Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

Bài tập môn pháp luật và cơ chế khu vực về quyền con người

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (82.88 KB, 7 trang )

BÀI TẬP
Môn: Pháp luật và cơ chế khu vực về quyền con người

NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CƠ CHẾ THÚC ĐẨY VÀ
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Châu Á nằm phần lớn ở bán cầu Bắc, có diện tích lớn nhất trong các châu
lục trên thế giới. Châu Á là khu vực có dân số đông nhất đồng thời cũng là khu vực
kinh tế có GDP danh nghĩa lớn nhất trên thế giới, đồng thời cũng lớn nhất khi tính
theo sức mua tương đương.
Tuy nhiên về vấn đề nhân quyền thì Châu Á và Thái Bình Dương là những
khu vực duy nhất trên thế giới chưa thiết lập các cơ chế khu vực hợp tác để thúc
đẩy và bảo vệ quyền con người.
Nguyên nhân:
- Châu Á có lịch sử lâu đời với nhiều nền văn minh từ rất sớm, đồng thời
cũng xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, xung đột trong lịch sử. Là nơi khởi nguyên của
các tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo… nên tôn
giáo của Châu Á rất đa dạng. Chính vì những lý do đó đã tạo ra rất nhiều sự khác
biệt về tơn giáo, văn hóa, lịch sử, chính trị là một trong những lý do ảnh hưởng đến
việc thiết lập cơ chế chung về nhân quyền ở Châu Á.
- Sự chênh lệch giữa các nước có dân số đơng và các nước có nền kinh tế
phát triển so với những nước có dân số ít và kém phát triển cũng là nguyên nhân
gây ảnh hưởng.
- Khi so sánh với các cơ chế nhân quyền ở phương Tây thì chúng khơng phù
hợp với các giá trị châu Á, nơi các giá trị cộng đồng được ưu tiên cao hơn, do đó
quyền của các cá nhân sẽ được đặt thấp hơn. Người Á Đơng tin rằng, bất kỳ họ nói
hay làm gì, họ phải nhớ đến quyền lợi của những người khác. Không giống với xã


hội phương Tây, nơi mà một cá nhân đặt những quyền lợi của mình cao hơn của
người khác, trong xã hội Châu Á, cá nhân thường cố gắng cân bằng quyền lợi của
mình với quyền lợi của những người khác hay gia đình và xã hội...


- Việc ưu tiên về việc phát triển kinh tế cao hơn so với các quyền về dân sự,
chính trị như các nước phương Tây do hầu hết các nước Châu Á đều là các quốc
gia đang phát triển.
- Các quyền về kinh tế và xã hội quan trọng hơn và được ưu tiên hơn.
- Các chính phủ ở châu Á vẫn cịn hồi nghi và chưa ủng hộ các tổ chức phi
chính phủ hoạt động về nhân quyền.
Thực trạng:
Châu Á hiện chưa xây dựng được cơ chế nhân quyền liên chính phủ như
nhiều khu vực khác trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều ý tưởng và nỗ lực vận động cho
một cơ chế nhân quyền chung đang được thúc đẩy.
Trong khi chưa có hệ thống nhân quyền khu vực, một số tổ chức ở châu Á
đã nỗ lực hoạt động nhằm khắc phục những thiếu hụt trên lĩnh vực nhân quyền.
Mặc dù vào năm 1993, trong tiến trình chuẩn bị cho Hội nghị thế giới lần
thứ hai về quyền con người, các quốc gia châu Á đã có tiếng nói chung về vấn đề
này trong Tuyên bố Băng cốc về quyền con người (The Bangkok Declaration of
Human Rights), nhưng xét tổng thể, trong tương lai gần khó có thể thành lập được
một cơ chế quyền con người của khu vực châu Á. Năm 2005, tại Pataya, Thái Lan,
Hội nghị Đại hội đồng Liên minh Nghị viện châu Á vì hịa bình (AAPP) lần thứ 6
đã thông qua Hiến chương Nhân quyền của các dân tộc châu Á. Trước đó, năm
1997, một tổ chức phi chính phủ trụ sở ở Hồng Kơng có tên là Ủy ban quyền con
người châu Á (Asian Human Rights Commission) đã vận động các tổ chức phi
chính phủ trong khu vực thông qua Hiến chương Quyền con người châu Á (Asian
Human Rights Charter), tuy nhiên văn kiện này khơng mang tính pháp lý và ảnh
hưởng của nó trên thực tế rất hạn chế.. Tuy không gây nhiều ảnh hưởng, nhưng
những nỗ lực trên cho thấy nhu cầu về việc hình thành một hệ thống nhân quyền
khu vực châu Á.


