.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THANH TÂM
KHẢO SÁT CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC
TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THANH TÂM
KHẢO SÁT CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC
TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ – DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ
: 8720205
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN HƯƠNG THẢO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả nghiên cứu do tôi
tự khảo sát, phân tích và chưa từng được cơng bố trong bất kỳ cơng trình nghiên cứu
nào khác. Tất cả các tài liệu tham khảo trong luận văn đều được tham chiếu và trích
dẫn đầy đủ.
Tác giả luận văn
LÊ THANH TÂM
.
.
Luận văn thạc sĩ, Khóa 2020 – 2022
Chuyên ngành: Dược lý – Dược lâm sàng
KHẢO SÁT CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
Lê Thanh Tâm
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Hương Thảo
TÓM TẮT
Mở đầu: Các vấn đề liên quan đến thuốc (Drug-related problems, DRPs) xảy
ra phổ biến ở bệnh nhân ngoại trú, có thể làm giảm hiệu quả và an toàn trong điều trị.
Các nghiên cứu đã chứng minh sự can thiệp của dược sĩ lâm sàng có hiệu quả trong
việc làm giảm DRPs. Tuy nhiên, hiệu quả của các can thiệp này trên mức độ ảnh
hưởng lâm sàng của DRPs còn hạn chế.
Mục tiêu: Khảo sát DRPs trên đơn thuốc ngoại trú, đánh giá mức độ ảnh
hưởng của DRPs trên lâm sàng và tác động can thiệp của dược sĩ trên các DRPs.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, so
sánh 2 giai đoạn được thực hiện trên đơn thuốc ngoại trú của bệnh nhân từ 18 tuổi trở
lên, tại bệnh viện Thành phố Thủ Đức từ 01/11/2021 – 15/11/2021 (trước can thiệp)
và từ 01/06/2022 – 15/06/2022 (sau can thiệp). DRPs được xác định, phân loại theo
hệ thống Pharmaceutical Care Network Europe (PCNE) V9.1 và đánh giá mức độ
ảnh hưởng của DRPs trên lâm sàng theo thang đo Doerper. Can thiệp của dược sĩ bao
gồm kiểm tra đơn thuốc, phản hồi và thông tin về DRPs cho bác sĩ. Sau can thiệp, các
đơn thuốc được khảo sát và đánh giá lại về DRPs. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm
SPSS V26.0, với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
Kết quả: Trước can thiệp, có 65,7% đơn thuốc có ít nhất 1 DRP, chủ yếu liên
quan đến liều (34,9%) và thời điểm dùng thuốc (31,2%), với 2,4% đơn thuốc có DRPs
gây hại cho bệnh nhân. Sau can thiệp, tỷ lệ đơn thuốc có ít nhất 1 DRP giảm còn
37,3% (p < 0,001) và các loại DRP đều giảm có ý nghĩa (p < 0,001). Đơn thuốc có
DRPs gây hại cho BN giảm cịn 1,7% sau can thiệp (p < 0,05).
Kết luận: DRPs xảy ra phổ biến ở bệnh nhân ngoại trú. Can thiệp của dược sĩ
lâm sàng giúp làm giảm tỷ lệ đơn thuốc có DRPs, loại và mức độ ảnh hưởng của
DRPs trên lâm sàng.
Từ khóa: Các vấn đề liên quan đến thuốc, kê đơn, can thiệp, dược sĩ lâm sàng,
bệnh nhân ngoại trú.
.
.
Master thesis – Course 2020 – 2022
Major: Pharmacology and Clinical pharmacy
DRUG-RELATED PROBLEMS IN OUTPATIENTS’ PRESCRIPTIONS
AT THU DUC CITY HOSPITAL
Le Thanh Tam
Supervisor: Assoc. Prof. Nguyen Huong Thao
ABSTRACT
Introduction: Drug-related problems (DRPs) are common in outpatients, and
can reduce the effectiveness and safety of treatment. Studies have demonstrated that
pharmacists’ interventions are effective in reducing DRPs. However, the impact of
such interventions on clinical relevance of DRPs remains limited.
