SÂN KHẤU KỊCH PHI LÍ
SAMUEL BECKETT & TRONG KHI CHỜ GODOT
KỊCH PHI LÍ
Kịch phi lí là khái niệm gắn với một loạt hiện tượng trong văn
học Tây Âu những năm 50-60 của thế kỉ XX. Khái niệm “phi lí”
(Latin: absurdus) bắt nguồn từ triết học hiện sinh chủ nghĩa, từ
quan niệm về tính phi lí, tính vơ nghĩa của cuộc sống. Thuật ngữ
“kịch phi lí” xuất hiện trong lần biểu diễn ra mắt ở Paris vở kịch
Nữ ca sĩ hói đầu (1950) của E.Ionesco và Trong khi chờ Godot
(1953) của Samuel Beckett.
ĐẶC ĐIỂM KỊCH PHI LÍ
- Đặc điểm chính của kịch phi lí là “trình bày theo lối hài kịch
nghịch dị những hình thức giả dối và vơ nghĩa lí của sinh tồn con
người. Kịch phi lí đoạn tuyệt với truyền thống do đó cịn được
gọi là “phản văn học”, “phản kịch”, “phản sân khấu” (Từ điển
thuật ngữ văn học).
- “Phản kịch” ở đây có thể được hình dung chủ yếu là phản kịch
truyền thống bằng việc sử dụng những phương tiện trang trí sân
khấu sơ sài, khơng chú trọng sự việc giống như thật, hủy diệt ba
yếu tố cơ bản của kịch: xung đột, nhân vật và ngôn từ. Ngôn
ngữ, đặc biệt là đối thoại dường như đã bị đe dọa và xóa bỏ đi
giá trị vốn có trong kịch truyền thống, “ngôn ngữ của con người
trong kịch phi lí bị biến thành hình thức, khơng cịn khả năng
làm phương tiện giao tiếp” nhưng ngược lại các vật thể lại trở
thành hùng hồn khiến ngôn từ trong khi bị hủy diệt lại chiếm
một vị trí quan trọng tới mức “có người coi ngơn ngữ như là
nhân vật hàng đầu của kịch phi lí”.
- Từ bỏ sự phân tích xã hội, phủ nhận năng lực của lí tính, nhưng
kịch của sân khấu phi lí dù sao vẫn chứa đựng cảm hứng phản
kháng thực tại tư sản, đạo đức và “lương tri” tư sản, tiểu thị
dân.
- Một trong những thủ pháp chính của kịch phi lí là lạ hố, xây
dựng những biểu tượng con người và thế giới nghịch dị, phi lí và
vơ nghĩa. Đây được coi là thủ pháp hữu hiệu thể hiện bản chất
phi logic và vô nghĩa của thực tại.
SAMUEL BECKETT
Samuel Beckett (1906-1989), trong một gia đình giàu có ở
Dublin (Ailen). Năm 1919 Beckett tiếp thụ nền giáo dục Tin lành
ở Portora Royal School ở Enniskillen và Trinity College, Dublin.
Năm 1927, ông sang Paris làm việc tại trường Sư phạm. Lúc
này, ông bắt đầu viết những bài nghiên cứu về Joyce, làm thơ,
trở về Dublin học thêm về nghệ thuật, kết hợp giảng dạy, viết
tiểu luận về Prust. Trong thập niên 1930, để thốt khỏi khơng
khí ngột ngạt trong nước ơng đã ra nước ngoài và đi du lịch
nhiều nơi. Năm 1937, Beckett định cư ở Paris, làm quen với nữ
nghệ sĩ dương cầm Suzann Dumesni và kết hôn với bà năm
1961. Đại chiến II nổ ra, dù là người ngoại quốc và tỏ ra xa rời
chính trị, Beckett vẫn tham gia vào phong trào kháng chiến bí
mật của Pháp. Tới năm 1942, sợ bị lộ ông phải trốn Paris ra
vùng tự do có thời gian làm thuê trong một trang trại để kiếm
sống. Beckett mất tại Paris ngày 22/12/1989.
Beckett không khởi đầu bằng kịch viết bằng tiếng Pháp mà bắt
đầu sự nghiệp văn chương bằng tiểu luận, thơ, tiểu thuyết và
truyện ngắn viết bằng tiếng Anh. Beckett, tiếp thụ tinh thần
sáng tác của Kafka, Joyce, Prust, sau đó là những nhà hiện sinh
chủ nghĩa. Tuy nhiên, bởi Beckett nổi tiếng giữa lúc kịch Pháp
có một sự đổi mới đáng kể cũng như ông vượt ra khỏi sự vô
danh bằng ánh đèn sân khấu, nên người ta trước hết vẫn gắn
ông với kịch Pháp vào những năm 1950. Sau một số tiểu thuyết
đầu tay, từ 1947-1949 Beckett viết: Monca, Malon chết, Vật
không tên, Trong khi chờ Godot… Năm 1969, vinh quang đã đến
với Beckett khi ông giành được giải thưởng Nobel văn học. Sau
đó ơng tiếp tục lối viết tạo một khơng khí dị biệt với những tác
phẩm như: Đồng hành (1980), Thảm họa (1984), Những mối
kích động (1989)...
TRONG KHI CHỜ GODOT
Trong khi chờ Godot là vở kịch đầu tiên trong sáng tác kịch của
Samuel Beckett, tác phẩm khiến ông từ một nhà văn chưa được
biết đến trở thành một tên tuổi lớn. Vở kịch được sáng tác từ
năm 1948, nhưng phải tới năm 1952 mới được xuất bản, công
diễn lần đầu tiên vào ngày 3/1/1953.
