Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Nghiên cứu tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi phq 9 và tình hình trầm cảm của phụ nữ trước sinh và sau sinh tại huyện phong điền, thành phố cần thơ năm 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.02 MB, 87 trang )

BO Y TE
TRUONG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CÀN THƠ

ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠNG NGHỆ CÁP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU TÍNH GIÁ TRỊ VÀ ĐỘ TIN CẬY CỦA BỘ CÂU
HỎI PHQ-9 VÀ TÌNH HÌNH TRÀM CẢM
CỦA PHỤ NỮ TRƯỚC SINH VÀ SAU SINH
TẠI HUYỆN PHONG ĐIÈN, THÀNH PHÓ CÀN THƠ NĂM 2018

Chủ nhiệm dé tai: THS.PHAM TRUNG TIN
Cán bộ tham gia: THS. TRƯƠNG TRÀN NGUYÊN THẢO

BS. LÊ TRUNG HIỂU
THS. NGUYEN VAN THONG
THS. TRAN THIEN THANG
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

CHỦ NHIỆM ĐÈ TÀI

TS. NGUYỄN MINH PHƯƠNG

THS. PHAM TRUNG TIN

Cần Thơ - NĂM 2019


Thanh vién tham gia
Ths. Pham Trung Tin
Ths. Truong Tran Nguyén Thao
Bs. Lé Trung Hiéu



Ths. Nguyễn Văn Thống
Ths. Trần Thiện Thắng


LOI CAM DOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học độc lập của
nhóm nghiên cứu. Các số liệu sử dụng đề phân tích số liệu có nguồn gốc rõ
ràng. Các kết quả nghiên cứu trong đề tài do nhóm nghiên cứu phân tích
một cách trung thực, khách quan. Các kết quả này chưa từng được công bố
trong bat kỳ nghiên cứu nào.

Chủ nhiệm đề tài

Os

Pham Trung Tin


(re

Lời cam đoan
Mục lục

-

PHAN 1. TOM TAT DE TAL

PHAN 2. TOAN VAN CONG TRINH NGHIEN CUU
Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu dé, hình vẽ đồ thị

ĐẶT VAN DE

Trang

Chương 1. TÔNG QUAN TALI LIBU .....ccccsessssesssessseseesecssareeseccensesssessenssssseesssess
1.1. Sơ lược về trầm cảm .......................---.s+55< 52s ccsSrzerecrkrrssrkeereerrsreerre 3
1.1.1. Khái niệm, nguyên nhân và phân loại trầm cảm ...................... 3

1.1.2. Gánh nặng bệnh tật của bệnh trầm cảm
1.1.3. Chẩn đoán và sàng lọc trầm cảm .........................--.
2-22 cscccccccecressrsee

1.2. Tổng quan về trầm cảm trước sinh và sau sinh ............................ 8
1.3. Sơ lược về sự phù hợp về văn hóa, đánh giá tính giá trị và độ tin
cậy của một công cụ sàng QG ........................-. cm.

hóc.

nh... .......HH,.
...ƠƠỎ

re 11

11

1.3.2. Các bước cơ bản để đánh giá sự phù hợp về văn hóa và tính
gid trị của hình 'thỨC. ........................
--- - 5-5 5< se tà HH ngưng ngư 12

1.3.3. Đặc điểm về giá trị và độ tin cậy của một bộ câu hỏi.............. 15

1.4. Các nghiên cứu đánh giá công cụ sang loc tram cảm................. 16
1.4.1. Khái quát về phương pháp thực hiện..............................-------- 16
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới........................-.------s-ccsccc-srr 18
1.4.3.Tình hình các nghiên cứu thang đo trầm cảm ở Việt Nam...... 20

Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................----2225sccccsSvrvecrvee 23
2.1. Đỗi tượng nghiên cứu.......................-..----2< s©c+czsczecrssreerrerrrsrrrrk 23

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .....................---+---s-2s<+tkxsetxsstrkestrxrrrree 23
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu .....................-..--5-2-2 s©cs+x+czeczeerserxsere 23

2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ........................----s-cee+rrkeerrrkrrrrrrrirrree 23
2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu............................----+--s--cs-ccs 23


2.2. Phương pháp nghiên Ct .....cccsssescssscssssssssseccsssssesseesssecssseseeess 23
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu......................----+---s-cssccecexerresrrerrreerrsrrrerree 23
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.......................-.-----22s ccscecezcrzcrzrrrerrrerrrerrree 23
2.2.2. Mẫu nghiên cứu ...................... --cc+ccsscvsevrserrstrserrsrtrrrrrrrrrrrrrrrke 23

2.2.3. Phương pháp chọn mẫu.........................-2+ ©ceesrerrserrrrrkeeeree 24
2.2.5. Nội dung nghiÊn CỨU..........................
.- < cư
24

2.2.5. Các bước tiến hành nghiên cứu..........................--5-cccaccccc-ccccee 29

2.2.6. Kiểm soát sai SỐ.........................---trrrriirrerriirrriirirrerrree 30

2.2.7. Xử lý và phân tích số liệu...........................---.2-c+-cvvesevkzsrrzesrcxee 31
2.3. Đạo đức trong nghiÊn CỨU........................--- Ă 5<
Chương 3. KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU.............................-¿
2 c++2©v#vesecevresrrrrrrrrs
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..............................- 32

3.1.1. Đặc điểm của phụ nữ mang thai và có con dưới 12 tháng...... 32
3.1.2. Tình hình trằm cảm và một số yếu tố liên quan..................... 34
3.2. Tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi PHQ-9......................... 37
3.2.1. Sự phù hợp về từ ngữ, trình bày và nội dung của PHQ-9...... 37
3.2.2. Độ tin cậy bên trong của PHQ-0.............................

sec. ..e. 37

3.2.4. Giá trị tiên đoán của PHQ-Đ............................... «sen.

ngan 40

Chương 4. BÀN LUẬN ....................... sssvsacssencsscsesscasscencasencavevsaseceneeusasssssenvanseees
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu...........................-.-------c---ccccccccz
4.1.1. Đặc điểm về tuổi...........................-sc/scce+
set creerkrkerrrrkrtreerree 43

4.1.2. Đặc điểm về trình độ học vấn............................---cccceeeeerrrrrrrree 43
4.1.3. Đặc điểm về nghề nghiệp.........................-..--ccs-ccccccecrerrrerreerre 44

4.1.4. Đặc điểm về tình trạng kinh tế gia đình...
4.1.5. Đặc điểm về tuổi thai và tuổi bé...............................---5c-sccseccccrs 45
4.1.6. Đặc điểm về lựa chọn nơi khám thai và tiêm ngừa và một số


yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn dịch vụ y tẾ...........................--...c.... 45
4.2. Tình hình trầm cảm và các yếu tố có liên quan...........................----------c---e+

