Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Van hanh sua chua thiet bi lanh 15 1961

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 112 trang )

UBND THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CẦN THƠ

GIÁO TRÌNH
MƠN HỌC: TỔ CHỨC SẢN XUẤT
NGHỀ: VẬN HÀNH SỬA CHỮA THIẾT BỊ LẠNH
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số:
/QĐ-CĐN ngày ….tháng.... năm 2021
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Cần Thơ

Cần Thơ, năm 2021
(Lưu hành nội bộ)



TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thơng tin có thể được phép
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.

LỜI GIỚI THIỆU
Tổ chức Sản xuất là một trong những mô đun cơ sở của nghề Kỹ thuật máy lạnh
và điều hịa khơng khí được biên soạn dựa theo chương trình đã xây dựng và ban hành
của Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ dành cho nghề Vận hành sửa chữa thiết bị lạnh độ
cao đẳng.
Giáo trình được biên soạn làm tài liệu học tập, giảng dạy nên giáo trình đã được
xây dựng ở mức độ đơn giản, dễ hiểu. Trong mỡi bài học đều có ví dụ minh họa và bài
tập tương ứng để áp dụng và làm sáng tỏ phần lý thuyết.
Khi biên soạn, chúng tôi đã dựa trên kinh nghiệm thực tế giảng dạy, tham khảo


đồng nghiệp, tham khảo các giáo trình hiện có và cập nhật những kiến thức mới có liên
quan để phù hợp với nội dung bài học và phù hợp với mục tiêu đào tạo, nội dung được
biên soạn gắn với nhu cầu thực tế.
Nội dung giáo trình được biên soạn bao gồm có 8 chương với thời lượng 45 tiết.
Chương 1: Quản trị sản xuất và vai trò, nhiệm vụ của người quản trị trong chức
năng sản xuất.
Chương 2: Cơ cấu tổ chức sản xuất và phân tích môi trường sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và phân tích thị trường
Chương 4: Lập kế hoạch và các phương pháp tổ chức quá trình sản xuất
Chương 5: Xác định địa điểm và Bố trí mặt bằng sản xuất
Chương 6: Quản lý kỹ thuật
Chương 7: Quản lý lao động, thù lao lao động và chất lượng sản phẩm
Chương 8: Các chiến lược sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình sử dụng giáo trình, tùy theo yêu cầu cũng như khoa học và cơng
nghệ phát triển có thể điều chỉnh thời gian và bổ sung những kiến thức mới cho phù hợp.
Sau mỗi chương, chúng tơi có đề ra câu hỏi ơn tập và thảo luận để người học củng cố và
áp dụng kiến thức phù hợp với kỹ năng.
Mặc dù đã cố gắng tổ chức biên soạn để đáp ứng được mục tiêu đào tạo nhưng
không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy
cơ, bạn đọc để chúng tơi thể hiệu chỉnh và hồn thiện hơn.

Cần Thơ, ngày …… tháng ….. năm 2021
Tham gia biên soạn
Chủ biên: Nguyễn Hùng Cường
1


MỤC LỤC
Trang

Tuyên bố bản quyền: …………………………….………..………………………… 01
Lời giới thiệu: …………………………….………………………………………… 01
Mục lục: ………………………………….………………….……………………… 02
Chương 1: Quản trị sản xuất và vai trò, nhiệm vụ của người quản trị trong chức
năng sản xuất……………………………………………….………..……….……… 05
1. Hệ thống sản xuất ……………………………………………….…………….. 05
2. Tố chức sản xuất …………………………………………………...………….. 08
3. Loại hình sản xuất …………………………………………………………….. 11
4. Vai trò của người quản trị trong chức năng sản xuất …………………...…….. 12
Chương 2: Cơ cấu tổ chức sản xuất và phân tích mơi trường sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp …………………………………………………………………… 15
1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp …………………………………………. 15
2. Cơ cấu sản xuất ………………………………………………………………... 17
3. Phân tích mơi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ………………… 20
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và phân tích thị trường……….………….... 27
1. Thị trường, thị trường mục tiêu của doanh nghiệp ……………………………. 27
2. Tiến trình nghiên cứu thị trường ……………………………………………… 30
3. Điều tra thị trường hàng hóa của doanh nghiệp ………………………………. 32
4. Điều tra về thị trường lao động của doanh nghiệp ……………………………. 36
Chương 4: Lập kế hoạch và các phương pháp tổ chức quá trình sản xuất ……... 39
1. Kế hoạch sản xuất ………………………………………………………..…… 39
2. Các phương pháp tổ chức quá trình sản xuất …………………………………. 42
3. Chu kỳ sản xuất ……………………………………………………………….. 45
Chương 5: Xác định địa điểm và Bớ trí mặt bằng sản xuất …………………...…. 49
1. Xác định địa điểm nhà máy …………………………...……………………… 49
2. Bố trí mặt bằng sản xuất ………………………………………………………. 56
Chương 6: Quản lý kỹ thuật …………………………………………………..……. 61

1. Ý nghĩa và nội dung của công tác quản lý kỹ thuật ……………………... 61
2. Kỹ thuật sản phẩm ………………………………………………………. 62

3. Thiết kế chế tạo ………………………………………………………….. 63
4. Bảo trì máy móc thiết bị …………………………………………………. 66
Chương 7: Quản lý lao động, thù lao lao động và chất lượng sản phẩm ………... 71

1. Quản lý lao động ………………………………………………………… 71
2. Định mức lao động ……………………………………………………… 75
3. Công tác tiền lương trong doanh nghiệp ………………………………… 76
2


4. Quản lý chất lượng sản phẩm …………….…………………………….. 79
Chương 8: Các chiến lược sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp ………….… 85
1. Chiến lược sản phẩm ……………..…………………………………………… 85
2. Chiến lược về giá ……………..………………………………………………. 93
3. Chiếc lược phân phối sản phẩm ………………………………………….….. 100
4. Chiến lược chiêu thị ………………………………..………………………... 104
Tài liệu tham khảo ...…………………………………………………….……….… 110

3


CHƯƠNG TRÌNH MƠN HỌC
Tên mơn học: TỔ CHỨC SẢN XUẤT
Mã môn học: MH 24
Thời gian môn học: 45 giờ; (Lý thuyết: 37 giờ; Bài tập: 05 giờ, kiểm tra 03 giờ)
I.
VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MƠN HỌC:
- Vị trí: là mơn học được bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các mơn chun ngành
của nghề.
- Tính chất: là mơn học cơ sở bắt buộc.

II.
MỤC TIÊU MƠN HỌC:
+ Trình bày được những nội dung cơ bản của tổ chức sản xuất và quản trị sản xuất.
+ Lập được kế hoạch sản xuất, bố trí mặt bằng sản xuất.
+ Phân tích và đánh giá được những tác động của mơi trường đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Nắm được những nội dung cơ bản trong tổ chức và quản lý sản xuất: lao động, máy
móc – thiết bị, quy trình cơng nghệ, chất lượng sản phẩm;
+ Tn thủ đúng quy định, quy phạm kỹ thuật trong tổ chức sản xuất.
+ Rèn luyện kỹ năng giao tiếp và tác phong làm việc nghiêm túc.
III. NỘI DUNG MÔN HỌC:

4


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ
CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT
Mã chương: MH 24- 01
Giới thiệu:
Trong hoạt động sản xuất, để sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất đòi hỏi
người quản trị cần phải nắm rõ cách thức tổ chức và quản lý các hoạt động cũng như
cần có những kỹ năng quản trị sản xuất. Quản trị sản xuất bao gồm các hoạt động tồ
chức phối hợp sử dụng các yếu tố đầu vào nhằm chuyển hóa thành kết quả ở đầu ra là
sản phẩm và dịch vụ với chi phí sản xuất thấp nhất và hiệu quả cao nhất.
Mục tiêu:
+ Trình bày được khái niệm sản xuất, hệ thống sản xuất, quan hệ giữa sản xuất và
các chức năng khác, đặc điểm của các loại hình sản xuất.
+ Trình bày được nội dung và yêu cầu của tổ chức sản xuất.
+ Trình bày được vai trò và những kỹ năng cần thiết đối với người quản trị sản xuất.

+ Nâng cao kỹ năng giao tiếp và tác phong công nghiệp cho sinh viên.