Objectives: To determine prevalence, types of DRPs in outpatients’
prescriptions, to evaluate the clinical relevance of DRPs, and to investigate the impact
of pharmacist interventions on DRPs.
Materials and methods: A cross-sectional study with pre- and postintervention measurement assessment was conducted on outpatients’ prescriptions
from 1st - 15th, November 2021 (pre-intervention) and from 1st - 15th, June 2022 (postintervention), at Thu Duc City hospital. Drug-related problems were identified and
categorized according to Pharmaceutical Care Network Europe (PCNE), version 9.1,
and evaluated the clinical relevance using Doerper scale. Pharmacists’ intervention
included reviewing prescriptions, giving feedback and information regarding DRPs
for physicians. After intervention, prescriptions were reevaluated for DRPs. Data
were analyzed using SPSS version 26.0 software with significant level of p < 0.05.
Results: In the pre-intervention period, the rate of prescriptions with at least 1
DRP was 65.7%, mostly involving medication dosage (34.9%) and timing of
administration (31.2%). Prescriptions with DRPs potentially harming patients was
2.4%. After intervention, the percentage of prescriptions with at least 1 DRP reduced
to 37.3% (p < 0.001), and most DRP types decreased significantly (p < 0.001).
Prescriptions with DRPs potentially harming patient intervention was 1.7%
(p < 0.05).
Conclusion: Drug-related problems were common in outpatients’
prescriptions. Pharmacists’ intervention helped reduce the prevalence, types, and
clinical relevance of DRPs.
Keywords: Drug-related problems, prescribing, intervention, clinical
pharmacist, outpatients.
.
.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................... i
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................3
1.1. Các vấn đề liên quan đến thuốc ...........................................................................3
1.2. Cách xác định các vấn đề liên quan đến thuốc trong kê đơn ...............................8
1.3. Can thiệp của dược sĩ lâm sàng trên các vấn đề liên quan đến thuốc ................17
1.4. Một số nghiên cứu liên quan ..............................................................................21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................27
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................27
2.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................28
2.3. Phân tích và trình bày số liệu .............................................................................41
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu ..................................................................................43
Chương 3. KẾT QUẢ .............................................................................................45
3.1. Các vấn đề liên quan đến thuốc giai đoạn trước can thiệp.................................45
3.2. Mức độ ảnh hưởng của các vấn đề liên quan đến thuốc trên lâm sàng..............54
3.3. Hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng trên các vấn đề liên quan đến thuốc .55
Chương 4. BÀN LUẬN ...........................................................................................64
4.1. Các vấn đề liên quan đến thuốc giai đoạn trước can thiệp.................................64
4.2. Mức độ ảnh hưởng của các vấn đề liên quan đến thuốc trên lâm sàng..............74
4.3. Hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng trên các vấn đề liên quan đến thuốc .76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................................86
DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH ĐÃ CƠNG BỐ CĨ LIÊN QUAN ..............88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
.
.
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ gốc
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ADE
Adverse Drug Event
Biến cố bất lợi của thuốc
ADR
Adverse Drug Reaction
Phản ứng có hại của thuốc
ATC
Anatomical Therapeutic Chemical Mã giải phẫu – điều trị – hóa học
BHYT
Bảo hiểm y tế
BN
Bệnh nhân
BYT
Bộ Y tế
COX
Cyclooxygenase
Enzym cyclooxygenase
DI
Drug Interaction
Tương tác thuốc
ĐLC
Độ lệch chuẩn
DRP
Drug Related Problem
Vấn đề liên quan đến thuốc
ICD-10
International Classification of
Hệ thống phân loại quốc tế về
Diseases version 10
bệnh tật phiên bản 10
Medication Error
Sai sót trong sử dụng thuốc
ME
Nghiên cứu
NC
NSAID
Non Steroid Anti-Inflammatory
Thuốc kháng viêm không steroid
Drug
PCNE
Pharmaceutical Care Network
Hệ thống chăm sóc dược Châu Âu
Europe
PPI
Proton Pump Inhibitor
TB
Thuốc ức chế bơm proton
Trung bình
.