4.2.1. Tình hình trầm cảm..........................
2 <6 sex erxevevsvxscrecrsveser 47


4.2.2. Trầm cảm hiện tại và các yếu tố liên quan ............................. 50
4.3. Tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi PHQ-9........................ 51
4.3.1. Giá trị về nội dung và cách sử dụng câu hỏi...............----- 31
4.3.2. Dé tin cay nội tại của PHQ-9........................
cv H1 14185611x c2 54

4.3.3. Giá trị về cầu tc... ceeesscsssssssesecccccessseescecesnesececessorscssessssnseseees 55
4.3.4. Giá trị tiên đoán của PHQ-9..........................
HH Hererersrree 56

KET LUAN VA KIEN NGHYD ones ccsccssscesscseecsssesssscsssccsscssnessusesseessucsenseenseeenseees
TAI LIEU THAM KHAO

PHU LUC


PHAN 1: TOM TAT DE TAI
Trầm cảm là một vẫn đề sức khỏe phổ biến ở phụ nữ trước và sau
sinh, dao động từ 6,5%-14,5% [44] và cũng tác động lên sức khỏe về thể

chất và và tinh thần của cả bà mẹ và trê trong giai đoạn sau sinh và lâu dai


[12, 20]. Vì vậy, việc tầm sốt trầm cảm định kỳ ở đối tượng này có vai trị

quan trọng trong việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Trên thé giới,
chưa có một hướng dẫn về một phương pháp chuẩn mực để đánh giá các
công cụ sàng lọc trầm cảm, tuy nhiên các nhà nghiên cứu thường thực hiện
một số bước cơ bán bao gồm dịch sang ngơn ngữ đích, đánh giá tính giá trị

ở nhiều mặt, đánh giá độ tin cậy trên đối tượng dich [33].
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá tính giá trị

và độ tin cậy của các cơng cụ tầm soát trầm cảm ở phụ nữ trước và sau sinh
bao gm PHQ-9, EPDS, thang Beck, thang do Halminton v..v. Kết quả cho

thấy thang đo EPDS thường cho giá trị tết nhất [28]. Tuy nhiên, vì sự phù

hợp của một thang đo chỉ có ý nghĩa trong cộng đồng được tiến hành
nghiên cứu nên việc đánh giá và so sánh nhiều công cụ khác nhau trước khi
tiễn hành tầm soát trầm cảm ở một đối tượng mới là rất cần thiết. Một vài

nghiên cứu cho thấy công cụ PHQ-9 có giá trị tương đồng với thang đo

EPDS trong việc tầm soát trầm cảm trong cộng đồng [32].

Ở Việt Nam, các cơng cụ tầm sốt trầm cảm nêu trên cũng được áp

dụng rộng rãi ở nhiều khu vực trong khắp cả nước. Tuy nhiên, có tất ít -

cơng cụ được chuẩn hóa, đánh giá sự phù hợp về văn hóa, tính giá trị và độ

tin cậy một cách tương đối đầy đủ. Chính vì vậy, nhằm mục đích tầm sốt

chính xác và có hiệu quả trằm cảm trước và sau sinh ở phụ nữ mang thai,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu tính giá trị và độ tin cậy của
bộ câu hỏi PHQ-9 và tình hình trầm cảm của phụ nữ trước sinh và sau sinh

tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2018” với các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ trầm cảm phụ nữ trước sinh hoặc sau sinh tại huyện

Phong Điển, thành phố Cần Thơ năm 2018
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của phụ nữ trước
sinh hoặc sau sinh tại tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2018.
3. Xác định tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi PHQ-9 ở phụ nữ

trước sinh và sau sinh tại huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ năm 2018.




Chính vì vậy chúng tơi tiến hành nghiên cứu trên những phụ nữ
mang thai và sau sinh đến tiêm ngừa tại các trạm y tế xã thuộc huyện

Phong Điền, thành phố Cần Thơ vào các ngày tiêm ngừa đầu tháng.

Các đối tượng được chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được
phỏng vấn các thông tin chung, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi PHQ-9 để đánh

gid tong số điểm của các triệu chứng trầm cảm và được chân đoản xác định
tình trạng trầm cảm bằng bộ câu hỏi MINI (Mini International
Neuropsychiatric Interview).
Số liệu thu thập được sẽ được phân tích theo mục tiêu nghiên cứu


bao gồm tỷ lệ trầm cảm hiện tại, xem xét mối liên quan giữa trầm cảm hiện
tại và các yếu tố được khảo sát và cuối cùng là đánh giá tính giá trị và độ

tin cậy của bộ câu hói PHQ-9 bằng các phương pháp thống kê như tính
tốn chỉ số Cronbach alpha, phân tích nhân tổ khám phá và đánh giá độ
nhạy, độ đặc hiệu, các giá trị chẩn đoán so với tiêu chuẩn vàng là thang đo

MINI.


Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên 208 phụ nữ mang thai và sau

sinh tại huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ cho thấy:

Tỷ lệ trầm cảm hiện tại của phụ nữ mang thai và sau sinh tại huyện

Phong Điền là 4,2%.
Tỷ lệ trầm cảm trong quá khứ của phụ nữ tại huyện Phong Điền là
7,1%.

Tỷ lệ trầm cảm tái phát là 0,5%.
Trong các yếu tố được khảo sát như tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hơn
nhân, tình trạng kinh tế, học vấn thì chỉ có tình trạng kinh tế nghèo và cận

nghèo có liên quan đến tinh trạng trầm cảm hiện tại. Nhóm đối tượng có
tình trạng kinh tế nghèo và cận nghèo có khả năng có trầm cảm hiện tại cao
hơn nhóm có kinh tế mức thu nhập trung bình trở lên với OR=9,99 (KTC

95% 2,129-46,892) với p=0,004.

Bộ câu hỏi có giá trị về nội dung và bình thức hợp lý phù hợp với
việc tầm soát trằm cảm bằng phương pháp phỏng vấn tại Việt Nam

Độ tin cậy nội tại của bộ câu hỏi PHQ-9 là chấp nhận được với
Cronbach-alpha bằng 0,729.


\ih

Bộ câu hỏi PHQ-9 cũng có giá trị về cấu trúc khi bao quát được 2

nhóm triệu chứng chủ yếu của trầm cảm bao gồm triệu chứng về nhận thức
và triệu chứng vẻ thực thể.

Các điểm cắt phù hợp nhất của bộ câu hỏi PHQ-9 là điểm cắt 7 với

độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị chân đốn đương tính, giá trị chẩn đốn âm

tính lần lượt là 88 9%, 84-86%, 21,6 và 99,4% và ở điểm cắt 10, các giá trị
này là 77,8%, 92-94%, 32% và 99,4%.

Tóm lại, bộ câu hỏi PHQ-9 phù hợp đùng để tầm soát trầm cảm ở

phụ nữ mang thai và sau sinh bằng phương pháp phỏng vấn tại trạm y tế.


