ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ THỊ ÁNH TUYẾT
HỘI QUÁN CỦA NGƯỜI HOA
Ở HỘI AN (QUẢNG NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGHÀNH KHẢO CỔ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ THỊ ÁNH TUYẾT
HỘI QUÁN CỦA NGƯỜI HOA
Ở HỘI AN (QUẢNG NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGHÀNH KHẢO CỔ HỌC
MÃ SỐ: 60 - 22 - 60
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ HẬU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn thành luận văn, bên cạnh sự nỗ
lực của bản thân, học viên đã nhận được nhiều sự trợ giúp khác nhau. Với lịng kính
trọng và biết ơn sâu sắc nhất, học viên xin có lời cảm ơn chân thành tới:
- TS. Nguyễn Thị Hậu – cán bộ trực tiếp hướng dẫn khoa học từ khóa luận tốt
nghiệp đến luận văn thạc sĩ của học viên. Cơ đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học,
giúp đỡ về chuyên môn, động viên về sức khỏe để học viên hoàn thành luận văn.
- PGS. TS Đặng Văn Thắng – người thầy đã dạy dỗ, đôn thúc, tạo điều kiện
trong quá trình thực hiện luận văn và giúp học viên sửa chữa các lỗi của luận văn.
- Quý thầy cô trong bộ môn Khảo cổ học, khoa Lịch sử trường ĐH Khoa học
Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, các đồng nghiệp đã giúp đỡ
học viên trong quá trình học tập, nghề nghiệp và quá trình thực hiện luận văn.
- Học viên cũng xin ghi nhận sự giúp đỡ từ Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích
Hội An, đặc biệt là ơng Nguyễn Chí Trung – giám đốc Trung tâm và anh Tống
Quốc Hưng – Trưởng Bộ phận nghiệp vụ quản lý di tích của Trung tâm, Ban Quản
trị các hội quán Hội An, các cô chú, anh chị sinh sống gần các hội quán… đã giúp
đỡ học viên trong quá trình thực hiện luận văn về tư liệu và quá trình khảo sát thực
tế. Thầy Phạm Thúc Hồng là người đã giúp học viên rất nhiều trong việc đọc các tư
liệu Hán Nôm tại các hội quán. Chú Nguyễn Thượng Hỷ - Trung tâm Quản lý Di
tích Danh thắng Quảng Nam đã chỉ bảo tận tình cho học viên về các lĩnh vực kiến
trúc nói chung và kiến trúc các hội quán ở Hội An nói riêng.
- Gia đình, người thân và bạn bè ln tạo mọi điều kiện tốt nhất và là nguồn
động viên to lớn trong q trình học viên học tập và hồn thành luận văn.
Mặc dù học viên đã cố gắng rất nhiều trong nghiên cứu khoa học, thực hiện
luận văn nhưng với sự kinh nghiệm và sự hiểu biết còn hạn chế, chắc chắn luận văn
sẽ cịn thiếu sót. Kính mong sự chỉ bảo và đóng góp của q Thầy cơ, đồng nghiệp
và bạn bè. Xin chân thành cảm ơn!
Học viên: Võ Thị Ánh Tuyết.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:...................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài ............................................................................. 3
5. Mục đích của luận văn ........................................................................................... 4
6. Kết quả nghiên cứu và đóng góp của luận văn ..................................................... 4
7. Bố cục của luận văn ............................................................................................... 4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI HỘI AN .......................... 6
1.1. Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hóa của Hội An ................. 6
1.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên ........................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm lịch sử - văn hóa........................................................................ 7
1.2. Sơ lược về lịch sử dân cư và quá trình người Hoa đến Hội An ................... 11
1.2.1. Sơ lược về lịch sử dân cư ........................................................................ 11
1.2.2. Quá trình người Hoa đến Hội An ............................................................ 13
1.3. Khái niệm hội quán và sự ra đời của các hội quán ở Hội An ...................... 17
1.3.1. Khái niệm hội quán................................................................................. 17
1.3.2. Sự ra đời của các hội quán ở Hội An....................................................... 18
1.4. Những phát hiện khảo cổ học có liên quan đến các hội quán tại Hội An .. 19
CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU VỀ CÁC HỘI QUÁN NGƯỜI HOA Ở HỘI
AN .................................................................................................................... 21
2.1. Hội quán Phúc Kiến .......................................................................................... 21
2.1.1. Không gian, cảnh quan và bố cục mặt bằng tổng thể............................... 21
2.1.2. Kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất ...................................................... 21
2.1.3. Di vật...................................................................................................... 32
2.2. Hội quán Trung Hoa ......................................................................................... 43
2.2.1. Không gian, cảnh quan và bố cục mặt bằng tổng thể............................... 43
2.2.2. Kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất ...................................................... 44
2.2.3. Di vật...................................................................................................... 51
2.3. Hội quán Triều Châu ........................................................................................ 58
2.3.1. Không gian, cảnh quan và bố cục mặt bằng tổng thể............................... 58
2.3.2. Kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất ...................................................... 59
2.3.3. Di vật...................................................................................................... 67
2.4. Hội quán Quỳnh Phủ ........................................................................................ 75
2.4.1. Không gian, cảnh quan và bố cục mặt bằng tổng thể............................... 75
2.4.2. Kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất ...................................................... 75
2.4.3. Di vật...................................................................................................... 79
2.5. Hội quán Quảng Triệu...................................................................................... 86
2.5.1. Không gian, cảnh quan và bố cục mặt bằng tổng thể............................... 86
2.5.2. Kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất ...................................................... 86
2.5.3. Di vật...................................................................................................... 94
CHƯƠNG 3. HỘI QUÁN CỦA NGƯỜI HOA Ở HỘI AN - ĐẶC ĐIỂM
VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ .............................................................................102
3.1. Đặc điểm của các hội quán người Hoa ở Hội An ....................................... 102
3.1.1. Đặc điểm từng hội quán .........................................................................102
3.1.2. Đặc điểm chung các hội quán ................................................................115
3.1.3. Giá trị của các hội quán thể hiện qua di tích và di vật ............................147
3.2. Hội quán người Hoa ở Hội An trong bối cảnh rộng hơn .......................... 148
3.2.1. So sánh với các kiến trúc cổ khác ở Hội An ..........................................148
3.2.2. So sánh với các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hồ Chí
Minh và những nơi khác ...................................................................................150
3.2.3. Sự giao lưu và hội nhập văn hoá Việt – Hoa ở các hội quán...................154
3.3. Vai trò của các hội quán đối với đời sống cư dân Hội An. ......................... 156
3.3.1. Hội quán trong đời sống cư dân Hội An .................................................156
3.3.2. Hội quán trong tiến trình lịch sử vùng đất Hội An – Quảng Nam ...........157
KẾT LUẬN .....................................................................................................159
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................163
PHỤ LỤC........................................................................................................159
BẢNG THỐNG KÊ ........................................................................................159
BẢN ĐỒ ..........................................................................................................164
SƠ ĐỒ .............................................................................................................165
BẢN VẼ ..........................................................................................................175
BẢN ẢNH .......................................................................................................181
PHỤ LỤC KHÁC ...........................................................................................201
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong nghiên cứu khảo cổ, văn hố và tiến trình lịch sử Việt Nam, khảo
cổ học lịch sử đóng vai trị hết sức quan trọng bởi ngành này mang lại những thông
tin xác thực minh họa, bổ sung cho nguồn sử liệu chữ viết. Trong lĩnh vực khảo cổ
học lịch sử, nghiên cứu các di tích tơn giáo tín ngưỡng được nhiều người quan tâm
vì giá trị nhiều mặt của loại hình di tích này. Hội qn là hình thức tổ chức cộng
đồng quan trọng của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam và cũng là loại hình di tích
kiến trúc nghệ thuật thể hiện dấu ấn của người Hoa khi đến định cư bn bán, giao
lưu và hồ nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam. Hội quán của người Hoa được
xây dựng ở nhiều nơi trên đất nước ta như Hội An (Quảng Nam), khu vực Chợ Lớn
(Thành phố Hồ Chí Minh), Phan Thiết (Bình Thuận)…
1.2 . Đơ thị cổ Hội An - di sản văn hoá thế giới đến nay vẫn bảo tồn gần như
nguyên trạng một quần thể di tích kiến trúc cổ gồm nhiều cơng trình nhà ở, hội
quán, đình chùa, đền miếu, giếng, cầu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ... thể hiện sự hội
tụ, giao thoa giữa nhiều nền văn hoá: Việt, Chăm, Trung Hoa, Nhật Bản... trong đó
chịu sự ảnh hưởng nhiều nhất của văn hoá Việt Nam và Trung Hoa. Đặc biệt, ở Hội
An hiện còn tồn tại năm hội quán: Phúc Kiến, Trung Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ
và Quảng Triệu. Đây là các loại hình kiến trúc cổ tiêu biểu của đơ thị cổ Hội An.