.
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mối liên hệ giữa DRP, ADE, ADR và ME .................................................5
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của DRPs trên lâm sàng
...................................................................................................................................33
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tóm tắt nghiên cứu .........................................................................44
.
.
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Phân biệt các thuật ngữ DRP, ADE, ADR và ME .....................................4
Bảng 1.2. Hệ thống phân loại DRPs ...........................................................................6
Bảng 1.3. Phân loại DRPs trong kê đơn theo BYT ...................................................10
Bảng 1.4. Bảng phân loại DRPs theo PCNE.............................................................11
Bảng 1.5. Một số thang đo đánh giá mức độ ảnh hưởng DRPs trên lâm sàng .........14
Bảng 1.6. Các hình thức và phương pháp can thiệp DRPs trong kê đơn ..................20
Bảng 1.7. Tóm tắt các nghiên cứu liên quan .............................................................22
Bảng 2.1. Cơ sở dữ liệu để xác định DRPs ...............................................................29
Bảng 2.2. Tiêu chí xác định DRPs ............................................................................31
Bảng 2.3. Mức độ ảnh hưởng của DRPs trên lâm sàng ............................................34
Bảng 2.4. Nội dung và cách thực hiện can thiệp tại bệnh viện NC ..........................35
Bảng 2.5. Các giá trị của hệ số Fleiss’ kappa về mức độ đồng thuận ......................38
Bảng 2.6. Các biến số về đặc điểm bệnh nhân ..........................................................39
Bảng 2.7. Các biến số về đặc điểm đơn thuốc ..........................................................39
Bảng 2.8. Các biến số về đặc điểm DRPs trong đơn thuốc ......................................40
Bảng 2.9. Các biến số trong mơ hình hồi quy logistic đa biến .................................42
Bảng 3.1. Đặc điểm bệnh nhân giai đoạn trước can thiệp (n = 4586) ......................45
Bảng 3.2. Đặc điểm đơn thuốc giai đoạn trước can thiệp (n = 4586) .......................46
Bảng 3.3. Đặc điểm DRPs trong đơn thuốc giai đoạn trước can thiệp (n = 4586) ...48
Bảng 3.4. Các hoạt chất thường xảy ra DRPs về lựa chọn thuốc .............................49
Bảng 3.5. Các hoạt chất thường xảy ra DRPs về liều dùng ......................................50
Bảng 3.6. Các hoạt chất thường xảy ra DRPs về tần suất dùng thuốc ......................52
Bảng 3.7. Các hoạt chất thường xảy ra DRPs về thời điểm dùng thuốc ...................53
Bảng 3.8. Ý kiến của các chuyên gia đánh giá (n = 4586) .......................................54
Bảng 3.9. So sánh đặc điểm bệnh nhân giai đoạn trước và sau can thiệp.................55
Bảng 3.10. So sánh đặc điểm đơn thuốc giai đoạn trước và sau can thiệp ...............57
Bảng 3.11. So sánh tỷ lệ DRPs trong đơn thuốc giai đoạn trước và sau can thiệp ...58
Bảng 3.12. Mức độ ảnh hưởng của DRPs trên lâm sàng trước và sau can thiệp ......60
.
.
iv
Bảng 3.13. Các yếu tố liên quan đến việc xuất hiện DRPs trong đơn thuốc ............61
Bảng 5.1. Danh mục các cơng trình đã cơng bố .......................................................88
.
.
1
MỞ ĐẦU
Một trong những mục tiêu quan trọng của ngành y tế là sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (World
Health Organization, WHO), việc sử dụng thuốc khơng hợp lý vẫn cịn khá phổ biến,
đặc biệt là ở giai đoạn kê đơn, xảy ra ở hơn 50% các trường hợp kê đơn và cấp phát
thuốc 1. Điều này dẫn đến giảm hiệu quả điều trị và có thể gây ra các biến cố bất lợi
cho bệnh nhân. Một trong những khái niệm liên quan đến việc sử dụng thuốc không
hợp lý là các vấn đề liên quan đến thuốc (Drug related problems, DRPs). Các vấn đề
này được định nghĩa là một sự cố thực sự hoặc có khả năng ảnh hưởng đến kết quả
điều trị mong muốn 2.
