MỤC LỤC
PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (TTCK)
1.1. Chứng khoán
1.1.1. Khái niệm chứng khoán
Theo khoản 1 điều 6, Luật Chứng khoán 2006 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
Luật chứng khoán số 62/2010/QH12 thì chứng khoán được hiểu là bằng chứng xác
nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ
chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ
hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
1.1.2. Phân loại chứng khoán
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ
− Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
− Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
− Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư
đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp
đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán
− Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành
kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện
hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định.
− Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành
trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được
quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác
định trước trong thời kỳ nhất định.
− Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho
phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng
khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá
được xác định trước.
− Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm
chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức
giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai.
2
1.1.3. Đặc điển chứng khoán
a Tính thanh khoản cao
− Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng. Tuy nhiên tính
thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
− Thứ nhất, kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu
niêm yết). Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ
tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ
mua bán trên thị trường. Ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quả
không trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và khó
bán.
− Thứ hai, là mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường
cổ phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của qui
luật cung cầu. Giá cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất
lượng công ty mà còn phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư. Tuy
một loại cổ phiếu rất tốt nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung (nhiều
hàng bán) thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá. Ngược lại khi thị trường
khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng
có thể bán dễ dàng.
c) Có tính lưu thông
− Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu
như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành
tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực
hiện được nhiều hoạt động như thừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài
sản của mình.
d) Tính tư bản giả
− Cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền. Tuy nhiên
cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng
tiền. Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu.
e) Tính rủi ro cao
− Khi đã phát hành cổ phiếu không còn đem lại rủi ro cho tổ chức phát hành
mà rủi ro lúc này thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu. Nguyên nhân là do giá trị
của cổ phiếu do các nguyên nhân khách quan quyết định: kết quả kinh
doanh của tổ chức phát hành cổ phiếu, tình hình chính trị,kinh tế xã hội
của quốc gia và toàn thế giới, hơn nữa còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý của số
đông nhà đầu tư khi nắm bắt các thông tin không chính xác.
3
1.1.4.
4
1.2. Thị trường chứng khoán
1.2.1. Thị trường chứng khoán là gì?
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển
nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán hoặc bút toán ghi
sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp phát của người sở hữu chứng khoán đối với tài
sản hoặc vốn của tổ chức phát hành (các quyền này có sự khác nhau giữa các loại
chứng khoán, tùy theo tính chất sở hữu của chúng) gồm: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng
chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.
Bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa
cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của thông tin chứng khoán chứa đựng
thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoanslaf hình
thức phát triển bậc cao của nề sản xuất lưu thông hàng hóa.
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng
nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy
chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ
phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một
cổ đông đối với một công ty cổ phần.
Trái phiếu là một loại chứng khoỏn nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận
nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu.
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được coi là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh
tế hiện đại. Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên
thị trường chứng khoán. Hình thức sơ khai của TTCK đã xuất hiện cách đây hàng
trăm năm. Vào khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước
phương tây, trong các chợ phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại các
quán cà phê để thương lợng mua bán, trao đổi hàng hoá. Đặc điểm của hoạt động này
là các thương gia chỉ trao đổi bằng lời nói với nhau về các hợp đồng mua bán mà
không có sự xuất hiện của bất cứ hàng hoá, giấy tờ bào. Đến cuối thể kỷ 15 “khu chợ
riêng” đã trở thành thị trường hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định
cho các cuộc thương thương lượn. Những quy ước này dần trở thành các quy tắc có
tính chất bắt buộc với các thành viên tham gia.
5
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1453 tại một lữ quán tại gia đình Vanber tại tành
phối Bruges (Bỉ). Trược lữ quán có một bảng hiệu vẽ 3 túi da và chữ. Ba túi da tượng
trưng cho ba nội dung của thị trường: thị trường hàng hoá, thị trường ngoại tệ và thị
trường chứng khoán động sản còn chữ bourse có nghĩa là mậu dịch thị trường hay còn
gọi là nơi buôn bán chứng khoán.
Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa biển Evin nơi
dẫn các tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất.