1. Hệ thống sản xuất
1.1 Khái niệm sản xuất – hệ thống sản xuất
1.1.1 Khái niệm sản xuất
Sản xuất là khâu mở đầu trong quá trình tái sản xuất xã hội, là khâu trực tiếp tạo
ra của cải vật chất phục vụ cho tiêu dùng. Nó giữ vai trò quyết định đối với tiêu dùng vì
sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, chất lượng của sản xuất
quyết định chất lượng và phương thức tiêu dùng. Thực chất, sản xuất chính là q trình
chuyển hóa các yếu tố đầu vào: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, con người, các yếu
tố kỹ thuật – công nghệ và các nguồn tài nguyên khác để biến chúng thành các sản phẩm,
hàng hóa hoặc dịch vụ ở đầu ra. Mục đích của q trình chuyển hóa này là tạo giá trị gia
tăng để cung cấp cho khách hàng.
Đầu vào
Chuyển hóa
Đầu ra
- Nguồn nhân lực
- Nguyên liệu
- Khoa học, công nghệ
- Làm biến đổi
- Hàng hóa
- Máy móc, thiết bị
- Tăng thêm giá trị
- Dịch vụ
- Tiền vốn
- Nghệ thuật quản trị
Sơ đồ: Quá trình sản xuất
Như vậy, Sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ hay nói cách khác
sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Căn cứ


5


vào quan niệm trên, người ta chia sản xuất thành 3 bậc:
+ Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn
ở dạng tự nhiên như: khai thác quặng mỏ, lâm, thủy - hải sản, trồng trọt,...
+ Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến
các loại nguyên liệu thơ hay tài ngun thiên nhiên thành hàng hóa như: gỗ chế biến
thành bàn ghế, quặng mỏ thành sắt thép… Sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế tạo các
bộ phận cấu thành dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghệ.
+ Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm thỏa
mãn nhu cầu đa dạng của con người. Trong nền sản xuất bậc 3, sản phẩm được tạo ra là
dạng sản phẩm vơ hình: dịch vụ vận tải, bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thơng, ngân
hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, nhà hàng, khách sạn,...
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp hợp lý các yếu tố sản xuất để cung cấp các
sản phẩm, dịch vụ cần thiết cho xã hội. Đó là q trình lao động sáng tạo tích cực của
con người. Trong sản xuất người ta chia quá trình sản xuất thành hai dạng:
- Quá trình tự nhiên: là quá trình mà đối tượng lao động có những biến đổi vật lý,
hóa học, sinh học mà khơng cần có sự tác động của lao động, hoặc chỉ cần tác động ở
một mức độ nhất định.
- Q trình cơng nghệ: là q trình làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất
vật lý, hóa học của đối tượng chế biến chủ yếu dựa vào sự tác động của máy móc và kỹ
thuật cơng nghệ. Q trình này được phân chia thành nhiều giai đoạn căn cứ vào các
phương pháp chế biến, sử dụng máy móc thiết bị khác nhau. Mỡi giai đoạn cơng nghệ
có thể bao gồm nhiều bước cơng việc khác nhau (hay cịn gọi là ngun cơng).
Bước cơng việc: là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất được thực hiện trên nơi
làm việc, do một hoặc một nhóm cơng nhân cùng tiến hành trên một đối tượng nhất định.
Khi xét bước công việc ta phải căn cứ ba yếu tố: nơi làm việc, công nhân, đối tượng lao
động. Chỉ cần thay đổi một trong ba yếu tố đó thì bước cơng việc bị thay đổi.

1.1.2 Hệ thớng sản xuất
a. Hệ thống sản xuất chế tạo (Manufacturing Operation):
Hệ thống sản xuất chế tạo làm ra các sản phẩm hữu hình có thể lưu giữ, tồn kho
trong những chừng mực nhất định.
Căn cứ trên phạm vi thời gian mà doanh nghiệp lập kế hoạch lưu giữ tồn kho, có
thể chia hệ thống sản xuất thành 3 loại:
+ Hệ thống sản xuất để dự trữ (Make to stock): hệ thống sản xuất này tạo ra sản
phẩm hoàn chỉnh và đưa vào dự trữ trước khi có đơn hàng. Sản phẩm được tạo ra dựa
trên những tiêu chuẩn, từ những dự đốn hoặc nhu cầu sẵn có trong tương lai.
+ Hệ thống sản xuất theo đơn hàng: hệ thống sản xuất tạo ra sản phẩm khi nhận
được đơn hàng, phục vụ nhu cầu khối lượng nhỏ, sản phẩm đa dạng, không tiêu chuẩn,
theo nhu cầu đơn hàng.

6


+ Hệ thống sản xuất lắp ráp đơn hàng: hệ thống này ở giữa hai loại trên, nó có
thể chủ động tạo ra trước các chi tiết, các kiểu mẫu, các modul tiêu chuẩn, và sẽ lắp ráp
các chi tiết, các modul này theo sự chỉ định của khách hàng khi có đơn hàng.
Ngồi ra, nếu xét theo tính liên tục của hệ thống sản xuất, người ta có thể phân hệ
thống sản xuất thành 2 loại:
+ Hệ thống sản xuất liên tục: là hệ thống sản xuất mà các máy móc, thiết bị các
nơi làm việc được thiết lập dựa trên cơ sở phối hợp một cách hợp lý các bước công việc
để biến đầu vào thành các chi tiết, bộ phận, hay sản phẩm nhất định.
+ Hệ thống sản xuất gián đoạn: là hệ thống sản xuất mà các máy móc thiết bị
được nhóm lại hoặc được tổ chức phù hợp với chức năng hay công nghệ mà nó thực
hiện. Sự khác biệt cơ bản giữa loại hình sản xuất này và sản xuất liên tục là cho phép nó
có khả năng mềm dẻo.
b. Hệ thống sản xuất dịch vụ (Non-Manufacturing Operation):
Hệ thống sản xuất dịch vụ là hệ thống sản xuất tạo ra các sản phẩm vô hình, các

dịch vụ. Hệ thống này có những đặc trưng sau:
+ Sản phẩm khơng tồn kho được.
+ Q trình sản xuất đi đôi với tiêu thụ và sử dụng.
+ Chất lượng sản phẩm chỉ được xác định sau khi đã sử dụng xong sản phẩm đó.
Tuy nhiên, ngày nay có những hệ thống sản xuất vừa tạo ra sản phẩm hữu hình
vừa tạo ra sản phẩm vơ hình. Nhìn chung, dù là hệ thống sản xuất chế tạo hay sản xuất
dịch vụ thì tất cả các doanh nghiệp sản xuất đều có đặc tính chung là:
Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa hay dịch vụ
phục vụ cho nhu cầu đời sống xã hội.
Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất thông qua các nguồn lực đầu vào tác động vào
đối tượng lao động tạo ra sản phẩm
Thứ ba, doanh nghiệp sản xuất có tính tập trung cao đòi hỏi sử dụng nhiều kỹ
thuật sản xuất và lao động trên phạm vi diện tích nhất định để tạo ra khối lượng sản phẩm
đủ lớn đáp ứng cho các nhu cầu đa dạng của con người.
c. Đặc điểm cơ bản của nền sản xuất hiện đại
Sản xuất hiện đại có những đặc điểm làm cho sự thành cơng của doanh nghiệp
sản xuất ngày một lớn hơn:
Một là, sản xuất hiện đại đòi hỏi phải có kế hoạch đúng đắn, có đội ngũ các kỹ
sư, chun gia giỏi, cơng nhân được đào tạo và trang bị hiện đại.
Hai là, nền sản xuất hiện đại quan tâm ngày càng nhiều đến chất lượng.
Ba là, nhận thức con người là tài sản lớn nhất của công ty.
Bốn là, sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí.
Năm là, dựa trên nền tảng của tập trung và chun mơn hóa cao.
Sáu là, thừa nhận về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất.
Bảy là, sự phát triển của cơ khí hóa trong nền sản xuất hiện đại, hệ thống sản xuất
tự động là hướng vươn tới của sản xuất hiện đại.

7



Tám là, ứng dụng máy tính và cơng nghệ thơng tin vào nền sản xuất hiện đại.
Chín là, trong nền sản xuất hiện đại các mơ hình mơ phỏng tốn học ngày càng
được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho các quyết định sản xuất.