Nghiên cứu hội quán dưới góc độ khảo cổ học (kiến trúc, trang trí, di vật, niên
đại)… sẽ làm rõ hơn quá trình người Hoa tụ cư ở Hội An, đặc trưng văn hóa và các
mối quan hệ của cộng đồng người Hoa qua chức năng của hội quán cũng như phong
tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa diễn ra ở đây. Qua đó
góp phần tìm hiểu q trình giao lưu văn hố Việt – Hoa trong lịch sử văn hóa Việt
Nam.
1.3. Trong điều kiện phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế – văn hoá – du
lịch hiện nay của Hội An và cả nước, việc nghiên cứu những di tích khảo cổ học
lịch sử như các hội quán ở Hội An dưới góc độ khảo cổ học là hết sức cần thiết.
Việc nghiên cứu này sẽ cung cấp những tư liệu cho các ngành văn hoá, du lịch, lịch
sử nhằm bảo tồn và định hướng khai thác giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
2
ở các hội quán, góp phần đắc lực cho phát huy giá trị Di sản văn hóa Thế giới Hội
An.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Các hội quán ở Hội An là những cơng trình kiến trúc tiêu biểu tại Hội An, góp
phần tơ điểm diện mạo kiến trúc đơ thị cổ Hội An. Tháng 12 năm 1999, UNESCO
đã công nhận khu phố cổ Hội An là Di sản văn hố thế giới. Từ đó đến nay, việc
nghiên cứu các cơng trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hố tại đô thị cổ này lại được
chú trọng. Các hội quán cũng là những di tích được chú ý điều tra, nghiên cứu từ
khá sớm: Xưởng bảo quản và tu sửa di tịc Trung ương – Bộ văn hóa đã đo vẽ mặt
bằng tổng thể hội quán Phúc Kiến năm 1983. Ban quản lý di tích Hội An đã đo đã
lập hồ sơ lý lịch các di tích hội quán ở Hội An năm 1992. Tuy nhiên, các cuộc khảo
sát trên cũng chỉ mới nằm trong chương trình nghiên cứu chung về các di tích để lập
bản đồ phân bố và tiến hành trùng tu di tích phục vụ cho hoạt động du lịch của đơ
thị cổ Hội An.
Đã có nhiều cơng trình, tác phẩm nghiên cứu về Hội An có đề cập đến các di
tích hội qn ở Hội An, nhưng thường là những bài viết mang tính chất khái quát
chung. Phạm Hoàng Hải, 2001, Những người bạn đường du lịch, văn hóa Hội An,
Nxb.Thế giới, Hà Nội; Nguyễn Văn Xuân, 2001, Hội An, Nxb. Đà Nẵng; Nguyễn
Chí Trung, 2005, Cư dân Faifo Hội An trong lịch sử, Trung tâm quản lý bảo tồn di
tích Hội An; Lê Tuấn Anh, 2008, Di sản thế giới ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thơng
tin… đều dành những mục để viết về các hội quán ở Hội An. Nguyễn Quốc Hùng,
1995, Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa ở Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng trong
Chương 2: “Các loại hình di tích kiến trúc trong khu phố cổ” đã trình bày những đặc
trưng chung của hội quán. Các bài viết nêu trên đều mới mang tính chất giới thiệu
sơ lược về loại hình di tích Hội qn nói chung. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phước
Tương với “Hội An – Di sản thế giới”, 2004, Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, có
bài giới thiệu khá kỹ về hội quán Phúc Kiến, tác giả đã mô tả hội quán này với
những nét chung, cấu trúc di tích, lễ hội, tuy cũng chỉ ở dạng mơ tả sơ lược và gói
gọn từ trang 225- 236. Gần đây nhất, năm 2009, Tống Quốc Hưng có bài viết đăng
trên Tuyển tập Thơng tin di sản, di tích Quảng Nam, “Những hội quán của người
Hoa ở Hội An” nhưng vì bài viết q ngắn, chỉ có 7 trang: 353-359 nên cũng giống
như các nghiên cứu kể trên, mang tính liệt kê mà chưa đi sâu nghiên cứu kỹ về các
3
di tích lịch sử này. Năm 2009, Phạm Thúc Hồng có biên dịch-khảo luận“Hội quán
Phúc Kiến ở Hội An” nhưng nội dung chỉ tập trung vào trình bày phần tư liệu Hán
nơm và văn học tại hội qn. Ngồi ra, rải rác trong các bài báo, tạp chí… cũng có
nhắc đến các hội quán nhưng tất cả các tác giả cũng mới chỉ giới thiệu sơ lược ngắn
gọn về các hội quán. Nói chung các hội quán ở Hội An là những di tích lịch sử quan
trọng nhưng đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách tòan diện về giá trị nhiều
mặt của nó, nhất là ở góc độ khảo cổ học, lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn là năm hội quán ở Hội An: Phúc Kiến, Trung
Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Triệu – những di sản văn hóa vật thể. Các
hội quán được tiếp cận dưới góc độ khảo cổ học. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
là di tích hội quán và di vật cổ trong hội quán. Trên cơ sở khảo sát từng hội quán
trong tổng thể hệ thống hội quán ở Hội An, tác giả tập trung vào việc mô tả, nhận
xét các kiến trúc, di vật cổ, các kiến trúc và di vật mới chỉ nghiên cứu ở tính chất so
sánh, đối chiếu. Về kiến trúc, mặc dù các hội quán đã được trùng tu sửa chữa nhưng
về cơ bản vẫn còn lưu giữ những kiến trúc cũ nên tác giả đã nghiên cứu tất cả, từ đó
nhận biết niên đại hội quán. Về di vật, tác giả tập nghiên cứu những di vật có niên
đại từ trước đến đầu thế kỷ 20.
Qua đó, nêu được đặc điểm chung, các giá trị đặc sắc của các hội quán ở Hội
An và so sánh, đối chiếu với các kiến trúc cổ khác ở Hội An. Đồng thời, luận văn
cũng mở rộng tìm hiểu, nghiên cứu các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa ở những
nơi khác để có sự so sánh, tìm ra điểm giống nhau và khác nhau của các hội quán ở
Hội An với những nơi khác.
Xác định những giá trị của các hội quán ở Hội An dưới góc độ khảo cổ học:
kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật trang trang trí và các hiện vật, đồng thời đặt nó
trong khung cảnh chung của các di tích lịch sử khác ở Hội An và q trình người
Hoa có mặt, giao lưu kinh tế, văn hoá ở Hội An.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
4.1. Luận văn vận dụng quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng trong
việc sử dụng tài liệu, nghiên cứu, nhận định các vấn đề.
4.2. Luận văn sử dụng các phương pháp đặc thù của khảo cổ học và khoa học
lịch sử: khảo sát điền dã, so sánh, đối chiếu, tổng hợp. Đặc biệt là những kỹ năng
4
chun ngành: đo, vẽ, khảo tả, chụp hình… Ngồi ra, luận văn còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử học, mỹ thuật, kiến trúc, Hán Nôm, điền dã
dân tộc học… để nghiên cứu toàn diện các giá trị của hội quán.
5. Mục đích của luận văn
Luận văn tập trung vào các mục đích sau:
- Tìm hiểu những giá trị về mặt khảo cổ học lịch sử của các hội quán ở Hội
An: giá trị kiến trúc, mỹ thuật, điêu khắc, nghệ thuật trang trí, đặc điểm các di vật,
niên đại các hội quán. So sánh, đối chiếu với các hội quán ở một số nơi khác để nêu
lên để rút ra những nét đặc sắc của các hội qn ở Hội An.
