp.
BLHS năm 2017 đã đưa ra các hình phạt như cải tạo khơng giam giữ ở
mức 1 Điều 231 đã thể hiện rõ tính nhân đạo của chính sách hình sự trong BLHS
của CHDCND Lào là tạo cơ hội cho người lầm lẫn mới phạm tội lần đầu có cơ
hội được tự cải tạo, làm lại cuộc đời.
Bên cạnh đó là hình phạt tù có thời hạn cũng được quy định cho chúng ta
thấy thái độ của các nhà làm luật ở CHDCND Lào đối với trộm cắp tài sản.
Mặc dù nó cũng giống như tội phạm khác như cướp tài sản, chiếm đoạt tài
sản nhưng do tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, tội trộm cắp tài sản
chỉ có thể chịu mức hình phạt theo các mức khác nhau: mức 1 cao nhất 03 năm
tù giam, mức 2 cao nhất 05 năm tù giam, mức 3 cao nhất là 08 năm tù giam. Do
vậy, đây chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng theo phân loại tội phạm của BLHS Lào.
8
Điều 231 BLHS nước CHDCND Lào năm 2017
17
1.3. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm khác
1.3.1. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản
Theo quy định tại Điều 240 BLHS năm 2017:
Tội chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình chiếm đoạt tài sản của
người khác do mình tìm được, bắt được, khai thác được hoặc người khác giao
cho mình mà khơng trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc khơng
giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm thì sẽ bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm và
bị phạt tiền từ 1.000.000 kíp đến 5.000.000 kíp.
Trong trường hợp những tài sản đó có giá trị lớn hoặc với số lượng lớn,
người chiếm giữ trái phép bị phạt tù từ một năm đến năm năm và bị phạt tiền từ
1.000.000 kíp đến 5.000.000 kíp 9.
Những điểm khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội chiếm giữ
trái phép tài sản (Điều 240 BLHS Lào năm 2017) như sau:
Thứ nhất, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản đang trong
sự quản lý của người khác, còn đối tượng tác động của tội chiếm giữ trái phép tài
sản là tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý của chủ tài sản như tài sản khơng có
chủ, tài sản đang trong tình trạng khơng nằm trong sự quản lý của chủ tài sản
như tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị giao nhầm..
Thứ hai, hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản của người khác, còn hành vi khách quan của tội chiếm giữ
tái phép tài sản là hành vi cố tình khơng trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý
hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản bị giao nhầm
hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp
hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định
của pháp luật.
1.3.2. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm pháp bằng thủ đoạn gian
dối hoặc thủ đoạn khác khiến cho người quản lý hay chủ tài sản đưa tài sản đó
cho mình.
9
Điều 240 BLHS nước CHDCND Lào năm 2017