1.2 Quan hệ giữa sản xuất và các chức năng khác
Trong một doanh nghiệp, luôn luôn tồn tại nhiều chức năng. Ba chức năng cơ bản
của quản trị doanh nghiệp đó là: chức năng sản xuất; tài chính và marketing. Chức năng
marketing chịu trách nhiệm khám phá, duy trì và phát triển nhu cầu về hàng hóa hay dịch
vụ đối với khách hàng; chức năng sẽ tài chính chịu trách nhiệm về các hoạt động liên
quan đến việc khai thác, tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn; chức năng sản
xuất là một chức năng quan trọng sẽ chịu trách nhiệm tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ cung
cấp cho xã hội. Tất cả số lượng, chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ, cách thức đáp
ứng nhu cầu đều phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống sản xuất.
Trong các doanh nghiệp, chức năng sản xuất thường sử dụng nhiều nhất các nguồn
lực và các tài sản có khả năng kiểm sốt của nó. Qua đó, hệ thống sản xuất cũng làm
phát sinh phần lớn các chi phí. Hiệu quả của hoạt động sản xuất có ý nghĩa quyết định
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong phạm vi nền kinh tế, chức năng sản xuất của các doanh nghiệp đóng vai trò
quyết định trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ để nâng cao mức sống vật chất của
toàn xã hội. Hơn nữa, chức năng sản xuất cũng làm phong phú đời sống tinh thần bằng
việc cung cấp dạng dịch vụ rất đặc biệt đó là thơng tin.
Trên phạm vi thế giới, bằng việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ, các quốc gia đang
ráo riết chạy đua trong quá trình phân chia lại thị trường thế giới. Khả năng sản xuất trên
cả phương diện sản xuất và hiệu quả của nó sẽ là chìa khóa thành cơng của mỡi nước.
Tuy nhiên, chức năng sản xuất không thể tách rời các chức năng khác. Một doanh
nghiệp không thể sản xuất nếu khơng có nguồn nhân lực phục vụ, khơng thể sản xuất
nếu khơng có đủ vốn, máy móc thiết bị, lại càng không thể thiếu vai trò của marketing
trong việc định hướng sản xuất và giải quyết các sản phẩm đầu ra. Các chức năng trong
doanh nghiệp luôn luôn phụ thuộc lẫn nhau, nếu thiếu một trong các chức năng, doanh
nghiệp khó có thể thành cơng. Trên thực tế, việc tách rời các chức năng chỉ để nghiên

cứu song nó cần thiết như nhau, phụ thuộc và có mối quan hệ biện chứng với nhau.

2. Tổ chức sản xuất
1.1 Nội dung của tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất là một trong bốn chức năng cơ bản của quản trị sản xuất (hoạch
định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra) đó là tổng hợp các phương pháp, các thủ thuật kết hợp
các yếu tố của quá trình sản xuất một cách hiệu quả, nhằm tổ chức thực hiện các kế hoạch
sản xuất đã được lập ra. Tổ chức sản xuất nhằm trả lời các câu hỏi:
- Kỳ này ta sản xuất sản phẩm gì? Trả lời câu hỏi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố
đặc biệt là nhu cầu ngắn hạn trên thị trường.
- Sản phẩm được sản xuất ở đâu? (Bộ phận nào; công nghệ nào;), điều này phụ
thuộc vào quy trình cơng nghệ gia cơng sản phẩm.

8


- Ai sẽ sản xuất chúng? (người công nhân nào thực hiện gia công các sản phẩm
khác nhau), điều này phụ thuộc vào lưu lượng công việc tại các nơi làm việc.
- Cần bao nhiêu thời gian để sản xuất chúng? Nó phụ thuộc vào năng suất sản
xuất của máy móc thiết bị, thời gian sản xuất các sản phẩm, hỏng hóc bất thường, thời
gian vận chuyển, thời gian chờ đợi.
Nếu coi tổ chức sản xuất là một trạng thái thì đó chính là các phương pháp, các
thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phân
bố chúng một cách hợp lý về mặt không gian. Nội dung của tổ chức sản xuất gồm:
+ Hình thành cơ cấu sản xuất hợp lý.
+ Xác định loại hình sản xuất cho các nơi làm việc, trên cơ sở đó xây dựng các
bộ phận sản xuất.
+ Bố trí sản xuất nội bộ xí nghiệp.
Nếu xem tổ chức sản xuất như là một quá trình thì đó chính là các biện pháp, các
phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp các hoạt động của bộ phận

sản xuất theo thời gian một cách hợp lý. Nội dung của tổ chức sản xuất sẽ bao gồm:
+ Lựa chọn phương pháp tổ chức quá trình sản xuất.
+ Nghiên cứu chu kỳ sản xuất tìm cách rút ngắn chu kỳ sản xuất.
+ Lập kế hoạch tiến độ sản xuất và tổ chức công tác điều độ sản xuất.
Trong một doanh nghiệp tổ chức sản xuất được thực hiện ở hai cấp độ:
- Tổ chức sản xuất tập trung là xây dựng tiến trình đưa các lơ sản phẩm vào sản
xuất trong các bộ phận sản xuất tuỳ theo quy trình cơng nghệ, năng lực sản xuất của máy
móc thiết bị và dự báo tiêu thụ sản phẩm ngắn hạn.
- Tổ chức sản xuất phân tán là tổ chức sản xuất diễn ra trên các chỗ làm việc, tổ
chức sản xuất phân tán là để thực hiện kế hoạch sản xuất đã được lập ra trong phương
án tổ chức sản xuất tập trung.

2.1 Yêu cầu của tổ chức sản xuất
2.1.1 Bảo đảm sản x́t chun mơn hóa
Chun mơn hóa sản xuất là hình thức phân công lao động xã hội làm cho doanh
nghiệp nói chung và các bộ phận sản xuất, các nơi làm việc nói riêng chỉ đảm nhiệm việc
sản xuất một hay một số ít loại sản phẩm, chi tiết, hay chỉ tiến hành một hoặc một số ít
các bước cơng việc. Chun mơn hóa sản xuất tạo ra:
- Khả năng nâng cao năng suất lao động.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị.
- Khả năng làm giảm chi phí và thời gian đào tạo cơng nhân.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho cơng tác tiêu chuẩn hóa.
- Ứng dụng kỹ thuật hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Việc chun mơn hóa sản xuất phải xác định phù hợp với những điều kiện cụ thể
của doanh nghiệp. Các điều kiện đó là:
- Chủng loại, khối lượng, kết cấu sản phẩm chế biến trong doanh nghiệp.
- Quy mô sản xuất của doanh nghiệp.

9



- Trình độ hợp tác sản xuất giữa các bộ phận.
- Khả năng chiếm lĩnh thị trường, mức độ đáp ứng thay đổi của nhu cầu.
- Chiến lược doanh nghiệp nói chung và chiến lược cạnh tranh, phát triển hệ thống
sản xuất nói riêng.
2.1.2 Bảo đảm sản x́t cân đới
Q trình sản xuất cân đối khi được tiến hành trên cơ sở bố trí hợp lý, kết hợp
chặt chẽ ba yếu tố của sản xuất: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Mối quan
hệ tỷ lệ này nằm trong trạng thái động. Vì vậy một trong số các yếu tố này thay đổi, thì
tất yếu phải xác lập lại mối quan hệ tỷ lệ mới. Các quan hệ cân đối đó bao gồm các quan
hệ tỷ lệ thích đáng giữa khả năng các bộ phận sản xuất, các yếu tố của q trình sản xuất
theo khơng gian và thời gian. Bố trí sản xuất cân đối thường căn cứ vào:
- Khả năng sản xuất của các bộ phận sản xuất chính.
- Khả năng phục vụ có hiệu quả của các bộ phận sản xuất phụ trợ cho q trình
sản xuất chính.
- Quan hệ giữa năng lực sản xuất, số lượng, chất lượng công nhân và số lượng
chất lượng của đối tượng lao động.
2.1.3 Bảo đảm sản xuất nhịp nhàng đều đặn
Sản xuất được coi là nhịp nhàng khi số lượng sản phẩm sản xuất ra trong từng
khoảng thời gian đã quy định phải tương đồng với nhau. Nói cách khác, q trình sản
xuất nhịp nhàng, đều đặn khi hệ thống có thể tạo ra lượng sản phẩm trong mỗi đơn vị
thời gian đều nhau phù hợp với kế hoạch sản xuất. Sự nhịp nhàng của sản xuất chịu sự
tác động của nhiều nhân tố như: công tác chuẩn bị kỹ thuật, kế hoạch hóa sản xuất, kế
hoạch bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, kế hoạch cung ứng vật tư, việc bố trí ca làm việc,
trình độ thao tác của cơng nhân... Nếu mỡi doanh nghiệp có biện pháp thích hợp để thực
hiện phối hợp chặt chẽ các nhân tố này, bảo đảm sản xuất nhịp nhàng sẽ đem lại những
tác dụng lớn đối với doanh nghiệp: giúp doanh nghiệp duy trì các mối quan hệ hợp tác,
củng cố vị trí trên thị trường; đảm bảo huy động tốt nhất các yếu tố sản xuất tránh lãng
phí sức người, sức của do tình trạng khi thì sản xuất cầm chừng, khi thì sản xuất với nhịp
độ căng thẳng. Để đảm bảo tổ chức sản xuất đều đặn nhịp nhàng cần phải:

- Làm tốt công tác lập kế hoạch sản xuất từ dài hạn đến trung hạn.
- Lập kế hoạch tiến độ sản xuất.
- Tăng cường kiểm soát và áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến.
2.1.4 Bảo đảm sản xuất liên tục
Quá trình sản xuất được coi là liên tục khi các bước công việc sau được thực hiện
ngay khi sau khi đối tượng hoàn thành ở bước cơng việc trước, khơng có bất kỳ sự gián
đoạn nào về thời gian. Sản xuất liên tục thể hiện trình độ liên tục của đối tượng lao động
trong quá trình vận động từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác, từ khi còn là nguyên
vật liệu đến lúc trở thành sản phẩm. Để đảm bảo sản xuất liên tục cần phải:
- Đối với nguyên, nhiên vật liệu phải đảm bảo cung ứng liên tục hoặc theo đúng
thời hạn quy định cho nơi làm việc.

10


- Đối với tư liệu lao động phải xây dựng kế hoạch cụ thể về sử dụng, bảo dưỡng,
sửa chữa thiết bị, máy móc.
- Đối với lực lượng lao động, phải xây dựng kế hoạch tận dụng toàn bộ thời gian
lao động, bố trí hợp lý ca làm việc, tổ chức đứng nhiều máy...
Bảo đảm sản xuất liên tục trên cơ sở thực hiện tốt các biện pháp đã nêu sẽ đem
lại những tác dụng to lớn:
+ Tiết kiệm thời gian lao động trong sản xuất.
+ Sử dụng hợp lý công suất và thời gian hoạt động của thiết bị máy móc.
+ Góp phần bảo đảm sản xuất cân đối, nhịp nhàng.
+ Bảo đảm hoàn thành kế hoạch sản xuất với hiệu quả cao.
Các yêu cầu của tổ chức sản xuất có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau,
trong mối quan hệ đó sản xuất liên tục là yêu cầu cao nhất của quá trình sản xuất.

3. Loại hình sản xuất
3.1 Khái niệm

Loại hình sản xuất là đặc tính tổ chức kỹ thuật tổng hợp nhất của sản xuất được
quy định chủ yếu bởi trình độ chuyên mơn hóa của nơi làm việc, chủng loại và tính ổn
định của đối tượng chế biến trên nơi làm việc.
Thực chất, loại hình sản xuất là dấu hiệu biểu hiện trình độ chun mơn hóa của
nơi làm việc. Nó là căn cứ rất quan trọng cho công tác quản lý hệ thống sản xuất hiệu
quả. Hiện nay có thể chia loại hình sản xuất thành các loại như: sản xuất khối lượng lớn,
sản xuất hàng loạt; sản xuất đơn chiếc và sản xuất dự án.

3.2 Đặc điểm các loại hình sản xuất
3.2.1. Loại hình sản x́t khới lượng lớn
Sản xuất khối lượng lớn biểu hiện rõ nhất đặc tính của hệ thống sản xuất liên tục.
Đặc điểm của loại hình sản xuất khối lượng lớn là nơi làm việc chỉ tiến hành chế biến
chi tiết của sản phẩm hay một bước cơng việc của quy trình cơng nghệ chế biến sản
phẩm, nhưng với khối lượng rất lớn.
Với loại hình sản xuất này, người ta sử dụng máy móc thiết bị và dụng cụ chuyên
dùng. Các nơi làm việc được bố trí theo ngun tắc đối tượng. Cơng nhân được chun
mơn hóa cao. Đường đi của sản phẩm ngắn, ít quanh co, sản phẩm dở dang ít. Kết quả
sản xuất được hạch tốn đơn giản và khá chính xác.
3.2.2 Loại hình sản xuất hàng loạt
Trong loại hình sản xuất hàng loạt, nơi làm việc được phân công chế biến một số
loại chi tiết, bước công việc khác nhau. Các chi tiết, bước công việc này thay nhau lần
lượt chế biến theo định kỳ.
3.2.3 Loại hình sản xuất đơn chiếc
Đây là loại hình sản xuất thuộc sản xuất gián đoạn. Trong sản xuất đơn chiếc, các
nơi làm việc thực hiện chế biến nhiều loại chi tiết khác nhau, nhiều bước công việc khác
nhau trong q trình cơng nghệ sản xuất sản phẩm. Mỗi loại chi tiết được chế biến với
khối lượng rất ít, thậm chí có khi chỉ một chiếc. Các nơi làm việc không chuyên môn

11



hóa, được bố trí theo ngun tác cơng nghệ. Máy móc thiết bị vạn năng thường sử dụng
trên các nơi làm việc. Loại hình sản xuất đơn chiếc có tính linh hoạt cao.
3.2.4 Loại hình sản xuất dự án
Sản xuất dự án cũng là một loại sản xuất gián đoạn, nhưng các nơi làm việc tồn
taị trong khoảng thời gian ngắn theo q trình cơng nghệ sản xuất của một loại sản phẩm
hay đơn hàng nào đó. Sự tồn tại của nơi làm việc ngắn, nên máy móc thiết bị, công nhân
thường phải phân công theo công việc, khi công việc kết thúc có thể giải tán lực lượng
lao động này hoặc di chuyển đến các công việc khác.

3.3 Các nhân tớ ảnh hưởng đến loại hình sản xuất
Mỡi loại hình sản xuất có những đặc tính riêng ảnh hưởng lớn đến công tác quản
lý sản xuất. Việc lựa chọn loại hình sản xuất ln chịu ảnh hưởng của các nhân tố có
tính khách quan. Đối với hầu hết các xí nghiệp thì việc xác định loại hình sản xuất phải
căn cứ vào các nhân tố sau:
- Trình độ chuyên mơn hóa của xí nghiệp: một xí nghiệp có trình độ chun mơn
hóa cao thể hiện ở chủng loại sản phẩm nó sản xuất ít và số lượng sản phẩm mỡi loại
lớn. Trình độ chun mơn hóa cịn có thể dẫn tới khả năng tăng cường hiệp tác sản xuất
giữa các xí nghiệp làm giảm chủng loại và gia tăng khối lượng chi tiết bộ phận chế biến
trong xí nghiệp, nâng cao hơn nữa loại hình sản xuất.
- Mức độ phức tạp của kết cấu sản phẩm: sản phẩm có kết cấu phức tạp là sản
phẩm gồm nhiều chi tiết hợp thành, yêu cầu về kỹ thuật cao, quá trình công nghệ gồm
nhiều dạng gia công khác nhau, nhiều bước công việc khác nhau. Sản phẩm càng phức
tạp phải trang bị nhiều máy móc thiết bị, dụng cụ chuyên dùng, vì thế khó khăn trong
việc chun mơn hóa nơi làm việc nâng cao loại hình sản xuất. Sản phẩm càng đơn giản
càng có nhiều khả năng chun mơn hóa nơi làm việc nâng cao loại hình sản xuất.
- Quy mơ sản xuất của xí nghiệp: quy mơ xí nghiệp biểu hiện ở số lượng sản phẩm
sản xuất, số lượng máy móc thiết bị, số lượng cơng nhân…Quy mơ xí nghiệp càng lớn
càng dễ có điều kiện chun mơn hóa các nơi làm việc và bộ phận sản xuất.


