.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM VŨ ÁNH NGUYỆT
HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP ÂM NHẠC
ĐỐI VỚI LO LẮNG TRONG PHẪU THUẬT
Ở BỆNH NHÂN GÂY TÊ TUỶ SỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM VŨ ÁNH NGUYỆT
HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP ÂM NHẠC
ĐỐI VỚI LO LẮNG TRONG PHẪU THUẬT
Ở BỆNH NHÂN GÂY TÊ TUỶ SỐNG
NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. NGUYỄN VĂN CHINH
2. GS.TS. JEANETTE MCNEILL
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là cơng trình nghiên cứu của chính
tơi. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan do
chính tác giả thực hiện và không vi phạm đạo đức nghiên cứu. Những số liệu, luận
cứ phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, bàn luận được chính tác giả thu thập từ các
nguồn khác nhau và có ghi rõ trích dẫn trong phần tài liệu tham khảo.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Vũ Ánh Nguyệt
.
.
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt ........................................................................................... i
Danh mục đối chiếu Việt - Anh ................................................................................. ii
Danh mục các bảng ................................................................................................... iii
Danh mục hình, biểu đồ, sơ đồ ................................................................................. iv
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .....................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................5
1.1. Gây tê tuỷ sống.....................................................................................................5
1.2. Lo lắng ...............................................................................................................12
1.3. Lo lắng trong phẫu thuật liên quan tới gây tê tuỷ sống......................................13
1.4. Âm nhạc .............................................................................................................16
1.5. Liệu pháp âm nhạc .............................................................................................18
1.6. Tình hình nghiên cứu sử dụng liệu pháp âm nhạc đối với lo lắng trên bệnh nhân
gây tê tủy sống....................................................................................................22
1.7. Lý thuyết điều dưỡng và sự ứng dụng trong nghiên cứu ...................................25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................29
2.1. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................29
2.2. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................29
2.3. Phương pháp chọn mẫu ......................................................................................29
2.4. Biến số nghiên cứu .............................................................................................33
2.5. Phương pháp thu thập số liệu .............................................................................38
2.6. Phương pháp xử lí số liệu...................................................................................41
2.7. Đạo đức nghiên cứu ...........................................................................................42
2.8. Lưu đồ nghiên cứu .............................................................................................42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ .........................................................................................44
3.1. Mô tả đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu.....................................................44
.
.
3.2. Mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước phẫu thuật và các yếu tố liên quan
………………………………………………………………………………….48
3.3. Hiệu quả liệu pháp âm nhạc đối với lo lắng trong phẫu thuật trên bệnh nhân gây
tê tủy sống. .........................................................................................................53
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ......................................................................................58
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và mối liên quan mức độ lo lắng
trước phẫu thuật..................................................................................................58
4.2. Hiệu quả của liệu pháp âm nhạc đối với giảm mức độ lo lắng theo thang điểm
STAI sau can thiệp. ............................................................................................64
4.3. Hiệu quả của liệu pháp âm nhạc đối với điểm lo lắng theo thang điểm STAI và
các dấu sinh hiệu sau can thiệp giữa hai nhóm nghiên cứu. ..............................67
4.4. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu .............................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
KIẾN NGHỊ .............................................................................................................74
TÀI LIỆU KHAM KHẢO
PHỤ LỤC
.
.
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÊN VIẾT TẮT
TÊN ĐẦY ĐỦ
C
Nhóm chứng
Cs
Cộng sự
M
Nhóm nghe nhạc
N
Số lượng bệnh nhân
.
.
ii
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU VIỆT ANH
AMTA
ASA
TÊN TIẾNG VIỆT
TÊN TIẾNG ANH
Hiệp hội Liệu pháp âm nhạc
American Association for
Hoa Kỳ
Music Therapy
Hội gây mê hồi sức Hoa Kỳ
American Society of
Anesthesiologists
BIS
Chỉ số độ sâu gây mê
Bispectral Index
BMI
Chỉ số khối cơ thể
Body Mass Index
HPA
Trục hạ đồi - tuyến yên -
Hypothalamic-pituitary-
tuyến thượng thận
adrenal (HPA) axis
ICU
Đơn vị chăm sóc đặc biệt
Intensive Care Unit
NAMT
Hiệp hội Trị liệu Âm nhạc
National Association for
Quốc gia
Music Therapy
Độ bão hòa oxy trong máu
Saturation of peripheral
ngoại vi
oxygen
Bảng điểm đánh giá lo lắng
State-Trait Anxiety Inventory
SPO2
STAI
của Spielberger
.
