HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA LỊCH SỬ ĐẢNG
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945) THÀNH CÔNG ĐÃ ĐƯA VIỆT NAM BƯỚC
SANG KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP MỚI.
TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC BẢO VỆ TỔ QUỐC
HIỆN NAY
Năm thực hiện: 2021
PHẦN A: TRÌNH BÀY VỀ LỊCH SỬ: CÁCH MẠNG
THÁNG 8 NĂM 1945:
I. Bối cảnh lịch sử…………………………………………………………………
4
I. Sự chuẩn bị của Đảng trước Cách mạng
tháng Tám………………………………………………………………………7
III. Diễn biến của Cách mạng Tháng Tám………………………………………….12
III. Nguyên nhân thắng lợi………………………………………………………….13
III. Ý nghĩa lịch sử………………………………………………………………….14
III. Bài học kinh nghiệm……………………………………………………………17
PHẦN B: VẬN DỤNG:
I. Vai trò của thanh niên…………………………………………………………...18
I. Trách nhiệm của sinh viên……………………………………………………....20
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta có trang sử hào hùng đầ tự hào. Để có được ngày hơm nay, khơng thể khơng
kể tới những đóng góp của các bậc cha ơng đi trước đã không tiếc máu xương để giành
lại độc lập tự do cho dân tộc. Trong đó, khơng thể khơng kể tới thắng lợi của Cách mạng
tháng Tám - một cột mốc quan trọng trong những trang sử vàng chói lọi. Bởi những hi
sinh anh dũng aaysm, thể hệ thanh niê, đặc biệt là sinh viên ngày hôm nay lại càng cần
nâng cao ý thức bảo vệ, đóng góp, xây dựng quê hương đất nước
Trong tiểu luận này, em sẽ phân tích thắng lợi của Cách mạng tháng Tám nhằm hiểu rõ
hơn những hi sinh và thành tựu cha ông ta đã đạt được, cùng những bài học quý báu cho
con cháu đời sau. Từ đó, em sẽ đưa ra nhận thức về vai trò của thanh niên và nhiệm vụ
của sinh viên trong thời đại mới để góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp hơn, phát huy
truyền thống hào hùng, vẻ vang của dân tộc.
PHẦN A: TRÌNH BÀY VỀ LỊCH SỬ: CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
Cách mạng tháng 8 là cột mốc lịch sử vẻ vang của dân tộc. Chiến thắng ấy được làm nên
nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và sự chung sức chung lịng của tồn thể nhân dân Việt
Nam.
I.
Bối cảnh lịch sử
Trước hết, để hiểu rõ được Cách mạng Tháng Tám, ta phải đi từ bối cảnh chung của thế
giới và bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ.
Trên thế giới, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối vào đầu 1945.
Thời gian này, Hồng quân Liên Xô đã liên tiếp giành thắng lợi quyết định, từ đó giải
phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin. Chiến tranh kết
thúc ở châu Âu do phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện ngày 9-5-1945. Hồng quân Liên
Xô tấn công quân đội Nhật ngày 8-8-194. Vào ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng
vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng,
theo thỏa thuận, quân đội Anh và Tưởng sẽ tiến vào Đơng Dương để giải giáp qn đội
Nhật. Pháp có ý định vào Đồng minh với mong muốn khôi phục địa vị thống trị của
mình. Mỹ cũng nhân cơ hội đứng sau các thế lực này can thiệp sâu vào Đơng Dương;
những phần tử phản động tìm cách thay thầy đổi chủ, chống phá lại cách mạng.
Còn trong nước ta, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng
cao. Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật tiến hành một cuộc đảo chính nhằm “hất cẳng” Pháp.
Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhanh chóng quyết định phát động một
cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, đư ẩ quyết định thay đổi các hình
thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho phù hợp. Tháng 3-1945, Trung
ương Đảng đưa ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tới
tháng 4-1945, ta quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang trở thành Việt Nam giải
phóng quân. Ngày 16-4-1945, ta tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp, hướng
tới chuẩn bị cho sự thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam.
Đảng ta đã ra quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa Tháng tám năm 1945 khi chiến tranh
thế giới thứ hai sắp kết thúc khơng phải vì ngẫu nhiên hay ăn may mà lo do sự chuẩn bị,
tính tốn kĩ lưỡng.
Thứ nhất, khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra vào năm 1939, Đảng ta đã xác định rằng
tình hình thế giới sẽ có những chuyển biến mau lẹ, khơn lường. Điều này được thể hiện
rõ là ở hội nghị trung ương VI (1939) và được nhấn mạnh hơn qua hội nghị trung ương
VII (1940), Đảng ta xác định, không còn con đường nào khác là đánh đổ thực dân Pháp,
giành độc lập và khẳng định việc thời cơ cách mạng sẽ xuất hiện.