Trong khi các quốc gia châu Á chưa đi đến đồng thuận về quan điểm và việc
hình thành cơ chế khu vực châu Á về quyền con người, ở một số phần của châu Á

hiện đã tồn tại những văn kiện và thiết chế chung, cho thấy những triển vọng nhất
định về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, cụ thể như:
Trong khu vực thế giới Ả-rập, hiện đã có các văn kiện về quyền con người
bao gồm: Tuyên bố Cairo về quyền con người trong các quốc gia Hồi giáo (Cairo
Declaration on Human Rights in Islam), 1990; Tuyên bố về bảo vệ người tị nạn và
người bị chuyển dịch trong thế giới Ả-rập (Declaration on the Protection of
Refugees and Displaced person in the Arab world), 1992; Hiến chương Ả-rập về
quyền con người (Arab Charter on Human Rights), 1994. Hiến chương Ả Rập sửa
đổi về Nhân quyền năm 2004 (có hiệu lực từ năm 2008).
Tun ngơn quyền con người của thế giới Hồi giáo (Tuyên ngôn Cairô, năm
1990) đã khẳng định, các quyền và tự do cơ bản cũng là một phần của học thuyết
Hồi giáo. Khơng ai có quyền tước đoạt toàn bộ hay một phần các quyền tự do của
người khác, đó là luật lệ của thánh A la và luật lệ đó mang tính quyền lực nghiêm
khắc. Bản tun ngơn cịn liệt kê các quyền con người như: quyền bình đẳng,
quyền sống, quyền được bảo đảm an ninh cá nhân, quyền được đối xử nhân đạo
trong thời chiến, quyền được kết hơn, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, quyền của
trẻ em, quyền được tỵ nạn, quyền có việc làm, quyền sở hữu tài sản và quyền có
mức sống thích đáng... và nêu rõ rằng, các quyền và tự do nói tới ở trên xuất phát
từ và chỉ giải thích trên cơ sở học thuyết Hồi giáo.
Hiến chương Ả Rập sửa đổi về Nhân quyền năm 2004 (có hiệu lực từ năm
2008) khẳng định các nguyên tắc được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền
Quốc tế bao gồm: quyền tự do và an ninh của con người, quyền bình đẳng của con
người trước pháp luật, bảo vệ con người khỏi bị tra tấn, quyền sở hữu tài sản riêng,
quyền tự do thực hành tôn giáo, quyền tự do hội họp và lập hội hịa bình.
Đồng thời, Hiến chương khơng cấm các hình phạt tàn ác, vơ nhân đạo hoặc
hạ nhục, không mở rộng quyền cho những người không phải là công dân trong
nhiều lĩnh vực và cho phép các hạn chế về tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo


vượt quá những gì được cho là cho phép theo nhân quyền quốc tế pháp luật. Hơn

nữa, bản Hiến chương đã loại bỏ nhiều vấn đề quyền quan trọng theo quyết định
của luật pháp quốc gia. Ví dụ, hình phạt tử hình đối với trẻ em và quyền của nam
giới và phụ nữ trong hôn nhân .
Đông Nam Á là nơi được coi là có mối liên kết tiểu khu vực chặt chẽ nhất
tại châu Á với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập từ
năm 1967, hiện gồm 10 quốc gia thành viên. Năm 2008, Hiến chương của Hiệp hội
quốc gia Đông Nam Á được thông qua, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong
lịch sử phát triển của tổ chức này. Ngoài các nội dung khác, Hiến chương có một
điều khoản (Điều 14) quy định thành lập cơ quan quyền con người khu vực.
Ngoài Hiến chương, vấn đề bảo vệ và thúc đẩy quyền con người còn được
ghi nhận trong nhiều văn kiện khác của Hiệp hội như Chương trình hành động Hà
Nội (1997-2004); Chương trình hành động Viên-chăn (2004-2010); Tuyên bố về
sự tiến bộ của phụ nữ của ASEAN (1988); Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực chống lại
phụ nữ ở khu vực ASEAN (2004); Tuyên bố chống lại việc buôn bán người, đặc
biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em ở ASEAN (2004); Khuôn khổ hợp tác ASEANUNIFEM (2006); Hợp tác ASEAN-UNICEF về trẻ em; Kế hoạch hành động
ASEAN về trẻ em (1993); Tuyên bố ASEAN về những cam kết về trẻ em ở
ASEAN (2001); Tuyên bố chống buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và
trẻ em (2004); Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao
động di trú (2007)…
Việc Hiến chương ASEAN được thơng qua vào năm 2007 và có hiệu lực từ
tháng 12/2008, đã đánh dấu một bước tiến mới không chỉ trong tiến trình hội nhập
mà cịn trong việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền của các quốc gia trong khu vực.
Tiếp theo Hiến chương, các quốc gia trong khu vực đã nhất trí thành lập Ủy ban
liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR) năm 2009 và xây dựng một văn
kiện chung về nhân quyền của ASEAN.


Cùng với Hiến chương ASEAN, hàng loạt các văn kiện quan trọng khác đã
góp phần vào việc hồn thiện khung pháp luật và thể chế cho việc bảo vệ và thúc
đẩy quyền con người ở khu vực được xem là năng động nhất trên thế giới hiện nay.