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy DRPs liên quan đến việc giảm hiệu quả điều
trị, tăng tỷ lệ mắc bệnh, tăng tỷ lệ nhập viện, giảm chất lượng sống và tăng chi phí
điều trị cho bệnh nhân 3-6. Tuy vậy, một số nghiên cứu (NC) đã chỉ ra rằng 50 – 80%
DRPs có thể phịng ngừa được 7,8. Các NC trên thế giới đã áp dụng nhiều biện pháp
can thiệp nhằm giảm thiểu DRPs trong kê đơn, trong đó vai trị của dược sĩ lâm sàng
được nhấn mạnh thông qua việc giám sát sử dụng thuốc, đảm bảo an toàn cho bệnh
nhân
9,10
. Cụ thể, NC của Sagita (2018), thực hiện tại Indonesia, cho thấy hiệu quả
can thiệp của dược sĩ trong việc làm giảm từ 443 DRPs xuống còn 53 DRPs sau can
thiệp 11. NC của Sheleme và cộng sự (2021) đã chỉ ra sự can thiệp của dược sĩ góp
phần giảm thiểu 70,8% DRPs 12.
Tại Việt Nam, NC về can thiệp của dược sĩ trên DRPs ở giai đoạn kê đơn đã
được thực hiện tại một vài cơ sở, cho thấy vai trị tích cực của dược sĩ trong việc hạn
chế DRPs
13,14
. Ví dụ như NC của Nguyen (2022) đã chứng minh sự can thiệp của
dược sĩ làm giảm tỷ lệ đơn thuốc có ít nhất 1 DRP từ 88,8% xuống còn 74,9% 13. Tuy
nhiên, NC chỉ dừng lại ở việc xác định hiệu quả can thiệp trên tỷ lệ loại DRPs, mà
chưa đánh giá được tác động của can thiệp trên mức độ ảnh hưởng của DRPs trên lâm
sàng. Điều này gợi ý việc cần thiết phải có một NC phân tích sâu hơn về hiệu quả can
thiệp của dược sĩ không chỉ trên tần suất và loại DRPs mà còn trên mức độ ảnh hưởng
lâm sàng của các DRPs này.
.
.
2
Bệnh viện Thành phố Thủ Đức là một bệnh viện đa khoa hạng 1 với quy mô
gần 1000 giường bệnh, có 40 chun khoa và 9 phịng chức năng. Số lượng bệnh
nhân đến khám mỗi ngày trên dưới 4000 lượt. Theo hiểu biết của chúng tôi, hoạt động
dược lâm sàng tại bệnh viện mới được triển khai vào cuối năm 2019, cũng như chưa
có sự can thiệp một cách hệ thống của dược sĩ khi phát hiện các DRPs trên đơn thuốc.
Thêm vào đó, NC khảo sát và can thiệp về các DRPs trong kê đơn thuốc ngoại trú
cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của DRPs trên lâm sàng tại bệnh viện Thành
phố Thủ Đức vẫn chưa được thực hiện. Do đó, để góp phần vào việc hỗ trợ hoạt động
dược lâm sàng tại cơ sở, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát các vấn đề liên quan
đến thuốc trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thành phố Thủ Đức”
với các mục tiêu sau:
1.
Khảo sát các vấn đề liên quan đến thuốc trên đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện.
2.
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các vấn đề liên quan đến thuốc trên lâm sàng.
3.
Khảo sát tác động can thiệp của dược sĩ lâm sàng lên các vấn đề liên quan đến
thuốc trên đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện.
.