Cũng trong năm 40 đó, phát-xít Ðức tấn cơng nước Pháp, Paris thất thủ và kết quả rơi vào
tay quân Ðức. Còn tại Việt Nam ta, Nhật nổ súng đánh chiếm Lạng Sơn, Nhật - Pháp
tranh giành lẫn nhau quyền lợi ở Đơng Dương. Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc
khẳng định rằng thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về phe dân chủ và nhận định thời cơ giải
phóng dân tộc đang đến rất gần ta, tình thế cách mạng sắp xuất hiện. Vào 1945, trước
những diễn biến mau lẹ và phức tạp của tình hình thế giới cũng như trong nước, ta đã
triệu tập Hội nghị trung ương 8 ở Pác Pó - Cao Bằng, quyết định thành lập Mặt trận Việt
Minh, giương cao ngọn cờ dân tộc. Mọi công tác chuẩn bị của ta về căn cử địa, lực lượng
vũ trang, hậu phương,.. đều được Đảng ta quan tâm, đẩy mạnh hết sức.
Cuối năm 1945, sau thất bại của phát xít Đức, Nhật bị rơi vào thế đơn phương độc mã.
Trong hai ngày 6/8 và 9/8, Mỹ đã cho thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố
lớn của Nhật là Hiroshima và Nagasaki, gây cho Nhật thiệt hại nặng nề. Giữa lúc đó,
8/8/1945, Liên Xơ tun chiến với Nhật và tấn công 70 vạn quân Quan Đông của Nhật ở
Mãn Châu.
Việc Nhật đầu hàng đồng minh đã tạo cho quân ta một thời cơ "ngàn năm có một" bởi vì
qn Nhật ở Đơng Dương đã rệu rã, hoang mang, nao núng như "rắn mất đầu" còn Pháp
thì thất thế.
Khi kẻ thù yếu đi, ta dần mạnh lên khi những chuẩn bị đang được dần hoàn thành, thời
gian khơng cho phép ta kéo dài việc giành chính quyền bởi quân Đồng Minh sẽ kéo vào
nước ta ngay với lí do giải giáp quân Nhật, tiềm tàng nguy cơ ta lại bị phụ thuộc vào các
nước đế quốc như Anh, Mỹ..., Đảng ta đã phát lệnh tổng khởi nghĩa tháng Tám.
Tóm lại, căn cứ vào tình hình cụ thể của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ hai,
với những điều kiện thuận lợi cho ta và bất lợi cho địch, ta đã có được thời cơ để đứng
lên giành lấy chính quyền về tay mình. Việc chọn lựa đúng thời cơ này là một quyết định
vô cùng sáng suốt, nhạy bén, thể hiện rõ năng lực lãnh đạo của Đảng.
II.
Sự chuẩn bị của Đảng trước cách mạng tháng Tám:
Để đánh thắng được những kẻ thù xâm lược lớn mạnh thì ngồi sức mạnh tinh thần,
lịng căm thù giặc và lịng u nước thì cũng cần phải có sức mạnh nhân dân và sự chuẩn
bị chu đáo của lực lượng lãnh đạo. Nếu kết hợp được sức mạnh của các yếu tố đó thì mới
có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh bại được bất cứ kẻ thù xâm lược nào.
Kể từ khi Pháp tiến hành xâm lược nước ta (1858), đã có rất nhiều phong trào đấu
tranh yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản, nhưng đều thất bại bởi
vì các phong trào đó đều khơng có sự chuẩn bị chu đáo về đường lối, cũng như không tập
hợp được lực lượng để phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân. Từ những
kinh nghiệm lịch sử ấy nên ngay từ khi mới ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã rất chú trọng đến sự chuẩn bị chu đáo về đường lối và các nhân tố quan trọng cho
thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, đã được thể hiện bằng sự lãnh đạo tài
tình, đúng đắn, bền bỉ và khoa học của Đảng ta trong suốt tiến trình khởi nghĩa giành
chính quyền cách mạng.
Ngay trong ngày đầu lãnh đạo phong trào Cách mạng, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
đã đưa ra nhận định rằng nếu ta chỉ đấu tranh chính trị hoặc ngược lại thì ta khơng thể
giành được chính quyền từ tay kẻ thù, mà phải kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh
vũ trang. Vì thế, Đảng đã chuẩn bị chu tồn về chủ trương, đường lối; xây dựng lực
lượng chính trị; cũng như củng cố các căn cứ địa cách mạng và xây dựng lực lượng vũ
trang đủ mạnh để có thể vững vàng chiến đấu với kẻ thù. Đảng ta đã mất 15 năm để
chuẩn bị cho chiến thắng của Cách mạng tháng Tám. Sự chuẩn bị chu đáo của Đảng ta là
sự chuẩn bị về những vấn đề sau:
1. Quá trình chuẩn bị về chủ trương, đường lối của Đảng:
Từ những ngày đầu mới thành lập, Đảng đã nêu chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị
với đấu tranh vũ trang, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Quan điểm này đã
thể hiện được sức mạnh của ta ngay ở cao trào cách mạng 1930- 1931 và Xô viết Nghệ
Tĩnh.