4. Vai trò của nhà quản trị trong chức năng sản xuất
4.1 Các kỹ năng cần thiết của người quản trị sản xuất
Vị trí quan trọng của các quản trị viên sản xuất là hoạch định đúng các công việc
và giám sát công việc. Họ hoạt động trong các chức năng: hoạch định, kiểm soát chất
lượng, hoạch định tiến độ và kiểm soát quá trình sản xuất.
Các quản trị viên sản xuất cần có các kỹ năng cơ bản sau:
- Kỹ năng kỹ thuật: bao gồm kỹ năng hiểu biết về quy trình công nghệ và hiểu
biết đầy đủ công việc phải quản trị.
- Kỹ năng làm việc với con người: là những kỹ năng liên quan đến khả năng cùng
làm việc, động viên và điều khiển nhân sự.
- Kỹ năng tư duy: bao gồm những kỹ năng phân tích, phán đốn, tổng hợp để đưa
ra các quyết định, chiến lược đúng đắn.

4.2 Các chức năng quản trị sản xuất
12


* Chức năng hoạch định:
Hoạch định (lập kế hoạch) sản xuất là q trình liệt kê các cơng việc cần phải làm,
xác định các mục tiêu sản xuất cần thực hiện cũng như các phương pháp, biện pháp để
thực hiện các mục tiêu đó.
Nội dung của cơng tác hoạch định bao gồm:
- Lập kế hoạch tổng hợp về sản phẩm hay dịch vụ.
- Xây dựng kế hoạch tiến độ, kế hoạch năng lực sản xuất.
- Lập kế hoạch: bố trí nhà xưởng, máy móc thiết bị, bố trí mặt bằng sản xuất.
- Xây dựng kế hoạch đầu tư mua sắm, trang bị máy móc thiết bị.
- Thiết lập các dự án cải tiến, mở rộng, phát triển sản xuất và các dự án khác.
- Lập kế hoạch phương pháp sản xuất cho mỗi mặt hàng.
- Xây dựng kế hoạch các nguồn lực sản xuất: kế hoạch huy động vốn đầu tư, kế
hoạch thu mua nguyên vật liệu, kế hoạch tuyển dụng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực..

* Chức năng tổ chức:
Tổ chức sản xuất là việc tổ chức các nguồn lực, các biện pháp để thực hiện kế
hoạch sản xuất đã được lập ra. Nội dung của chức năng tổ chức sản xuất gồm:
- Ra quyết định cơ cấu tổ chức của hệ thống sản xuất.
- Thiết kế nơi làm việc, lựa chọn địa điểm sản xuất, bố trí mặt bằng sản xuất.
- Phân công trách nhiệm cho mỗi hoạt động sản xuất.
- Sắp xếp quy trình sản xuất, quy trình cơng nghệ.
- Sắp xếp mạng lưới nhà cung ứng và nhận thầu.
* Chức năng kiểm soát:
Trong chức năng kiểm sốt hệ thống sản xuất có hai nội dung quan trọng nhất là
kiểm tra kiểm soát chất lượng và quản trị hàng tồn kho. Bao gồm:
- So sánh chi phí với ngân sách.
- So sánh việc thực hiện định mức lao động.
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
- So sánh quá trình sản xuất với tiến độ, kế hoạch sản xuất.
- So sánh tồn kho với mức hợp lý.
- Theo dõi, động viên, kích thích sự nhiệt tình làm việc của nhân viên.
* Chức năng lãnh đạo:
- Thiết lập các điều khoản hợp đồng thống nhất.
- Thiết lập các chính sách nhân sự, các hợp đồng lao động.
- Thiết lập các chỉ dẫn và phân công các công việc cần phải làm.

13


CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
Câu 1: Thế nào là sản xuất và quản trị sản xuất? Tại sao nói quản trị sản xuất là
một chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp ?
Câu 2: Trình bày các đặc điểm cơ bản của hệ thống sản xuất hiện đại? Sự khác
biệt giữa hệ thống sản xuất dịch vụ và hệ thống sản xuất chế tạo?

Câu 3 Trình bày đặc tính của các loại hình sản xuất? Các nhân tố ảnh hưởng đến
loại hình sản xuất?
Câu 4: Nhà quản trị có vai trò như thế nào trong chức năng sản xuất? Trình bày
các kỹ năng cần thiết đối với một nhà quản trị doanh nghiệp? Theo anh chị, kỹ năng nào
là quan trọng nhất?

14


CHƯƠNG 2
CƠ CẤU TỔ CHỨC SẢN XUẤT,
PHÂN TÍCH MƠI TRƯỜNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Mã chương: MH 24- 02
Giới thiệu:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh đều chịu sự chi phối ảnh
hưởng của các yếu tố của mơi trường sản xuất kinh doanh. Đó có thể là những ảnh
hưởng tích cực cũng có thể là những ảnh hưởng tiêu cực đe dọa đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi các nhà quản trị cần phân tích kỹ lưỡng các yếu tố
tác động để kịp thời nắm bắt cơ hội hoặc đưa ra các chiến lược, tổ chức sản xuất kinh
doanh hợp lý.
Mục tiêu:
+ Nắm được những khái niệm cơ bản về doanh nghiệp và phân loại được các loại
hình doanh nghiệp.
+ Trình bày được cơ cấu sản xuất và các bộ phận cấu thành cơ cấu sản xuất trong
doanh nghiệp.
+ Hiểu một cách cơ bản về sự tác động của các nhân tố của môi trường kinh doanh
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Rèn luyện kỹ năng giao tiếp và nâng cao tinh thần tác phong công nghiệp của sinh
viên.


1. Khái niệm, phân loại doanh nghiệp
1.1 Khái niệm
Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, mỡi định nghĩa
đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định tùy thuộc vào góc
độ và nội dung tiếp cận của tác giả. Tuy nhiên, theo quan điểm pháp luật thì theo Điều
4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động kinh doanh”.
Như vậy, Doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có
con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch tốn
độc lập, tự chịu trách nhiệm về tồn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do
doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách
thực thi.
Các quy định về tên doanh nghiệp:
- Phải viết và phát âm được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu,
có ít nhất hai thành tố là tên loại hình doanh nghiệp và tên riêng.

15


- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi có thể sử dụng tên riêng bằng
tiếng nước ngồi đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn bộ tên riêng của doanh
nghiệp.
- Có thể sử dụng ngành, nghề kinh doanh, hình thức đầu tư hay yếu tố phụ trợ
khác để cấu thành tên riêng nếu doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh ngành, nghề hoặc
thực hiện các hình thức đầu tư đó.
- Khơng đặt trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký;
- Không sử dụng tên của cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức
chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp để làm một phần hoặc toàn bộ tên riêng

của doanh nghiệp (trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức
đó); khơng được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức
thuần phong mỹ tục của dân tộc và các qui định khác của pháp luật có liên quan.

1.2 Phân loại doanh nghiệp
1.2.1 Xét về dấu hiệu sở hữu, tức là căn cứ vào chủ sở hữu phần vốn thành lập
nên doanh nghiệp, có những loại doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp Nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức do Nhà nước đầu tư
vốn, thành lập từ đó Nhà nước giữ quyền chi phối đối với hoạt động của doanh nghiệp
nhằm tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động cơng ích của doanh nghiệp
và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có
tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do mình quản lý.
- Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp do cá nhân làm chủ. Chủ doanh nghiệp tư
nhân có tồn quyền quản lý, tự chịu trách nhiệm bằng tồn bộ tài sản của mình về mọi
hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tập thể: được hình thành do các thành viên cùng góp tài sản, cơng
sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội: là doanh nghiệp được thành lập
từ nguồn kinh phí của các tổ chức chính trị xã hội.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: là những doanh nghiệp mà nguồn vốn
của doanh nghiệp được hình thành từ tồn bộ hay một phần vốn của nhà đầu tư nước
ngồi tại Việt Nam.
Có thể nói dấu hiệu sở hữu là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất để quyết
định về cấu trúc tổ chức và quản lý của doanh nghiệp.
1.2.2 Xét về số lượng chủ sở hữu đầu tư vốn
- Doanh nghiệp một chủ: là doanh nghiệp chỉ do một chủ duy nhất đầu tư vốn thành
lập. Theo nghĩa này những công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp
tư nhân hay cơng ty Nhà nước là những loại hình doanh nghiệp một chủ.
- Doanh nghiệp nhiều chủ: là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của

các thành viên, thể hiện qua việc cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp, như: công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên hay công ty hợp
danh theo Luật Việt Nam.