PHAN 2: TỒN VĂN CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU


DANH MỤC VIẾT TẮT

KTC

Khoảng tin cậy

PHO

Patient health questionnaire

DLC

Độ lệch chuẩn


DANH MUC CAC BANG
Bảng 3. 1. Đặc điểm tuổi ở phụ nữY...........................-22-55c5cceccscrscrrerreseersecre 32
Bảng 3. 2 Đặc điểm về trình độ học vấn............................-..5-o5-ccBảng 3. 3. Đặc điểm vẻ tình trạng hơn nhân..........................----2
2< c-s2©se=sz¿ 33

Bảng 3. 4. Đặc điểm về nghè nghiệp ...................... "...ƠỊƠ 33
Bang 3. 5 Đặc điểm tình trạng kinh tế gia đình .......................:..-...----s-c-c-eee 34
Bảng 3. 6 Đặc điểm tuổi bé và tuổi thai.......................-55c cccccceerxeerrkrrrrrree 34
Bảng 3. 7 Nơi khám thai/tiêm ngừa của phụ nữ ...............................-.«..ce-scse 34

Bảng 3. 8 Lý do không đến khám, tiêm ngừa tại trạm y tễ......................... 35
Bảng 3. 9 Đặc điểm về điểm số PHQ-2............................-..
2 5< ©2scccsecrecrrsecee 35
Bảng 3. 10 Đặc điểm về điểm số PHQ-9.............................---5-S5-ccceecrereerreee 35

Bang 3. 11 Tình hình trầm câm theo thang MINI...........................-......

---5¿ 36

Bảng 3. 12 Trầm cảm biện tại và một số yếu tố liên quan.......................... 36

Bang 3. 14 Độ tin cậy bên trong của thang đo PHQ-9............................... 37
Bảng 3. 15 Sự phù hợp của mẫu đối với phân tích nhân tố khám phá ........ 38
Bảng 3. 16 Bảng phân tích nhân tố khám phá ..........................--.-.-----«-cssBảng 3. 17 Bảng ma trận xoay nhân tỐ..............
Bảng 3. 18 Bảng diện tích dưới đường cong ROC...........

39
.„..40

Bang 3. 19 Bang độ nhạy và độ đặc hiệu của PHQ-9......

...40

Bang 3. 20 Giá trị dự đoán trầm cám hiện tại của PHQ-9 (điểm cắt 10

điểm) và trầm cảm hiện tại.....................----5s-Scxe
x21
711.0112.111. 41

Bang 3.21 Gid tri du dodn tram cam hién tại của PHQ-9 (diém cắt 7 điểm)
và trầm cảm WGN tai... ....................... 42

Biểu đồ 3. 1. Đường cong ROC........................

co...


40


DAT VAN DE
Trầm cảm là một vấn để sức khỏe phổ biến ở phụ nữ trước và sau

sinh, dao động từ 6,5%-14,5% [44] và cũng tác động lên sức khỏe về thể
chất và và tỉnh thần của cả bà mẹ và trẻ trong giai đoạn sau sinh và lâu dài
[12, 20]. Vì vậy, việc tầm sốt trầm cảm định kỳ ở đối tượng này có vai trị
quan trọng trong việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Tuy nhiên việc

lựa chọn cơng cụ tầm sốt cịn nhiều khó khăn như sự khác biệt về ngơn
ngữ, văn hóa và quan điểm về trầm cảm trước và sau sinh của từng cộng

động khác nhau. Vì vậy, dé tầm sốt hiệu quả trầm câm, các nhà nghiên
cứu cân thực hiện đánh giá tính giá trị, độ tin cậy và sự phù hợp về văn hóa

của một cơng cụ tầm sốt đối với một cộng đồng nhất định. Trên thực tế,

chưa có một hướng dẫn về một phương pháp chuẩn mực để đánh giá các

công cụ sàng lọc trằm cảm, tuy nhiên các nhà nghiên cứu thường thực hiện

một số bước cơ bản bao gồm dịch sang ngơn ngữ đích, đánh giá tính giá trị

ở nhiều mặt, đánh giá độ tin cậy trên đối tượng đích [33].
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá tính giá trị
và độ tin cậy của các cơng cụ tầm sốt trầm cảm ở phụ nữ trước và sau sinh

bao gồm PHQ-9, EPDS, thang Beck, thang đo Halminton v..v. Kết quả cho


thấy thang đo EPDS thường cho giá trị tết nhất [28]. Tuy nhiên, vì sự phù
hợp của một thang đo chỉ có ý nghĩa trong cộng đồng được tiễn hành
nghiên cứu nên việc đánh giá và so sánh nhiều công cụ khác nhau trước khi
tiến hành tầm soát trầm cảm ở một đối tượng mới là rất cần thiết. Một vài
nghiên cứu cho thấy cơng cụ PHQ-9

có giá trị tương đồng với thang đo

EPDS trong việc tầm soát trầm cảm trong cộng đồng [32].
Ở Việt Nam, có rất it nghiên cứu đánh giá sự phù hợp về văn hóa,
tính giá trị và độ tin cậy trên đối tượng là phụ nữ mang thai và sau sinh

ngồi cộng đồng. Chính vì vậy, nhằm mục đích tầm sốt chính xác và có
hiệu quả trầm cảm trước và sau sinh ở phụ nữ mang thai, chúng tơi tiến
hành nghiên cứu “Nghiên cứu tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi
PHQ-9 và tình hình trầm cảm của phụ nữ trước sinh và sau sinh tại huyện

Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2018” với các mục tiêu sau:

1. Xác định tỷ lệ trầm cảm phụ nữ trước sinh hoặc sau sinh tại huyện
Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2018


2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của phụ nữ trước
sinh hoặc sau sinh tại tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2018.

3. Xác định tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi PHQ-9 ở phụ nữ

trước sinh và sau sinh tại huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ năm 2018



Chuong 1

TONG QUAN TAI LIEU
1.1. Sơ lược về trầm cảm
1.1.1. Khái niệm, nguyên nhân và phân loại trầm cảm

Trầm cảm, thường được gọi là trầm cảm lâm sàng hay rối loạn trầm
cảm là một bệnh lý phổ biến được đặc trưng bởi sự rối loạn tâm trạng, gây

nên những triệu chứng ảnh hưởng đến cảm nghĩ, suy nghĩ và làm giảm khả

năng thực hiện các hoạt động hàng ngày như ngủ nghỉ, ăn uống và làm việc

và thậm chí dẫn đến tự tử [51]. Theo Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia

Hoa Kỳ, đặc điểm chủ yếu để chân đoán trầm cảm là các triệu chứng trằm
cảm phải xuất hiện thường xuyên và hầu như mỗi ngày và phải kéo dài ít

nhất 2 tuần [31].