Cho tới khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, căn cứ vào sự thay đổi tình hình thế
giới và trong nước thì Đảng ta đưa ra chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Sự
chuyển hướng này đã được thể hiện đầy đủ qua Hội nghị Trung ương VI (11/1939), Hội
nghị Trung ương VII (11/1940), Hội nghị Trung ương VIII (5/1941) với nội dung cốt lõi
là:
Đặt vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách của nhân dân, ta tạm gác
khẩu hiệu ruộng đất dân cày, chỉ tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn Việt gian
phản động, chia lại ruộng đất công, giảm tô, đặt vấn đề khởi nghĩa vũ trang, chuẩn bị về
mọi mặt để tiến tới một cuộc khởi nghĩa vũ trang khi có điều kiện là nhiệm vụ trọng tâm;
tập hợp mọi lực lượng tiêu biểu để thành lập mặt trận chung lấy tên là: “Mặt trận thống
nhất dân tộc phản đế Đông Dương” sau là Việt Nam độc lập Đồng Minh (tháng 5/1941);
phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh dưới những hình thức phù hợp với tình hình;
Cách mạng Việt Nam ta cần phải đoàn kết và quan hệ mật thiết với Cách mạng thế giới.
Chủ trương chỉ đạo chiến lược Cách mạng của Đảng qua các Hội nghị VI, VII, VIII trở
thành “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động và mang ý nghĩa quyết định cho sự thành công
của Cách mạng tháng Tám.
2. Quá trình chuẩn bị, xây dựng lực lượng chính trị
Lực lượng chính trị quần chúng đóng một vai trị quan trọng cho sự thành cơng
của cách mạng tháng Tám. Để có thể xây dựng lực lượng chính trị quần chúng đơng đảo,
mạnh mẽ thì ta cần phải có một đội ngũ cán bộ trung kiên, có lý luận vững vàng để nắm
giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo và liên kết các phong trào đấu tranh. Đây là
những hạt giống đầu tiên tạo nên một hệ thống tổ chức cơ sở Đảng ở khắp các địa
phương trên cả nước. Vì vậy, trong mọi giai đoạn, Đảng ta luôn chú trọng đến công tác
cán bộ để xây dựng lực lượng chính trị quần chúng vững mạnh.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã rất chú trọng xây
dựng lực lượng chính trị. Rất nhiều những thanh niên ưu tú được đưa đi học tập, đào tạo
tại các trường của Quốc tế cộng sản. Nhiều người sau này nắm giữ các chức vụ chủ chốt.
Họ có nhiệm vụ rất quan trọng là truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào trong nước và
trang bị lý luận cách mạng cho các tầng lớp nhân dân.
Thời kỳ 1930-1931, Đảng tập trung xây dựng khối liên minh công- nông. Lực lượng
này trở nên ngày càng đông đảo, có những đóng góp to lớn vào phong trào cách mạng
làm xuất hiện các Xô viết ở Nghệ Tĩnh. Do cịn có những hạn chế cho nên trong thời kỳ
này ta chưa thể liên kết được khối liên minh công - nông với các tầng lớp khác trong xã
hội như: tiểu thương, địa chủ, tiểu tư sản… Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn,
Xôviết Nghệ - Tĩnh đã thể hiện sức mạnh của khối liên minh công - nơng cũng như động
viên họ tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh giành chính quyền.
Ở giai đoạn 1932-1935, phong trào cách mạng tạm đã thời lắng xuống. Dù trong hồn
cảnh nhiều khó khăn nhưng Đảng ta vẫn kiên trì giữ vững đường lối cách mạng. Trong
nhà tù, các chiến sĩ cộng sản vẫn tiếp tục đấu tranh bền bỉ. Bên ngồi nhà tù, các đảng
viên của ta vẫn ln tích cực tuyên truyền vận động nhân dân ủng hộ cách mạng nhằm
phát triển cũng như khôi phục lực lượng và phong trào cách mạng.
Đến những năm 1936 - 1939, cuộc vận động dân chủ diễn ra mạnh mẽ. Đảng ra hoạt
động công khai, đã tập hợp được rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, thắt chặt tình đồn kết
và tinh thần chiến đấu của mọi giai cấp ở mọi miền Tổ quốc. Phong trào cách mạng nổ ra
rộng khắp, dưới nhiều hình thức như: bãi cơng, biểu tình, bãi thị, bãi khố…
Năm 1941, để có lực lượng chính trị quần chúng hùng mạnh đủ sức chiến thắng kẻ thù,
Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh bao gồm các tổ chức quần chúng có “Hội
cứu quốc”. Việt Minh đã cơng bố tun ngơn, chương trình và điều lệ chính thức gồm 44
điều, về sau được đúc kết thành 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Việt Minh đã
nhanh chóng trở thành nơi tập trung khối đại đồn kết toàn dân, coorr vũ nhân dân trên
mọi miền tổ quốc đứng lên cứu nước, cứu nhà.