.
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng điểm đánh giá lo lắng của Spielberger ............................................40
Bảng 3.1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu………………………...….44
Bảng 3.2. Đặc điểm phẫu thuật của đối tượng nghiên cứu .......................................47
Bảng 3.3. Mối liên quan giữa mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước phẫu
thuật và đặc điểm cá nhân. ..............................................................................49
Bảng 3.4. Mối liên hệ giữa mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước phẫu thuật
và đặc điểm phẫu thuật. ...................................................................................51
Bảng 3.5. Hiệu quả của liệu pháp âm nhạc đối với mức độ lo lắng theo thang điểm
STAI sau can thiệp ..........................................................................................55
Bảng 3.6. Điểm lo lắng theo thang điểm STAI và chỉ số dấu sinh hiệu trước và sau
can thiệp giữa 2 nhóm nghiên cứu. .................................................................56
Bảng 4.1. Độ tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu………………………...…….60
Bảng 4.2. Điểm STAI của các nghiên cứu ................................................................68
.
.
iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Phương pháp gây tê tủy sống ......................................................................5
Hình 1.2. Giải phẫu cột sống .......................................................................................6
Hình 1.3. Biểu diễn mũi kim gây tê lần lượt đi qua các thành phần ...........................8
Hình 2.1. Lưu đồ nghiên cứu....................................................................................43
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Mức độ lo lắng theo thang điểm STAI tại thời điểm trước phẫu thuật 48
Biểu đồ 3.2. So sánh mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước và sau phẫu thuật
ở nhóm nghe nhạc............................................................................................53
Biểu đồ 3.3. So sánh mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước và sau phẫu thuật
ở nhóm chứng ..................................................................................................54
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ ứng dụng của lý thuyết về sự thoải mái vào nghiên cứu ...............28
Sơ đồ 2.1. Phương pháp tiến hành nghiên cứu…...……………..…………………33
.
.
1
MỞ ĐẦU
Ngày nay, những tiến bộ về kỹ thuật, thiết bị và dược lý trong ngành Gây mê Hồi
sức đã làm tăng độ chính xác, giảm rủi ro trong y khoa, dần dần cho phép tỷ lệ gây
tê vùng được thực hiện nhiều hơn phù hợp với điều kiện ở từng quốc gia
1 2
. Một
trong những phương pháp gây tê vùng được sử dụng rộng rãi giúp bệnh nhân phẫu
thuật là phương pháp gây tê tuỷ sống. Gây tê tuỷ sống có tác dụng giảm đau trong
và sau phẫu thuật, rút ngắn thời gian chuyển hồi tỉnh, thời gian nằm viện 3. Ngồi
ra, phương pháp vơ cảm này cịn hạn chế các tác dụng phụ như biến chứng đường
hô hấp ở những bệnh nhân có đường hơ hấp đe dọa tính mạng, đặc biệt ở bệnh nhân
sản khoa và bệnh nhân có bệnh lý phổi từ trước 4 và giảm mất máu trong phẫu thuật
chỉnh hình khớp háng, giảm tỷ lệ hình thành cục máu đơng sau phẫu thuật ở phẫu
thuật chi dưới 5. Bên cạnh đó, với một số lượng đáng kể bệnh nhân COVID-19
khơng có triệu chứng và một tỷ lệ lớn các xét nghiệm PCR âm tính giả, gây tê tuỷ
sống đã được khuyến cáo là thích hợp hơn so gây mê tồn thân vì làm giảm nguy cơ
tạo ra giọt bắn do thao tác trên đường thở, giảm khả năng lây lan COVID-19 cho tất
cả mọi người trong mơi trường kín của phịng mổ 6 7.