Trong khi chờ Godot có hai nhân vật, hai người tuổi chưa già
nhưng khơng cịn trẻ nữa, Vladimir và Estragon, cố gắng tiêu
phí thì giờ trong lúc chờ Godot – một nhân vật bí mật khơng bao
giờ xuất hiện. Vở kịch gồm 2 hồi, ở hồi 1 mở màn với hai gã lang
thang Vladimir và Estragon gặp nhau bên “một cái cây trụi lá,
trên một con đường ở nông thôn vào buổi chiều muộn”. Họ chờ
đợi một con người tên là Godot, để giết thì giờ họ cố gắng gợi lại
quá khứ, đùa cợt, ăn và phán đoán về Godot. Pozzo, một kẻ bạo
chúa xuất hiện cùng với Lucky, người hầu của hắn ta. Godot gửi
một lời nhắn rằng hơm đó ơng ta khơng đến nhưng nhất định
ngày hôm sau sẽ đến. Ở hồi 2, thời gian cũng vào chiều muộn
như thế, cũng vẫn địa điểm đó nhưng cây đã ó vài cái lá,
Vladimir và Estragon vẫn đợi, Godot gửi một người đưa tin đến
nói cũng sẽ khơng đến, hai kẻ đợi chờ cố gắng để tự treo cổ và
rồi tuyên bố họ sẽ rời đi, nhưng họ vẫn khơng hề nhúc nhích. Vở
kịch kết thúc.
Có thể coi với vở kịch Trong khi chờ Godot Beckett là một trong
những sự mở đầu cho sân khấu kịch phi lí. Vở kịch làm sụp đổ
hồn tồn những khái niệm quen thuộc của sân khấu kịch
truyền thống: khơng hành động, khơng xung đột, khơng có tình
huống kịch dẫn đến sự phát triển của hành động để mà thắt nút
hay cởi nút, cốt truyện hầu như khơng có gì để có thể kể lại gây
hấp dẫn với người nghe và ngôn từ nhân vật lại ngớ ngẩn, sáo
rỗng.
1. Phá vỡ tình huống kịch
Tình huống kịch trong kịch truyền thống là q trình phát triển
kịch tính dựa trên “ngun tắc nhân quả”, sự quy ước thỏa
thuận về mặt tâm lí. Cịn trong kịch phi lí, ngun tắc nhân quả
bị chối bỏ.
Trong tác phẩm Trong khi chờ Godot đã phá vỡ nguyên tắc hợp
lí trong kịch truyền thống mà thay vào đó là một tình huống phi
lí, đó là sự chờ đợi mù quáng và vô vọng. Họ chờ đợi một đối
tượng không biết bao giờ sẽ đến. Vladimir và Estragon thất
nghiệp tìm mọi cách giết thì giờ trong khi chờ đợi một người
được gọi là Godot ngày này qua ngày khác, ở cùng một địa
điểm. Godot không đến và họ vẫn cứ chờ. Tình huống này lặp đi
lặp lại và nó khơng có ngun nhân, kết quả, khơng có kịch tính
để tạo xung đột kịch. Godot có thể tồn tại, cũng có thể khơng
tồn tại, kịch kết thúc, Godot cũng khơng đến. Tồn bộ tác phẩm
ngồi việc đợi chờ, khơng có một điều gì khác phát sinh, tại sao
lại đợi Godot, Godot là ai, tại sao Godot không đến, tất cả những
điều này đều không quan trọng. Tác phẩm khơng có nội dung
cụ thể, đợi chờ mù qng và vơ vọng chính là nội dung, ý nghĩa
của nó là sự vơ nghĩa của đợi chờ.
Godot có thể là biến âm của từ God có nghĩa là Chúa trời,
Thượng đế. Điều đó mang lại cách lí giải mới mẻ cho vở kịch. Vở
kịch chính là sự phác họa khơi hài về sự chờ đợi vô vọng của
con người đối với một Đấng tối cao, một vị Chúa trời. Tác phẩm
thể hiện khát vọng tìm kiếm chân lí, đức tin của con người. Các
nhân vật Estragon và Vladimir trong vở kịch là đại diện cho
nhân loại với niềm tin thiêng liêng. Từ đó tác phẩm này đã khích
lệ niềm tin và hi vọng của con người. Tác phẩm nhờ đó mà vẫn
mang ý nghĩa tích cực.
2. Phá vỡ hành động kịch
2.1. Hành động lặp lại và hỗn độn
Thay vì theo kịch truyền thống - cái ln u cầu một vở kịch
phải có một sự bóc trần, một cao trào và một kết thúc thì kịch
của Beckett có một kết cấu tuần hồn có thể được miêu tả như
một vịng trịn lặp đi lặp lại vơ tận. Độc giả khơng thể tìm thấy ở
Trong khi chờ Godot bất cứ xung đột nào. Do vậy, hành động
kịch ở đây vừa chạy vòng quanh lại vừa giậm chân tại chỗ. Nói
đúng hơn, hành động kịch của Trong khi chờ Godot giống như
một đường xoắn ốc cứ trở đi trở lại và “khơng có gì xảy ra” cả.
Hồi II của vở kịch không hẳn là bản sao chuẩn xác của hồi thứ
nhất nhưng cơ bản là sự lặp lại. Các chuỗi hành động lặp lại
cùng với các chuỗi sự kiện tương tự: Estrangon ngủ trong cái hố,
Vladimir gặp hắn bên cái cây, họ gặp Pozzo và Lucky, và rồi cậu
bé đến thông báo rằng Godot không đến nhưng chắc chắn sẽ
đến vào ngày hôm sau. Bằng cách này, sự lặp lại tạo ra kết cấu
vở kịch khơng có cao trào bởi một điều duy nhất mà cốt truyện
xây dựng đó là sự kiện đến của Godot. Tuy nhiên, sau hồi đầu
tiên cơng chúng có thể khẳng định rằng Godot sẽ khơng bao giờ
đến. Để hồi II trình diễn chuỗi hành động tương tự, Beckett tạo
cho chúng ta cảm giác về sự chờ đợi của chúng ta và những
chuỗi hành động hằng ngày. Mỗi ngày của chúng ta là gì nếu
khơng phải là một hồi kịch tương tự. Chắc chắn có những thay
đổi nhỏ nhưng rõ ràng là chúng ta dường như đang sống những
chuỗi ngày giống nhau. Với những nhân vật trong vở kịch,
chúng ta có cảm giác điều xảy ra ln ln khơng có gì đổi mới
với họ.