3. Xây dựng lực lượng vũ trang
Để giành được chính quyền cách mạng, Đảng ln có chủ trương xây dựng lực
lượng vũ trang, coi lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt sẽ trực tiếp tham gia chiến
đấu, có vị trí quyết định trong sự thành công của cách mạng tháng Tám.
Đầu những năm 1930, lực lượng vũ trang phát triển còn nhỏ lẻ, chưa có tổ chức.
Cho tới 1940, đội du kích Bắc Sơn ra đời trở thành hình mẫu cho sự ra đời của các đội
du kích, lực lượng vũ trang sau này, tiêu biểu là đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
qn do đồng chí Võ Ngun Giáp chỉ huy. Hình thức hoạt động của Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân là vũ trang tuyên truyền, trong đó có sự kết hợp giữa đấu tranh
chính trị với đấu tranh vũ trang và hướng tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Đầu năm 1945 ta đã có đựợc một đội quân chính. Quần chúng nhân dân ủng hộ lực
lượng vũ trang cách mạng, hết mình góp sức vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
4. Xây dựng căn cứ địa cách mạng
Từ kinh nghiệm thực tiến của các phong trào cách mạng 1930- 1931, 1936 - 1939,
Đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm về sự đảm bảo sự an toàn cho các tổ chức, giữ vững
các cơ quan lãnh đạo hoạt động và phát triển liên tục. Căn cứ địa là nơi đóng quân của
lực lượng cách mạng, là nơi đánh địch và rút lui để bảo vệ mặt trận, cũng là nơi cung cấp
sức người và sức của cho cách mạng…Ngay từ khi mới về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã chọn các tỉnh miền núi để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đến 6/1945 khu giải
phóng Việt Bắc ra đời bao gồm: Cao, Bắc, Lạng, Hà, Tuyên, Thái. Dần dần căn cứ địa đã
dần mở rộng ra nhiều nơi.
Bên cạnh đó Đảng ta cịn chú ý đến việc đảm bảo yếu tố thông tin liên lạc dễ dàng
với cách mạng thế giới, đặc biệt là với Liên Xô và Trung Quốc. Vì vậy mà Đảng ta chọn
Việt Bắc làm cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Đó là nơi có địa hình thuận lợi cho
ta, dễ phịng thủ, vị trí lại gần Trung Quốc nên thuận tiện cho việc nhận sự giúp đỡ từ
phía các nước xã hội chủ nghĩa. Vùng giải phóng Việt Bắc tựa như như hình ảnh thu nhỏ
của nước Việt Nam và ngày càng được được mở rộng, làm bàn đạp cho ta tiến sâu xuống
vùng đồng bằng để giải phóng hồn tồn đất nước, đem lại độc lập cho toàn dân tốc.
5. Ta đã dự đoán đúng thời cơ khởi nghĩa
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám thắng có thể nói là nhờ một phần ở sự nhận định về
thời cơ rất chính xác của Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tất cả sự chuẩn
bị của Đảng luôn chu đáo, công phu, bền bỉ, đặc biệt luôn chú ý, nhạy bén đến sự biến
đổi của tình hình thế giới, chỉ chờ cơ hội chín muồi là sẽ phát động tiến hành khởi nghĩa.
Như vậy, cách mạng tháng Tám đã chứng minh rằng Đảng và nhân dân ta đã có sự chuẩn
bị lâu dài, chu đáo, khơng hề có sự “ăn may” như luận điệu xảo trá của các phe phái đối
địch. Cơng cuộc chuẩn bị đó diễn ra suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời. Thắng lợi đó đã
chấm dứt gần 100 năm nước ta chịu sự áp bức bóc lột bất cơng của thực dân Pháp và xoá
bỏ chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, đưa nước ta bước vào một kỷ nguyên
mới, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước tự do, độc lập.
III. Diễn biến của Cách mạng tháng Tám
Khi tin đồn lực lượng quân Nhật sắp đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng
cơ hội này, dân chúng nhiều địa phương đã tụ tập biểu tình, bãi cơng nhiều nơi, và hỗ trợ
nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.
Ngày 13 tháng 8 năm 1945 diễn ra Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào, dưới sự chủ trì
của Hồ Chí Minh với sự tham gia của Trường Chinh (chủ tọa), Hoàng Quốc Việt,
Nguyễn Lương Bằng đã đưa ra nhận định rằng, điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín
muồi, ta chuẩn bị lãnh đạo tồn dân khởi nghĩa. Ta thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn
quốc gồm: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh
Nghị.
Ngày 16 tháng 8, một số cán bộ Đảng Cộng sản và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh
khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và thấm nhuần chỉ thị "Nhật - Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta" đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, cuộc khởi
nghĩa lan rộng ra xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng.
Ngày 17 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do Võ Nguyên
Giáp chỉ huy từ Tân Trào (Tuyên Quang) kéo về thị xã Thái Nguyên bao vây, tấn công
quân Nhật.