Trong một thời gian dài, sự rối loạn các chất đẫn truyền thần kinh có

vai trị quan trọng trong việc hình thành và duy trì trạng thái trằm cảm ở

bệnh nhân. Trong đó các chất dẫn truyền thần kinh chính có liên quan đến
trầm cảm chủ yếu là serofonin, noradrenalin và dopamin. Vai trò sinh lý
của các chất này có liên quan đến việc điều hịa giác ngủ, khẩu vị và động


lực sống. Một số lý thuyết tập trung vào sự hoạt động quá mức của trục hạ

đồi — tuyển yên — thượng thận trong việc hình thành trầm cảm. Các lý

thuyết này cho rằng việc hoạt động quá mức của trục này dẫn đến sự sản

xuất quá mức các hormon stress như cortisol, gây ảnh hưởng đến hoạt động

của các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ. Tuy nhiên, các lý thuyết
này chỉ tập trung vào khía cạnh sinh học ở bệnh nhân mà bỏ qua các yếu tố

môi trường và xã hội. Mặt khác, trên thực tế chỉ có khoảng 10% bệnh nhân
trầm cảm là có các rối loạn về các chất dẫn truyền thần kinh, 90% còn lại

cho thấy yếu tố tâm lý đóng vai trị chính trong việc hình thành bệnh lý
trằm cảm. Một người có nhân cách hay lo âu và lo lắng thường dễ mắc
trầm

cảm

hơn, tương

tự người

có nhân cách theo chủ nghĩa hoàn

hảo

thường dễ gặp nhiều căng thắng trong việc thực hiện các công việc hoặc
trong các hoạt động hàng ngày. Cả 2 lý thuyết này cho thấy trầm cảm có

thể đơn thuần bắt nguồn từ các đặc điểm tâm lý và cũng có thể gây nên các
rối loạn về sinh học ở con người [39].


Trầm cảm cũng được phân loại thành nhiều loại khác nhau bao gồm
trầm cảm điển hình, tram cảm kéo dài, là hai loại phổ biến nhất. Các loại
trầm cảm khác có một số điểm khác biệt hoặc khởi phát ở những tình

huống cụ thể như trầm cảm trước sinh và sau sinh, trầm cảm theo mùa và
trầm cảm có các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo tưởng [31].
Ngoài ra theo ICD-10 và DSM-5, trầm cảm còn được phân loại dựa trên

mức độ nặng của trầm cảm và các thể trầm cảm tái phát [50, 11].
1.1.2. Gánh nặng bệnh tật của bệnh trầm cắm

Theo Tổ chức y tế thế giới (2016), có hơn 300 triệu người bị ảnh
hưởng bởi trầm cảm. Trầm cảm có ảnh hưởng bệnh nhân ở nhiều mặt khác

nhau bao gồm sức khỏe thể chất, tỉnh thần, năng suất làm việc, các mối

quan hệ xã hội. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trầm cảm có liên quan đến sự

gia tăng tàn tật và tử vong.
Những ảnh hướng về thể chất ở bệnh nhân trầm cảm cũng nặng nề
tương tự những bệnh nhân có bệnh mạn tính như đái tháo đường, ung thư
v..v. Ngồi ra trầm cảm cịn làm trầm trọng thêm tình trạng các bệnh lý sẵn
có như nhồi máu cơ tim, bệnh tim mạch, tăng nguy cơ đột quy và tăng

huyết áp. Hậu quả nghiêm trọng nhất của trầm cảm liên quan đến tử vong
là tự sát với gần 800.000 trường hợp tử vong do tự tử mỗi năm. Ở bệnh

nhân trầm cảm, nguy cơ tự sát cao gấp 11 lần bệnh nhân có các bệnh khác.
Và cứ 10 bệnh nhân trầm cảm thì có 1 người sẽ có hành vi tự sát ở một thời
điểm nào đó trong cuộc sống của họ [34].

Nghiên cứu của Lerner về ảnh hưởng của trầm cảm đến công việc
cho kết quả nhóm nhân viên có trầm cảm có thời gian vắng mặt tại nơi làm
việc nhiều hơn đáng kể so với nhóm chứng. Những nhân viên có triệu
chứng trầm cảm càng nặng thì mức độ vắng mặt càng nhiều kèm theo sự

giảm sút đáng kể về mặt sức khỏe thể chất chung, cũng như khả năng đáp

ứng về tâm lý kém với những địi hỏi của mơi trường làm việc [23]. Ảnh

hưởng của trầm cảm đến năng lực con người cũng thể hiện trong kết qua
nghiên cứu của Owens (2012) khi đánh giá mối liên quan giữa kết quả học
tập và trầm cẩm. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra rằng trầm cảm có
liên qua trực tiếp với kết quả học tập kém. Trầm cảm hoặc lo lắng nặng gây
ảnh hưởng đến trí nhớ và khả năng hoàn thành bài tập của học sinh [40].


Những bệnh nhân trầm cảm thường có những rồi loạn về hành vi xã

hội. Tác giá Steger tiến hành nghiên cứu trên các phản ứng của những bệnh

nhân trầm cảm trước những tình huống xã hội thường gặp. Kết quả cho

thấy, bệnh nhân trầm cảm thường phản ứng tiêu cực và mạnh mế trong các
tình huống đó. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bệnh nhân trầm cảm thường
phản ứng quá mức với tình huống xã hội tích cực và tiêu cực. Đồng thời,
kết quả cũng chỉ ra trầm cảm làm cho bệnh nhân trở nên nhạy cắm hơn với

các tình huống xã hội [41]. Xem xét kết quả nghiên cứu trên trong bối cảnh
gia đình, nghiên cứu của Burke (2003) cho thấy trầm cảm ở người mẹ,
người vợ trong gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến người bạn đời và đặc biệt

là con cái trong gia đình. Thêm vào đó, phụ nữ thường dễ trầm cảm hơn
nam giới nên những người thân thuộc cũng bị ảnh hưởng. Gia đình có
người mẹ trầm cảm được xem là có nguy cơ cao mắc trầm cảm cũng như

những rối loạn tâm thần khác [18].

Trâm cảm cũng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế và xã hội ở

nhiều nước. Riêng ở Úc, chỉ phí thiệt hại mỗi năm do tram cảm tác động
lên bệnh nhân và những người liên quan là 12,6 tỷ đô la Mỹ. Trầm cảm cịn
góp phần gây ra các xung đột trong gia đình và tăng sự lệ thuộc của các

thành viên trong gia đình. Ngồi ra, nguy cơ tự tử ở những bệnh nhân trầm
cảm còn khiến cho gia đình bệnh nhân ln ở trong tình trạng cảnh giác để
phịng, dẫn tới tình trạng stress nặng trong các thành viên trong gia đình

[39]. Ở Hoa Kỳ, chỉ phí hao tốn do trầm cảm tăng từ 83,1 tỷ đô la Mỹ lên
210,5 tỷ USD từ năm 2005 đến 2010. Các chỉ phí hao tổn có liên quan đến

trầm cảm bao gồm chỉ phí liên quan đến điều trị trực tiếp, chỉ phí gián tiếp,
chỉ phí do các trường hợp tự tự v..v [45]. Mỗi năm, tram cảm là nguyên
nhân đứng hàng đầu làm giảm số năm sống do tàn tật trên tồn thế giới.
Ước tính mỗi năm có đến 50 triệu năm sống do tàn tật mất đi do trầm cảm,

chiếm từ 6,9-9,3% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu và khơng có sự khác
biệt giữa các nước phát triển và các khu vực khác [51].