- Góp phần tìm hiểu sự ra đời và phát triển của các hội quán cũng như q
trình người Hoa có mặt, giao lưu kinh tế, văn hoá ở Hội An.
- Cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu lịch sử Hội An và lịch sử người Hoa, bổ
sung tư liệu cho các ngành văn hoá, du lịch. Từ đó có định hướng bảo tồn tơn tạo và
phát huy phát huy giá trị di tích.
6. Kết quả nghiên cứu và đóng góp của luận văn
6.1. Luận văn đã tập hợp và hệ thống hoá khá đầy đủ những tư liệu liên quan
đến các hội quán ở Hội An. Kết hợp tư liệu lịch sử với điền dã, nghiên cứu khảo cổ
học tại các hội quán để tìm hiểu đặc trưng mọi mặt của hội quán ở Hội An.
6.2. Nêu được những đặc điểm, giá trị của các hội quán: Về kiến trúc và trang
trí nội thất, đối tượng được thờ cúng, đặc điểm di vật, niên đại. Về nghệ thuật trang
trí, giá trị của các hội quán thể hiện qua di tích và di vật, các mối quan hệ của các
hội quán... Qua đó phản ánh quá trình người Hoa tụ cư ở Hội An, giao lưu văn hố
Việt– Hoa.
6.3. Kết quả của luận văn có thể sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy, làm tài
liệu cho sinh viên, tài liệu văn hoá, du lịch, phục vụ công tác bảo tồn, trùng tu và
phát huy giá trị di tích.
7. Bố cục của luận văn
Ngồi phần mở đầu và kết luận, luận văn có nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đất và người Hội An: Giới thiệu khái quát đặc điểm
địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hóa của Hội An, lịch sử dân cư và quá trình người Hoa
đến Hội An và sự ra đời của các hội quán người Hoa ở Hội An.
Chương 2: Giới thiệu về các hội quán của người Hoa ở Hội An: Khảo tả từng
5
hội quán theo thứ tự ra đời trước sau của các hội quán: hội quán Phúc Kiến, hội
quán Trung Hoa, hội quán Triều Châu, hội quán Quỳnh Phủ, hội quán Quảng Triệu.
Chương 3: Hội quán của người Hoa ở Hội An – đặc điểm và các mối quan hệ:
trên cơ sở khảo tả các hội quán, rút ra đặc điểm từng hội quán, và đặc điểm chung
của các hội quán. Đồng thời, đặt hội quán người Hoa ở Hội An trong bối cảnh rộng
hơn để so sánh với các kiến trúc cổ khác ở Hội An và với các cơ sở tín ngưỡng của
người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh và những nơi khác, với sự giao lưu và hội
nhập văn hoá Việt – Hoa. Cuối cùng, khẳng định vai trò của các hội quán đối với
đời sống cư dân Hội An, tiến trình lịch sử vùng đất Hội An – Quảng Nam.
Phần tài liệu tham khảo: có 52 tài liệu tài liệu tham khảo chính thức. Ngồi ra
luận văn còn tham khảo thêm từ các tài liệu khác.
Phụ lục gồm: bản đồ, sơ đồ, bản vẽ, bản ảnh và các phụ lục khác.
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI HỘI AN
1.1.
Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hóa của Hội An
1.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
Hội An một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, diện tích 6.068km 2, dân số
82.850 người, chia thành 9 phường và 4 xã: Phường: Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm
Nam, Cẩm Phô, Cửa Đại, Minh An, Sơn Phong, Tân An, Thanh Hà; Xã: Cẩm Hà,
Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Tân Hiệp (xã đảo nằm trên Cù lao Chàm) [42].
Tọa độ địa lý của Hội An: 15o53’ vĩ độ bắc, 108o20’ kinh độ đông, cách thành
phố Đà Nẵng 30km về phía đơng nam và cách thành phố Tam Kỳ 55 km về phía
đơng bắc. Vào các thế kỷ trước, Hội An cịn thơng thương với Đà Nẵng bằng con
sơng Cổ Cị; thơng qua sơng Thu Bồn nối với kinh đô Trà Kiệu và Thánh địa Mỹ
Sơn ở thượng lưu, thông qua các đường sông, đường bộ, nối với núi rừng giàu lâm
thổ sản miền núi phía Tây, cũng như với Kinh đơ Phú Xn - Huế ở phía Bắc và các
dinh trấn phía Nam. Nhờ vị trí này, Hội An có thể giao lưu với các vùng miền khác
bằng nhiều loại hình giao thơng và mở rộng thông thương buôn bán quốc tế từ khá
sớm.
Hội An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với hai mùa khá rõ trong năm:
mùa mưa (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), có kèm theo mưa, bão, lũ, gió mùa
đơng bắc; mùa khơ (từ tháng 4 dến tháng 9) khá nóng bức do gió phơn Tây Nam,
đơi lúc cũng có gió Đơng Nam mát mẻ. Bức xạ nhiệt ở Hội An trên 95
kcalo/cm2/năm. Độ ẩm không khí khá cao: 80 – 85%. Lượng mưa trung bình:
3087mm/năm. Nhiệt độ trung bình khoảng 25,9oC và biên độ dao động trong
khoảng từ 15 – 38 oC.
Hội An ở về phía tả ngạn hạ lưu sơng Thu Bồn, nơi hội tụ nhiều nhánh sông
trước khi chảy ra biển Đông là: nguồn Ô Gia (Vu Gia), nguồn Chiên Đàn, nguồn Đế
Võng (sơng Cổ Cị) từ Đà Nẵng, đặc biệt là nguồn Thu Bồn – dòng chảy huyết
mạch của cả tỉnh. Theo thời gian, đường bờ sông của Hội An cổ chuyển dịch dần từ
Bắc xuống Nam, từ đường Trần Phú (thế kỷ 17-18) đến đường Bạch Đằng (cuối thế
kỷ 19 đến nay), tạo thành khu phố mới và mở rộng diện tích đất liền của Hội An.
Hội An có nhiều bến sông thuận tiện vận chuyển và tập trung các loại sản vật của
xứ Quảng để trao đổi, buôn bán với các nơi khác bằng đường thuỷ.
Phía đơng Hội An là biển Đơng, bờ biển dài 7 km có cửa sơng sâu, ngư trường
7
rộng lớn, có đảo Cù Lao Chàm cung cấp nhiều tài nguyên quý hiếm và là bức bình
phong trên biển che chắn sóng, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền cập
bến. Qua các thời điểm lịch sử khác nhau, vùng biển này đã có vai trị hết sức quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa của Hội An và xứ Quảng gắn
liền với những cái tên như: Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu
(Cửa Đại).
Địa hình Hội An đa dạng và phức tạp, có nhiều sơng ngịi, mương lạch, cồn
nổi, rừng dừa nước ngập mặn, cửa sông, cửa biển, biển đảo, núi rừng. Kết quả
nghiên cứu địa chất cho biết các cồn cát cổ nhất của khu vực Hội An được tạo thành
cách đây 10.000 năm [29, tr.54]. Môi trường tự nhiên đã ưu đãi cho Hội An các
nguồn tài nguyên như: các loại hải sản như tôm, cá tươi ngon nổi tiếng từ biển Cửa
Đại; rừng Cù Lao Chàm có nhiều lâm sản, dược liệu, động vật quý, đặc biệt có yến
sào - một loại thực phẩm và dược liệu quý; đất đai phù sa ven sông màu mỡ thích
hợp cho nhiều loại cây trồng, lại nằm giữa vùng đồng bằng giàu có của xứ Quảng
nên đã nhận được các nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú của cả vùng.
Nhờ điều kiện địa lý tự nhiên và vị trí đầu mối giao thông quan trọng trong hệ
thống hàng hải quốc tế nên Hội An có đủ lợi thế để xây dựng một đô thị thương
cảng từ rất sớm và có thể giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng trong nước và quốc
tế. Qua đó, cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình dân cư ở Hội An, quy định nên
những đặc trưng về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là việc hình thành đô
thị thương cảng độc đáo ở Việt Nam với những đặc trưng về các kiến trúc mang
tính tương ứng.