.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC
1.1.1. Khái niệm các vấn đề liên quan đến thuốc
Thuật ngữ “vấn đề liên quan đến thuốc” được Strand đề xuất lần đầu tiên vào
những năm 1990: “Một vấn đề liên quan đến thuốc tồn tại khi bệnh nhân xuất hiện
hoặc có khả năng xuất hiện một bệnh hoặc một triệu chứng có liên quan thực sự với
thuốc điều trị” 15.
Đến năm 1996, hiệp hội dược sĩ bệnh viện của Mỹ (American Society of
Hospital Pharmacists, ASHP) định nghĩa vấn đề liên quan đến thuốc (DRP): “là một
tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc, thực sự hoặc có khả năng gây trở ngại
cho việc đạt hiệu quả điều trị tối ưu trên bệnh nhân” 16.
Sau đó, vào năm 2009, hệ thống chăm sóc dược Châu Âu (Pharmaceutical
Care Network Europe, PCNE) đã định nghĩa: “vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) là
một biến cố hoặc tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc mà thực sự hoặc có
khả năng ảnh hưởng đến kết quả điều trị mong muốn” 17.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “các vấn đề liên quan đến thuốc” được nhắc đến trong
tài liệu hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh không lây
nhiễm, thuật ngữ này cũng được nhắc đến trong phiếu phân tích sử dụng thuốc do Bộ
Y tế (BYT) ban hành năm 2021, tuy nhiên vẫn chưa có định nghĩa cho thuật ngữ
này 18,19.
Trong NC này chúng tôi sử dụng khái niệm DRPs của PCNE, đây cũng là định
nghĩa được sử dụng hầu hết trong các NC về DRPs hiện nay 13,14,20,21.
Bên cạnh đó, một số thuật ngữ thường được xem gần nghĩa với DRPs như biến
cố có hại của thuốc (Adverse Drug Event, ADE), phản ứng có hại của thuốc (Adverse
Drug Reaction, ADR) và sai sót trong sử dụng thuốc (Medication Error, ME), vì đều
gây nguy hại cho sức khỏe của bệnh nhân. Tuy nhiên, các thuật ngữ này vẫn có sự
khác biệt nhỏ và được định nghĩa trong Bảng 1.1.
.
.
4
Bảng 1.1. Phân biệt các thuật ngữ DRP, ADE, ADR và ME
Thuật ngữ
Định nghĩa
DRP
Một biến cố hoặc tình huống liên quan đến điều trị bằng
thuốc mà thực sự hoặc có khả năng ảnh hưởng đến kết quả
điều trị mong muốn 17.
ADE
Bất kỳ một biến cố nào xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc
nhưng khơng nhất thiết do phác đồ điều trị gây ra 22,23.
Một phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện
ADR
ở liều thường dùng cho người để phịng bệnh, chẩn đốn
bệnh hoặc chữa bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh
lý 24,25.
Bất kỳ biến cố nào có thể phịng ngừa được, có khả năng
ME
gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không phù hợp hoặc
gây hại cho bệnh nhân trong khi thuốc nằm trong sự kiểm
sốt của chun gia chăm sóc sức khỏe 26,27.
Như vậy, DRPs là một thuật ngữ rộng hơn, bao quát các thuật ngữ còn lại và
được sử dụng để mô tả các vấn đề tiềm ẩn hoặc biểu hiện phát sinh từ việc sử dụng
thuốc ở bệnh nhân. Mối liên hệ giữa các vấn đề liên quan đến thuốc được thể hiện rõ
hơn trong Hình 1.1. Theo tác giả Ackroyd và cộng sự, một DRP gây tổn thương trực
tiếp gọi là DRP thực sự (hình bên trái) hoặc có nguy cơ gây tổn thương gọi là DRP
tiềm ẩn (hình bên phải) 28.
.
.