16


1.2.3 Căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản của các chủ
thể kinh doanh:
- Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu đầu tư
vốn chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn
đã đầu tư thành lập doanh nghiệp (vốn điều lệ).
- Doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu đầu tư
vốn phải chịu trách nhiệm bằng tồn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của doanh
nghiệp.

1.3 Vai trò của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có vai trò hết sức đặc biệt đối với sự phát triển của xã hội và nền
kinh tế quốc dân.
Đối với xã hội, doanh nghiệp là một chủ thể sản xuất, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ nhu cầu của xã hội, làm thỏa mãn các nhu cầu của con người. Thông
qua việc tác động vào các yếu tố sản xuất: nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu,
máy móc trang thiết bị, con người và các nguồn lực khác doanh nghiệp tổ chức sản xuất
tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa, của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của xã hội
thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Sản xuất ra sản phẩm chỉ là khâu đầu tiên của
quá trình sản xuất. Khi đó, sản phẩm chỉ mới là sản phẩm ở trạng thái khả năng. Thông
qua các hoạt động trao đổi, mua bán, sản phẩm – hàng hóa được các doanh nghiệp tổ
chức dự trữ, phân phối, lưu chuyển từ nơi sản xuất đến thị trường và được đưa vào quá
trình sử dụng (tái sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân). Nhờ đó, sản phẩm được phân bố
rộng rãi, cung – cầu hàng hóa được điều hòa, phục vụ tốt hơn nhu cầu của xã hội.
Đối với nền kinh tế, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo

ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Thơng qua các hoạt động của mình, doanh nghiệp
góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát
triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng thu
ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xố
đói, giảm nghèo... Ngồi ra, Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển
dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ
cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Doanh nghiệp phát triển,
là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững
về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hố các vấn đề xã hội,
chính trị cũng như trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

2. Cơ cấu sản xuất
2.1 Khái niệm và các bộ phận cấu thành
2.1.1 Khái niệm cơ cấu sản xuất
Cơ cấu sản xuất là tổng hợp tất cả các bộ phận sản xuất và phục vụ sản xuất, hình
thức xây dựng các bộ phận ấy, sự phân bố về không gian và mối liên hệ sản xuất giữa
chúng với nhau.

17


Cơ cấu sản xuất là một đặc tính chất lượng của hệ thống sản xuất. Đó chính là cơ
sở vật chất kỹ thuật của một hệ thống sản xuất. Cơ cấu sản xuất cũng thể hiện hình thức
tổ chức của q trình sản xuất sản phẩm, hình thức phân cơng lao động giữa các khâu,
các bộ phận trong hệ thống, nó biểu hiện cụ thể của sự kết hợp các yếu tố sản xuất trong
quá trình tạo ra sản phẩm.
2.1.2 Các bộ phận hình thành cơ cấu sản xuất

Xét vai trò các bộ phận của hệ thống sản xuất trong q trình hình thành sản phẩm,
cơ cấu sản xuất có thể bao gồm các bộ phận sản xuất chính, bộ phận sản xuất phụ, bộ
phận sản xuất phụ trợ, bộ phận phục vụ sản xuất.
- Bộ phận sản xuất chính: là bộ phận trực tiếp chế biến sản phẩm chính của hệ
thống. Đặc điểm cơ bản của bộ phận sản xuất chính là ngun vật liệu mà nó chế biến
trở thành sản phẩm chính của hệ thống.
- Bộ phận sản xuất phụ: là bộ phận tận dụng các phế liệu, phế phẩm của bộ phận
sản xuất chính để tạo ra những sản phẩm phụ khác.
- Bộ phận sản xuất phụ trợ: là bộ phận phục vụ trực tiếp cho sản xuất chính, đảm
bảo cho sản xuất chính có thể tiến hành liên tục, đều đặn.
- Bộ phận phục vụ sản xuất: là bộ phận được tổ chức nhằm thực hiện công tác
cung ứng, bảo quản, cấp phát nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất.
2.1.3 Các cấp của cơ cấu sản xuất
Các cấp của cơ cấu sản xuất chính là sự phân chia cơ cấu sản xuất theo chiều dọc.
Các cấp sản xuất cơ bản trong hệ thống sản xuất, gồm:
Phân xưởng: là đơn vị tổ chức sản xuất cơ bản và chủ yếu trong các xí nghiệp có
quy mơ lớn có nhiệm vụ hồn thành một loại sản phẩm hay hồn thành một giai đoạn
cơng nghệ trong q trình sản xuất sản phẩm.
Ngành: là một đơn vị tổ chức sản xuất trong các phân xưởng có quy mơ lớn, đó
là tổng hợp trên cùng một khu vực nhiều nơi làm việc có quan hệ mật thiết với nhau về
mặt cơng nghệ. Ngành cũng có thể được chun mơn hóa theo đối tượng để tạo ra một
loại sản phẩm, chi tiết nhất định hoặc chun mơn hóa theo cơng nghệ cao bao gồm các
nơi làm việc giống nhau như ngành tiện, ngành phay,…
Nơi làm việc: là phần diện tích sản xuất mà ở đó một cơng nhân (hay một nhóm
cơng nhân) sử dung máy móc thiết bị để hồn thành một hay một vài bước cơng việc cá
biệt trong q trình công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc phục vụ quá trình sản xuất.

2.2 Các nhân tớ ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất
2.2.1 Chủng loại, đặc điểm kết cấu và yêu cầu chất lượng sản phẩm
Nếu chủng loại sản phẩm ít và đơn giản thì cơ cấu sản xuất sẽ đơn giản. Đặc điểm

của kết cấu sản phẩm như số lượng các chi tiết, tính phức tạp của kỹ thuật sản xuất, u
cầu độ chính xác,… có ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất. Sản phẩm có tính cơng nghệ cao
q trình sản xuất đơn giản do đó có thể cơ cấu sản xuất đơn giản hơn.
2.2.2 Chủng loại, khối lượng, đặc tính cơ lý hóa của ngun vật liệu
Nhân tố này trước hết có ảnh hưởng trực tiếp đến bộ phận phục vụ sản xuất. Bởi,
khối lượng chủng loại nguyên vật liệu cần dùng cùng những đặc tính của nó sẽ yêu cầu

18


hệ thống kho bãi, diện tích sản xuất, quy mơ cơng tác vận chuyển thích hợp. Ngồi ra,
chúng cịn có thể ảnh hưởng tới các bộ phận sản xuất chính vì có thể nó sẽ u cầu tổ
chức một cơ cấu sản xuất phù hợp với việc xử lý các ngun vật liệu.
2.2.3 Máy móc, thiết bị cơng nghệ
Việc lựa chọn máy móc thiết bị cơng nghệ có thể bởi các u cầu kỹ thuật, nói
chung, đây khơng phải là nội dung của tổ chức sản xuất. Tuy nhiên, máy móc thiết bị lại
ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất vì việc sửu dụng hiệu quả máy móc thiết bị cần có những
cách thức tổ chức thích hợp.
2.2.4 Trình độ chun mơn hóa và hiệp tác hóa sản x́t
Trình độ chun mơn hóa và hiệp tác hóa sản xuất càng cao thì cơ cấu sản xuất
càng đơn giản. Bởi vì hợp tác hóa sản xuất và chun mơn hóa sản xuất dẫn đến khả
năng giảm chủng loại chi tiết, và tăng khối lượng cơng việc giống nhau, và do đó sẽ có
ít bộ phận sản xuất hơn với trình độ chun mơn hóa cao hơn.