Tuy nhiên, vào năm 1531 thị trường này đã được dời tới thành phố cảng
Anvers(bỉ), từ đó thị trường này phát triển nhanh chóng. Một thị trường như vậy cũng
được thành lập ở London vào thế kỷ 18 sau đó một loại thị trường tại Pháp, Đức, ý và
một số nước Bắc Âu và Mỹ cũng được thành lập. Sau một thời gian hoạt động thị
trường đã chứng tỏ không đáp ứng được yêu cầu của cả 3 giao dịch khác nhau. Vì thế,
thị trường hàng hoá được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được
tách ra và phát triển thành thị trường hối đoái. Thị trường chứng khoán động sản trở
thành thị trường chứng khoán. Như vậy, thị trượng chứng khoán được hình thành cùng
với thị trường hàng hoá và thị trường hối đoái.
Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăng
trầm. Lịch sử đã ghi nhận hai đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các thị trường chứng
khoán lớn ở Mỹ, Tâu Âu, Bắc Âu, Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ vào “ngày thứ
năm đen tối”, 29/10/1929 và “ngày thứ hai đen tối” 19/10/1987. Song, trải qua các
cuộc khủng hoảng, cuối cùng thị trường chứng khoán lại được phục hồi và tiếp tục
phát triển, trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường.
1.2.3. Chức năng của TTCK
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do
các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh
doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và
chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử
dụng và đầu tư phát triển hạ tần kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng
một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng
khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các
nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích
của mình.
6
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK, các nhà đầu tư có thể
chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác
khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng
khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu
tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các
chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt động của
các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh
giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó
cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Các chỉ
báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác.
Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng;
ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì
thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng
giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ
có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách
và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện
pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối
của nền kinh tế.
1.2.4. Cấu trúc và phân loại cơ bản thị trường chứng khoán
− Căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn, TTCK có hai loại:
+ Thị trường sơ cấp: là thị trường phát hành các chứng khoán hay là nơi mua
bán các chứng khoán lần đầu tiên. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ
được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng
khoán mới phát hành, giá cả của chứng khoán là giá phát hành.Thị trường
sơ cấp còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành. Thị trường sơ
cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là huy
động vốn cho nhà đầu tư. Thị trường sơ cấp vừa có khả năng thu gom mọi
nguồn vốn tiết kiệm nhỏ của từng hộ dân cư, vừa có khả năng thu hút
nguồn vốn to lớn từ nước ngoài; các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các
doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, Chính phủ tạo thành một nguồn vốn
khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các phương thức khác không thể làm
được. Như vậy, thị trường sơ cấp tạo ra môi trường cho các doanh nghiệp
gọi vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh.
7
+ Thị trường thứ cấp: Là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng
khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư
hay di chuyển tài sản xã hội. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản
cho các chứng khoán đã phát hành (tăng tính lỏng cho các chứng khoán
phất hành) =>làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro
cho các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, chọn,
thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ sở đó giảm ch phí cho các nhà
phát hành trong việc huy động và sử dụng vốn. Tạo điều kiện cho việc
chuyển đổi thời hạn của vốn từ ngắn hạn sang trung và dài hạn, đồng thời
tạo điều kiện cho việc phân phối vốn một cáh hiệu quả. Sự di chuyển trong
đầu tư kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế “bàn tay vô hình” cơ chế
xác định giá chứng khoán và thông qua hoạt động thâu tóm, sap nhập doanh
nghiệp trên thị trường thứ cấp. Thông qua việc xác định giá thị trường thứ
cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro
khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho các nhà
phát hành cũng như các nhà dầu tư trên thị trường sơ cấp. thông qua cơ chế
“bàn tay vô hình” vốn sẽ được chuyển tới những công ty nào làm ăn có hiệu
quả nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội. Dù công ty có được
niêm yết nhưng nếu không phát hành (thêm) cổ phiếu mới thì cũng không
huy động được xu vốn nào. Thị trường thứ cấp là nơi mua đi bán lại cổ
phiếu đã được phát hành (chủ sở hữu cũ bán cho chủ mới). Các sở giao
dịch chứng khoán chủ yếu hoạt động như thị trường thứ cấp. Trên thị
trường thứ cấp không có xu vốn nào được huy động (cho các công ty hay
cho nền kinh tế), lời lãi của một người đúng bằng lỗ của một người khác.