5
GÂY HẠI
KHƠNG GÂY HẠI
DRPs gây hại cho BN
DRPs
ADEs
MEs
ADRs
MEs
ADEs
tiềm ẩn
Hình 1.1. Mối liên hệ giữa DRP, ADE, ADR và ME
1.1.2. Các loại DRPs
DRPs có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ
kê đơn thuốc của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều
dưỡng và sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của người bệnh. Trong mỗi giai đoạn, DRPs
lại được chia thành nhiều loại khác nhau 29.
DRPs trong kê đơn, truyền đạt đơn thuốc: được tính từ khi bác sĩ kê đơn thuốc
đến khi đơn thuốc được chuyển đến khoa dược, DRPs bao gồm thiếu thông tin thuốc
trong đơn, lựa chọn thuốc, liều dùng, cách dùng thuốc, tương tác thuốc 29,30.
DRPs trong cấp phát thuốc: được tính từ khi đơn thuốc đến khoa dược đến khi
thuốc được phát đến khoa phòng để điều dưỡng thực hiện thuốc cho bệnh nhân nội
trú hoặc cấp phát cho bệnh nhân ngoại trú, DRPs bao gồm do sai thuốc (sai loại thuốc,
sai hàm lượng, sai dạng bào chế), sai nhãn thuốc, thiếu hoặc thừa thuốc, thuốc quá
hạn sử dụng 31.
DRPs trong chuẩn bị và thực hiện thuốc: bao gồm giai đoạn pha chế một số
thuốc đặc biệt tại khoa dược (thuốc độc tế bào, dịch nuôi dưỡng đường tĩnh mạch) và
điều dưỡng chuẩn bị thuốc (hồn ngun, pha lỗng thuốc, nghiền thuốc…), thực
.
.
6
hiện thuốc cho bệnh nhân, các DRPs bao gồm về loại thuốc, dung môi pha thuốc,
đường dùng, thời điểm dùng thuốc, tốc độ tiêm truyền, tương tác thuốc, kỹ thuật dùng
thuốc, bỏ thuốc 32.
DRPs về tuân thủ điều trị: được tính từ khi bệnh nhân xuất viện hoặc bệnh
nhân ngoại trú, các DRPs bao gồm sử dụng thuốc ít/nhiều hơn quy định, sử dụng
thêm thuốc khác ngoài chỉ định của bác sĩ, sử dụng thuốc không đúng cách chỉ dẫn
do không nhớ hoặc bệnh nhân thiếu kiến thức về bệnh tật 33. Trong NC này, chúng
tôi chỉ tập trung ở các DRPs trong kê đơn với mục đích nhằm phát hiện và làm giảm
thiểu loại DRP này.
1.1.3. Phân loại hệ thống DRPs
Hệ thống phân loại DRPs có ý nghĩa quan trọng trong các NC sử dụng thuốc,
một hệ thống phân loại rõ ràng, chi tiết sẽ giúp xác định chính xác và đầy đủ DRPs
gặp phải trong quá trình chăm sóc sức khỏe. Tác giả Basger và Adepu đã xác định có
khoảng 20 hệ thống phân loại DRPs khác nhau, đã được ứng dụng trong thực hành
lâm sàng 34,35. Mỗi hệ thống phân loại DRPs khác nhau đều gắn với đối tượng NC và
loại hình NC riêng. Do đó, để phù hợp với mục đích và đối tượng NC, việc lựa chọn
hệ thống phân loại đóng vai trị rất quan trọng. Bảng 1.2 dưới đây trình bày các hệ
thống phân loại DRPs thường gặp trong NC.
Bảng 1.2. Hệ thống phân loại DRPs
STT Hệ thống DRPs
1
Các loại DRP
Hệ thống phân loại 1. Chưa có chỉ định điều trị
Hepler – Strand của 2. Lựa chọn thuốc không đúng
Mỹ năm 1990 gồm 8 3. Số lượng thuốc quá ít
vấn đề 36.
4. Liều dùng q cao
5. Phản ứng có hại của thuốc
6. Khơng nhận được thuốc điều trị
7. Tương tác thuốc
8. Sử dụng thuốc khơng có sự chỉ định
.
.