Vladimir: Một buổi chiều thú vị
Estragon: Không thể quên được
Vladimir: Và chưa phải là kết thúc
Estragon: Phải nói là chưa
Vladimir: Chỉ mới bắt đầu
Estragon: Khủng khiếp
Vladimir: Tao tưởng như đang ngồi xem kịch
Estragon: Xem xiếc
Một giải pháp được chọn đối với nhân vật của Beckett ở đây
được tái diễn một cách máy móc, lặp lại những cử động, tái diễn
các trị chơi khơng ý thức: Vladimir và Estragon lặp lại những
động tác vô nghĩa không với một ý thức nào cả và nhờ vậy thời
gian trôi đi. Ở cả hai hồi họ cùng ôm hôn nhau, cùng nghĩ đến
việc treo cổ lên cây, việc chia tay hay rời đi:
Vladimir: Vậy ta đến đó chứ
Estragon: Ừ đi thôi
(Hồi I)
Tương tự,
Vladimir: Vậy ta đi chứ
Estragon: Ừ đi
(Hồi II)
Rõ ràng, khán giả và độc giả sẽ hồn tồn thất vọng nếu tìm ở
đây một lối triển khai hành động kịch dựa trên xung đột kịch
theo kiểu truyền thống. Khơng thể nói Didi và Gogo có xung đột
với Godot, hay Lucky có xung đột vơi Pozzo như một số người
vẫn áp đặt. Cái gọi là hành động kịch ở đây chỉ là một chuỗi lặp
lại liên tục. Đó là chuyển động vịng quanh của âm thanh, cử
động, điệu bộ trong một vòng tròn được quy định một vịng trịn
mở rộng mãi mãi và khơng bao giờ có thể định rõ một vịng trịn
rộng hơn bên ngồi.
Trạng thái đều đều nhàm chán, vơ vị như chính cuộc sống của
nhân vật được thể hiện qua chính sự trùng lặp luẩn quẩn, đơn
điệu đó. Nó cũng được thể hiện qua lời bài hát của Vladimir ở
đầu hồi II:
“Một con chó chạy vào bếp
Ngoạm một khúc dồi
Đầu bếp vớ cái muôi
Đập nó tan thành vụn
Những chó khác thấy vậy
Vội đem nó đi chôn…”
Lời hát cứ thế quanh đi quẩn lại và nhân vật của Beckett cũng
quanh đi quẩn lại trên sân khấu, các hồi kịch cũng quanh đi
quẩn lại với những nhân vật, những động tác ngớ ngẩn vơ ích:
Estragon cầm mũ của Vladimir, Vladimir dùng cả hai tay chỉnh
lại chiếc mũ của Lucky trên đầu gã, Estragon bỏ mũ gã ra đội
lên đầu chiếc mũ của Vladimir rồi đưa mũ của gã cho Vladimir,
Vladimir cầm mũ của Estragon, Estragon dùng cả hai tay chỉnh
lại chiếc mũ của Vladimir trên đầu gã.
Vở kịch có thể một lúc nào đó tạo ra tiếng cười cho khán giả
bằng những trò hề ngu xuẩn, những câu nói vơ nghĩa của nhân
vật. Tuy nhiên, như Beckett xác định ở phụ đề đó là một bi hài
kịch, có thể khán giả sẽ cười vì thấy rằng mình khơng bị rơi vào
trạng thái tồi tệ đó. Nói về khái niệm phi lí, Beckett khơng bình
luận mà thể hiện nó một cách sinh động trên sân khấu. Nếu như
trong kịch truyền thống, sự xâu chuỗi các hành động kịch tính
trong hành động của nhân vật được xây dựng trên nguyên tắc
logic và nhân quả ở tác phẩm này hồn tồn khơng có điều ấy.
Các cảnh dường như được xây dựng với những câu nói khơng có
sự liên kết với logic rành mạch, tất cả chỉ là những sợi dây rối
bời:
Estragon: Một kiểu cầu xin chung chung
Vladimir: Đúng thế
Estragon: Một yêu cầu mơ hồ
Vladimir: Nói thế cũng được
Estragon: Lúc đó ơng ta trả lời ra sao
Vladimir : Là ơng ta sẽ trả lời sau
Estragon : Là ông ta chưa thể hứa gì
Vladimir : Là ơng ta cần suy nghĩ đã
Estragon : Lúc bình tĩnh
Vladimir : Lại cịn phải hỏi ý kiến của gia đình
Estragon : Ý kiến các người liên quan
…..
(Hồi I)
Có vẻ sự xen kẽ của những độc thoại khơng liên quan làm cho
các câu trên khơng có mối quan hệ logic, sự ổn định trong
tường thuật. Các nhân vật dường như khơng nhận thức được
những gì họ liên quan hay nơi nào, cái gì mà cuộc hội thoại của
họ nói tới. Ở đây, điều cần nhấn mạnh là sự triển khai hành
động kịch hồn tồn khơng dựa trên logic nhân quả vì thực
khơng có khoảnh khắc kịch tính nào cả bởi xung đột đã bị xóa
bỏ hồn toàn.
2.2. Sự phá vỡ hành động làm xuất hiện nhân vật phi
tính cách
Theo quan niệm truyền thống, nhân vật vật kịch phải có hành
động và tính cách, nhưng trong Trong khi chờ Godot hành động
bị phá vỡ, vì thế trong tác phẩm khơng tồn tại cái gọi là tính
cách hiểu theo nghĩa truyền thống. Các nhân vật Vladimir,
Estragon, Pozzo, Lucky có nói năng, có hành động nhưng họ
khơng có những dục vọng, những quyết định đột ngột, những
phản ứng trí tuệ sắc sảo, những biểu hiện sáng rõ của suy nghĩ
và cảm xúc – những yếu tố cốt lõi đới với nhân vật kịch
Nhân vật trong Trong khi chờ Godot khơng có những mối xung
đột cá nhân hay xã hội. Giữa họ không có mâu thuẫn để tạo bất
cứ một bước ngoặt nào mà ở đó cá tính của họ được bộc lộ. Các
nhân vật khơng có một sắc thái cá thể rõ ràng, họ giống như
những biểu tượng phức hợp. Vladimir và Estragon hằng ngày
đến chờ Godot nhưng không biết Godot là ai. Như vậy khơng thể
hiểu là có một mối quan hệ thống trị hay bị trị giữa họ với Godot
ở đây. Trong quá trình chờ đợi của họ thì Godot không đến lần
nào cả nhưng họ vẫn không thể hiện thái độ tức giận hay tuyệt
vọng, họ tuy có ý định treo cổ nhưng ý nghĩ đó khơng xuất phát
từ nhận thức về tình trạng của mình mà đó chỉ là một cách cho
thời gian qua đi.