− Căn cứ vào hính thức tổ chức của thị trường , TTCK có: Thị trường tập
trung (Sở giao dịch chứng khoán), thị trường phi tập trung (OTC) và thị
trường thứ ba.
+ Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán-Stock Exchange):
a Khái niệm
Thị trường tập trung hay sở giao dịch chứng khoán là một địa điểm nhất định để
người mua, người bán (hoặc đại lý hoặc người môi giới của họ) tiến hành các giao
dịch mua, bán, trao đổi chứng khoán.
Một số sở giao dịch nổi tiếng trên thế giới có thể kể đến là NYSE, LSE, TSE…
8
Ở Việt Nam hiện nay có hai trung tâm giao dịch chứng khoán là Trung tâm giao
dịch chứng khoán ở TPHCM và Hà nội. Hai trung tâm giao dịch chứng khoán này,
theo định nghĩa trên, có thể coi là sở giao dịch nhưng trên thực tế sở giao dịch ở các
nước khác có nhiều chức năng và nghiệp vụ hơn so với các trung tâm giao dịch ở
TPHCM và Hà Nội.
f) Đặc điểm
Thị trường tập trung có một địa điểm nhất định nên thường được gọi là sở giao dịch.
Tại sở giao dịch các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các lệnh mua,
bán được chuyển tới sàn giao dịch và được ghép theo những nguyên tắc nhất định để
hình thành nên giá giao dịch.
Sở giao dịch thường là nơi mua bán các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt
động có hiệu quả (Ví dụ Cổ phiếu REE, SAM, HAP…). Tuy nhiên không phải công ty
lớn và kinh doanh hiệu quả nào cũng có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tập
trung. Chẳng hạn, cổ phiếu của công ty Microsoft hoặc cổ phiếu của Vina-milk không
được giao dịch trên thị trường tập trung mà được giao dịch trên thị trường phi tập trung.
Sở giao dịch chứng khoán được UBCKNN kiểm soát chặt chẽ. Các giao dịch
được điều chỉnh theo nghị định 144 của chính phủ về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.
+ Thị trường phi tập trung (Thị trường OTC-Over the Counter)
a Khái niệm
Thị trường phi tập trung là nơi mua bán các chứng khoán chưa hoặc không được
niêm yết trên thị trường tập trung. Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua
hệ thống mạng máy tính.
NASDAQ là một ví dụ điển hình của thị trường phi tập trung. Giao dịch trên thị
trường này được thực hiện thông qua hệ thống mạng máy tính.
g) Đặc điểm
Thị trường phi tập trung không có một địa điểm giao dịch chính thức mà diễn ra
ở các quầy, các sàn giao dịch của các công ty chứng khoán thành viên thông qua mạng
máy tính diện rộng.
Giá cả trên thị trường này không do người phát hành ấn định mà được hình
thành theo nguyên tắc thỏa thuận.
So với sở giao dịch, khối lượng giao dịch trên thị trường OTC lớn hơn nhiều lần.
Khác với thị trường tập trung, thị trường phi tập trung là thị trường của những
người tạo lập thị trường và những người kinh doanh chứng khoán và các nhà đầu tư.
9
Thị trường thứ ba, thị trường dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để
giao dịch trên thị trường tập trung và phi tập trung.
− Căn cứ vào hàng hóa trên thị trường, TTCK có: Thị trường cổ phiếu, thị
trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
+ Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu,
bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
+ Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã
được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái
phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
+ Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và
mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng
quyền, hợp đồng quyền chọn…
1.2.5. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK
Nguyên tắc cạnh tranh: Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan
hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên
thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của
mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo
các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do
để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương
thức đấu giá.
Nguyên tắc công bằng: Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều
phải tuân thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và
trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
Nguyên tắc công khai: Chứng khoán là loại hàng hóa trừu tượng nên TTCK phải
được xây dựng trên cơ sở hệ thông công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức
phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột
xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng
khoán và các tổ chức có liên quan.
Nguyên tắc trung gian: Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán
được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị
trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các
nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới,
kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng
hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng
khoán trên tài khoản của mình.
10
Nguyên tắc tập trung: Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và
trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ
chức tự quản.