Tuy nhiên, phẫu thuật dưới phương pháp gây tê tuỷ sống, bệnh nhân hoàn toàn
tỉnh táo trong suốt cuộc phẫu thuật và họ có những mối lo lắng khác nhau khiến họ
có thể từ chối phương pháp vơ cảm này. Điều này xảy ra bởi mơi trường phịng mổ
xa lạ, vơ trùng và lạnh lẽo khiến bệnh nhân tiềm ẩn một trải nghiệm khó chịu và
khơng thoải mái. Một số nghiên cứu đã gợi ý rằng âm thanh trong phòng mổ bao
gồm tiếng báo động của máy theo dõi, âm thanh dụng cụ phẫu thuật va chạm, cùng
với độ hẹp của bàn mổ và nhiệt độ môi trường thấp, tất cả đều làm tăng sự lo lắng
trong quá trình phẫu thuật 8. Sự đụng chạm của bác sĩ phẫu thuật, bị đâm kim nhiều
lần hoặc có khả năng sử dụng khơng đủ thuốc gây tê cũng đã dẫn đến sự e ngại gia
tăng 8. Ngồi ra, góp phần gây ra lo lắng cịn có những vấn đề như chảy máu, mùi
thuốc hoặc kinh nghiệm phẫu thuật trước đây của bệnh nhân làm họ xuất hiện một
số ý nghĩ từ chối quá trình điều trị 9. Đó là một số lý do phổ biến khiến nhiều người
mong muốn gây mê toàn thân hơn là gây tê tuỷ sống.
.
.
2
Khi lo lắng trong phẫu thuật xuất hiện nhưng không được kiểm soát tốt trên bệnh
nhân tỉnh táo, sẽ dẫn đến việc tăng nhu cầu sử dụng thuốc gây mê và có nguy cơ
kích thích hệ thần kinh giao cảm làm tăng tiết epinephrine dẫn đến tăng lo lắng,
nhịp tim, nhịp thở và huyết áp
10
. Lo lắng quá mức cũng có ảnh hưởng nồng độ
cortisol trong máu, do đó có thể ảnh hưởng đến phản ứng miễn dịch và làm chậm
quá trình chữa lành vết thương, đồng thời làm tăng nguy cơ nhiễm trùng
11
Nếu
những bất thường này không được điều trị đúng cách, chúng có thể là những triệu
chứng tiềm ẩn dẫn đến thất bại trong điều trị và sự hồi phục sau phẫu thuật của bệnh
nhân.
Chính vì thế, có nhiều quan tâm đến việc nghiên cứu các biện pháp can thiệp
giảm lo lắng và những ảnh hưởng có thể có của lo lắng tới kết quả của các phương
pháp điều trị phẫu thuật. Một trong những biện pháp can thiệp an tồn, hiệu quả,
khơng xâm lấn và tiết kiệm chi phí đó là liệu pháp âm nhạc. Việc sử dụng âm nhạc
như một phương pháp trị liệu đã có một lịch sử lâu đời. Như các bản khắc ở Ai Cập
cổ đại, Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ và La Mã đã nói về âm nhạc như một phương
pháp chữa bệnh với tác dụng thư giãn làm giảm lo lắng và tạo ra sự thư thái 12. Lợi
ích của liệu pháp âm nhạc bao gồm điều hòa huyết áp, giảm nhịp tim 10, kiểm soát
nhịp thở và tăng độ bão hòa oxy
13
. Nghiên cứu của Bae và Cs
14
đã chứng minh
rằng khi nghe nhạc, bệnh nhân chuyển sự chú ý của họ ra khỏi tiếng ồn trong môi
trường và việc nghe được cuộc trị chuyện của nhóm phẫu thuật cũng được tránh
hoặc giảm bớt. Kết quả cũng được ghi nhận tương tự ở nghiên cứu Komurcu và Cs
15
, Sarkar và Cs 16 là sự lo lắng của bệnh nhân đã được giảm bớt khi bệnh nhân được
nghe nhạc. Điều quan trọng nhất là âm nhạc làm giảm các biến chứng liên quan đến
lo lắng bao gồm đau sau phẫu thuật, suy giảm hệ thống miễn dịch, kéo dài thời gian
hồi phục và thời gian nằm viện 3 17.