2.3 Phương hướng hồn thiện cơ cấu sản xuất
Một cơ cấu sản xuất được coi là hợp lý khi nó phản ảnh đầy đủ và đúng đắn q
trình sản xuất, những đặc điểm về cơng nghệ chế tạo, quy mơ và loại hình sản xuất. Mặt
khác, nó phải đảm bảo tính hợp lý xét trên cả hai mặt: sắp xếp bố trí các bộ phận sản
xuất trong không gian và mối liên hệ sản xuất giữa chúng trên cơ sở tăng cường chun
mơn hóa và hiệp tác hóa sản xuất. Ngồi ra, cơ cấu sản xuất cũng phải đảm bảo khả năng

nhất định trong quá trình phát triển sản xuất của doanh nghiệp. Hoàn thiện cơ cấu sản
xuất có thể giải quyết theo các cách sau:
2.3.1 Lựa chọn đúng đắn nguyên tắc xây dựng bộ phận sản xuất
Các bộ phận sản xuất trong hệ thống sản xuất có thể xây dựng theo ngun tắc
đối tượng, cơng nghệ hay hỗn hợp.
- Bộ phận sản xuất được xây dựng theo nguyên tắc đối tượng nghĩa là nó chỉ có
nhiệm vụ sản xuất một loại sản phẩm hay chi tiết nhất định. Q trình chế biến của nó,
từ khi đưa nguyên vật liệu sản xuất cho đến khi tạo ra thành phẩm hoàn toàn ở trong một
bộ phận sản xuất.
- Bộ phận sản xuất được xây dựng theo nguyên tắc công nghệ bao gồm các nơi
làm việc giống nhau, bố trí các máy móc thiết bị giống nhau nhằm thực hiện một giai
đoạn công nghệ nhất định. Tên của bộ phận sản xuất thường gọi bằng tên của máy móc
thiết bị.
Hai nguyên tắc xây dựng bộ phận sản xuất trên đều có những ưu điểm, nhược
điểm nhất định. Trong những điều kiện nhất định, chúng ta có thể kết hợp cả hai nguyên
tắc để xây dựng các bộ phận sản xuất theo nguyên tắc hỗn hợp. Điều này cho phép tận
dụng các ưu điểm và loại trừ các nhược điểm của mỗi phương pháp. Bộ phận sản xuất
xây dựng theo nguyên tắc hỗn hợp sẽ gồm một số bộ phận nhỏ tổ chức theo nguyên tắc
đối tượng, còn một số khác lại theo nguyên tắc công nghệ.
2.3.2 Bảo đảm sự cân đối giữa các bộ phận sản xuất: các bộ phận sản xuất
chính với các bộ phận sản xuất phụ trợ và các bộ phận phục vụ sản xuất khác.
Hệ thống sản xuất sản phẩm chủ yếu được tạo ra từ các bộ phận sản xuất chính.
Vì vậy muốn gia tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm phải trông cậy vào bộ

19


phận này. Tuy nhiên, các bộ phận sản xuất phụ trợ và phục vụ ln có tác dụng làm tăng
hiệu quả hoạt động của bộ phận sản xuất chính. Việc mở rộng sản xuất, nâng cao trình
độ của sản xuất chính ln phải chú ý đến mối tương quan phát triển của bộ phận sản

xuất phụ trợ và phục vụ. Điều đó, cho phép sử dụng triệt để khả năng sản xuất của các
bộ phận sản xuất chính, bảo đảm cho quá trình sản xuất liên tục hiệu quả.
2.3.3 Coi trọng bớ trí mặt bằng
Bố trí mặt bằng tạo ra sự hợp lý trong cách sắp xếp bố trí các bộ phận trong không
gian, đảm bảo các mối liên hệ sản xuất chặt chẽ giữa các bộ phận sản xuất, sử dụng hợp
lý, tiết kiệm diện tích sản xuất.
3. Phân tích mơi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Mơi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp tất cả các yếu tố, các lực
lượng bên trong và bên ngồi có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh luôn luôn biến đổi và ẩn chứa nhiều
nguy cơ đe dọa cũng như mang đến những cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì vậy,
phân tích mơi trường kinh doanh nhà quản trị sẽ đánh giá được các điểm mạnh, điểm
yếu của mình cũng như phát hiện được các cơ hội kinh doanh cũng như các đe dọa để
chủ động trong phòng tránh, phát huy thế mạnh và khắc phục thế yếu. Qua đó tăng cường
khả năng cạnh tranh và phát triển thương hiệu của mình.

3.1 Mơi trường vi mơ
Mơi trường vi mô bao gồm các yếu tố và lực lượng có quan hệ trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh và ảnh hưởng đến khả năng phục vụ khách hàng của doanh nghiệp. Môi
trường vi mô bao gồm:
+ Các lực lượng bên trong doanh nghiệp: các bộ phận phòng/ ban, nguồn tài chính,
nguồn nhân lực, cơ sở máy móc, thiết bị, nhà xưởng…
+ Các lực lượng bên ngoài doanh nghiệp: khách hàng, các nhà cung ứng, các đối
thủ cạnh tranh, công chúng trực tiếp.
3.1.1 Khách hàng
Khách hàng là người tiêu thụ hoặc tham gia vào quá trình tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ của doanh nghiệp. Sự tín nhiệm của khách hàng là tài sản có giá trị nhất của doanh
nghiệp. Sự tín nhiệm đó đạt được khi doanh nghiệp biết thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và thị
hiếu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Họ quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu
trên thị trường. Do vậy doanh nghiệp cần hiểu rõ khách hàng của mình để đáp ứng, thỏa

mãn các nhu cầu của họ một cách tối đa nhất.
Thường người ta có thể chia khách hàng thành năm loại thị trường:
- Thị trường người tiêu dùng cuối cùng.
- Thị trường khách hàng doanh nghiệp: mua hàng hóa dịch vụ để gia cơng, chế
biến, sản xuất nhằm mục đích sinh lời.
- Thị trường các nhà bn trung gian: nhà buôn sỉ, nhà buôn lẻ -> phân phối, dự
trữ, đầu cơ để sinh lời.

20


- Thị trường phi lợi nhuận, các cơ quan tổ chức Đảng, Nhà nước: tạo ra dịch vụ
công cộng.
- Thị trường quốc tế: gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà trung gian phân phối
và chính phủ ở nước ngồi.
Nhu cầu, mong muốn, khả năng thanh tốn, mục đích và động cơ mua sắm của
từng loại thị trường khách hàng là khác nhau. Do vậy, khi xây dựng chiến lược kinh
doanh, doanh nghiệp cần xác định được khách hàng mục tiêu của mình là ai, họ có đặc
điểm gì, quy mô nhu cầu hiện tại và tiềm năng của họ như thế nào, nhu cầu và mong
muốn của họ về sản phẩm ra sao, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng,… để
từ đó chủ động ra các chiến lược kinh doanh phù hợp với từng thị trường khách hàng.
3.1.2 Phân tích đới thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh: là những tổ chức, cá nhân có khả năng tranh giành khách
hàng, người cung ứng hoặc các lợi thế về yếu tố sản xuất với doanh nghiệp để nâng cao
vị thế trên thị trường.
Đối thủ cạnh tranh tồn tại dưới hai dạng:
+ Đối thủ cạnh tranh hiện tại: là các doanh nghiệp hiện có mặt trong ngành.
+ Đối thủ tiềm ẩn bao gồm các doanh nghiệp hiện nay không ra mặt cạnh tranh
nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai. Khả năng cạnh tranh của đối thủ tiềm
tàng được đánh giá qua ý niệm " rào cản" ngăn chặn của sự ra nhập vào ngành kinh