*Tổng khởi nghĩa Hà Nội
Sáng ngày 19 tháng 8, ở Hà Nội và các tỉnh lân cận, hàng chục vạn người dân theo các
ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh
lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng, với sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ
chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra.
*Diễn biến tại Huế
Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh ra mắt quốc
dân, nhưng cuộc mít tinh mau chóng đã trở thành cuộc tuần hành nhằm ủng hộ lực lượng
Việt Minh. Vào 23/8, cuộc khởi nghĩa ở Huế giành thắng lợi. Chỉ đạo của cuộc khởi
nghĩa là Nguyễn Chí Thanh và Tố Hữu.
* Diễn biến tại miền Nam
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh và Thanh niên Tiền phong đã tổ chức biểu tình và
giành chính quyền tại Sài Gịn. Chỉ đạo nổi dậy ở nội thành là nhóm Việt Minh Tiền
phong với sự chỉ đạo của Trần Văn Giàu.
Cho tới ngày 30 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền tồn quốc. Hai tỉnh giành
được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.
IV. Nguyên nhân thắng lợi
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công nhờ nguyên nhân. Trong đó nguyên nhân
quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định chính là sự lãnh đạo đúng đắn, khéo léo, sáng
suốt, của Đảng ta; là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ
thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập và vô cùng sáng tạo. Đảng đã đưa ra những
phương pháp, chiến lược, chiến thuật phù hợp, linh hoạt với thực tiễn, đồng thời nhận
thức được thời cơ và đã chủ động chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa để giành chính
quyền trong cả nước.
Cách mạng tháng Tám thành cơng cịn là nhờ có tinh thần u nước, đồn kết, ý chí quật
cường của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, ta không chịu sống mãi kiếp nô lệ của người
dân mất nước mà đã một lòng đi theo Đảng, trai qua các các cuộc tổng diễn tập, quyết
vùng lên giành độc lập cho dân tộc. Dân tộc ta anh dũng trải qua 15 năm đấu tranh gian
nan nhưng không kém phần vẻ vang, anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết
bao đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh oanh liệt vì mục tiêu cao cả đó là giành lại độc lập dân
tộc.
Ngoài ra, cuộc cách mạng Tháng Tám được tiến hành khi bối cảnh quốc tế có những
thuận lợi nhất định. Chủ nghĩa phát xít Đức, Nhật, Ý bại trận và phong trào đấu tranh giải
phóng tại các dân tộc bị áp bức, các lực lượng tiến bộ trên thế giới đang phát triển mạnh.
Như nếu không có tầm nhìn bao qt và sự dẫn dắt tài tình của Đảng, cũng như khơng có
tinh thần đồn kết, quyết tâm đấu tranh của nhân dân cả nước thì ta không thể chớp lấy
thời cơ, tổng khởi nghĩa giành độc lập
V. Ý nghĩa lịch sử
Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được coi là là thắng lợi vĩ đại đầu
tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo. Cuộc Cách mạng đã mở ra bước ngoặt vĩ
đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân dân giành được chính quyền, nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam. Nhân
dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, vương lên làm
chủ vận mệnh của mình. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nước ta vươn lên trở
thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam vươn lên trở thành
Đảng cầm quyền. Kể từ đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng tháng Tám còn là biểu trưng cho thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin được
vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; cũng là là thắng lợi
của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với
chủ nghĩa xã hội và gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây cịn là q trình
phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc, thể hiện đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh to
lớn của cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hịa quyện với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại.
Đồng thời, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc thực dân áp bức, thống trị. Điều đó khẳng định
rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của
giai cấp công nhân lãnh đạo cịn có thể thành cơng ở ngay một nước thuộc địa nửa phong
kiến lạc hậu, dẫn đường đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm nên cuộc hồi sinh cho cả dân tộc
và cho nền độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc. Đó là một nền độc lập, tự chủ vô cùng
quý giá mà nhân dân ta đã giảnh được sau đêm trường nô lệ đau thương và tủi nhục.
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã trả lại cho đất nước ta nền tự do, độc lập mà dân tộc
ta có quyền được hưởng, từ đó ta mở ra một thời kỳ mới, lập nên những chiến công vĩ
đại, lừng lẫy năm châu. Bên cạnh đó, Cách mạng Tháng Tám còn mở ra thời cơ, điều
kiện cho các nước láng giềng Lào, Cam-pu-chia đấu tranh giành lấy độc lập, tự do cũng
như khẳng định con đường phát triển tự chủ, tự cường cho dân tộc mình.