Ở Việt Nam, nhìn chung chưa có nhưng nghiên cứu với cỡ mẫu lớn
ở nhiều đối tượng khác nhau mà đại đa số các nghiên cứu đều thực hiện
trên một nhóm đối tượng nhất định. Các nhà nghiên cứu ước lượng tỷ lệ
trầm cảm ở người Việt Nam là tương đối thấp hơn mặt bằng chung so với

toàn cầu ở mức 9,3% tuy nhiên các nghiên cứu định tính cho thấy xã hội
cịn tổn tại nhiều cân trở trong việc điều tra nghiên cứu vấn đề sức khỏe


tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng ở Việt Nam. Trong xã hội còn

tồn tại những hiểu biết chưa đầy đủ về bệnh lý tâm thần dẫn đến việc người

bệnh cũng khó có thể bộc lộ do kỳ thị và ngược lại xã hội có xu hướng lãnh

đạm trong việc chăm sóc bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần [7].

1.1.3. Chẳn đoán và sàng lọc trầm cảm
Trên lâm sàng, trầm cảm thường được chẩn đoán theo các tiêu chuẩn

DSM-5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders), ICD-10
(Internation Classification of Diseases), hodc ding các thang đo nhu Beck,

Halminton, MINI. Cac tiêu chuẩn thang đo này tương đối tương đồng nhau

về các triệu chứng chính của trầm cảm như giảm hứng thú, khí sắc tram va
các triệu chứng khác như thay đổi cân nặng đáng kể, rối loạn ăn uống, rỗi

loạn giấc ngủ, giảm năng lượng trong một khoảng thời gian nhất định [50,
11]. Các tiêu chuẩn và các thang đo này thường được sử dụng trong tình

huống bệnh nhân nhập viện, bác sĩ chuyên khoa tâm thần có nhiều thời

gian tiếp xúc để hỏi và làm rõ các triệu chứng trầm cảm có ở bệnh nhân.
Trong bối cảnh này, bác sĩ có nhiều thời gian để xây dựng sự tin tưởng ở
bệnh nhân, làm cho việc chẩn đốn trầm cảm cũng khơng gặp nhiều khó

khăn ngay cả khi một số thang đo có thời lượng hói tương đối đài. Trái lại,

sàng lọc trầm cảm ở cộng đồng thường gặp nhiều khó khăn hơn, đặc biệt là

ở nhưng quốc gia kém phát triển hoặc có nền văn hóa có thái độ kỳ thị đối
với các bệnh lý tâm thần. Điển hình như sàng lọc trầm cảm ở đối tượng phụ
nữ mang thai và sau sinh, vốn được xem là thời điểm vui vẻ và có ý nghĩa
đối với gia đình, cịn gặp nhiều khó khăn khi họ ngại đề cập đến các triệu
chứng trầm cảm. Ngoài ra, do những khó khăn về thiếu cơ sở vật chất,
trang thiết bị, thiếu nhân lực y tế và thiếu công cụ để sàng lọc, nên việc

sàng lọc trầm cảm còn gặp nhiều khó khăn [28].
Hiện tại, các cơng cụ phổ biến được dùng để sàng lọc tram cam trong

chăm sóc sức khỏe ban đầu phải đảm bảo một số yêu cầu như phù hợp về
văn hóa, có tính giá trị và độ tin cậy ở mức chấp nhận được, phù hợp với

trình độ nhân viên y tế và thời gian tiếp xúc đối tượng. Điển hình như bộ
câu hỏi PHQ-2, với 2 câu hỏi, có thể được sử đụng trong điều kiện bệnh

nhân ngoại trú khơng có nhiều thời gian hoặc sử dụng ở bệnh viện có lượng
bệnh nhân q đơng. Bộ câu hỏi PHQ-2 có độ đặc hiệu khoảng 90% và độ
tin cậy từ 74% với ngưỡng từ 3 điểm trở lên. Vì độ nhạy thấp nên PHQ-2



thường được sử dụng để xác định trầm cảm hơn là xác định mức độ bệnh.

Một số chuyên gia cho rằng, nhân viên y tế nên giảm ngưỡng sàng lọc còn

2 điểm để tăng độ nhạy của thang đo. Những bệnh nhân từ 2 điểm trở lên
sẽ được phỏng vấn tiếp bằng bộ câu hỏi chỉ tiết hơn PHQ-9. Bộ câu hỏi

PHQ-9

tập trung vào các tiêu chuẩn chấn đoán của DSM-5.

Bệnh nhân

được chẩn đốn trầm cảm khi có ít nhất một trong hai triệu chứng chính
giảm khí sắc và mắt hứng, và có tổng cộng ít nhất từ 5 triệu chứng đạt từ 2
điểm trở lên, hoặc có bất kỳ ý tưởng tự tử nào. Lợi thế của PHQ-9 là sự

ngắn gọn, độ nhạy và độ đặc hiệu chấp nhận được nên nó được sử dụng

trong sàng lọc chấn đốn cũng như đánh giá mức độ nhằm phục vụ cho
mục tiêu theo đõi điều trị nếu cần. Ngược lại với PHQ-2, bộ câu hỏi Beck

gồm 21 câu hỏi được rút gọn lại thành bộ BDILFS (Beck Depression
Inventory Fast Screen) có lượng câu hỏi ít hơn. Điều này làm cho giảm
được đánh giá trầm cảm quá mức ở những bệnh nhân có bệnh mãn tính
cũng như tiết kiệm được thời gian hơn. Tuy nhiên một vài nghiên cứu cho
thấy bộ BDI-FS có độ nhạy và độ tin cậy kém hơn các thang đo đã đề cập.

Một thang đo đáng chú ý khác là thang GDS (Geriatric Depression Scale)

với 30 câu hỏi có/khơng, với độ nhạy 84% và độ đặc hiệu 95% thường
được sử dụng cho người lơn tuổi [21].