Vladimir : …Ta làm gì bây giờ ?
Estragon : Chờ
Vladimir : Nhưng trong khi chờ ta làm gì ?
Estragon : Hay tao với mày treo cổ lên ?
Vladimir: Hay tao với mày treo cổ lên
Estragon: (Khối trá)
Những hành động của các nhân vật khơng xuất phát từ những
dự cảm trong tâm thức mà nó trở thành một dạng thụ động.
Nhân vật làm theo các động tác máy móc, vơ nghĩa để giết thời
gian và đơi lúc họ khơng kiểm sốt được chính cơ thể của mình.
Họ giống như là những con rối chứ khơng phải những con người
có ý thức.
Tính cách của các nhân vật Trong khi chờ Godot bị đơn giản hóa
một cách tối đa trong khi đặc tính hài hước, trần trụi của họ bị
cường điệu thái quá. Khán giả khi xem vở kịch có thể cười trước
những hành động: tháo giày của Estragon, trước trò chơi với cái
mũ của hai gã, trước câu chửi bới tục tĩu của Pozzo, nhưng tuyệt
nhiên khơng thể xét đốn xu hướng tiến triển của vở kịch như
khi họ xem một vở kịch truyền thống. Nhân vật của Trong khi
chờ Godot khơng chỉ bị xóa mờ tính cách và hành động mà cịn
được tác giả dán ghép các cặp nhân vật bên cạnh nhau và giữa
họ khơng có mối liên hệ nào. Sự xuất hiện của Pozzo và Lucky
khơng thúc đẩy, khơng trì hỗn, khơng gây ảnh hưởng rõ rệt
nào tới Vladimir và Estragon. Thông thường trong kịch, mỗi
nhân vật đều đóng vai trị cụ thể đối với sự triển khai hành động
kịch, co thể mở ra một xung đột hoặc khơi dậy một hướng giải
quyết. Nhưng trong tác phẩm của Beckett dù Pozzo và Lucky có
xuất hiện hay khơng thì Didi và Gogo vẫn ngày ngày đứng dưới
cái cây chờ đợi Godot và tái diễn những trị hề tẻ nhạt, vơ nghĩa
của họ. Nhà viết kịch để họ đứng cạnh nhau trên sân khấu với
một kết nối duy nhất là tình trạng bi đát mà họ đang cùng trải
qua, chính vì thế họ trở thành những mảnh vỡ số phận của nhân
loại
Với sự xóa mờ tính cách nhân vật như vậy, rõ ràng nhân vật của
Trong khi chờ Godot không thể được nhìn nhận trong một logic
phù hợp hơn giữa tính cách và hành động. Do vậy, khơng khốc
chiếc áo điển hình cho một tầng lớp hay một kiểu người nào.
Nhưng nhân vật của Beckett lại nói được nhiều hơn thế, ông đưa
ra cho người đọc, người xem một mớ hỗn độn mà khơng chỉ ra
bất cứ điều gì, người đọc phải tìm kiếm, suy nghĩ và kết nối
chúng lại thì mới có thể hiểu được. Nhân vật của Trong khi chờ
Godot là những nhân vật mang ý nghĩa biểu tượng cao, song
chúng không đặt ra mâu thuẫn nào, không giải quyết mâu
thuẫn nào cả cũng khơng khắc họa một tính cách hay thúc đẩy
một xung đột mang tính xã hội. Nó chỉ cịn là những ám ảnh,
những ẩn dụ về sự hiện hữu, phi lí của nhân vật. Tính cách của
nhân vật bị phá vỡ và chỉ còn lại những đặc tính hài hước, trần
trụi, nhưng họ cũng là hình ảnh sâu sắc nhất về tình trạng bất
ổn hiện hữu thường trực trong đời sống con người.
Khơng có xung đột, khơng có hành động, khơng có tính cách
theo kiểu truyền thống nhưng vở kịch vẫn duy trì và gây ra kịch
tính nhờ những lớp ý nghĩa biểu tượng, những ám dụ mà người
đọc có thể suy ra từ mỗi hình tượng nhân vật.
3. Phá vỡ hệ thống ngôn từ
Trong vở kịch Trong khi chờ Godot Beckett đã phát triển khả
năng của loại hình sân khấu kịch phi lí bằng lời của những ý
nghĩa súc tích và chiếm một khả năng duy nhất để khớp nối cả
sự im lặng lẫn sự thiếu vắng trên sân khấu. Trong vở kịch này,
ông sử dụng thứ ngôn ngữ chấp nhận sự tồn tại trong tình trạng
hỗn loạn và nhận thức rõ sự sa đọa của ngơn ngữ. Ơng lựa chọn
lời thoại kịch như là cấp độ cơ bản của hành động nhưng nghi
ngờ sâu sắc những từ ngữ ấy. Chúng không thể giao tiếp hay
thể hiện, chúng chỉ có thể đem lại sự thất bại mặc dù nhu cầu
thể hiện bằng ngôn ngữ là một nhu cầu bắt buộc.
3.1. Ngôn từ hỗn loạn, thiếu logic
Vở kịch này viết ra với ý thức rằng ngôn ngữ bất lực với những
cảm xúc bên trong và sự chấp nhận một thực tế rằng ngôn ngữ
cũng là bản chất tồn tại của con người, do đó nó là một yếu tố
khơng thể xóa bỏ. Ngơn từ trong Trong khi chờ Godot dường
như chuyển động theo một quỹ đạo không bao giờ chạm tới cái
trung tâm là sức mạnh biểu hiện hay khả năng biểu hiện.