Cách mạng Tháng Tám được coi như một cuộc hồi sinh của tinh thần yêu nước quật
khởi, gắn liền với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nằm dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, Cách
mạng Tháng Tám đã làm sống lại sức mạnh như “sức nước” của nhân dân ta trong cuộc
kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi hay tinh thần Hội nghị Diên Hồng trong cuộc
chiến chống quân Nguyên dưới triều nhà Trần. Đảng ta đã tổ chức ra Mặt trận dân tộc
thống nhất, củng cố tinh thần đại đoàn kết toàn dân. Sức mạnh ấy sẽ còn được lớp lớp thể
hệ phát huy, từ đó trở thành một động lực mạnh mẽ cho những chiến công vĩ đại trong
các cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ đất nước, cũng như trong công cuộc đổi
mới, xây dựng và phát triển đất nước trở nên hùng cường.
Cách mạng Tháng Tám còn làm nên cuộc hồi sinh lớn của nhân dân, của con người Việt
Nam. Cách mạng Tháng Tám đã đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân thật sự của đất nước,
làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, bình đẳng
như bất kỳ một dân tộc văn minh, tiến bộ nào khác. Từ Cách mạng Tháng Tám, nhân dân
Việt Nam ta đã cùng đất nước mình đã bước lên vũ đài chính trị thế giới với một vị thế
mới đầy tự hào, vẻ vang.
Cách mạng Tháng Tám là khởi đầu cho cuộc hồi sinh của văn hóa dân tộc. Với mục đích
thống trị dân tộc Việt Nam, thực dân Pháp thực hiện các chính sách ngu dân, nhằm ru
ngủ thanh niên, cản trở sự phát triển của văn hóa - xã hội trên danh nghĩa “khai hóa văn
minh” mà dẫn đến thủ tiêu các giá trị văn hóa truyền thống, khuyến khích truyền bá các
giá trị văn hóa mất gốc, ngoại lai, đồi trụy. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đưa tới một
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và cịn khơng ngừng giao lưu,
hội nhập, tỏa sáng trên trường quốc tế.
Đã nhiều năm trôi qua nhưng tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn
cịn ngun giá trị trong thời kì hiện tại, tiếp tục tỏa sáng trong sự nghiệp cách mạng của
nước nhà. Có thể tóm lại rằng, đó chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc, mở ra một
thời đại phát triển rực rỡ với những chiến công oanh liệt, đầy tự hào như chiến thắng
Điện Biên Phủ, đại thắng mùa xn 1975, cùng những thành tựu có tính lịch sử của công
cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, tạo dựng nên tầm vóc, diện mạo của Việt
Nam hôm nay.
VI. Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, ta cần xây dựng có một đảng tiên phong thật sự cách mạng, có thể tiếp thu
được chủ nghĩa Mác - Lênin - đỉnh cao trí tuệ của thời đại, cũng như được tư tưởng Hồ
Chí Minh soi sáng, phải nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng của đất
nước và đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn. Bên cạnh đó, cần có phương pháp,
hình thức đấu tranh phù hợp;, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng đúng
lúc; biết nắm bắt thời cơ, từ đó phát huy được sức mạnh dân tộc cộng hưởng với sức
mạnh thời đại, để dẫn dắt quần chúng nhân dân ta tiến lên giành và giữ chính quyền. Sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nắm giữ vai trò là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi
của cách mạng.
Thứ hai, ta nói tới vấn đề giành và giữ chính quyền. Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng
lực lượng cách mạng, để có được lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo
quần chúng tham gia, góp phần làm thay đổi tương lực lượng giữa ta và địch, nhằm tạo ra
thời cơ cách mạng để đưa cuộc cách mạng đến thành công. Để giữ vững chính quyền,
Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, lấy nhân dân làm gốc, để tạo nên sức
mạnh vật chất và tinh thần cho cuộc đấu tranh thắng lợi với thù trong giặc ngoài. Đảng ta
đã biết kiên quyết dùng bạo lực cách mạng cũng như sử dụng bạo lực cách mạng đúng
lúc, đúng thời điểm để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra nhà nước của dân, do dân và vì
dân.
Thứ ba, là ta cần biết nắm bắt được thời cơ, từ đó đề ra được những quyết định chính xác
và kịp thời. Có thể thấy, nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong việc chọn đúng thời cơ và đưa ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc. Nhờ chọn
đúng thời cơ mà sức mạnh của quân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám được nhân lên
gấp bội. Ta có thể tiến hành tổng khởi nghĩa thành công trong thời gian ngắn ở phạm vi
cả nước.
Thứ tư, đó là bài học về vấn đề xây dựng và sử dụng sức mạnh của một cuộc cách mạng.
Từ việc vận dụng đúng đắng, sáng tạo những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng
ta đã đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, thể hiện trong khẩu hiệu đấu tranh từng
thời kỳ nhằm vận động, tập hợp lực lượng, khơi dậy tiềm năng sáng tạo và tinh thần đấu
tranh của quần chúng khác. Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng - cuộc tổng
khởi nghĩa điển hình cho việc dựa vào sức mạnh của tồn dân, để giành chính quyền một
cách nhanh chóng trong cả nước. Dưới ánh sáng của đường lối cũng như sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, lòng yêu nước và sức mạnh của toàn dân đã được thổi
bùng lên trong Cách mạng Tháng Tám, sau đó tiếp tục được phát huy cao độ trong hai
cuộc kháng chiến lịch sử chống đế quốc xâm lược và trong công cuộc đổi mới đất nước,
xây dựng non sơng gấm vóc ngày nay.