Mặc dù tỷ lệ trầm cảm trong cộng đồng được ước lượng ở mức cao
và gánh nặng bệnh tật của trầm cảm là rất đáng chú ý. Tuy nhiên trên thực
tế, ở hầu hết các cộng đồng xã hội, trầm cảm vẫn chưa được nhận thức

đúng đẫn cũng như điều trị không đầy đủ ở hầu hết các cơ sở y tế ở nhiều
mức độ khác nhau. Sự phủ nhận bệnh tự và kỳ thị xã hội là 2 rào cản lớn
nhất trong việc xác định bệnh trầm cảm. Nhiều bệnh nhân cảm thấy rất xấu

hỗ khi tìm kiếm sự giúp đỡ của nhân viên y tế trong giải quyết các vấn đề

sức khỏe tâm thần. Khi tìm kiếm sự giúp đỡ về y tế, cứ 3 bệnh nhân trầm

cảm thì có 2 người tìm kiếm sự giúp đỡ ở tuyến y tế chăm sóc ban đầu.

Như vậy, cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu là nơi tiếp cận được nhiều nhất
với bệnh nhân trầm cảm và cũng trong giai đoạn sớm nhất của bệnh
Việc sàng lọc sớm trầm cảm của cộng đồng nhiều khả năng giúp
bệnh nhân được can thiệp sớm bằng cá phương pháp dùng thuốc, không
dùng thuốc hoặc giải quyết các yếu tố nguy cơ xã hội đâng tồn tại. Điều
này giúp bệnh trầm cảm được giải quyết một cách đơn giản hơn cũng như
giảm được các tác hại về nhiều mặt do trầm cảm gây ra. Trong nghiên cứu


của Halfin (2007), phương pháp điều trị tram cảm sẽ hiệu quả hơn khi bệnh
nhân được sớm. Việc này giúp cho bệnh nhân có thể tham gia vào q trình
điều trị của mình, bác sĩ có thể áp dụng được nhiều phương không dùng
thuốc cũng như lựa chọn được loại thuốc phù hợp cho bệnh nhân. Như vậy,


bệnh sẽ tiến triển tết nhanh hơn, phòng ngừa được tái phát, giảm thời gian

ở mỗi đợt bệnh từ 4-5 thang, giam được gánh nặng về kinh tế và cảm xúc ở
bệnh nhân . Ngồi ra nhiều nghiên cứu khác cịn cho thấy sự cái thiện rõ rệt

về hiệu quả làm việc, các chức năng xã hội [36, 29].

Tuy nhiên theo một số nghiên cứu việc sang lọc, chân đoán và điều
trị sớm trầm cảm cũng cần chú ý một số vấn đề nhất định. Theo khuyến cáo

của Hiệp hội y học Canada, việc sàng lọc định kỳ có thể dẫn đến chân đốn
sai (đương tính giả). Điều này dẫn đến việc sự dụng sớm thuốc trầm cảm

một cách không cần thiết trong khi bệnh nhân đơi khi có thể tự phục hồi.

Tổ chức này cịn khuyến cáo khơng nên sàng lọc ở tuyến y tế cơ sở đối với

những người khơng có những triệu chứng trầm cảm rõ ràng hoặc đang có
nguy cơ cao của trầm cảm. Các nhân viên y tế nói chung nên chú ý đến
những đối tượng có những đặc điểm cá nhân, xã hội có nguy cơ cao của
trầm cảm và tiến hành đánh giá trầm cảm khi có các triệu chứng chỉnh như

giám khí sắc, giâm hứng thú hoặc có ý định tự sát [19].
1.2.

Zz

À


HẦU

ng

ros

x

.

Tơng quan về trầm cảm trước sinh va sau sinh

Trầm cảm trước sinh và sau sinh (perinatal depression) bao gồm
những giai đoạn trầm cảm điển hình xuất hiện trong khoảng thời gian mang
thai hoặc xuất hiện trong vòng 12 tháng sau sinh. Bệnh lý này có những

hậu quả nghiêm trọng đối với khơng những người phụ nữ mắc bệnh và còn

đối với con cái và gia đình. Trầm cảm ở đối tượng phụ nữ trước sinh và sau

sinh có liên quan đến giảm tương tác giữa mẹ và bé, giảm tiếp cận sớm

dịch vụ y tế khi trẻ mắc bệnh, tăng khả năng sử dụng các dịch vụ cấp cứu,

tăng tỉ lệ mắc các bệnh lý tâm thần ở trẻ và làm suy giảm sự gắn kết của trẻ
trong các mối quan hệ xã hội [44]. ˆ
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm trước sinh và sau sinh đao
động từ 6,5-12,9% phân loại theo từng tam cá nguyệt khác nhau và theo

tháng sau sinh. Kết quả còn cho thấy khoảng 19,2% phụ nữ có xuất hiện

một giai đoạn trầm cảm trong khoảng thời gian 3 tháng đầu sau sinh và hầu
hết khởi phát vào thời điểm sau sinh [44]. Tuy nhiên các tỷ lệ này chỉ mang


tính chất tham khảo vì các nghiên cứu có những khác biệt về phương pháp

đánh giá, thời gian đánh giá và đặc điểm của quần thể nghiên cứu.

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ trầm cảm trước sinh và

ˆ sau sinh lên đến 20% ở các nước đang phát triển và thậm chí cịn cao hơn ở
các nước có thu nhập cao. Tỷ lệ này chung trên toàn cầu giao động từ 10133% Tự sát là một trong những nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở phụ
nữ mang thai và sau sinh. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Galeya (2016),

tỷ lệ mắc trầm cảm trước sinh là từ 7-15% ở các nước có thu nhập cao và tỷ
lệ này cao hơn ở các nước có thu nhập trung bình và thấp với tỷ lê từ 1925%. Đáng chú ý hơn, trong giai đoạn sau sinh, tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ
sống ở các nước thu nhập cao tương đương với các nước có thu nhập thấp
và trung bình dao động từ 10-20% [17]. Loạn thần ở đối tượng này ít phổ

biến hơn nhưng cũng có khả năng dẫn đến tự sát và trong một vài tình
huống làm ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh. Trầm cảm gây ra gánh nặng bệnh tật
ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu của trẻ. Nhiều bằng chứng cho thấy
điều trị trầm cảm ở phụ nữ mang thai chính là một biện pháp cải thiện sự

tăng trưởng và phát triển của trẻ cũng những giảm khả năng mắc các bệnh
như tiêu chảy hoặc suy dinh dưỡng.

Theo Tố chức Y tế Thế giới, tram cảm là kết quả của sự tương tác

giữa nhiều yếu tế sinh học và xã hội. Những người trải nghiệm những sự


kiện không mong muôn như thất nghiệp, sang chấn tâm lý, có người thân

qua đời thường đễ mắc trầm cảm hơn. Theo chiều hướng ngược lại, tram
cảm dẫn đến nhiều căng thăng và rối loạn trong cuộc sống hơn và cũng ảnh
hưởng đến sự tiễn triển của bệnh trầm cảm.