Tại Việt Nam, vai trò âm nhạc trong ngành y tế còn khá mới mẻ. Nghiên cứu
chứng minh hiệu quả âm nhạc đối với lo lắng ở được thực hiện đầu tiên vào năm
2020 của tác giả Trần Anh Vũ cùng cộng sự 18. Trong nghiên cứu này, tác giả khảo
sát 82 bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng được chia thành 2 nhóm đối chứng. Kết quả ghi
.
.
3
nhận rằng, ở nhóm bệnh nhân sau khi được can thiệp cho nghe nhạc, mức độ lo lắng
theo thang điểm lo lắng STAI giảm nhiều từ 14,6% cịn 7,3% có ý nghĩa thống kê
với p < 0,05. Trong khi nhóm chứng khơng có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về
mức độ lo lắng. Điều đó cho thấy âm nhạc là một can thiệp không dùng thuốc
nhưng rất hiệu quả, chi phí thấp, an tồn để giảm bớt lo lắng ở bệnh nhân.
Vì những lý do trên và hiểu được tầm quan trọng trong việc kiểm soát và loại bỏ
lo lắng là một cân nhắc cho quá trình chăm sóc trong phẫu thuật của cán bộ y tế.
Chúng tơi quyết định thực hiện nghiên cứu đánh giá “Hiệu quả của liệu pháp âm
nhạc đối với lo lắng trong phẫu thuật ở bệnh nhân gây tê tuỷ sống”. Câu hỏi đặt ra
là liệu rằng liệu pháp âm nhạc có hiệu quả giảm lo lắng trong phẫu thuật ở bệnh
nhân gây tê tuỷ sống tại Khoa Gây mê Hồi sức Bệnh viện Nhân Dân Gia Định hay
không? Với kỳ vọng cao rằng kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho
các cán bộ y tế trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.
.
.
4
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xác định mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước phẫu thuật ở bệnh nhân
gây tê tủy sống.
2. So sánh mức độ lo lắng theo thang điểm STAI trước và sau can thiệp của từng
nhóm có và khơng can thiệp liệu pháp âm nhạc ở bệnh nhân gây tê tủy sống.
3. So sánh điểm lo lắng theo thang điểm STAI và các dấu sinh hiệu sau can thiệp
giữa hai nhóm có và khơng can thiệp liệu pháp âm nhạc ở bệnh nhân gây tê tủy
sống.
.
.
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Gây tê tuỷ sống
Nguồn Richard M. Pino và Cs 19 , Ronald D. Miller và Cs 20
1.1.1. Định nghĩa:
Gây tê tủy sống còn được gọi là gây tê dưới màng cứng hay gọi chính xác hơn là
gây tê khoang dưới màng nhện. Đây là một trong những phương pháp gây tê vùng,
thực hiện bằng cách đưa một lượng thuốc tê thích hợp vào khoang dưới màng nhện,
thuốc tê hòa vào dịch não tủy. Thường thuốc tê này có nồng độ lớn, khi thuốc tê hòa
chung vào dịch não tủy sẽ làm nồng độ thuốc tê nhỏ bớt so với lúc ban đầu, thuốc tê
sẽ tác dụng vào những rễ thần kinh gây nên mất cảm giác và liệt vận động. Đây là
một phương pháp vô cảm đặc biệt trong chuyên ngành gây mê hồi sức nên chỉ
những người có nhiều kinh nghiệm và nắm vững những nguyên tắc mới nên thực
hiện.
Hình 1.1. Phương pháp gây tê tủy sống
1.1.2. Giải phẫu sinh lý liên quan gây tê tuỷ sống
1.1.2.1 Cột sống
Cột sống là một cột xương từ mặt dưới xương chẩm đến hết xương cụt, cột sống
bao bọc và bảo vệ tủy sống. Nhìn nghiêng cột sống có bốn đoạn cong sinh lý:
-
Đoạn cổ lịi ra trước, cong nhất ở C4
-
Đoạn ngực lồi ra sau, cong nhất ở D6
-
Đoạn thắt lưng lồi ra trước, cong nhất ở L3
-
Đoạn cùng lồi ra sau
.