1.2.6. Các chủ thể trên TTCK
− Nhà phát hành: Là người cung cấp các chứng khoán – hàng hóa của thị
trường chứng khoán. Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các
doanh nghiệp và một số tổ chức khác như: Qũy đầu tư, các tổ chức tài
chính trung gian…
− Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể phát hành các chứng
khoán: Trái phiếu Chính phủ, Trái piếu địa phương, Trái phiếu công trình,
Trái phiếu kho bạc.
− Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
− Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như các
trái phiếu, chứng chỉ hưởng thụ… phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và
phù hợp với đặc thù hoạt động của họ theo Luật định.
− Nhà đầu tư: Theo khoản 10, điều 6 Luật Chứng khoán 2006, nhà đầu tư là
tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư
trên thị trường chứng khoán.
− Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư
có thể được chia thành hai loại:
+ Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua
bán trên TTCK với mục đích kiếm lời.
+ Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng
khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các định chế này có thể tồn tại dưới
các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu, công ty
tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.
− Các công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực
chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ
chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư
chứng khoán và tự doanh.
− Các tổ chức có liên quan đến TTCK:
+ Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước đối với TTCK ở Việt Nam.
11
+ Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban
hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán
trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Uỷ ban chứng khoán.
+ Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao
dịch chứng khoán.
+ Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh
giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo
những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát
hành cụ thể.
− Ngoài ra còn có: Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu
ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các tổ chức tài trợ chứng khoán
1.2.7.
12
PHẦN 2 ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
2.1. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1.1. Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.
Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập để quản lý
và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệ
quyền lợi cho các nhà đâu tư. Đây là bước đi đúng phù hợp với điều kiện của Việt
Nam và xu hướng quốc tế.
2.1.2. Về trung tâm giao dịch chứng khoán.
Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập.
Còn trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội đang được xem xét thành lập. Hệ
thống giao dịch của trung tâm tự động hoá với trạm làm việc có công suất nhỏ.
2.1.3. Về sở giao dịch chứng khoán.
a Hình thức sở hữu.
Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Nhà nước sử hữu, để đảm
bảo an toàn, công bằng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Sở giao dịch chứng khoán do
Thủ tướng chính phủ quyết định theo đề nghị của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Sở
giao dịch chứng khoán Việt Nam là một tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận đặt dưới
sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
h) Số lượng Sở giao dịch chứng khoán.
Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán mà các nước
đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao dichj chứng khoán thống
nhất với các sàn giao dịch tại một, hai thành phố được nối mạng với nhau.
i) Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở thành phố Hồ Chí Minh vì hiện nay thành
phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất trong nước và để cho Sở
giao dịch phát triển. Với hệ thống giao dịch điện tử, các công ty môi giới tại Hà Nội
vẫn có thể dễ dàng sẽ được tiếp cận thị trường.
13
j) Giao dịch ngoài Sở.
Đối với Việt Nam, để công khai hoá tất cả các hoạt động giao dịch, Nhà nước
đang xem xét thành lập Sở giao dịch chứng khoán tập trung cho tất cả các chứng
khoán (kể cả công ty và và nhỏ) có đủ điều kiện niêm yết, hay không đủ điều kiện
niêm yết được mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, việc giao dịch những
chứng khoán của công ty lớn (đủ điều kiện niêm yết) tách biệt với khu vực giao dịch
những chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết.
k) Hệ thống giao dịch.
Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản cho phép có được
giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp dụng. ở Việt Nam
trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối lượng giao dịch còn nhỏ, nên
áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt để giảm bớt sự biến động của giá cả.
l) Mức độ tự động hoá.
Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu hướng giảm
thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá ngay từ đầu. Nếu bắt đầu
bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế bằng hệ thống tự động thì sẽ tốn kém. Để
tiết kiệm chi phí cho thời gian đầu ở Việt Nam chỉ lắp đặt thiết bị với công suất xử lý
thấp. Các thiết bị lắp đặt ở trạng thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể
lắp đặt thêm nhằm mổ rộng công suất xử lý của hệ thống.
2.1.4. Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán - bù trừ và lưu giữ chứng khoán.
Hệ thống đăng ký, thanh toán - bù trừ và lưu giữ chứng khoán. Các chức năng
đăng ký, thanh toán, bù trù và lưu giữ được kết hợp vào một trung tâm duy nhất trong
cả nước. Các công ty chứng khoán và các ngân hàng được cho phép trở thành công ty
lưu ký.