PHẦN B: VẬN DỤNG:
I.
Vai trò thanh niên
Đảng và Nhà nước ta đánh giá rất cao vai trò của thanh niên trong cơng cuộc đổi mới,
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì vậy Đảng ta ln quan tâm chăm lo cho việc
xây dựng và phát huy sức mạnh của các thế hệ thanh niên tham gia vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, điển hình là đội ngũ sinh viên - đội ngũ có độ tuổi tre,
tinh thần hăng hái và nền tảng tri thức vững vàng để góp mình vào cơng cuộc chung của
dân tộc.
Thanh niên chính là là một bộ phận quan trọng của dân tộc, nắm giữ trọng trách là rường
cột của quốc gia. Thanh niên Việt Nam có mạnh thì dân tộc mới mạnh; nằm trong sức
mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên. Trong suốt chiều dài lịch sử , nhiều thế hệ
thanh niên nối tiếp nhau ln nêu cao truyền thống u nước, chí khí anh hùng, bất khuất
của dân tộc, hăng hái đi tiên phong trên mọi lĩnh vực, có nhiều đóng góp to lớn vào sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Ngày nay, trong cơng cuộc đổi mới, đẩy mạnh cơng
nghiệp hố, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tuổi trẻ cả nước đã và đang tiếp tục nỗ lực
gìn giữ, phát huy truyền thống quý báu của các thế hệ cha anh, bắt nhịp nhanh với điều
kiện mới, sự chuyển mình của thời đại mới, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xung
kích, sáng tạo, sẵn sàng có mặt ở mọi nơi khó khăn, gian khổ và sẵn sàng đón nhận nhiệm
vụ mới.
Lịch sử nước ta đã từng ghi lại những trang chói lọi cho tuổi trẻ nước ta; và tiền đồ xán
lạn của dân tộc đang nằm trong tay tuổi trẻ, chờ đón tuổi trẻ nước ta. Đảng ta đã nhiều lần
xác định: Thanh niên nắm giữ vai trò là là lực lượng nòng cốt của dân tộc, là chủ nhân
tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong cơng cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, cũng như
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những chuyển biến phức tạp. Hồ
bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung của thế giới, song đang đứng trước nhiều
trở ngại, khó khăn và các cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhiều xung đột
cục bộ tiếp tục nổ ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, từ đó gây nên sự
gia tăng những mối lo ngại đối với mơi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế.
II.
Trách nhiệm của sinh viên:
Là sinh viên và trong độ tuổi thanh niên, đứng trong hàng ngũ của Đảng, em ý thức được
sâu sắc vai trò quan trọng và nhiệm vụ của thế hệ mình trong cơng bảo vệ Tổ quốc.
Một là, mỗi sinh viên cần rèn luyện cho bản thân nền tảng tri thức vững vàng. Nhờ sự hi
sinh cao cả của ông cha mà nay thế hệ sinh viên có nhiều điều kiện được học tập, phát
triển trong mơi trường lành mành, tiên tiến. Nắm bắt, trân trọng và tận dụng các cơ hội
học tập không chỉ thể hiện lòng biết ơn với thế hệ cha anh đi trước, mà còn mở ra cơ hội
phát triển bản thân, nâng cao đời sống cho cá nhân và cộng đồng. Một sinh vinh có nền
tảng kiến thức vững vàng sẽ cùng đứng vào hàng ngũ của đội ngũ trí thức để kiến tạo đất
nước, cũng như phân biệt được các luận điệu xảo trá của kẻ thù, không bị lôi kéo vào tệ
nạn và những việc bất chính.
Hai là, sinh viên cần rèn luyện cho bản thân một lối sống trong sạch, có đạo đức tốt. Có
thể nói đạo đức là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con người,
một sự điều chỉnh hồn tồn tự nguyện, tự giác, khơng vụ lợi cá nhân. Từ đó, đạo đức
khiến sinh viên sống thiện, sống có ích, cũng như thể hiện bản sắc dân tộc trong quan hệ
quốc tế, là cơ sở để mở rộng giao các giá trị văn hóa của dân tộc ta với các dân tộc khác.
Mỗi cá nhân có đạo đức sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, qua đó thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội. Sinh viên sẽ nhận thấy sâu sắc hơn giá trị và ý nghĩa cuộc
sống, ý thức được giá trị bản thân để không ngừng cố gắng, nỗ lực, sống đẹp, sống có ích.