1.1.2. Đặc điểm lịch sử - văn hóa
Về lịch sử:
Thương cảng Hội An hình thành vào khoảng thế kỷ 15-16, thịnh đạt trong thế
kỷ 17-18, nhưng vùng đất này đã có một bề dày lịch sử qua hai thời kỳ lớn:
- Thời kỳ tiền Hội An: có niên đại từ hàng trăm năm trước Công nguyên cho
đến đầu thế kỷ 15, tồn tại hai nền văn hóa lớn: văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa
Champa.
Thuộc thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh, khu vực Hội An đã phát hiện được hơn 50
địa điểm là di tích của nền văn hóa này, phần lớn tập trung ở những cồn cát ven
sông Thu Bồn cũ [49, tr.19]. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại 4 di tích mộ táng
(An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II, Xuân Lâm) và 5 điểm cư trú (Hậu Xá I, Trảng Sỏi,
Ðồng Nà, Thanh Chiếm, Bàu Ðà), với nhiều loại hình mộ chum đặc trưng cùng
8
những công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang sức tuyệt xảo bằng đá, gốm,
thủy tinh, kim loại… đã khẳng định sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh.
Ðặc biệt hơn cả là sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán (Ngũ Thù,
Vương Mãng), những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, tổ hợp hiện vật có quan hệ với
Ðơng Sơn [24, tr.331), hoặc đồ trang sức với công nghệ chế tác tinh luyện trong các
hố khai quật đã chứng minh một điều thú vị rằng, ngay từ đầu Cơng ngun, đã có
nền ngoại thương manh nha ở Hội An. Như vậy, xứ Quảng và Hội An là nơi tìm
thấy các di tích Sa Huỳnh nhiều nhất, đậm đặc nhất, với diễn trình lịch sử từ sớm
đến muộn (riêng ở Hội An tập trung phần “cổ điển” và muộn. Khu vực Hội An, từ
thời Sa Huỳnh đã là một Tiền cảng thị hay là một Cảng thị sơ khai, sớm có giao lưu
kinh tế - văn hóa [50, tr.46].
Tiếp sau nền văn hóa Sa Huỳnh, trong các thế kỷ 2 - thế kỷ 15, vương
quốc Champa hình thành và phát triển trên dải đất miền trung Việt Nam ngày nay,
khu vực Hội An thuộc Châu Rí của vương quốc này. Những di tích của nền văn hóa
Champa phân bố chủ yếu ở miền trung với một trong những trung tâm nằm ở lưu
vực sơng Thu Bồn có thủ phủ mang tính chính trị tại Trà Kiệu và trung tâm mang
tính tơn giáo tại Mỹ Sơn [49, tr.22]. Riêng tại Hội An đã phát hiện được nhiều di
tích Chăm như: vết tích kiến trúc ở Lùm bà Vàng (Thanh Chiếm–Cẩm Hà), ở An
Bang; những tác phẩm điêu khắc là những pho tượng Chăm như tượng voi thần
trong miếu thờ trước đình Xuân Mỹ, tượng thờ tại Lăng Bà Lồi, đầu tượng thần ở
nhà thờ tộc Võ… những giếng nước Chăm… đã chứng minh Hội An từng là một
cảng trọng yếu và phát triển phồn thịnh của Vương quốc Champa với tên gọi là
Lâm Ấp Phố, có cảng biển Đại Chiêm (Đại Chiêm Hải Khẩu hay Cửa Đại), Chiêm
Bất Lao (Cù Lao Chàm) là bức bình phong ngồi cửa biển. Nhiều thương thuyền đã
đến bn bán, trao đổi những đặc sản hoặc lấy thêm lương thực, thực phẩm, đặc
biệt là nước ngọt để uống trên tuyến đường từ Ả Rập, Ấn Độ, Đông Nam Á sang
Trung Hoa, Nhật Bản và ngược lại [37, tr.132]. Trong một thời gian khá dài, Chiêm
cảng - Lâm Ấp Phố đóng một vai trị quan trọng trong việc tạo nên sự phồn vinh
của kinh thành Shimhapura - Trà Kiệu và Thánh địa Mỹ Sơn. Vị trí của cảng Đại
Chiêm thời kỳ Vương quốc Champa đã tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành và
phát triển của của đơ thị - thương cảng Hội An thời kỳ Đại Việt.
- Thời kỳ Hội An: (thế kỉ 15 - 19)
Vào cuối đời Trần (1306), một phần phía bắc hay cả xứ Quảng hiện nay đã
thuộc lãnh thổ Đại Việt thông qua cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm Chế Mân và
9
Huyền Trân công chúa. Sau cuộc chiến Đại Việt – Champa năm 1471 thì đạo (thừa
tuyên) Quảng Nam đã được thành lập, vùng đất Hội An thuộc lãnh thổ của Đại Việt.
Sau đó, Hội An được phục hồi dưới thời các Chúa Nguyễn, đặc biệt là sau khi
Nguyễn Hoàng kiêm nhiệm Trấn nhậm đạo Quảng Nam, ra sức phát triển kinh
tế Đàng Trong, mở rộng giao thương với nước ngoài. Trong các thế kỷ 16-18, đô thị
- thương cảng Hội An được tái sinh và phát triển thịnh đạt. Do hấp lực của cảng thị
này, cùng với "con đường tơ lụa", "con đường gốm sứ" trên biển hình thành từ
trước nên thương thuyền các mước Trung, Nhật, Ấn Độ, Xiêm, Bồ, Hà, Anh,
Pháp... đến đây giao thương mậu dịch. Hội An trở thành một đô thị - thương cảng
phồn thịnh, là hải cảng quốc tế của Đại Việt ở Ðàng Trong, là cơ sở kinh tế trọng
yếu, nổi tiếng nhất để mở cửa giao thương với thế giới bên ngoài dưới thời các chúa
Nguyễn rồi triều Nguyễn.
Bấy giờ, thương cảng Hội An có khơng gian hoạt động rộng lớn, trung tâm là
vùng bến cảng cùng phố chợ buôn bán nằm trên bờ biển Bắc sông Thu Bồn, nay là
vùng nội thị của Hội An gồm các phường Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phơ. Đồng
thời cịn mở rộng ra cả hai bên bờ Bắc, bờ Nam dịng sơng là những nơi neo đậu tàu
thuyền như đầm Trà Nhiêu, Trung Phường, Trà Quế… Phía trên sơng Thu Bồn là
dinh trấn Thanh Chiêm của Quảng Nam, nơi các tàu thuyền ngoại quốc muốn hoạt
động bn bán ở Hội An phải đến trình báo, là các thủ tục hải quan.
Các thương thuyền Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Xiêm La, Bồ Đào Nha,
Anh, Pháp, Philippines… đã cập bến đến buôn bán ở Hội An. Hàng hoá từ bốn
phương, trong nước tụ về thương cảng Hội An để trao đổi, mua bán, rồi lại chính từ
thương cảng này, hàng hoá trong nước với những sản phẩm nổi tiếng như tơ, tằm,
gốm, sứ, trầm hương, yến sào… được thuyền buôn các nước chuyển tải đến nhiều
nước Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á và một số nước phương Tây. Tàu thuyền của
Nhật Bản, Trung Quốc và các nước hàng năm cập bến mở hội chợ từ 4 đến 6 tháng
liền. Thương thuyền Trung Quốc thuận buồm nương theo gió Bấc, cập bến vào mùa
Xuân. Họ ở đây mua bán vài tháng chờ gió Nồm bắt đầu thổi để trở về vào mùa Hạ.
Thời kỳ này, Hội An cịn là trung tâm giao lưu văn hố Đơng - Tây, là một trong
những cái nơi chính hình thành chữ Quốc ngữ, là trung tâm truyền bá đạo Thiên
chúa, đạo Phật ở Đàng Trong.