2.1.5. Về các tổ chức trung gian.
Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới hình
thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ. Bên cạnh
đó, Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán độc lập hình thành từ các
công ty tài chính, các tổng công ty lớn.
Ở Việt Nam các công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức
như : bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư doanh chứng khoán,
tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu
cầu phải hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập nhằm bảo vệ lợi ích
của những cổ đông của quỹ.
14
Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham gia kinh
doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh.
Trên thế giới có hai loại quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu là quỹ đóng, và quỹ
mở. Trong thời gian đầu Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ đầu tư chứng khoán
dạng quỹ đóng (quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông muốn rút vốn) để đảm bảo an
toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị trường còn thấp.
2.1.6. Về sự tham gia của bên nước ngoài.
Việt Nam cho phép bên nước ngoài được sở hữu một tỷ lệ phần trăm nhất định
và cho phép công ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với công ty chứng
khoán trong nước theo một tỷ lệ liên doanh nhất định
2.2. ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
Bản chất hoạt động huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Như đã đề cập tại phần I về thị trường chứng khoán, bản chất của việc huy động
vốn qua thị trường chứng khoán nằm ở hoạt động phát hành chứng khoán. Đây chính
là hoạt động của thị trường chứng khoán sơ cấp.
Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho
người phát hành nó, trong khi các hành vi trên thị trường thứ cấp chỉ đơn thuần làm
dịch chuyển quyền sở hữu vốn giữa các chủ thể mà không trực tiếp làm gia tăng vốn
cho đơn vị phát hành.
Thị trường chứng khoán thứ cấp không có chức năng tạo vốn cho người phát
hành. Các khoản tiền thu được từ việc mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp
thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán. Nói cách khác, trên thị
trường thứ cấp, luồng tiền của nhà đầu tư này chảy vào túi nhà đầu tư khác. Thị trường
thứ cấp không trực tiếp mang lại vốn cho người đầu tư sản xuất kinh doanh như thị
trường sơ cấp nhưng lại là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của thị trường sơ cấp.
Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ, chính quyền các địa phương và
các công ty, tổ chức có thể huy động vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng.
Chính phủ và chính quyền các địa phương huy động vốn bằng cách phát hành các trái
phiếu, kỳ phiếu. Các công ty, tổ chức có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ
phiếu và trái phiếu công ty.
Các phương thức phát hành chứng khoán, điều kiện và thủ tục phát hành
chứng khoán.
15
2.2.1. Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu
đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra
công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng.
Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán
cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy
nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ
thể phát hành mới có được quyền này.
2.2.2. Các phương thức phát hành chứng khoán
Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành
riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
a Phát hành riêng lẻ (Private Placement)
− Là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi
một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có
ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ
hưu trí với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra
công chúng.
− Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với
tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt phát hành
trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành
cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức
này.
m) Phát hành chứng khoán ra công chúng
− Là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán
rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong
đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành
phải đạt một mức nhất định.
n) Ý nghĩa của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
− Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác
định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty
có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho
công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu
biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng
khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.
16
− Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của
Luật Doanh nghiệp. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không
phải là đối tượng được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán
sơ cấp.
2.2.3. Điều kiện và thủ tục phát hành chứng khoán
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ không chịu sự điều tiết của pháp luật về
chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong bài viết này nhóm tác giả xin đề cập
tới điều kiện và thủ tục đối với phương thức phát hành chứng khoán ra công chúng.
a Điều kiện phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
Điều 12, Luật Chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật
chứng khoán số 62/2010/QH12 quy định:
− Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
+ Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào
bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
− Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có
các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
+ Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt
chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở
hữu công ty thông qua;
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về
điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư và các điều kiện khác.
− Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng bao gồm:
+ Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu năm mươi tỷ đồng
Việt Nam;
17
+ Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào
bán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định của Luật này.
Điều 4, Nghị định 14-2007 quy định điều kiện cụ thể cho một số loại hình doanh
nghiệp trong việc phát hành cổ phiếu và các loại chứng khoán khác:
Cổ phiếu
− Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ
phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng thì thực hiện theo quy định
của pháp luật về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
− Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty
cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
+ Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào
bán được chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc Hội đồng quản trị
doanh nghiệp liên doanh thông qua;
+ Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu.
− Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển đổi thành công
ty cổ phần:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
+ Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào
bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
+ Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu.
− Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng:
+ Là doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng
thuộc đề án phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương;
+ Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
18
+ Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ
đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu
được từ đợt chào bán;
+ Có tổ chức bảo lãnh phát hành;
+ Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.
− Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao:
+ Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao được khuyến
khích đầu tư theo quy định của pháp luật;
+ Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ
đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu
được từ đợt chào bán;
+ Có tổ chức bảo lãnh phát hành;
+ Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.
Các loại chứng khoán khác
− Công ty cổ phần chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có kèm theo
chứng quyền hoặc chứng quyền kèm theo cổ phiếu ưu đãi ra công chúng
phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có
các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về
điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư và các điều kiện khác.
+ Có phương án phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán,
kế hoạch phát hành số cổ phiếu cần thiết cho việc chuyển đổi được Đại hội
đồng cổ đông thông qua. Phương án chuyển đổi bao gồm điều kiện, thời
hạn chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, phương pháp tính và các điều kiện khác
được xác định ngay trong phương án phát hành.
19
− Tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu có bảo đảm ra công
chúng theo một trong hai phương thức bảo đảm bằng bảo lãnh thanh toán
hoặc bảo đảm bằng tài sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có
các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
+ Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt
chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở
hữu công ty thông qua;
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về
điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư và các điều kiện khác.
+ Có cam kết bảo lãnh thanh toán kèm theo tài liệu chứng minh năng lực tài
chính của tổ chức bảo lãnh trong trường hợp bảo đảm bằng bảo lãnh thanh
toán hoặc có tài sản đủ giá trị thanh toán trái phiếu trong trường hợp bảo đảm
bằng tài sản. Giá trị tài sản dùng để bảo đảm tối thiểu bằng tổng giá trị trái
phiếu đăng ký chào bán. Việc định giá tài sản dùng để bảo đảm phải do cơ
quan, tổ chức thẩm định giá có thẩm quyền thực hiện và có giá trị không quá
12 tháng kể từ ngày định giá. Tài sản dùng để bảo đảm phải được đăng ký với
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Quy định này không áp dụng đối với trường hợp tổ chức bảo lãnh thanh toán là
Chính phủ hoặc Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ bảo lãnh thanh toán theo thẩm quyền.
− Tổ chức phát hành phải chỉ định đại diện người sở hữu trái phiếu để giám
sát việc thực hiện các cam kết của tổ chức phát hành. Các đối tượng sau
đây không được làm đại diện người sở hữu trái phiếu:
+ Tổ chức bảo lãnh việc thanh toán nợ của tổ chức phát hành;
+ Cổ đông lớn của tổ chức phát hành;
+ Tổ chức có cổ đông lớn là tổ chức phát hành;
+ Tổ chức có chung cổ đông lớn với tổ chức phát hành;
+ Tổ chức có chung người điều hành với tổ chức phát hành hoặc cùng chịu sự
kiểm soát của tổ chức khác.
20
− Tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng chung cho
nhiều đợt phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có
các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
+ Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt
chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở
hữu công ty thông qua;
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về
điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư và các điều kiện khác.
+ Có nhu cầu huy động vốn làm nhiều đợt phù hợp với dự án đầu tư hoặc kế
hoạch sản xuất kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Có kế hoạch chào bán trong đó nêu rõ đối tượng, số lượng và thời gian dự
kiến chào bán của từng đợt.
o) Thủ tục phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
− Đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký
với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
− Các trường hợp sau đây không phải đăng ký chào bán chứng khoán ra công
chúng:
+ Chào bán trái phiếu của Chính phủ Việt Nam;
+ Chào bán trái phiếu của tổ chức tài chính quốc tế được Chính phủ Việt Nam
chấp thuận;
+ Chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi
thành công ty cổ phần;
+ Việc bán chứng khoán theo bản án, quyết định của Toà án hoặc việc bán
chứng khoán của người quản lý hoặc người được nhận tài sản trong các
trường hợp phá sản hoặc mất khả năng thanh toán.
− Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng:
Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có:
21
+ Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng;
+ Bản cáo bạch;
+ Điều lệ của tổ chức phát hành;
+ Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và
phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng;
+ Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).
Hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng gồm có:
+ Giấy đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng;
+ - Bản cáo bạch;
+ Điều lệ của tổ chức phát hành;
+ Quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở
hữu công ty thông qua phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ
vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu ra công chúng;
+ Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về
điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư và các điều kiện khác;
+ Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).
Hồ sơ đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng gồm có:
+ Giấy đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng;
+ Bản cáo bạch;
+ Dự thảo Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán;
+ Hợp đồng giám sát giữa ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán;
+ Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).
Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng phải kèm theo quyết
định của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông
qua hồ sơ. Đối với việc chào bán chứng khoán ra công chúng của tổ chức tín dụng, hồ
sơ phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Trường hợp một phần hoặc toàn bộ hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công
chúng được tổ chức, cá nhân có liên quan xác nhận thì tổ chức phát hành phải gửi văn
bản xác nhận của tổ chức, cá nhân đó cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
Các thông tin trong hồ sơ phải chính xác, trung thực, không gây hiểu nhầm và có
đầy đủ những nội dung quan trọng ảnh hưởng đến việc quyết định của nhà đầu tư.
22
− Phân phối chứng khoán (Theo quy định tại Điều 21, Luật Chứng khoán
2006)
+ Việc phân phối chứng khoán chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành
bảo đảm người mua chứng khoán tiếp cận Bản cáo bạch trong hồ sơ đăng
ký chào bán chứng khoán ra công chúng được công bố tại các địa điểm ghi
trong Bản thông báo phát hành.
+ Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải
phân phối chứng khoán công bằng, công khai và bảo đảm thời hạn đăng ký
mua chứng khoán cho nhà đầu tư tối thiểu là hai mươi ngày; thời hạn này
phải được ghi trong Bản thông báo phát hành.
+ Trường hợp số lượng chứng khoán đăng ký mua vượt quá số lượng chứng
khoán được phép phát hành thì tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh
phát hành phải phân phối hết số chứng khoán được phép phát hành cho nhà
đầu tư tương ứng với tỷ lệ đăng ký mua của từng nhà đầu tư.
+ Tiền mua chứng khoán phải được chuyển vào tài khoản phong toả mở tại
ngân hàng cho đến khi hoàn tất đợt chào bán và báo cáo Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước.
+ Tổ chức phát hành phải hoàn thành việc phân phối chứng khoán trong thời
hạn chín mươi ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra
công chúng có hiệu lực. Trường hợp tổ chức phát hành không thể hoàn
thành việc phân phối chứng khoán ra công chúng trong thời hạn này, Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn việc phân phối chứng khoán
nhưng tối đa không quá ba mươi ngày.
+ Trường hợp đăng ký chào bán chứng khoán cho nhiều đợt thì khoảng cách
giữa đợt chào bán sau với đợt chào bán trước không quá mười hai tháng.
+ Tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả
đợt chào bán cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn mười
ngày, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, kèm theo bản xác nhận của ngân
hàng nơi mở tài khoản phong toả về số tiền thu được trong đợt chào bán.
+ Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải
chuyển giao chứng khoán hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu chứng khoán
cho người mua trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán.
2.2.4. Cách xác định tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán được xác định thông qua hoạt
động phát hành chứng khoán lần đầu và phát hành bổ sung chứng khoán ra công chúng.
23
Tổng mức huy động vốn qua thị trường = Tổng mức huy động vốn lần đầu +
Tổng mức huy động vốn bổ sung.
Tổng mức huy động vốn lần đầu = Giá chứng khoán lần đầu x số lượng chứng
khoán lần đầu phát hành ra công chúng.
Tổng mức huy động vốn bổ sung = Giá chứng khoán bổ sung x số lượng chứng
khoán bổ sung phát hành ra công chúng.
Giá chứng khoán lần đầu được hiểu là giá chứng khoán mà nhà đầu tư chấp nhận
mua ở lần đầu tiên chứng khoán được phát hành ra công chúng, nó có thể thấp hơn,
bằng hoặc cao hơn mệnh giá tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Số lượng chứng khoán lần đầu phát hành ra công chúng được hiểu là số lượng
chứng khoán được niêm yết trên thị trường (đối với cổ phiếu) và số lượng đăng ký
phát hành (đối với trái phiếu và các loại chứng khoán khác).