.
6
Các chiều cong này nhiều hay ít phụ thuộc vào lứa tuổi, giới, tình trạng sinh
bệnh lý. Các điểm cong nhất cũng là chỗ dễ vận động nhất nên dễ chọc kim khi gây
tê.
Cột sống có từ 34 – 36 đốt sống xếp chồng lên nhau, 25 đốt trên rời nhau gồm
có: 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực và 5 đốt thắt lung, 5 đốt tiếp dưới dính lại tạo
thành xương cùng và 4 – 6 đốt cuối cùng nhỏ cằn cỗi dính lại tạo thành xương cụt.
Giữa hai đốt sống kề nhau tạo thành khe liên đốt. Một đốt sống điển hình gồm:
thân sống, lỗ sống, mõm gai, mõm ngang, cung sống.
Nhìn trước
Nhìn bên
Nhìn sau
Đoạn cổ
Đoạn ngực
Đoạn thắt lưng
Xương cùng
Hình 1.2.Hình
Giải 1phẫu
abc cột sống
X.cùng cụt
1.1.2.2 Hệ thống dây chằng
Dây chằng trên gai: dây cứng, rộng 1,2 cm, nối dính 2 gai sống liên tiếp, kéo dài
suốt cột sống, tuổi càng cao dây này càng cứng và bị hóa vơi.
Dây chằng liên gai: là dây mỏng, nối bờ dưới của 1 gai sống với bờ trên của 1 gai
sống lân cận.
.
.
7
Dây chằng vàng: gồm những sợi đàn hồi, tạo nên phần chính của thành sau kênh
sống, dày nhất ở vùng thắt lưng. Khi đi qua dây chằng vàng là vào khoang ngoài
màng cứng.
1.1.2.3 Tuỷ sống
Chiếm 2/3 chiều dài của ống tủy sống, khoảng 45 cm. Phía trên được giới hạn
bởi phía dưới hành tủy và bên dưới đến khoảng thắt lưng thứ hai kéo dài bằng
những sợi thần kinh chùm đi ngựa. Hai bên tủy sống có những đơi rễ thần kinh từ
tủy sống đi ra. Ở bào thai, tủy sống và ống tủy sống dài bằng nhau. Do sự phát triển
nhanh hơn của ống sống so với tủy sống nên khi trưởng thành ống sống dài hơn tủy
sống.
Tủy sống được 3 lớp màng bao bọc:
-
Màng cứng: là một tổ chức xơ, bên trên giới hạn từ lỗ chẩm tới bên dưới ở
khoảng đốt cùng thứ hai, bên ngoài là khoang ngồi màng cứng cho tới màng
xương, trong đó chứa mỡ, đám rối tĩnh mạch và các rễ thần kinh.
-
Màng nhện: là một màng mỏng và trong, đó là một màng mao mạch, màng
cứng và màng nhện dính sát vào nhau.
-
Màng nuôi: là lớp trong cùng, bao quát quanh tủy sống.
Khoang dưới màng cứng: từ phía ngồi màng ni đến phía trong màng nhện.
Trong khoang dưới màng cứng, chứa rễ thần kinh, dây chằng răng cưa liên kết giữa
màng nhện và màng nuôi, dịch não tủy. Khoang dưới màng cứng thông với hệ
thống não thất. Rễ thần kinh nằm trong khoang dưới màng cứng khơng có lớp màng
bao, do đó thuốc tê dễ ngấm vào.
Tủy sống có 31 đơi dây thần kinh: 8 đôi cổ, 12 đôi ngực, 5 đôi thắt lưng, 4 đôi
cùng và một cụt.
Hệ động mạch chi phối cho tủy sống đều nằm ở mặt trước tủy nên ít gặp biến
chứng khi gây tê tủy sống. Trong khi ở vùng cổ có 4-8 động mạch chi phối, cịn ở
vùng ngực – thắt lung chỉ có 1 nên có nhiều nguy cơ bị thiếu máu tủy.