Thế kỷ 18, khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra ở miền Nam, chúa Trịnh đánh
chiếm Quảng Nam dinh năm 1775, cảng thị Hội An rơi vào cảnh chiến tranh loạn
lạc. Đến thế kỷ 19, do chịu sự tác động của nhiều nguyên nhân bất lợi bên trong và
10
bên ngồi như: những biến đổi của địa hình sơng nước, sự bồi lắng, cạn dần của cửa
sông, sông chuyển dịng, cụ thể là cửa sơng Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con
sơng Cổ Cị cũng bị phù sa bồi lấp cạn dần khiến các thuyền lớn khơng cịn ghé
được cảng Hội An. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa triều đình nhà Nguyễn và người
Âu Châu căng thẳng, triều đình nhà Nguyễn thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế
quan hệ với nước ngồi, đặc biệt các quốc gia phương Tây. Do đó, từ đầu thế kỷ 19,
thương cảng Hội An bắt đầu thưa thớt ghe thuyền, dần suy thoái, mất đi vị thế cảng
thị quốc tế quan trọng, hải cảng sông Hàn Đà Nẵng từ thế kỷ 19 bắt đầu phát triển
thay thế dần cảng Hội An. Tuy nhiên, vai trò một trung tâm thương nghiệp lớn của
Hội An vẫn được phát triển, những con đường mới về phía Nam dịng sơng được
xây dựng và các khu phố được mở rộng thêm. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi Đà
Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, thông qua Đà Nẵng, Hội An vẫn tiếp tục giữ
vị trí trung tâm thương nghiệp, nhưng do giao thơng đường thủy ngày càng trở nên
khó khăn, cùng với chính sách phát triển Đà Nẵng của người Pháp, hoạt động
thương nghiệp ở Hội An dần bị đình trệ. Dù vậy, phần lớn các kiến trúc nhà ở trong
khu phố cổ, các hội quán còn lại đến ngày nay có hình thức được tạo nên từ giai
đoạn này [49, tr.29, 30].
Văn hóa:
Qua diễn trình lịch sử cho thấy Hội An có một hệ tầng văn hố thứ tự như sau:
- Tầng văn hoá Sa Huỳnh từ khoảng 3, 4 thế kỷ trước Công nguyên cho đến
1,2 thế kỷ đầu Công nguyên: Hội An là tiền cảng thị.
- Tầng văn hố Champa từ 1,2 thế kỷ đầu Cơng ngun cho đến thế kỷ 15: Hội
An đã là một cảng thị phồn vinh.
Giữa tầng văn hoá Sa Huỳnh và tầng văn hố Champa điển hình (thế kỷ 7, 8 –
10, 11) là một tầng giao thoa kết tinh và hội tụ văn hoá Champa.
- Tầng văn hoá Đại Việt (Đàng Trong) từ thế kỷ 15-19: Hội An tiếp tục phát
triển là một cảng thị giao lưu, tiếp xúc với phương Tây, bên cạnh đó hình thành và
phát triển các làng đánh cá, làng trồng trọt và làng thủ công [50, tr.58].
Hội An là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, được kết tinh qua nhiều
thời đại, có mầm mống sơ khai từ trước Công nguyên với nền văn hóa Sa Huỳnh
được tiếp tục phát triển dưới thời Champa (thế kỷ 2 sau CN - TK 15) và cực thịnh
trong thời Ðại Việt (thế kỷ 15-19). Chính nhờ sự thay đổi vai trò trong lịch sử, cộng
với nhiều yếu tố khác nên Hội An tránh được sự biến dạng của một đô thị cổ dưới
tác động của đô thị hóa mạnh mẽ ở Việt Nam trong thế kỷ 20 và bảo tồn cho đến
11
ngày nay một quần thể kiến trúc đô thị cổ hết sức độc đáo.
Quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa qua các thời kỳ, đặc biệt giai đoạn đơ
thị - thương cảng của Hội An, đã hình thành một sắc thái văn hóa riêng cho Hội An:
vừa có những nét chung của một đô thị - thương cảng cổ Việt Nam, vừa có những
nét riêng biệt độc đáo, thể hiện qua quần thể kiến trúc đô thị cùng những giá trị văn
hóa vơ giá. Bên cạnh các di tích khảo cổ có niên đại trên 3000 - 2000 năm, Hội An
cịn có một số lượng lớn di tích kiến trúc có niên đại phổ biến từ thế kỷ 17-19 gồm
nhiều cơng trình nhà ở, giếng cầu, bến cảng, chợ, nhà thờ tộc họ, các đình chùa, đền
miếu, các hội quán của người Hoa, những mộ người Nhật, người Hoa, cầu Nhật
Bản… Thông qua các di chỉ khảo cổ và các hiện vật còn lưu lại, chứng minh Hội
An là nơi hội tụ, giao thoa giữa nhiều nền văn hố phương Ðơng và phương
Tây như: Việt, Chăm, Trung Hoa, Nhật Bản... Trong đó ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa đã có mặt từ rất sớm và đóng một vai trị quan trọng trong tiến trình lịch
sử, văn hóa của Hội An và Quảng Nam. Các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng của
người Hoa, tiêu biểu là các Hội quán thể hiện dấu ấn sâu đậm của của các lớp
thương nhân người Hoa tại vùng đất Hội An và mối giao lưu văn hóa Việt – Hoa.
Sự tồn tại một đô thị như Hội An là trường hợp duy nhất ở Việt Nam và hiếm
thấy trên thế giới, đây được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô
thị. Hội An là vùng đất vừa hội nhân, hội thuỷ, vừa cận thị, vừa cận giang [50,
tr.53]. Do đó, ngày 4 tháng 12 năm 1999, Hội An được cơng nhận là di sản văn hóa
thế giới.
1.2.
Sơ lược về lịch sử dân cư và quá trình người Hoa đến Hội An
1.2.1. Sơ lược về lịch sử dân cư
Tương ứng với từng thời kỳ lịch sử, vùng đất Hội An có nhiều lớp dân cư:
- Thời kỳ tiền Hội An: vào giai đoạn văn hố Sa Huỳnh: thơng qua những bộ
sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công
cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất
liệu đá, gốm, đồng, sắt, thuỷ tinh. Đặc biệt cịn có cả những tiền đồng Trung Quốc:
Ngũ Thù; Vương Mãng cùng với các đồ trang sức mã não, thủy tinh có gốc gác từ
Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2.000 năm, dân cư ở đây
đã có nghề trồng lúa nước, khai thác thủy sản và làm các nghề thủ công và có quan
hệ giao lưu văn hóa trong nước cùng các hoạt động bn bán với nước ngồi, lập
nên một cảng-thị sơ khai, là nền móng cho các cảng-thị sau này. Ở thời kỳ Champa,
việc cư trú, buôn bán của người Chăm đã diễn ra ở Hội An khá rõ nét, họ kế thừa
12
các hoạt động kinh tế của người sa Huỳnh, tiếp tục duy trì hoạt động giao thương và
xây dựng Hội An thành một cửa ngõ của vùng Amaravati.
- Thời kỳ Hội An: tiếp nối thời Champa, khoảng cuối thế kỉ 14, Hội An đã có
dân cư Đại Việt ở vùng Châu thổ Bắc bộ vào đây sinh sống. Gia phả các tộc họ tiền
hiền của các làng Cẩm Phô, Thanh Hà, Thanh Châu, An Mỹ, Cổ Trai, Võng Nhi,
Đế Võng, Sơn Phô… ở Hội An đã chứng minh điều này [3, tr.19,20]. Buổi đầu đến
đây, người Việt đã chung sống hịa hợp với người Chăm và có sự tiếp biến văn hóa
Chăm-Việt ngay trên vùng đất này.