Beckett đã thừa nhận cái bất lực của ngôn ngữ trong giao tiếp
để làm nổi bật sự phi lí trong tồn tại của con người, ông phá vỡ
cơ bản những ý niệm ngôn ngữ, thiết lập các yếu tố của kịch
trong một dạng thức tự do. Ngôn từ của Trong khi chờ Godot do
vậy mà trở thành sự pha trộn giữa vô thanh và hữu thanh, mập
mờ và không giới hạn.
Ngôn ngữ của vở kịch này đã bắt đầu bị tiêu biến trong những
âm thanh vô nghĩa và những động tác lặp lại. Đối thoại của các
nhân vật dường như khơng có khớp nối mà chỉ là những âm
thanh được đặt cạnh nhau chen lấn một cách xô bồ, không thể
hiện rõ ràng một nội dung hội thoại nào. Với Beckett bi kịch của
tình trạng con người nằm trong một thực tế là ngơn ngữ phá
hủy mọi hành động, nó chỉ là kẻ xúi giục, trói buộc nhân loại
vào thế giới vật chất khơng có cái tơi. Do đó, ngơn ngữ kịch đã
cố gắng phá vỡ sự kết hợp và chuỗi liên tục có tính logic từ đó
thể hiện sự phân hủy ý thức :
Estragon : Thứ đó cũng cịn khá hơn tim đập nhanh
Vladimir : Đúng nhưng bây giờ chúng mình cần tìm thứ khác
Estragon : Thử xem
Vladimir : Thử xem
…..
Chúng ngẫm nghĩ
Vladimir : Lúc nãy tao nói về cái gì nhỉ ? Chúng mình có thể
nhắc lại
Estragon : Bao giờ ?
Vladimir : Thoạt đầu ấy
Estragon: Đầu cái gì
……
Trong những cuộc đối thoại này, mỗi dịng lại xóa bỏ dịng trước
đó, những câu nói này phơi bày một sự trống rỗng của ngơn từ,
xác thực cái hình thành nên bản chất của một thế giới tâm hồn
bên trong đã trở nên phi lí. Sự thiếu vắng logic bên trong đã đặt
một trật tự hỗn loạn khiến con người nghi ngờ những ngơn từ
chính họ đang sử dụng.
Ở Trong khi chờ Godot, ta bắt gặp những “trị chơi” với ngơn
ngữ, Estragon và Vladimir khơng ngừng tìm kiếm những từ đồng
nghĩa, sử dụng những lời nói khoa học, nghệ thuật bởi chúng
nghe có vẻ khoa trương:
Vladimir: Đúng hơn, phải nói chúng thì thào
Estragon: Chúng lẩm bẩm
Vladimir: Chúng xào xạc
Estragon: Chúng lẩm bẩm
Vladimir: Chúng nói những gì
Estragon: Chúng nói về cuộc đời của chúng
…..
Vladimir: Giống như tiếng lông chim
Estragon: Tiếng lá cây
Vladimir: Tiếng tro tàn
Estragon: Tiếng lá cây
Bằng cách nhại lại kiểu hùng biện hoa mĩ và logic của ý nghĩa
triết học thông thường, họ đã phá vỡ những ý nghĩa có thể nhận
biết. Trong bài “diễn văn” khoa trương và lặp lại của Lucky,
Beckett đã làm đông cứng những vụn vỡ của ngơn ngữ lí trí. Tuy
nhiên độc bạch của Lucky khơng đơn thuần là vô nghĩa, sự rời
vỡ và lặp lại trong bài diễn văn này phản chiếu một sự hỗn độn
thuộc về trí tuệ và ngơn ngữ. Bài diễn văn được cấu trúc quẩn
quanh bởi những câu và từ trở đi trở lại, dường như ở đâu có
một sự liên hệ giữa bài diễn văn này với tình trạng của Lucky:
Trong hồi II, Lucky mất dấu hiệu cuối cùng liên kết với nhân loại
đó là mất đi khả năng khớp nối ngôn ngữ với ý nghĩ, trở thành
một con vật bị buộc vào một sợi dây thừng nô lệ.
Beckett đã khai thác ngôn ngữ nhằm chiếm hữu khả năng khớp
nối trật tự và hỗn loạn, sự xa đọa của ngôn ngữ dưới ngịi bút
của ơng trở thành phương tiện hiệu quả nhất khắc họa nên bức
tranh về tình trạng bi đát của con người.
3.2. Sự im lặng và những khoảng dừng của ngôn ngữ
Ngôn ngữ của kịch Beckett không chỉ tính ở những đối thoại mà
cịn là những khoảng im lặng với mật độ khơng nhỏ, rải rác
trong tồn bộ vở kịch. “Văn bản của Beckett lại hùng hồn nhất ở
những chỗ vô nghĩa nhất của lời lẽ cũng như những khoảng
trắng, những chỗ trống, những trò diễn kịch câm”.
Trong vở kịch này, xúc tác của đối thoại là sự im lặng và khoảng
dừng. Im lặng và khoảng dừng là yếu tố phá vỡ tính liên tục của
ngơn từ, những khoảng lặng ấy được xếp đặt nhằm mục đích
buộc khán giả phải kết nối và hiểu được chúng:
Vladimir: Lá cây cùng xào xạc một lúc.
Estragon: Mỗi cái lá nói cho riêng một mình nó
Im lặng
…
Vladimir: Chúng chết là chưa đủ
Estragon : Quả là chưa đủ
Im lặng
….
Vladimir : Chúng mình chờ Godot
Estragon : Quả có thế
Im lặng
….
Những sự im lặng, phân bổ, chia nhỏ cuộc nói chuyện thành
từng mảnh, nó rõ ràng là một phần trong ngôn ngữ của họ và
được đọc to lên để được khán giả nghe. Khơng chỉ có những
khoảng im lặng và dừng giữa đối thoại của hai nhân vật với
nhau mà trong bản thân mỗi chuỗi lời nói phát ra từ một người
cũng bị cắt rời bởi những khoảng im lặng và dừng liên tiếp đó.