Khi chọc tủy sống, mũi kim sẽ lần lượt đi qua các thành phần sau:
-
Lớp da và mô mỡ dưới da
.
.
8
-
Dây chằng trên gai
-
Dây chằng liên gai
-
Dây chằng vàng
-
Màng cứng
-
Màng nhện
-
Khoang dưới màng nhện
Hình 1.3. Biểu diễn mũi kim gây tê lần lượt đi qua các thành phần
1.1.2.4 Dịch não tuỷ
Dịch não tủy chứa trong các não thất và khoang dưới nhện.
Nguồn gốc: được tiết ra chủ yếu từ các đám rối màng mạch trong các não thất và
huyết tương thốt ra từ các mạch máu trong khoang dưới nhện
Tính chất:
-
Dịch não tủy trong suốt, không màu
-
Tỷ trọng: 1,003 – 1,010
-
Áp lực trung bình là 148 mmH2O
-
Dung lượng khoảng 80 – 200 ml được đổi mới 4 -5 lần/ ngày. Số lượng
của dịch não tủy phụ thuộc vào áp lực thủy tĩnh và áp lực keo của máu.
.
.
9
-
Sự tuần hoàn của dịch não tủy bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: mạch đập của
động mạch, thay đổi tư thế, một số các thay đổi áp lực trong ổ bụng và
màng phổi. Sự hấp thụ thuốc từ dịch não tủy trở lại lòng mạch là nhờ lọc
và thẩm thấu.
Nơi chứa: Dịch não tủy chứa trong các não thất và khoang dưới nhện, chia thành
hai ngăn thông nhau:
-
Ngăn trong là hệ thống não thất hay hệ thống tạo thành
-
Ngăn ngoài hay hệ thống hấp thu: khoang dưới nhện với các bể chứa. Bể
chứa lớn nhất là bể chứa tiểu hành não.
-
Các chỗ thông nhau giữa hai ngăn là lỗ giữa và hai lỗ bên.
1.1.3. Chỉ định và chống chỉ định:
1.1.3.1 Chỉ định
Gây tê tủy sống để mổ cho các cuộc mổ vùng chi phối bởi thần kinh dưới D4.
Đặc biệt những chỉ định sau:
-
Phẫu trường cần ít chảy máu.
-
Phẫu thuật cần ruột co nhỏ, cắt nối ruột non, ruột già, ruột thẳng, hậu môn.
-
Phẫu thuật vùng bụng, phụ khoa ở những người mập mạp mạch máu co
thắt.
-
Phẫu thuật sản khoa vì nó khơng làm hại cho bé và tránh nguy cơ hít chất
ói mửa của người mẹ, tuy nhiên cần chú ý đến tai biến gây tụt huyết áp
khi gây tê tủy sống
-
Phẫu thuật những bệnh nhân đang bị những bệnh thuộc hệ thống hô hấp:
viêm phổi, hen suyễn, khí phế thũng, lao.
-
Phẫu thuật ở những bệnh nhân có chức năng gan thận suy kém.
-
Phẫu thuật ở những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường.
-
Hầu hết các cuộc mổ tiết niệu đều có thể tiến hành gây tê tủy sống. Nhưng
các trường hợp mổ tiết niệu cả hai bên hay đường rạch mổ lên cao có thể
cần phối hợp với kỹ thuật gây mê – tê khác và theo dõi cẩn thận về chức
năng tuần hồn – hơ hấp.
.
.
10
1.1.3.2 Chống chỉ định
-
Bệnh nhân bị tăng áp lực nội sọ.
-
Bệnh nhân bị nhiễm trùng cột sống nơi sẽ chọc dị.
-
Bệnh nhân có rối loạn đơng máu hay đang dùng thuốc chống đơng như
Hesparine, Aspirine.
-
Bệnh nhân có dị tật, bất thường cột sống, vẹo, gù xẹp đốt sống đã mổ cắt
bản sống.
-
Bệnh nhân bị sốc thiếu khối lượng tuần hoàn chưa hồi phục hay chưa bù
đủ khối lượng tuần hoàn, huyết áp thấp.