Thực trạng vốn huy động qua thị trường chứng khoán giai đoạn từ 2010 đến nay
Sau 13 năm hoạt động, tổng giá trị vốn hoá thị trường đã tăng nhanh qua các
năm, từ trên dưới 1 nghìn tỷ đồng cuối năm 2005, lên 904 nghìn tỷ đồng cuối tháng
6/2013. Tỷ lệ vốn hoá thị trường cuối tháng 6/2013 đạt khoảng 27,9% GDP 2012, cao
hơn con số tương ứng của năm 2006 (21,8%). Tuy nhiên, đây cũng là tỷ lệ còn thấp so
với một số nước trong khu vực và trên thế giới, vì thế thị trường chứng khoán Việt
Nam mới chỉ được đánh giá là thị trường chứng khoán cận biên, chưa được xếp vào
nhóm thị trường mới nổi.
Theo thống kê, giá trị giao dịch bình quân 1 ngày của tháng 6/2013 đã đạt 1507
tỷ đồng, tuy cao hơn của tháng 12 trong năm 2007 là 3159 tỷ đồng, năm 2009 là 2600
tỷ đồng, năm 2010 là 2469 tỷ đồng, quy mô này chưa thật hấp dẫn các nhà đầu tư. Gần
đây trên thị trường đã có tín hiệu khả quan khi lượng “tiền vào” nhiều hơn “tiền ra”,
cộng thêm với chính sách nới lỏng tiền tệ, hy vọng lượng tiền vào thị trường tới đây sẽ
gia tăng trở lại để có thể vượt mốc 2000 tỷ đồng/ngày.
Đến thời điểm này, điểm số chung của VN-Index (sàn TP. Hồ Chí Minh) đã đạt
quanh mức 500 điểm, cao gấp 4,9 lần cách đây 13 năm, tương đương tốc độ tăng
13%/năm; so với cuối năm trước đã tăng 20%, trong đó của một số mã còn tăng cao
hơn nhiều. Đó là những tốc độ tăng thuộc loại khá cao. Tuy nhiên, điểm số chung trên
sàn Hà Nội (HNX) chỉ còn bằng 62% khởi điểm sau 8 năm thành lập, với gần 2/3 tổng
số mã hiện đã ở mức dưới mệnh giá! Điểm số trên thị trường UPCOM còn bị rớt thảm
hại hơn, với điểm số trên sàn TP. Hồ Chí Minh hiện chưa bằng một nửa so với đỉnh
điểm trước đây; còn trên sàn Hà Nội chưa bằng 1/3!
24
Với xu thế này, số vốn huy động qua phát hành thêm cổ phiếu và cổ phần hoá 6
tháng 2013 đạt 5 nghìn tỷ đồng, giảm 20% so với cùng kỳ năm trước; vốn huy động
qua phát hành trái phiếu chính phủ đạt 123 nghìn tỷ đồng, tăng 67% so với cùng kỳ
năm trước, tuy nhiên dòng vốn FII trên thị trường chứng khoán chính thức vào thuần
đạt 404 triệu USD, cao gấp 8 lần so với cùng kỳ.
Trong điều kiện tăng trưởng tín dụng ngân hàng thấp, việc huy động vốn trên thị
trường chứng khoán rất có ý nghĩa. Kỳ vọng khi các loại hình quỹ mới được thành lập;
tỷ lệ tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán được mở
rộng sẽ góp phần tăng lượng vốn huy động trên thị trường chứng khoán, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế.
Thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn dài hạn; là chỉ báo quan trọng của
kinh tế vĩ mô, nên mọi diễn biến trên thị trường đều tác động đến ổn định kinh tế vĩ
mô; ngược lại, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tác động đến thị trường chứng khoán.
FICA - Năm 2013, với mức vốn hóa vào khoảng 964.000 tỷ đồng (tăng 199.000 tỷ
đồng so với cuối năm 2012), quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đã tương đương
31% GDP và là 1 trong 10 thị trường chứng khoán có mức tăng mạnh nhất thế giới.
Tổng giá trị vốn huy động được trên TTCK năm 2013 ước đạt 179.000 tỷ đồng.
Trong ngày 11/12/2013, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã làm việc và
chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)
năm 2013.
25