Ba là, mỗi sinh viên cần rèn luyện cho bản thân tính kỉ luật và tinh thần tự chủ. Tính kỉ
luật giúp sinh viên có thể xác định rõ ràng mục tiêu cần hướng đến, vạch rõ được kế
hoạch và tập trung được nguồn sức mạnh để hồn thành cơng việc, nhiệm vụ một cách
xuất sắc nhất. Có thể nói kỉ luật chính là cầu nối giữa mục tiêu và thành tựu. Tính kỉ luật
giúp sinh viên không bao giờ rời bỏ mục tiêu dù có khó khăn, trở ngại đến mấy. Động
thời với đó, Tự chủ giúp sinh viên giải quyết mọi tình huống trong cuộc sống một cách
đúng đắn, nhận được sự đánh giá cao của mọi người xung quanh về năng lực cũng như
kỹ năng mà bản thân thể hiện. Có tính tự chủ sẽ khiến sinh viên tự tin, mạnh mẽ vượt qua
khó khăn, cám dỗ mà khơng trơng chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của người khác.
Bốn là, bên cạnh việc học tập kiến thức văn hóa, mỗi sinh viên cần tham giác các hoạt
đông ngoại khỏe để nâng cáo trí - lực, trong đó, cần đặc biệt chú ý và năng nổ các hoạt
động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Thơng qua các hoạt động thực tiễn, tổ
chức Đoàn và mặt trận tập hợp đồn kết thanh niên đã và đang khơng ngừng được xây
dựng, củng cố, mở rộng. Đồn đã tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
ngày một trong sạch, vững mạnh. Đã có hàng triệu thanh niên tiên tiến trên khắp Việt
Nam ta được đứng vào hàng ngũ của Đồn, cũng từ đó mà hàng vạn đoàn viên thanh niên
ưu tú được kết nạp vào Đảng. Nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu nhiều thế hệ qua đã
làm nên những thành tích giá trị, ghi tên mình vào bảng vàng trong học tập, làm kinh tế,
lao động sản xuất, trong hoạt động văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật, trong bảo vệ Tổ
quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an tồn xã hội... đã góp phần làm rạng danh thêm
truyền thống vẻ vang và niềm tự hào về thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn cách mạng
mới. Đồn là cái nơi đào tạo ra đội ngũ thanh niên ưu tú, góp sức mình vào đại cuộc của
dân tộc
Năm là, sinh viên cần giữ vững cho mình lịng kiên định, tránh bị các phần tử cực đoan
dắt mũi. Trong thời đại công nghệ số, rất nhiều những kẻ xấu muốn lợi dụng thế hệ trẻ,
lôi kéo bởi những luận điệu xảo trá nhằm mục đích biến thanh niên thành phần tử phản
động, chống đối Nhà nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết dân tộc. Được thừa hưởng sự giáo
dục tận tâm và phát huy được tinh thần tự chủ, nhiều thế hệ sinh viên đã và đang góp
phần vào xây dựng đất nước, tẩy chay, lên án mạnh mẽ những phần tử cực đoan. Tinh
thần ấy cần được phát huy và đẩy mạnh hơn nữa.
Sáu là, trong thời kì hội nhập và phát triển, sinh viên cần tích cực trau dồi, học hỏi những
kiến thức mới, hòa nhập vào xu hướng phát triển chung chung của thế giới nhưng khơng
làm hịa tan bản sắc riêng của dân tộc, đem những kiến thức tiến bộ đó để phát triển chính
mình và xây dựng q hương. Cần kiến quyết nói khơng với các hành vi bảo thủ, chạy
theo xu hướng mà đánh mất gốc gác, cội nguồn dân tộc.
Tóm lại, sinh viên là lực lượng quan trọng trong công cuộc phát triển và bảo vệ dân tộc.
Sinh viên rèn luyện mình tốt mới có thể góp ích cho quốc gia, dân tộc. Vì vậy, mỗi sinh
viên cần đặt ra những mục tiêu cho bản thân, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành
những công dân có ích.
KẾT LUẬN
Có thể thấy, Cách mạng tháng Tám niềm tự hào của dân tộc, là sự hi sinh và đóng góp
của tồn thể dân tộc Việt Nam, từ đó đã mở ra một trang mới cho sự đi lên của dân tộc,
cũng như khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Khơng sự lãnh đạo tài tình của
Đảng, khơng có sự đồn kết của tồn thể nhân dân thì khơng thể có thắng lợi của Cách
mạng tháng Tám. Mà khơng có cách mạng tháng Tám thì khơng thể có nước Việt Nam ta
hơm nay.
Là một sinh viên, em ý thức sâu sắc về vai trò và trách nhiện của thể hệ mình. Mỗi cá
nhân cần ra sức học tập, tiếp thu kiến thức có chọn lọc, rèn luyện ý chí kiên cường và lên
án mạnh mẽ luận điệu xảo trá của kẻ thù để góp cơng góp sức vào sự nghiệp chung của
toàn dân tộc, tiếp nối truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh.
Xin chân thành cảm ơn thầy cô đã đọc bài tiểu luận của em.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Giáo trình Lịch sử Đảng của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Báo Nhân dân
Webste Luật Minh Khuê
Tìm hiểu về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt NAm - NXB Công An Nhân Dân