Chúng ta khơng rõ sự im lặng của các nhân vật là để họ suy
nghĩ hay làm bất kì hành động gì. Dường như những khoảng
dừng này giúp Beckett miêu tả rõ hơn cái im lặng của sự không
thỏa đáng, khi các nhân vật khơng tìm được từ họ cần. Đơi khi
đó là những im lặng của kiềm chế, nhẫn nhịn bởi thái độ của
người đối thoại hay ý thức rằng không thể phá vỡ sự cấm kị nào
đó. Có khi đó là cái im lặng của sự đề phòng, khi họ chờ đợi sự
đáp lại của người kia để đem lại cho chính họ cảm xúc rằng họ
đang tồn tại :
Vladimir : Mai chúng mình phải quay lại đây
Estragon : Để làm gì
Vladimir : Chờ Godot
Estrgon : Ừ nhỉ (Sau một lát). Ông ta chưa đến à
Vladimir : Chưa
…..
Estragon : Hay ta mặc xác ông ấy (Sau một lát). Hay ta không
cần ông ta nữa.
…..
Những khoảng im lặng và dừng này để lại cho khán giả một
khoảng không gian, thời gian để họ khám phá khoảng trống tạo
giữa những ngơn từ. Họ có thể can thiệp một cách sáng tạo vào
việc thiết lập ý nghĩa của vở kịch. Những khoảng trống vơ hình
khiến cho ngơn ngữ càng trở nên phi lí, đẩy sự phi lí của tồn tại
con người lên cao trào.
Những lời thoại lặp lại và vô nghĩa làm cho đối thoại của các
nhân vật phần lớn bị tiêu hủy, khơng ăn khớp theo logic hội
thoại và logic lí trí. Những khoảng im lặng và dừng đã phân bố,
chia nhỏ các đối thoại vốn đã hỗn độn càng trở nên rời rạc hơn.
Chính những điều này đã phá vỡ ngơn ngữ thơng thường và từ
đó dẫn đến việc phá vỡ xung đột trong vở kịch này.
4. Sự phá vỡ khơng gian và thời gian
Chúng ta khơng thể nhìn nhận khơng gian thời gian trong kịch
phi lí của Beckett theo cách chúng ta cảm nhận các yếu tố này
trong kịch truyền thống. Cũng như các yếu tố khác thuộc bình
diện kết cấu tác phẩm, thời gian và không gian của Trong khi
chờ Godot cũng bị phá hủy thành những mảnh vỡ, không theo
trật tự nào, nhưng lại thể hiện một trật tự đặc biệt duy nhất:
một trật tự tồn tại thiết lập trên nền tảng hư vô.
4.1. Ngẫu nhiên và vô nghĩa
Trong Trong khi chờ Godot, bối cảnh không gian và thời gian
của hành động có thể xếp vào loại dễ nhận thấy so với các vở
kịch khác của Beckett. Vladimir và Estragon chờ Godot, nhưng
họ khơng có thơng tin cụ thể về cuộc hẹn này. Họ không biết
khi nào ở đâu và ai là người họ đang chờ. Họ không hề trễ hẹn.
Tuy nhiên, ý thức về thời gian của họ sớm thay đổi bởi sự can
thiệp của một thời gian khác.
Estragon: - Mày biết chắc là chiều nay chứ?
Vladimir: - Cái gì?
Estragon: - Là phải chờ ấy
Vladimir: - Ông ta bảo phải thứ 7. (sau một lát) Hình như thế
Estragon: - Sau giờ đi làm
Vladimir: - Hình như tao có ghi.(gã lục trong túi, đầy ắp các thứ
bẩn thỉu)
Estragon: - Nhưng thứ 7 nào? Mà hơm nay có đúng thứ 7
không? Hay hôm nay là chủ nhật? Hay thứ 2? Hay thứ 6?
Beckett xóa mờ thời gian và không gian cơ học bằng các chi tiết
mờ nhạt trong cảnh trí của hành động. Ngày diễn ra cuộc hẹn
với Godot của hai nhân vật là không rõ ràng và sự chắc chắn
của họ giảm sút cùng với mối băn khoăn và hoài nghi. Ngay từ
đầu Didi và Gogo đã tranh cãi về chuyện họ đợi Godo có đúng
chôc hay không. Trong khi Vladimir khăng khăng rằng họ đợi
đúng chỗ ngày hơm qua đã đợi thì Estragon lại bảo rằng gã
khơng nhận ra nó. Tại sao các nhân vật đã lầm ngày trước đó và
nếu họ đã đợi đúng chỗ của ngày hôm qua, tại sao họ không
nhận ra cảnh vật? Câu trả lời, ngoại trừ cách giải thích đơn giản
nhất là đổ lỗi cho trí nhớ tồi của họ, thì cuộc sơng của họ sẽ
ln là như vậy, thậm chí ngày hơm nay cũng chẳng ý thức rõ
ràng. Sự lặp lại của chi tiếp lầm lẫn trí nhớ trong vở kịch là bằng
chứng về tính chất khơng quan trọng của thời gian đối với
Vladimir và Estragon
Trong hai hồi có nhiều chi tiết tương tự nhau, ngày sau cơ bản
giống ngày trước chứng tỏ thời gian với họ là vơ nghĩa như Gogo
nói ở đầu hồi thứ hai: “Đối với tao thì bất kể như thế nào cũng là
xong”. Điều này cho thấy hắn nhận ra sự vô nghĩa của thời gian.
Mỗi ngày Vladimir và Estragon chờ Godot, và nếu ơng ta khơng
đếnvào ngày đó, họ lại trở lại vào hôm sau. Mỗi ngày họ tiếp tục
chờ Godot cho đến khi hoặc là ông ta đến hoặc là thần chết đến
nhưng điều đó khơng hề quan trọng vì thời gian là vô nghĩa đối
với họ.
Thế giới của Trong khi chờ Godot là một thế giới khơng có bất
cứ khn mẫu nào. Nó là biểu tượng cho hỗn mang - lực lượng
thống trị vũ trụ hai kẻ lang thang hằng ngày đến cùng một nới
để đợi Godot, không ai nhớ chính xã điều gì xảy ra vào hơm
trước. Đêm xuống rất nhanh và Godot không bao giờ đến. Sự
sắp đặt trong toàn bộ vở kịch cho thấy thời gian dựa theo tính
ngẫu nhiên và do đó đời người cũng dựa trên sự ngẫu nhiên.