doanh. Rào cản này bao hàm ý nghĩa một doanh nghiệp cần phải tốn kém rất nhiều để
có thể tham gia vào một ngành nghề kinh doanh nào đó. Phí tổn này càng cao thì rào cản
càng cao và ngược lại. Các rào cản chính ngăn chặn sự gia nhập.
Chúng ta có thể phân chia cạnh tranh thành các dạng như sau:
- Cạnh tranh giữa các thương hiệu: các đối thủ cùng bán một loại sản phẩm với
cùng mức giá, chỉ khác nhau về nhãn hiệu. Ví dụ: coca cola và pepsico; Uniliver và
P&G; Microsoft và Apple…
- Cạnh tranh về dạng sản phẩm: cạnh tranh giữa các sản phẩm cùng họ do cơng
ty sản xuất. Ví dụ: cạnh tranh giữa các sản phẩm xe máy do cùng hãng Yamaha sản xuất:
sirius, exciter, jupiter, nozza, nouvo…
- Cạnh giữa các sản phẩm thay thế: cạnh tranh giữa các sản phẩm cùng đáp ứng
một loại nhu cầu. Ví dụ: nhu cầu ăn uống, khách hàng có thể lựa chọn ăn cơm hay ăn
phở, ăn cháo hay ăn hủ tiếu, ăn bún…
- Cạnh tranh giữa các nhu cầu. Ví dụ: thay gì khách hàng lựa chọn đi ăn uống,
khách hàng có thể đi shopping, đi karaoke, đi bar hay các dịch vụ khác.
Doanh nghiệp cần nắm được điểm mạnh, điểm yếu của mình cũng như của các đối thủ
cạnh tranh. Từ đó, xác định các đối sách, chiến lược kinh doanh phù hợp để tạo được vị
thế vững mạnh trong mơi trường ngành.
3.1.3 Phân tích các nhà cung ứng và đối tác kinh doanh
Các nhà cung ứng là những tổ chức, cá nhân cung cấp cho doanh nghiệp và các đối
thủ cạnh tranh các nguồn vật tư, nguyên liệu cần thiết để sản xuất ra những sản phẩm,

21


hàng hóa hay dịch vụ nhất định. Những nhà quản trị cần phải chú ý theo dõi và có mối
quan hệ chặt chẽ với các nhà cung ứng đồng thời lựa chọn những nhà cung ứng đáng tin
cậy bởi vì những sự kiện, những thay đổi nhỏ xãy ra trong mơi trường “cung ứng” cũng
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ví dụ: sự tăng giá nguyên vật liệu đầu vào hoặc sự giao hàng chậm trễ của nhà

cung ứng cũng làm hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ của doanh nghiệp bị ảnh
hưởng. Chi phí sản xuất tăng -> giá thành sản phẩm tăng; giao hàng chậm chễ -> làm
mất thiện cảm của khách hàng là điều tất nhiên.
Có thể xem nhà cung cấp như một nguy cơ khi họ đòi nâng giá hoặc giảm chất
lượng sản phẩm cung cấp. Bằng cách đó họ làm cho lợi nhuận của công ty sụt giảm.
Hiểu biết từng nhà cung cấp và có những thơng tin đầy đủ, kịp thời về họ sẽ giúp cho
doanh nghiệp chọn nhà cung cấp đáng tin cậy, tận dụng các cơ hội và có biện pháp thích
nghi để ngăn chặn rủi ro trong kinh doanh.
3.1.4 Phân tích Cơng chúng
Cơng chúng là bất kỳ một nhóm, một tổ chức có mối quan tâm, ảnh hưởng đến
hoạt động của doanh nghiệp. Có thể là hỡ trợ hoặc là chống lại nổ lực của doanh nghiệp
nhằm phục vụ thị trường. Doanh nghiệp cần phân loại công chúng và xây dựng các mối
quan hệ cho phù hợp.
Cơng chúng có ba loại:
- Cơng chúng tích cực: có thiện chí đối với doanh nghiệp.
- Cơng chúng tìm kiếm: giữ thái độ trung lập với các hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải tìm cách thu hút, lơi kéo sự ủng hộ của đối tượng này.
- Cơng chúng phản ứng: nhóm người khơng có thiện chí với doanh nghiệp. Doanh
nghiệp cần phải đề phòng phản ứng của nhóm đối tượng này.
Cụ thể hơn ta có các nhóm:
+ Các tổ chức tín dụng, cơ quan tài chính, ngân hàng, cổ đơng, nhà đầu tư: ảnh
hưởng đến khả năng tập trung huy động vốn của doanh nghiệp.
+ Các cơ quan thông tin đại chúng: báo chí, truyền hình, truyền thanh... Họ đưa
tin tun truyền cho doanh nghiệp chiếm được thiện cảm của xã hội.
+ Các cơ quan chính quyền: thơng qua luật pháp, các cơ quan chính quyền thực
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải chấp hành
nghiêm chỉnh luật pháp, chủ trương chính sách của Nhà nước.
+ Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường: doanh nghiệp cần tránh
sự lên tiếng phản đối của các tổ chức này, vì như vậy sẽ tạo dư luận xấu trong xã hội.
+ Quần chúng đông đảo: họ có thể trở thành khách hàng của doanh nghiệp. Nếu

dư luận của họ với doanh nghiệp xấu thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
kinh doanh. Do vậy, doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi dư luận công chúng về
doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng cần tham gia vào các
hoạt động tài trợ giúp đỡ địa phương để tạo ra hình ảnh tốt đẹp trong mắt cơng chúng.
Các doanh nghiệp cần có bộ phận chuyên phụ trách lĩnh vực quan hệ với công chúng.

22


+ Công chúng nội bộ: là những lực lượng bên trong, là nguồn lực quan trọng của
doanh nghiệp. Họ cần được quan tâm, động viên, đánh giá đúng mức. Họ cũng cần được
thơng tin thường xun về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, được tham gia vào quá
trình xây dựng kế hoạch, quản lý…
3.2 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố, các lực lượng xã hội rộng lớn, như các yếu tố
thuộc về nhân khẩu, kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội… có tác động đến tồn bộ mơi
trường kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp khơng thể kiểm sốt, thay đổi được
các yếu tố của môi trường vĩ mô. Các yếu tố trong môi trường vĩ mô mang lại những cơ
hội mới cũng như các thách thức đối với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp khơng thể
thay đổi được do vậy phải tìm cách thích ứng với nó thì mới có thể tồn tại và phát triển
được.
3.2.1 Nhân khẩu
Nhân khẩu học là một môn khoa học nghiên cứu dân cư và sự phân bố dân cư.
Các yếu tố thuộc về nhân khẩu học như: tình hình phân bố dân cư, cơ cấu tuổi tác, giới
tính, quy mơ gia đình, trình độ học vấn, nghề nghiệp… Các nhà quản lý Marketing rất
quan tâm đến các yếu tố của môi trường nhân khẩu bởi con người hợp thành thị trường
cho các doanh nghiệp. Ở mỗi nhóm yếu tố khác nhau, nhu cầu, quyết định và hành vi
mua sắm là khác nhau. Khi nội bộ mỗi yếu tố có sự thay đổi thì cơ cấu tiêu dùng và nhu
cầu về các hàng hóa, dịch vụ cũng thay đổi theo. Do đó, các doanh nghiệp cũng phải
thay đổi các chiến lược kinh doanh để thích ứng.

3.2.2 Các yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế bao gồm những tác động liên quan đến khả năng chi tiêu của khách
hàng và việc tạo ra những mẫu tiêu dùng khác biệt. Khả năng chi tiêu của khách hàng
ngoài việc phụ thuộc vào nhu cầu và giá cả, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình
kinh tế, mức thu nhập, nhu cầu tiết kiệm và các điều kiện tài chính - tín dụng của người
dân. Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế sẽ tác động trực tiếp đến sức mua và cơ
cấu chi tiêu của người tiêu dùng. Vì vậy, người làm kinh doanh phải theo dõi chặt chẽ
sự biến động của các yếu tố kinh tế, những xu hướng chủ yếu trong thu nhập và các kiểu
chi tiêu của người tiêu dùng để có chiến lược kinh doanh phù hợp với từng điều kiện
kinh tế cụ thể. Đây là những nhân tố có vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có
tính quyết định đến hoạt động kinh doanh của mội doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế
ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường là các giai
đoạn phát triển trong chu kỳ kinh tế, nguồn cung cấp tiền, xu hướng GNP, tỷ lệ lạm phát
hàng năm, lãi suất ngân hàng, chính sách tiền tệ, mức độ thất nghiệp, chính sách kiểm
sốt giá cả, cán cân thanh tốn… Vì các yếu tố này tương đối rộng nên các doanh nghiệp
cần chọn lọc để nhận biết các tác động của nó là cơ hội hay nguy cơ đối với doanh
nghiệp.
3.2.3 Chính phủ và chính trị
Mơi trường chính trị pháp luật có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Bao gồm hệ thống luật, các văn bản dưới luật, chính sách của nhà nước,

23


×