7
STT Hệ thống DRPs
Các loại DRP
Hệ thống phân loại 1. Điều trị không cần thiết
2
Cipolle của Mỹ năm 2. Cần điều trị bổ sung
1998 gồm 7 vấn đề 3. Thuốc khơng hiệu quả
37,38
.
4. Liều q thấp
5. Phản ứng có hại của thuốc
6. Liều quá cao
7. Vấn đề về tuân thủ
3
Hệ thống phân loại 1. Khơng chắc chắn về mục đích của thuốc
Westerlund của Thụy 2. Sự trùng lặp thuốc
Điển năm 1999 gồm 3. Tương tác thuốc-thuốc
13 vấn đề 39.
4. Chống chỉ định
5. Trị liệu thất bại
6. Tác động bất lợi
7. Vấn đề về liều
8. Sử dụng ít thuốc
9. Sử dụng nhiều thuốc
10. Khó khăn trong việc nuốt viên nén/viên nang
11. Khó khăn trong mở hộp đựng thuốc
12. Các vấn đề khác về sử dụng thuốc
13. Khác
4
Hệ thống phân loại 1. Lựa chọn thuốc
DOCUMENT
của 2. Liều dùng
Williams năm 2012 3. Tuân thủ của bệnh nhân
gồm 8 vấn đề 40.
4. Các chỉ định chưa điều trị
5. Theo dõi hiệu quả và ADR
6. Giáo dục và thông tin thuốc
7. Các vấn đề liên quan khác
8. Độc tính và ADR
.
.
8
STT Hệ thống DRPs
5
Các loại DRP
Hệ thống phân loại 1. Lựa chọn thuốc
PCNE V9.1 của Châu 2. Lựa chọn liều
Âu năm 2020 gồm 9 3. Dạng dùng của thuốc
vấn đề 17.
4. Thời gian điều trị
5. Cấp phát thuốc
6. Quá trình sử dụng thuốc
7. Liên quan đến bệnh nhân
8. Liên quan đến bệnh nhân chuyển viện
9. Các vấn đề liên quan khác
Trong các hệ thống phân loại hiện hành, hệ thống DOCUMENT và
Westerlund thường được sử dụng để phân loại DRPs ở các nhà thuốc, hệ thống
Cipolle và PCNE thường được áp dụng để phân loại DRPs trong các cơ sở chăm sóc
sức khỏe 41,42.
1.2. CÁCH XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC TRONG KÊ
ĐƠN
1.2.1. Cơ sở xác định DRPs
Sự xuất hiện DRPs có thể dẫn đến thất bại trong điều trị, làm tăng tỷ lệ tái
khám và nhập viện trở lại, cũng như làm tăng nhu cầu kê đơn thuốc bổ sung và chi
phí điều trị đáng kể. Do vậy, việc xác định DRPs trong kê đơn là cần thiết. DRPs có
thể được xác định bằng cách so sánh sự phù hợp của chỉ định, liều lượng, tần suất
dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc và tương tác thuốc với các khuyến cáo hoặc các
hướng dẫn trong và ngoài nước. Phương pháp này thường được sử dụng trong nhiều
NC cũng như trong thực hành lâm sàng
43-45
. Các nguồn tài liệu tham chiếu thường
được dùng để so sánh:
-
Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc 43,46,47.
-
Hướng dẫn điều trị của quốc gia hoặc của bệnh viện 46-48.
-
Cơ sở dữ liệu thông tin thuốc, tương tác thuốc, bệnh học như: Micromedex,
Uptodate, Lexicomp, Drugs.com, Medscape.com 8,14,49.
.
.
9
Tại Việt Nam, các cơ sở dữ liệu dùng để tra cứu thông tin thuốc bao gồm dược
thư quốc gia Việt Nam 2018, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của BYT, cơ sở dữ liệu
ngành dược online drugbank.vn và một số tài liệu tham khảo nước ngồi được BYT
cơng nhận.