Trong các thế kỷ 16-18, khi Hội An trở thành một đô thị - thương cảng phồn
thịnh đã dẫn đến sự có mặt của các thương nhân ngoại quốc, nhất là những thương
gia Nhật Bản và Trung Hoa tại Hội An. Cuối thế kỷ 16 - đầu thế kỷ 17, thương
truyền Nhật Bản đã đến buôn bán với Đàng Trong, thương gia Nhật Bản từ
Nagasaki tới Hội An trong những năm (1604-1634), nhiều thương gia Nhật lập các
tiệm buôn ở Hội An để buôn bán giao dịch, họ kiến tạo khu phố riêng, xây Lai Viễn
Kiều (Chùa Cầu), một số người còn lấy vợ Việt. Qua bức họa Giao Chỉ quốc mậu
dịch độ hải đồ của Chaya Shinroku, có thể thấy khu phố người Nhật với những
cơng trình kết cấu gỗ hai, ba tầng [49, tr.24]. Thương gia người Hoa và Nhật tới làm
ăn đơng đúc nên chính quyền cho lập hai dãy phố riêng, có người quản trị riêng và
hồn tồn sống theo phong tục tập quán của nước họ. Người Việt quen gọi là Hai
phố: "Phố Tàu", "Phố Nhật". Một giáo sĩ dòng Tên người Ý là Cristoforo Borri đã
sống ở Đàng Trong từ 1618 đến 1622 cũng đã viết khá rõ về Hội An như sau: “Hải
cảng đẹp nhất, tất cả người ngoại quốc đều tới đó và cũng là nơi có hội chợ danh
tiếng…Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Hoa chọn một địa điểm và
nơi thuận tiện để lập một thành phố cho tiện việc buôn bán…Thành phố này gọi là
Faifo, khá lớn và chia làm hai khu vực, một dành cho người Hoa và một dành cho
người Nhật, mỗi bên có quan cai trị riêng, người Hoa theo tục lệ Trung Quốc, người
Nhật theo tục lệ Nhật Bản” [20, tr.180]. Tuy nhiên, thời gian cư trú của người Nhật
ở Hội An chỉ kéo dài đến nửa cuối thế kỷ 17, vì chính sách bế mơn tỏa cảng của
Nhật Hồng năm 1620, sau đó họ trở về nước, nhường ảnh hưởng thương mại cho
người Trung Hoa và Châu Âu. Ngồi người Nhật và người Hoa, cịn có nhiều nhóm
người Âu Châu như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… cũng lui tới Hội An làm ăn
buôn bán rất sớm, nhưng thành đạt nhất chỉ có thương gia người Hoa.
Như vậy, lịch sử dân cư ở Hội An chính là q trình tiếp nối liên tục giữa các
lớp dân cư và sự hòa nhập, cộng cư giữa người Việt với các thành phần dân tộc
13
khác qua các giai đoạn lịch sử, trong đó đã nổi lên vai trò đặc biệt quan trọng của
người Hoa ở thời kỳ Hội An.
1.2.2. Quá trình người Hoa đến Hội An
Dân tộc Hoa là tên gọi những người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam và
có các tên gọi khác như: Khách, Hán, Tàu (từ phổ thông người Việt hay dùng).
Người Hoa còn tự gọi họ theo quê quán: "người Quảng" (Quảng Đông), "người
Tiều" (Tiều Châu/Triều Châu), "người Hẹ", "người Khách", "người Hải Nam"...
Người Hoa vốn cần cù, chịu khó và có biệt tài làm kinh tế, bn bán nên đã di
cư khắp nơi trên thế giới và thường tập trung tại các thị tứ, phố xá, giao thông thuận
lợi. Từ xa xưa, cư dân của một số tỉnh của Trung Hoa, vì cơng việc làm ăn, họ
thường xun dùng thuyền buồm chở hàng hóa từ chính quốc sang các nước lân cận
để giao thương, buôn bán, trong đó, có một số người cập các bến cảng tại Việt Nam.
Sau đó vì các biến động tại chính quốc cũng như vì kế sinh nhai nên nhiều thương
gia đã không về nước và chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai để lập nghiệp, định
cư lâu dài. Người Hoa di cư tới khu vực Đông Nam Á từ rất sớm và liên tục trong
nhiều thế kỷ, từ nhiều địa phương khác nhau, chủ yếu là các tỉnh ven biển Hoa Nam
như Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam [21, tr. 68,73]. Riêng tại Hội An, từ xa xưa,
người Hoa đã có mối quan hệ giao lưu với cư dân Hội An, cụ thể là với cư dân văn
hóa Sa Huỳnh ở Hội An cách nay khoảng 2.000 năm căn cứ vào những đồng tiền
Ngũ Thù, Vương Mãng và một số di vật khác mang yếu tố Trung Hoa được tìm
thấy trong các mộ chum ở Hội An. Đợt điền dã năm 1989, đặc biệt là việc khai quật
thăm dò ở Cẩm Hà, chùa Âm Bổn-Trung Phường, Bến Cồn Chăm-Thanh ChiêmTrà Kiệu đã phát hiện được gốm, gạch, ngói, bệ đá hoa sen Chămpa, nhiều đồ gốmsứ cùng tiền đồng cổ của Trung Hoa thời Tống-Nguyên-Minh-Thanh cho thấy sự
giao thoa văn hoá Chăm-Việt-Hoa vẫn tiếp tục diễn tiến từ thiên niên kỷ I của Công
nguyên đến giữa cuối thiên niên kỷ II theo xu hướng từ Việt-Chăm đến Chăm-Việt
với bao giờ cũng có những yếu tố ngoại sinh Hán-Hoa quan trọng trên phần Đông
bán đảo Đông Dương [50, tr.59].
Thời kỳ Hội An thuộc vương quốc Chăm Pa, Đại Chiêm hải khẩu đã đón tiếp
các thương thuyền Trung Hoa vào bn bán, trao đổi các sản vật, họ thường mua tơ
lụa, trầm hương, quế, tiêu..., hoặc lấy thêm lương thực, nước ngọt để đi tiếp đến các
nước khác ở Nam Á. Các yếu tố Hán-Lục triều (gốm-sứ-ngói) thể hiện rất rõ ở Trà
Kiệu cũng như ở Hội An. Đó là thời kỳ Vương triều Champa, nhất là thời kỳ Phạm
Văn học tập và tiếp thu văn minh Trung Hoa sau khi đã giành được ĐỘC LẬP từ
14
chính tay bọn đơ hộ Hán [50, tr.59]. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tiền Hội An,
người Hoa chỉ tới buôn bán rồi trở về, không định cư, xây nhà, lập phố ở Hội An.
Đến thời kỳ người Việt thay thế người Chăm, những thương nhân Hoa vẫn tiếp
tục tới bn bán vì các tỉnh miền Nam Trung Hoa rất cần các mặt
hàng muối, vàng, quế... Trong các thế kỷ 16, 17 là thời kỳ ở vùng Đông Nam Á có
nhiều chuyển biến quan trọng, Hội An cũng chịu tác động mạnh mẽ bởi những yếu
tố bên ngồi đó, cụ thể, chính sách ngoại thương của Trung Hoa và Nhật Bản. Hội
An có nhiều điều kiện thích hợp với hoạt động thương mại của thương nhân Hoa
như nằm ở một vị trí thuận lợi trên đường biển quốc tế, khơng quá gần biên giới
Trung Quốc như các tỉnh phía Bắc Việt Nam, nhưng cũng không quá xa như các
nước Nam Dương, Mã Lai, nằm trong xứ Quảng có nhiều tài nguyên phong phú…
nên từ rất sớm đã được người Hoa chọn làm nơi dừng chân buôn bán.
Theo Minh Sử (sử của nhà Minh Trung Hoa) cho biết từ năm Hồng Vũ thứ tư
(1371) Minh Thái Tổ đã ra chiếu chỉ nghiêm cấm nhân dân miền duyên hải không
được xuất ngoại. Từ thời gian đó đến thế kỷ 16 nhà Minh thi hành chính sách bế
mơn tỏa cảng gọi là “thốn bản bất hạ hải” (một tấc gỗ cũng không lọt ra hải ngoại)
kéo dài hơn hai trăm năm. Thế nhưng cư dân người Hoa ven biển từ Phúc Kiến đến
Quảng Đông vẫn tiếp tục giao lưu buôn bán với vùng biển Phương Nam, trong đó
có Hội An thể hiện qua đợt điền dã phối hợp giữa Việt Nam - Ôxtrâylia năm 1990 ở
Quảng Nam, bà Roxana Brown đã nhận ra nhiều đồ sứ Quảng Đông niên đại thế kỷ
11-16 ở Trà Kiệu và Hội An-Trung Phường [50, tr.60]. Vào năm 1567, triều
đình nhà Minh Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng, các thương nhân
Trung Hoa bắt đầu lên đường đến giao thương với Việt Nam và hải cảng đầu tiên
họ ghé đến là Hội An để trao đổi buôn bán. Vào đầu thế kỷ 17, một tổ chức xã hội
của cộng đồng người Hoa đầu tiên ở Hội An được hình thành, nguyên nhân
nhập cư cơ bản xuất phát từ hoạt động kinh tế, chủ yếu là thương nghiệp [43,
tr. 74].