-
Bệnh nhân bị cao huyết áp, thiểu năng vành, mới bị nhồi máu cơ tim.
-
Bệnh nhân bị viêm phúc mạc, thủng tạng rỗng.
-
Bệnh nhân không đồng ý hay người làm thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu
những phương tiện để hồi sức cấp cứu.
1.1.4. Những vấn đề liên quan đến gây tê tuỷ sống ở bệnh nhân.
1.1.4.1 Ưu điểm của gây tê tuỷ sống
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chứng minh tính ưu việt của phương pháp gây
tê tuỷ sống so với phương pháp gây mê toàn thân qua nội khí quản trên một số mặt
bệnh có thể được thực hiện được dưới phương pháp này.
Trong một nghiên cứu hệ thống và đánh giá tổng hợp về phẫu thuật chỉnh hình
thay khớp háng tồn phần, thấy rằng gây tê tủy sống ưu việt hơn gây mê toàn thân
về sự ít xuất hiện của buồn nôn và rút ngắn thời gian nằm viện 3. Maurer và cộng sự
21
báo cáo rằng gây tê tủy sống có liên quan với việc giảm đáng kể mất máu và sau
đó truyền máu. Tuy nhiên, Harsten và cộng sự
22
đã báo cáo rằng có khơng có sự
khác biệt đáng kể giữa mức hemoglobin sau khi phẫu thuật chỉnh hình thay khớp
háng tồn phần giữa gây mê toàn thân và gây tê tủy sống.
Gây tê tuỷ sống đã được báo cáo để bảo vệ chống lại huyết khối tĩnh mạch sâu và
thuyên tắc phổi là những biến chứng có thể xảy ra tai biến của phẫu thuật tạo hình
khớp tồn bộ 23. Ngồi ra một số nghiên cứu liên quan đến việc thay toàn bộ khớp
.
.
11
háng hoặc đầu gối dưới gây tê tuỷ sống với nguy cơ nhiễm trùng thấp hơn so với
gây mê toàn thân và khả năng kiểm soát cơn đau sau phẫu thuật. 24
Một nghiên cứu hồi cứu so sánh kết quả sản khoa của những sản phụ được cấp
cứu mổ bắt con dưới gây tê tủy sống so với những sản phụ được phẫu thuật dưới
gây mê toàn thân. Cho thấy gây tê tủy sống có liên quan đến việc giảm nguy cơ mất
máu và giảm nguy cơ điểm Apgar thấp ở trẻ trong phút đầu tiên
25
. Sina Ghaffari
cùng Cs khảo sát ảnh hưởng của tê tuỷ sống đối với chất lượng cuộc sống ở phụ nữ
sinh mổ theo yêu cầu. Nghiên cứu cho thấy gây tê tủy sống là kỹ thuật thường được
lựa chọn để mổ lấy thai, không chỉ vì nó tránh được những rủi ro của gây mê tồn
thân, bao gồm nguy cơ đặt nội khí quản thất bại và hậu quả của nó, mà cịn vì nó
kiểm soát cơn đau hiệu quả, sớm đi tiêu, tiểu. Từ đó, sản phụ mới sinh nhanh chóng
trở lại sinh hoạt hàng ngày, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. 26
1.1.4.2 Tai biến – biến chứng của gây tê tủy sống
➢ Trong khi tiến hành:
-
Thất bại khơng chọc dị được khoang dưới nhện
-
Chọc vào rễ thần kinh: bệnh nhân có thể biểu hiện: đau nhói, giật chân
một hoặc hai bên. Các tổn thương này có thể hồi phục sau 1 – 2 tuần hoặc
có thể thành tổn thương vĩnh viễn.
-
Tổn thương thần kinh muộn do tắc động mạch tủy sống, viêm màng nhện
hoặc tụ máu chèn ép. Các tổn thương này khó chẩn đốn và điều trị hơn
và có thể để lại di chứng lâu dài.
➢ Sau chọc dò tuỷ sống
-
Hạ huyết áp
-
Nhịp tim chậm
-
Hơ hấp giảm
-
Buồn nơn và nơn
-
Bí tiểu
-
Nhiễm trùng
-
Nhức đầu
.