Kết quả nghiên cứu trên đối tượng phụ nữ ở các nhóm nước có mức
thu nhập khác nhau cho thay tỷ lỆ trầm cảm cao có liên quan đến một số

yếu tế nguy cơ bao gồm có những bệnh lý khác, bị bạn tình ngược đãi hoặc
bạo hành, thiếu sự hỗ trợ của xã hội, có thai ngồi ý muốn và có tiền sử
tram cám và những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm tái phát. Trầm cám
trước sinh có mối liên quan chặt chẽ vơi shanhf vi sức khỏe tiêu cực dẫn
đến tình trạng sức khỏe kém, bao gồm thiếu dinh dưỡng, tăng sử dụng chất,
thiếu chăm sóc tiền sản, trẻ sơ sinh nhẹ cân, sinh non, tram cam sau sinh va
tự sát. Người phụ nữ có trầm cảm trước sinh thương tiếp tục có những triệu


chứng của trầm cảm trong giai đoạn sau sinh, voi hon 54% cho biết đã từng
có những triệu chứng trầm cảm trong thai kỳ [17].

Các yếu tổ liên quan đến tram cam sau sinh có thể được chia làm các
nhóm chính bao gơm trâm cảm trước sinh, u tơ cá nhân, tình trạng hơn

nhân gia đình, các yếu tố tâm lý và yếu tô liên quan đến trẻ.

Yếu tố cá nhân liên quan đến trầm cảm sau sinh bao gồm tuổi, tuổi

kết hôn, tiền sử trầm cảm trong thai kỳ, ý thức về ngoại hình và cân năng,


rối loạn nhân cách (nhân cách trốn tránh, phụ thuộc và ám ảnh cưỡng chế),
tiền sử có trầm cảm sau sinh và thái độ tiêu cực đối với công việc hay bị
thất nghiệp.

Trong nhóm yếu tố tình trạng hơn nhân và gia đình, các yếu tế có
liên quan đến trầm cảm trước sinh và sau sinh. là các bệnh lý tâm thần của
chồng, nghiện rượu, không chắc chắn về công việc của chồng, chồng có

nhiều vợ, có xung đột trong gia đình, khơng được chồng hỗ trợ, hối tiếc vì

đã kết hơn. Trong các nghiên cứu định tính, kết quả cho thấy người phụ nữ

thường cảm thấy không yên tâm về sự thay đổi về ngoại hình của mình, tự

cho rằng họ kém hấp dẫn hoặc cần quá nhiều sự hỗ trợ từ chồng. Thậm chí,

họ đánh giá sự chấp nhận và tình cảm của chồng mình thơng qua những
- hành động giúp đỡ hoặc qua các cử chỉ lãng mạn. Một số nghiên cứu còn

chỉ ra rằng các triệu chứng trầm cảm trước sinh có thể gây ra xung đột

trong gia đình. Phụ nữ trần câm thậm chí có thể khơng thích những người
khác bao gồm chồng của họ. Những người trong gia đình và họ hàng, bạn
bè thường cố gắng làm giảm bớt các cảm xúc tiêu cực nhưng thường thất
bại, dẫn đến việc họ rời xa họ. Vì vậy, mối liên quan giữa xung đột trong

hôn nhân và các triệu chứng trầm cảm được cho là rất phức tạp và trầm
cảm và xung đột trong hơn nhân có ảnh hưởng đến nhau [14].


Các yếu tổ liên quan đến thai kỳ và trẻ bao gồm số lần mang thai,

mang thai ngoài ý muốn hoặc khơng theo kế hoạch và có thái độ tiêu cực
đối với thai kỳ, thai kỳ có biến chứng, tiền sử sảy thai, bị giam cầm. Các
yếu tố liên quan đến trẻ bao
yếu là nữ), dị tật bâm sinh ở
sóc trẻ, gặp khó khăn trong
chồng khơng tham gia chăm

gồm khơng hài lịng với giới tính của trẻ (chủ
trẻ, trẻ khó chiều, căng thẳng với việc chăm
ni con, khơng có thơi gian nghỉ hậu sản,
sóc trẻ hoặc có xung đột với họ hàng về việc

chăm sóc trẻ. Yếu tế khơng hài lịng về giới tính của trẻ được chứng minh

10ˆ


trong nhiều nghiên cứu là một yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh. Điều
này cho thấy rằng tầm quan trọng của giới tính trẻ ở gia đỉnh các nước châu
Á, đặc biệt là các nước bị ảnh hưởng bởi Nho giáo như Trung Quốc, Đài

Loan, Hàn Quốc v..v. Các cặp vợ chẳng được kỳ vọng có ít nhất một người
con trai để nối dõi [24].
Các yếu tổ liên quan đến tâm lý bao gồm là đân nhập cư, sống trong
mơi trường khơng phù hợp về văn hóa, nơi ở kém chất lượng, thiếu hỗ trợ

xã hội, thiếu hỗ trợ về mặt y tế, có nhiều sự kiên căng thẳng trong đời sống,
gặp khó khăn về tài chính, thiểu bạn bè hoặc có xung đột hoặc bị lam dung,


bạo hành [22]. Ở khía cạnh này, có sự tương đồng đáng kể ở các các nước
Tây Âu, Bắc Mỹ và khu vực châu Á. Tuy nhiên, các yếu như có xung đột
với cha mẹ chồng. Trong một số nghiên cứu ở cả châu Âu và khu vực châu

Á, khó khăn về tài chính và nghèo đói đã được chứng miỉnh là có liên quan
đến trầm cảm và khả năng hồi phục chậm. Mặc dù mang thai và sự ra đời

của tre thường được xem là thời gian hạnh phúc của hầu hết các gia đình

nhưng việc này cũng đặt ra những thách thức về kinh tế cho gia đỉnh bao
gồm chỉ phí chăm sóc tiền sản, sinh con và ni con. Điều này đặc biệt
đúng với hình thức gia đình hạt nhân hoặc gia đình có thu nhập thấp, trong
đó người chồng đóng vai trị chính trong làm việc kiếm thu nhập cho gia
đình. Ngược lại, những người phụ nữ có khả năng quản lý tài chính gia
đình thường ít có nguy cơ trầm cảm hơn. Những người phụ nữ có khả năng
tự chủ và tự do cũng ít bị căng thăng hơn các nhóm khác. Về mặt xã hội, sự

hỗ trợ về mặt xã hội cho người phụ nữ trong giai đoạn chuyển tiếp có ý
nghĩa giúp đỡ họ điều chỉnh những thay đổi về cảm xúc. Những hỗ trợ này.

có tác dụng trực tiếp giúp ổn định tâm lý và phịng ngừa trầm cảm. Ngồi
ra, hỗ trợ xã hội cũng được xem là một phương pháp điều trị thành công
cho trầm cảm sau sinh. Ngược lại, sự thiếu vắng hỗ trợ xã hội được xem là

một yếu tố dự đoán độc lập của trầm cảm sau sinh trong nhiều nghiên cứu
trước đó. Điều này làm cho con người dễ nhạy cảm với stress, cảm thấy
mình khơng có giá trị và thất vọng.
1.3. Sơ lược về sự phù hợp về văn hóa, đánh giá tính giá trị và độ tin
cậy của một công cụ sàng lọc


1.3.1. Ý nghĩa

Sự gia tăng của các dự án nghiên cứu liên quốc gia, đa văn hóa làm
gia tăng nhanh chóng nhu cầu đo lường các tình trạng sức khỏe bằng các bộ
11


cơng cụ ở nhiều loại ngơn ngữ và văn hóa khác nhau. Đại đa số các câu hỏi

được phát triển ở các nước nói tiếng Anh, nhưng thậm chí ở các quốc gia
này các nhà nghiên cứu cũng phải rất cân nhắc khi sử dụng ở các đối tượng
khác nhau như các dân tộc ở vùng miền khác nhau, hoặc dân di cư, đặc biệt

những nghiên cứu nhưng không loại trừ được ảnh hưởng của yếu tố văn

hóa thường dẫn đến sai lệch trong đo lường cũng như làm giảm tính giá trị
của nghiên cứu.