Từ thế kỷ 17, trước tình cảnh nhà Minh bước vào giai đoạn suy tàn, quan lại
nhũng nhiễu khắp nơi, phong trào nông dân diễn ra liên tiếp, các tầng lớp nhân dân
bao gồm cả thương nhân, thợ thủ công, nông dân đã “tha phương cầu thực” xuống
phương Nam, trong đó có Hội An, nơi mà trước đây đã có người Hoa sinh sống.
Năm 1644, ở Trung Quốc nhà Thanh lật đổ nhà Minh lập ra triều Mãn Thanh, người
Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân
sang vùng Đông Nam Á, Hội An tiếp tục là điểm dừng chân quan trọng cả các đoàn
15
người tị nạn này. Năm Kỷ Mùi (1679), cựu quan lại nhà Minh chống nhà Thanh thất
bại là Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên đem tướng sỹ xuống thuyền chạy
sang hải phận nước Nam, ban đầu cầu cứu Chúa Trịnh, sau đó dẫn tùy tùng qn
lính theo đường thuỷ đến Đà Nẵng đầu hàng Chúa Nguyễn và xin Chúa Nguyễn
nhận làm dân Việt. Chúa Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) cho phép một
số người đến Hội An, số người còn lại cho họ vào miền Nam khai khẩn đất hoang.
Thêm vào, Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đối với Hoa thương và thương khách ngoại
quốc cũng áp dụng chính sách ngăn ngừa như các triều đại trước nên đã chọn Hội
An làm nơi tập trung của thương khách vì Hội An nằm ở xa Phú Xuân, cũng như
Vân Đồn, Phố Hiến của Đàng Ngoài ở xa Thăng Long. Đợt di dân đông đảo xảy ra
giữa thế kỷ 17, một số di thần và nạn nhân nhà Minh từ các tỉnh ven biển phía nam
Trung quốc đã lũ lượt kéo nhau vượt biển đến Hội An, trong đó, Hoa thương từ
Phúc Kiến đến Hội An sớm nhất, đông nhất. Đây là làn sóng di cư lớn thứ hai của
cư dân Trung Hoa đến Hội An xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế và biến động
chính trị [43, tr. 75].
Nhờ chính sách cai trị của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong có phần nới lõng
hơn các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nên người Hoa đến Hội An ngày một đông, dần
dần thế chân người Nhật nắm quyền buôn bán. Đến cuối thế kỉ 17 (năm 1695), một
tàu buôn người Anh cập bến Hội An, T.Bowyear đã ghi lại: “Hải cảng chỉ có một
phố lớn nằm bên bờ sơng. Hai bên có hai dãy nhà chừng một trăm nóc, tồn là
người Trung Hoa ở”. Cũng năm đó, Thích Đại Sán đến Hội An khơng cịn thấy
bóng dáng của Phố Nhật mà chỉ thấy: “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập hợp của
thương khách các nước; thẳng bờ sông một con đường dài 3, 4 dặm gọi là Đại
Đường Nhai, hai bên là phố ở liền khít rịt. Chủ phố thảy là người Phúc Kiến vẫn
còn ăn mặc theo lối Tiền Triều (nhà Minh). Phần đông phụ nữ coi việc mua bán.
Những khách trú ở đây hay cưới vợ bản xứ cho tiện việc thương mãi…” [13, tr.233
– 234]. Theo Pierre Poivre, một lái buôn phương Tây nhiều lần đến Hội An cũng đã
nhận xét: Vào thế kỉ 17, Faifo là hải cảng năng động nhất của xứ Cochinchine. Ở
đấy có khoảng 6000 người Trung Hoa và là những thương nhân cỡ lớn. Họ lấy vợ
bản xứ và nộp thuế cho nhà vua…” (trích “Hồi kí về xứ Cochinchine” của Pierre
Poivre) [38, tr.139]. Việc buôn bán của các thương nhân người Hoa ở Hội An rất
phát đạt và thuận lợi, đến nỗi các Chúa Nguyễn phải đặt ở đây một cơ quan gọi là
“Tàu vụ ty” để kiểm soát ngoại thương, thu thuế thương thuyền, cứu giúp những
thuyền ngoại quốc bị bão trơi giạt đến và giao phó cho người Trung Quốc và người
16
Minh Hương giữ các chức quan trong Tàu vụ ty này. [32, tr.538 – 539].
Do cộng đồng người Hoa bấy giờ rất đông, một số kết hôn với người Việt, sinh
con và ở lại Việt Nam nên Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan cho phép người Hoa
nhập quốc tịch Ðại Việt xây dựng làng Minh Hương (1645-1653) và Minh Hương
xã tạo thành cộng đồng gọi là người Minh Hương. Bên cạnh những người Hoa nhập
quốc tịch Việt Nam như trên, còn có nhiều người Hoa khác do cư trú khơng ổn định
hoặc nhiều lý do khác về thế lực kinh tế, chính trị nên họ đã khơng nhập quốc tịch
Việt Nam và vẫn giữ quốc tịnh Trung Quốc, người Việt thường gọi những người
này là Khách trú [46, tr.26], họ tổ chức riêng trong “Dương Thương hội quán”. Sau
đó thành lập 5 bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng
nhưng vẫn duy trì tổ chức điều hành chung là Dương Thương hội quán Lý sự hội
hay Ngũ Bang [4, tr.20,21]. Mỗi bang có trường học, bệnh viện, ngân hàng, chùa
miếu, nghĩa trang... riêng và xây dựng hội qn theo từng bang.
Ngồi các làn sóng di cư lớn của người Trung Quốc đến Hội An như đã trình
bày, cịn có các đợt di dân khác như: sau chiến tranh thuốc phiện (1840), có một đợt
di cư mới của "Ngũ Bang" Hoa Kiều sang Hội An, dẫn tới việc xây dựng những hội
quán-đình-chùa của Ngũ Bang [50, tr.60]. Sau phong trào Thái Bình Thiên Quốc
thất bại (1851) và sau Cách mạng Tân Hợi (1911), cũng có một bộ phận người Hoa
tiếp tục di cư đến Hội An. Ngược lại, cũng có một số thương gia người Hoa giàu có
ở Hội An đã di cư vào miền Nam khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra ở miền Nam,
chúa Trịnh đánh chiếm Quảng Nam dinh năm 1775, cảng thị Hội An rơi vào cảnh
chiến tranh loạn lạc. Năm 1888, khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, nhiều
người Hoa tới đó để bỏ vốn lập các cơ sở vận tải, thương mại, một số khác tiếp tục
duy trì hoạt động kinh doanh ở cả Hội An và Đà Nẵng [52, tr.38].
Cho đến hôm nay, dấu ấn kinh tế, văn hóa của người Hoa vẫn cịn thể hiện
đậm nét ở Hội An. Con đường Quảng Đông (nay là đường Nguyễn Thái Học) với
những hiệu buôn Phi Anh, Phi Yến, Huỳnh Hiệp, La Thiên Hịa; các di tích lịch sử
như Chùa Viên Giác, Chùa Âm Bổn; các quán cửa hàng như Phở Liến, Cà phê Đạo,
tiệm thuốc bắc Thuận An Đường, tiệm sách Bà Bình Minh, rạp Phi Anh; tên tuổi
những nhân vật nổi tiếng như nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Vĩnh Tân, tiệm ảnh Huỳnh
Sỏ… đã ăn sâu vào tâm thức từng người dân phố Hội, yếu tố Hoa làm giàu cho văn
hố Hội An.
Tổng số dân tính đến ngày 1/4/2009 của cả tỉnh Quảng Nam là: 1.422.319
người, người Hoa (Hán) là: 962 người, trong đó tập trung chủ yếu ở Hội An với 669
17
người Hoa, họ làm ăn sinh sống tập trung ở các phường nội thị như: Phường Minh
An: 419 người, Phường Tân An: 61 người, Phường Cẩm Phô: 86 người, Phường
Thanh Hà: 38 người, Phường Sơn Phong: 32 người, Phường Cẩm Châu: 6 người,
Phường Cẩm Nam: 16 người, Xã Cẩm Hà: 10 người, Xã Cẩm Thanh: 1 người [42].