Trong Điều 14 của Hiến chương ASEAN khi nói về Cơ quan nhân quyền của
ASEAN cũng đã nhấn mạnh: Phù hợp với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến
chương ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản,
ASEAN sẽ lập một cơ quan nhân quyền ASEAN. Cơ quan nhân quyền ASEAN
này sẽ hoạt động theo Quy chế do Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN quyết
định. Hiến chương ASEAN đã xác lập nguyên tắc về việc thành lập cơ quan bảo vệ
và thúc đẩy quyền con người liên chính phủ. Cùng với đó, ASEAN cũng đã có
hàng loạt các văn kiện quan trọng liên quan, bao gồm: Chương trình hành động Hà
Nội (1997-2004); Chương trình hành động Vientiane (2004-2010); Tuyên bố về
xóa bỏ bạo lực chống lại phụ nữ ở khu vực ASEAN (2004); Tuyên bố chống lại
việc buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em ở ASEAN (2004); Khuôn
khổ hợp tác ASEAN - UNIFEM (2006); Hợp tác ASEAN - UNIFEM về trẻ em;
Kế hoạch hành động ASEAN về trẻ em (1993); Tuyên bố ASEAN về những cam
kết về trẻ em ở ASEAN (2001); Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các
quyền của người lao động di trú (2007); Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (2012)…
Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR) được thành
lập tháng 10/2009 như một cơ quan tham vấn của ASEAN, Ủy ban thúc đẩy và bảo
vệ nhân quyền, hợp tác khu vực về nhân quyền trong các thành viên của ASEAN.
AICHR không chỉ bảo vệ con người mà cịn có những đóng góp nhằm thúc đẩy cơ
hội phát triển và bảo đảm hịa bình của khu vực. Kể từ khi thành lập, AICHR có
nhiệm vụ xây dựng các nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong khu vực
thông qua giáo dục, giám sát, phổ biến các giá trị và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế
theo quy định của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền. Một số tiến bộ đã được
thực hiện kể từ khi AICHR được thành lập như: Tuyên bố Nhân quyền ASEAN
(AHRD) được thông qua vào năm 2012; Đồng thuận ASEAN về bảo vệ và thúc
đẩy quyền của người lao động nhập cư năm 2016; Công ước ASEAN về buôn bán


người (ACTIP) năm 2017. Tất cả những nỗ lực này nhằm thể hiện các tiêu chuẩn
về quyền con người trong ASEAN.

Có thể thấy, AHRD được coi là văn kiện chính trị quan trọng đầu tiên về
hợp tác nhân quyền ở khu vực. Ngay sau Phiên họp toàn thể Hội nghị Cấp cao
ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Thủ đô Phnôm Pênh (Căm-pu-chia), ngày 1811-2012, Lãnh đạo các nước ASEAN đã thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN
(AHRD), trao đổi các trọng tâm, ưu tiên của Hiệp hội và trao đổi với Hội đồng Tư
vấn Kinh doanh ASEAN (ABAC). AHRD đã thể hiện nguyện vọng, quyết tâm, nỗ
lực của người dân và chính phủ các nước thành viên xây dựng một Cộng đồng
ASEAN hướng tới người dân, đồng thời tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền
cơ bản của con người cũng như phấn đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân, tiếp tục thể hiện cam kết của ASEAN trong thực hiện Tuyên bố Nhân quyền
ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên hiệp quốc
(LHQ); Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế; Tuyên bố, Chương trình Hành động
Viêng Chăn và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác mà các quốc gia thành
viên ASEAN đã tham gia. Tuyên bố khẳng định lại các giá trị nhân quyền chung,
đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu
vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế về quyền con
người.
Từ khi AICHR được thành lập, cơ quan này tiến hành 2 cuộc họp thường
xuyên hằng năm và các cuộc họp bất thường khi cần thiết. Kể từ năm 2010 đến
nay, AICHR tiến hành nhiều cuộc họp và đối thoại và đối thoại với Cao ủy Nhân
quyền của LHQ, Cao ủy LHQ về người tị nạn (UNHCR), Ủy ban Liên minh châu
Âu, Hội đồng châu Âu và Tòa án Nhân quyền châu Âu.
Có thể thấy, các văn kiện dù ở dưới dạng nào đều ghi nhận cam kết và quyết
tâm chung về bảo vệ cũng như thúc đẩy quyền con người và đều thiết lập những
chuẩn mực chung chi phối hành động và ứng xử cho các quốc gia. Các chuẩn mực
chung được thống nhất này sẽ tạo sự đồng thuận và điều kiện cho các quốc gia
phấn đấu và hợp tác với nhau trong việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền. Đây cũng sẽ


là động lực để các nước nỗ lực thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế về bảo vệ, thúc đẩy
quyền con người trên phạm vi quốc tế và trong nước.


1



×