Thông thường người xác định DRPs là các dược sĩ lâm sàng 9,50-53. Một cách
gọi khác của việc xác định DRPs là giám sát kê đơn sử dụng thuốc và công việc này
được quy định rõ trong nghị định số 131/2020/NĐ – CP về tổ chức, hoạt động dược
lâm sàng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 54. Bên cạnh đó, sinh viên dược cũng có thể
được phân cơng xác định DRPs dưới sự hướng dẫn và giám sát của dược sĩ 8,49,55. Tại
các nước Châu Âu, dược sĩ cộng đồng (làm việc tại các nhà thuốc cộng đồng) cũng
tham gia vào việc xác định DRPs 56-58.
1.2.2. Phân loại DRPs
Để đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm giảm thiểu số lượng DRPs trong kê
đơn, việc xác định và phân loại DRPs được xem là một phần quan trọng của công
việc đánh giá thuốc, việc đánh giá này thường được thực hiện bởi dược sĩ lâm sàng
phối hợp với bác sĩ 59.
Theo các NC hiện nay, hệ thống phân loại của PCNE là hệ thống được sử dụng
hầu hết trong các nghiên cứu về DRPs
44,50,60,61
. Đây là một hệ thống phân loại chi
tiết, cập nhật thường xuyên, mỗi loại DRPs đều được định nghĩa rõ ràng và được mã
hóa. DRPs được chia thành các nhóm chính và các nhóm phụ, trong đó phân chia
theo nhóm vấn đề (hiệu quả, an toàn, các vấn đề khác), theo nguyên nhân (lựa chọn
thuốc, tần suất dùng thuốc, liều dùng…) và sau đó là kế hoạch can thiệp của dược sĩ
và sự chấp nhận can thiệp của bác sĩ. Hệ thống PCNE này được sử dụng nhiều trong
các NC về DRPs ở nhà thuốc cũng như bệnh viện và đã được dịch sang nhiều ngôn
ngữ khác nhau 62-64. Phiên bản mới nhất của hệ thống PCNE hiện nay là V9.1 được
cập nhật vào năm 2020, được bổ sung thêm vào mục nguyên nhân C8 về điều soát
thuốc giữa các lần chuyển viện của bệnh nhân so với phiên bản 8.1 trước đó 17.
Năm 2021, BYT đã ban hành mẫu phiếu phân tích sử dụng thuốc, làm căn cứ
cho dược sĩ lâm sàng tại các cơ sở y tế phân loại DRPs. Trong đó, bộ mã phân loại
.
.
10
các vấn đề liên quan đến thuốc bao gồm 8 vấn đề chính và bộ mã can thiệp của người
làm công tác dược lâm sàng được đề cập với 4 vấn đề chính 19. Các vấn đề chính được
trình bày tại Bảng 1.3.
Bảng 1.3. Phân loại DRPs trong kê đơn theo BYT
Mã
Các vấn đề liên quan đến thuốc
T1
Lựa chọn thuốc
T2
Liều dùng
T3
Tuân thủ điều trị của người bệnh
T4
Điều trị chưa đầy đủ
T5
Độ dài đợt điều trị
T6
Cần được theo dõi
T7
Độc tính và ADR
T8
Cấp phát thuốc
Mã
Can thiệp của người làm công tác dược lâm sàng
C1
Thay đổi điều trị
C2
Cần tham khảo thêm
C3
Cung cấp thông tin
C4
Theo dõi thêm
Tùy vào mục tiêu NC và nguồn tài liệu tham khảo, các cơ sở y tế thường sử
dụng các hệ thống phân loại có sẵn hoặc dựa vào đó để xây dựng hoặc điều chỉnh
thành hệ thống phân loại phù hợp với cơ sở của mình. NC của chúng tôi sử dụng hệ
thống phân loại PCNE V9.1, là phiên bản mới nhất được cập nhật vào đầu năm 2020.
Chúng tơi lựa chọn 1 số tiêu chí DRPs chính cũng như nguyên nhân gây ra DRPs
trong đơn thuốc và phân loại DRPs trong NC được trình bày tại Bảng 1.4.
.