Đối với không gian, cách bài trí đơn điệu trên sân khấu, cảnh
vật hầu như khơng thay đổi là ám chỉ về tồn tại vô nghĩa , nhàm
chán của con người. Trong khi chờ Godot mở ra một khung cảnh
ngoài trời ảm đạm. Ở cả hai hồi, khung cảnh đó hầu như bất
dịch: “Một con đường ở nơng thơn, có một cái cây. Chiều
muộn.” Và trong suốt diễn biến của vở kịch, khung cảnh này
gần như giữ nguyên ngoài sự xuất hiện của mặt trăng khi đêm
xuống.
Tất cả những hành động ngớ ngẩn của các nhân vật là cố gắng
để níu kéo một sự thật là họ đang chờ đợi một nhân vật mơ hồ
mà phần nào trong nhận thức của họ sẽ không bao giờ đến.
Thời gian và không gian trong vở kịch này là một thứ hỗn độn ,
vỡ nát và rối loạn.
4.2. Rời rạc và bất tận
Beckett xử lí các mạch rời rạc của thời gian trong cùng một thời
điểm, nối chúng vào cùng một cảnh hỗn tạp trong một cái nhìn
bao quát. Điểm nhìn của nhân vật nhảy từ hiện tại đến quá khứ
và nhảy trở lại hiện tại, hành động chuyển từ nơi này sang nơi
khác mà khơng có giới hạn. thời gian mất đi chiều sâu và dường
như bị “khơng gian hóa”. Tồn bộ hành động bị biến thành một
hỗn hợp phi lịch sử của các sự kiện:
Pozzo:- Mấy giờ rồi?
Estragon:- (Ngước nhìn trời)- Hình như...
Vladimir:- Bảy giờ? Hay Tám giờ...
Estragon:- Còn tùy mùa
Pozzo:- Chiều chưa?
Im lặng. Vladimir và Estragon nhìn mặt trời đang lặn.
Estragon:- Hình như mặt trời đang lên
Vladimir:- Không thể như thế được.
Estragon:- Nếu như kia là bình minh thì sao?
Vladimir:- Đừng nói điều ngu xuẩn. Đó là phương Tây.
(...)
Hồi II
Trong khi Estragon khăng khăng mặt trời buổi sáng đang lên thì
Vladimir lại khẳng định là buổi chiều. Nhưng gã cũng không biết
chắc về điều đó. Sự mù mờ về thời gian ném nhân vật vào một
vùng hỗn độn lơ lửng của không gian khiến họ không nhận ra họ
đang ở đâu nữa. Lúc này, không chỉ Pozzo mù mà dường như
Vladimir và Estragon đều bị mù. Ý thức về không gian của họ
thật tồi tệ. Họ không nhận biết được chuyển động của mặt trời,
phương Đơng hay phương Tây nữa. Họ mù hồn tồn cho việc
xác định cho mình một phương hướng.
Trên sân khấu thực tế ln có một độ sâu của thời gian. Khi tấm
màn sân khấu được kéo lên, chúng ta thừa nhận rằng nơi mà
chúng ta nhìn thấy trên sân khấu đã ở đấy trước khi chúng ta
nhìn thấy chúng và nó sẽ tiếp tục tồn tại thậm chí sau khi màn
hạ xuống. Tuy nhiên Trong khi chờ Godot, loại người mà ta
thường gặp trong cuộc sống hằng ngày không tồn tại. Nhân vật
của Beckett và thế giới của họ không có một lịch sử có thể nhận
thức được cũng như các mối quan hệ thiết lập giữa họ. Hành
động kịch thực hiện chức năng của nó trong một “hiện tại bất
tận” hay một “chân khơng” của thời gian ở đó nó được lấp đầy
bởi những câu hỏi khơng có câu trả lời hợp lí.
Estragon :- Tao với mày đi đâu bây giờ
Vladimir:- Gần thôi
Estragon:- Không. Tao với mày sẽ đi thật xa nơi này được chứ?
Vladimir:- Không được
Estrgon:- Tại sao
Vladimir:- Mai chúng mình phải quay lại đây
Estrgon:- Để làm gì
Vladimir:- Chờ Godot
Estragon: - Ừ nhỉ (sau một lát). Ông ta chưa đến à?
Vladimir: - Chưa
( Hồi I)
Với Trong khi chờ Godot, Beckett đã giảm gần như tối đa những
cái quen thuộc, để cho cái lạ, sự khác biệt lấn át hành động.
Nhân vật của ông được đặt trong một thế giới đổ vỡ và trần trụi,
xa lạ với chính bản thân họ. Họ khơng ý thức được về chính họ.
«Phải chờ Godot» là câu nói lặp đi lặp lại rất nhiều lần của các
nhân vật. Nhưng Godot là ai, bao giờ ơng ta đến thì họ hồn
tồn khơng rõ. Sân khấu ở đây dường như tồn tại trong một cơn
ác mộng, ở đó có sự tồn tại của con người trở nên mơ hồ và
hành động của họ không được kiểm soát bởi ý thức:
Estragon : - Thế nào, ta đến đó chứ?
Vladimir :- Mày kéo quần lên
Estragon:- Cái gì?
Vladimir: - Kéo quần
Estragon : - Mày bảo tao cởi quần à?
Vladimir: - Kéo quần lên
Estragon :- Ừ nhỉ
(Hồi II)
Nhân vật ở đây đã được đơn giản hóa những đặc tính hài hước
trần trụi của họ được cường điệu hóa quá mức. Thế nhưng sự
mạnh mẽ của nhân vật như một đại diện của bất ổn thường
trực, sự loạng choạng của con người trong ngục tù của không
gian và thời gian; hỗn loạn, quay cuồng bởi những bí ẩn của
chết chóc, tậm điểm của hoang mang và nỗi đau thường nhật.
Các nhân vật trong Trong khi chờ Godot không ý thức được về
thời gian và những gì đã diễn ra. Thời gian đối với các nhân vật
không được chia thành quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó cũng
khơng phải là một tiến trình nhất qn, tuyến tính. Nó rời rạc và
chắp vá. Cuộc sống là một sự liên tục của thời gian nhưng cũng
có thể là một chốc lát ngắn ngủi. Và thời gian của các nhân vật
ở đây cũng vậy.