Điều chỉnh bộ câu hỏi hay một cơng cụ phù hợp với văn hóa cần
xem xét trong một số bối cảnh khác nhau. Trong một vài tình huống, việc
_ điều chỉnh này có thể cần thiết và rõ rang hon. Tinh huống thứ nhất, khi bộ
câu hỏi được sử đụng trong củng một ngôn ngữ, cùng một nền văn hóa, lúc

này việc xác nhận sự phù hợp về văn hóa và ngơn ngữ là khơng cần thiết.

Ngược lại, áp dụng một bộ câu hỏi từ một ngơn ngữ khác, một văn hóa

khác, một quốc giá khác, ví dụ một bộ câu hỏi có nguồn gốc từ Mỹ được sử


dụng tròng bối cảnh ở Nhật cần dịch và điều chỉnh về văn hóa một cách
phù hợp nhất.
1.3.2. Các bước cơ bản để đánh giá sự phù hợp về văn hóa và tính giá
trị của hình thức

Hiện tại chưa có một hướng dẫn hay tiêu chuẩn thống nhất hướng

dẫn các bước địch và chuẩn hóa các bộ câu hỏi. Q trình chuẩn hóa bộ câu

hỏi thường được chia làm nhiều giai đoạn được khuyến khích sử dụng ở
nhiều nơi. Có thể tạm chia q trình này thành 2 bước lớn là dich và q

trình chuẩn hóa sau dịch. Các nhà nghiên cứu khuyến khích rằng các bản

dịch cần được lưu trữ vì điều khơng những tiết kiệm thời gian mà còn hạn

chế sự sai biệt của các bản câu hỏi trong cùng một ngôn ngữ. Các bước cụ
thể của tồn bộ q trình chuẩn hóa, điều chính và đánh giá được mô tả bên

đưới [15].



Bước địch ban đầu là bước bảng câu hỏi gốc được địch từ ngôn ngữ
gốc ra 2 bảng của ngôn ngữ mục tiêu. Mục đích của việc này nhằm để phát
hiện các từ tối nghĩa, không rõ rang khi chuyển từ ngôn ngữ này qua ngôn
ngữ kia, cũng như cách lược chọn từ ngữ. Từ đó các những người dịch có
thể trao đổi và thống nhất ý kiến với nhau. Những người địch bảng câu hỏi
ra ngơn ngữ đích cần dịch độc lập và đầy đủ các ý kiến, nhận xét của họ


trong suốt q trình dịch và 2 người này cần phải có chuyên ngành khác
12


nhau. Người thứ nhất nên là người có chun mơn về lĩnh vực được khảo
sát nhằm mục đích đám tính mục đích trong đị lường của cơng cụ một cách

_ tương đối chính xác. Trong khi người thứ hai nên là người không biết về
các khái niệm đo lường cũng như khơng có chun mơn về y tế. Bằng cách

này, người dịch nảy sẽ ít bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu học thuật và họ

chính là người phản ánh ngơn ngữ sẽ được sử dụng và nhìn nhận bởi cộng
đồng và đồng thời cũng một phần xác định các điểm không rõ ràng của các
từ gốc trong nhiên cứu.
Ở giai đoạn 2 và 3, các nhà nghiên cứu sẽ tổng hợp các bản dịch ban
đầu thành một bản dịch chung. Trong đó các vấn đề được dé cập ở các bản

dịch trước sẽ được thảo luận và giải quyết. Tiếp thẹo, một người dịch khác
hồn tồn khơng biết đến phiên bản gốc của bộ câu hỏi hay công cụ sẽ dịch
ngược bản dịch tổng hợp ở giai đoạn trở về ngơn ngữ gốc. Bước này nhằm

mục đích đảm bảo bảng câu hỏi được dịch ra ngôn ngữ khác giữ được phần
lớn ý nghĩa của công cụ ban đầu. Giai đoạn này còn giúp các nhà nghiên
cứu xác định được các từ có thể gây hiểu lầm hoặc địch chưa phù hợp một

lần nữa. Tuy nhiên, sự tương đồng giữa bản địch ngược và bản gốc khơng

có ý nghĩa tuyệt đối cho sự chính xác của bộ cơng cụ. Bước này chỉ mang ý


nghĩa đánh giá sơ bộ tính phù hợp của các khái niệm. Tương tự bước dịch

ban đầu, bước dịch ngược cũng cần những người dịch có kiến thức về lĩnh
vực được nghiên cứu và những người dịch khơng có kiến thức về y khoa.

Giai đoạn 4 là giai đoạn thông qua hội đồng chuyên gia nhằm đạt
được sự tương đồng về văn hóa của bộ câu hỏi. Giai đoạn này cần sự tham

gia của các chuyên gia về phương pháp, người biên dịch thuận và ngược,
chuyên gia về chủ để sức khỏe được nghiên cứu. Hội đồng sẽ xem xét lại
toàn bộ các bản dịch từ ban đâu và bắt đầu xây dựng bản cuối cùng, thống
nhất chung. Hội đồng này cũng sẽ xem lại toàn bộ các bản câu hỏi trước đó
và giải quyết các điểm khơng rõ rang trong q trình dịch thuận và ngược.

Trong giai đoạn này các nhà nghiên cứu cần xác đỉnh sự tương đồng của bộ
câu hỏi gốc và bộ câu hỏi đích trên những khía cạnh sau đây: tương đơng
về ngữ nghĩa, tương đồng về cách trình bày diễn giải tương đồng với cách
diễn giải của đối tượng mục tiêu. Ví dụ thuật ngữ “feeling downhearted and

blue” trong tiếng Anh thường rất khó để tìm một từ ngữ tương đồng trong

tiếng Việt. Trong tình huống này, câu hỏi, thuật ngữ này cần được thay thế

bằng những từ ngữ do hội đồng điều chỉnh. Sự tương đồng về trải nghiệm
13

;



×