Vừa trơi chảy vừa đứng n, vừa tuần hồn vừa ngưng đọng,
thời gian trong vở kịch cũng lại là biểu tượng cho một thế giới
đang chết, khi mà nhân loại đi đâu, làm gì rồi cũng trở vè điểm
xuất phát, trong một hông gian cũng đã trở nên bất định. Trong
khi chờ Godot đã nói lên sự thất bại của con người trong mênh
mông hư ảo của không gian và thời gian.
4.3. Trống rỗng và tù bức
Cũng như đối với thời gian, Beckett áp dụng cùng một cách xử lí
với không gian. Sân khấu của Trong khi chờ Godot tồn tại trong
một không gian trống rỗng về ý nghĩa lịch sử khi danh từ riêng
và địa điểm được sử dụng cho một cảnh cụ thể hàu như là
những từ có thể thay đổi bởi bất cứ từ nào khác. Chúng thật khó
có thể có được mối quan hệ với một cái tên hay một sự vật nào
trong thế giới của chúng:
Estragon:- Chỗ này tuyệt vời! (Gã quay gót, tiến sát hàng đèn
chân, nhìn về khán giả) Tồn những bộ mặt tươi vui (Gã quay về
phía Vladimir) Ta đi được chứ?
Vladimir:- Khơng được
Estragon:- Tại sao?
Vladimir:- Cịn phải chờ Godot
Estragon:-Ừ nhỉ (Sau một lát) Mày biết chắc là ở chỗ này chứ?
Vladimir:- Cái gì?
Estragon:- Là cần phải chờ ở đây
Vladimir:- Ơng ta nói là ở trước một cái cây. (Cả hai nhìn cái
cây) Mày có nhìn thấy những cái cây khác chứ?
(Hồi II)
Cái “ở đây” mà Vladimir nhận ra trong giây phút như là nơi gặp
gỡ Godot khơng có định danh. Nhà viết kịch không chỉ ra bất cứ
nét đặc thù nào ngoài một cái cây và một bãi hoang. Pozzo và
Lucky không nhớ “ngày hôm qua”, đôi giày khác màu và đã
chật hơn, cậu bé đưa tin thì quả quyết chưa hề gặp họ. Không
gian mà họ tưởng như quen thuộc cũng trở nên mơ hồ xa lạ. Họ
nghi ngờ trí nhớ và khả năng nhận biết và ghi nhớ của mình.
Sân khấu của Beckett bỗng trở nên trống rỗng, độc lập, khơng
có sự kết nối cần thiết với thế giới, nơi họ được tìm ra.
Trên sân khấu truyền thống, nhân vật được kết với vật thể và
môi trường của họ. Sự vật và môi trường để lộ ra rất nhiều và
ngược lại. Beckett sân khấu trong sự phá hủy, mà ở đó chức
năng và mọi biểu hiện bị xóa sạch. Ngơn ngữ, sự sắp đặt, nhân
vật và các vật thể trên sân khấu của ông tập trung ở trạng thái
gần như thiếu vắng cái thế giới mà chúng muốn biểu hiện.
Trong kịch truyền thống có sự đến và rời đi. Sân khấu là khơng
gian mở và thống. Sân khấu của Beckett là một khơng gian
khép kín và bất định dạng. Sân khấu là một thế giới hồn tồn
trơng trải. Hành trình của họ khơng tiến lên cũng không lùi lại,
không ai trong họ đến đích cả.
Vladimir: - Vậy ta đi chứ?
Estragon:- Ừ, đi
Chúng khơng hề nhúc nhích
Nếu như đối với thời gian, Beckett dồn nhiều tình tiết vào những
sự kiện khác nhau vào cùng một tình huống biến thành hỗn hợp
phi lịch sử thì ông cũng làm vậy đối với không gian. Không gian
của Trong chờ Godot thiếu vắng những hiện hữu quen thuộc.
Beckett bày ra trước mắt người đọc thế giới sự vật, đồ vật đơn
giản nhưng đầy ám ảnh. Nếu như kịch truyền thống, khán giả
được chứng kiến một thế giới y như thật thì trong kịch của
Beckett sự rập khn này đã giảm tới mức tối đa. Nó là sự hiện
hữu thiếu vắng sự hiện diện của sự sống, báo hiệu một tồn tại
phi lý của con người. Estragon ngủ quen trong cái hố, Lucky vác
lỉnh kỉnh những vali đồ đạc cổ quấn dây thừng đến trơ cả thịt.
Cảnh vật gây kinh hãi có thể khiến cho khán giả bị sốc, nhưng
rõ ràng Beckett muốn trình diễn trước chúng ta một nỗi khắc
khoải của con người trên mặt đất, khơng có sự chống đỡ nào
khác ngồi sự chơng đỡ bi hài mong thời gian trôi qua.
Kịch của Beckett đưa độc giả, khán giả vào một thế giới xa lạ
nơi họ bắt gặp những con người bị thui chột giác quan. Beckett
phá hủy lịch sử của nhân vật, đặt họ tồn tại trong khơng gian,
thời gian mà ở đó thời gian và khơng gian khơng cịn là yếu tố
để nhận thức sự hiện hữu của chính họ. Chính điều này là nhân
tố quan trọng để phá vỡ trong vở kịch này.
*
Nhắc đến Beckett, người ta nhắc đến Trong khi chờ Godot. Tác
phẩm này hay nhiều tác phẩm kịch phi lí khác, ra đời như tiếng
kêu thức tỉnh cả nhân loại đang tê liệt trong cơn ác mộng của
cuộc sống thường nhật. Beckett đã trăn trở tìm câu trả lời và bế
tắc. Ơng thể hiện phản ứng tuyệt vọng của mình vào các tác
phẩm.Trong khi chờ Godot “ấp úng” tiếng nói rời rạc, vô nghĩa
của mình để phản ứng với cuộc sống trong đó con người bị tha
hóa và chịu đọa đầy.