1.3.
Khái niệm hội quán và sự ra đời của các hội quán ở Hội An
1.3.1. Khái niệm hội quán
Vào thế kỷ 17, 18, Hội An đã quy tụ khá nhiều người Hoa đến làm ăn, sinh
sống. Giống như người Việt, sau khi khai phá vùng đất mới, lập ấp, lập làng ổn định
cuộc sống đã xây Đình làng để thờ Thành Hồng và các bậc tiền bối, tổ tiên, người
Hoa cũng chú trọng đến đời sống tâm linh và bảo lưu được truyền thống tín ngưỡng
riêng của mình và giúp đỡ, tương trợ nhau trong những lúc gặp khó khăn, hoạn nạn.
Do đó, bên cạnh các hình thức kiến trúc thơng thường như nhà ở, cửa hàng, chợ…,
người Hoa ở Hội An còn có một dạng kiến trúc cộng đồng riêng biệt và quan trọng
là các hội quán. Hội quán, tiếng Hoa viết là: “會 館”, tiếng Anh gọi là “Assembly
hall”. Hội quán của người Hoa là sản phẩm của sinh hoạt cộng đồng trên cơ sở
những người cùng quê và mang đậm truyền thống của thương nhân Trung Hoa. Đây
là nơi hội họp của người trong bang, nơi để cộng đồng người Hoa tha hương gặp
gỡ, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, gởi gắm tình cảm. Đây cịn là nơi bang trưởng làm
việc, chủ trì giải quyết các cơng việc nội bộ, nơi lưu giữ các giấy tờ lưu trữ và
những tài sản công của bang [19, tr.145]. Đồng thời, hội quán còn là nơi thờ Thiên
Hậu và nhiều vị thần linh theo tín ngưỡng dân gian của dân tộc Hoa, là nơi sinh hoạt
tế lễ hàng năm của các cộng đồng dân cư.
Hội qn ở Đơng Nam Á nói chung có chức năng giúp đỡ về chỗ ở và tài
chính và cả công ăn việc làm cho các người nhập cư đến từ cùng một tỉnh hay
huyện. Với tính cách là trung tâm của một nhóm phương ngữ, hội quán cũng lo việc
ma chay, chăm lo trường học, bệnh viện, nghĩa trang của cộng đồng và giải quyết
các tranh chấp nội bộ, tranh chấp giữa hội quán và cộng đồng người Hoa. Hội quán
thường được đặt trong chùa có sẵn [33, tr.10,11]. Như vậy, ngoài chức năng sinh
hoạt đồng hương, là sợi dây liên kết các người Hoa tha phương, để giúp đỡ nhau
trong công việc làm ăn. Hội quán đồng thời là cơ sở tín ngưỡng, phục vụ nhu cầu
văn hóa tâm linh, bảo lưu được truyền thống tín ngưỡng riêng của cộng đồng, phát
huy nét văn hóa của dân tộc mình. Các hội qn ở Hội An cũng có đầy đủ các chức
năng này, ban đầu một số hội quán còn làm nơi tạm trú của những người Hoa mới
18
đến Hội An hay mua nhà cho các người mới đến ở tạm. Ngày nay từng bang vẫn
còn trường học, nghĩa trang.
Người Hoa ở Hội An có nguồn gốc từ 5 địa phương của Trung Hoa. Họ lập ra
1 hội quán chung gọi là hội quán Trung Hoa và 4 hội quán riêng của 4 bang: hội
quán Phúc Kiến, hội quán Triều Châu, hội quán Quỳnh Phủ, hội quán Quảng Triệu
và có. Bang Gia ứng khơng có hội qn nhưng vẫn sinh hoạt tại hội quán chung,
hàng năm có đại diện trông coi hội quán chung này.
Theo đại tự bằng chữ Hán trên các hồnh phi treo ở cổng chính và cửa ra vào
tiền điện, thì các hội quán ở Hội An có tên gọi chính thức bằng chữ Hán là: “福 建
會 館” Phúc Kiến hội quán; “中 華 會 館” Trung Hoa hội quán; “潮 州 會 館”
Triều Châu hội quán; “瓊 府 會 館” Quỳnh Phủ hội quán và “廣 肇 會 館” Quảng
Triệu hội quán. Các hội qn này cịn có thêm nhiều tên gọi khác: hội quán Phúc
Kiến: Mân Thương hội quán; hội quán Trung Hoa: hội quán Ngũ Bang, hội quán
Dương Thương, hội quán Giang Triết, trường Lễ nghĩa với biển “Lớp hoa văn lễ
nghĩa” bằng chữ Việt và chữ Hán hiện đang gắn trước cửa hội quán; hội quán
Quảng Triệu: hội quán Quảng Đông; hội quán Triều Châu: chùa ông Bổn hay Âm
bổn gắn với phương ngữ quen thuộc của người Hội An với câu nói: “Thượng Chùa
Cầu, hạ Âm Bổn” (trên là Chùa Cầu, dưới là chùa Âm Bổn) và hội quán Quỳnh
Phủ: hội quán Hải Nam. Người dân địa phương có khi còn gọi các hội quán này là
chùa (Bảng thống kê 1).
1.3.2. Sự ra đời của các hội quán ở Hội An
Dựa vào các nguồn tư liệu khác nhau, lời kể của các vị cao niên ở Hội An, có
thể nêu lên sự ra đời và lịch sử các hội quán như sau:
Hội quán Phúc Kiến: Phúc Kiến là tên gọi một tỉnh nằm bên bờ biển đông
nam Trung Quốc, chia thành 9 đơn vị hành chính cấp địa khu là 9 thành phố: Phúc
Châu, Hạ Môn, Chương Châu, Tuyền Châu, Tam Minh, Phủ Điền hoặc Bồ Điền,
Nam Bình, Long Nham, Ninh Đức. Tương truyền, năm 1697, hội quán Phúc Kiến ở
Hội An chỉ là một ngôi chùa nhỏ được lợp bằng lá tranh với tên gọi là chùa Kim
Sơn để thờ pho tượng Phật được dân địa phương vớt được. Qua thời gian, ngôi chùa
bị hư hỏng, năm 1759, thương nhân Phúc Kiến mua lại ngơi chùa, sau đó trùng tu
và năm 1792 đổi tên thành “Hội quán Phúc Kiến” [49, tr.9].
Hội quán Trung Hoa: là hội quán chung của người Hoa thuộc 5 bang ở Hội
19
An nên còn được gọi là “Hội quán Ngũ Bang”, thời kỳ đầu được gọi là “Dương
Thương hội quán” vì được sử dụng làm nơi hội họp công thương. Vào năm 1928
cơng trình này được tái thiết trở thành hội quán chung của toàn thể người Hoa ở đây
cho đến ngày nay. Theo các văn bia và tư liệu Hán – Nôm hiện đang tồn tại cho biết
hội quán này được xây dựng vào khoảng năm 1741 [29, tr.353].
Hội quán Triều Châu: là hội quán của bang Triều Châu ở Hội An. Theo dịng
chữ chú thích dưới bức ảnh hội quán treo ở tiền điện thì hội quán được xây dựng
năm 1752. Các tài liệu khác cho rằng, hội quán thiết lập từ Đạo Quang Ất Tỵ niên
(1845), năm Hàm Phong nhị niên (1852) trùng tu; năm Quang Tự thứ 13 (1887) lại
trùng tu [23, tr.35]. Có giả thuyết cho rằng vị trí của hội quán Triều Châu trước kia
là chùa Âm Bổn và cũng là chùa Matsumoto (Tùng bản tự) do Kakuya
Nanarokuhee xây dựng nhưng qua cuộc khai quật khảo cổ năm 1989 tại khu vực
này không chứng minh được giả thuyết trên [49, tr.35].
Hội quán Quỳnh Phủ: theo các tài liệu hiện còn lưu giữ tại hội quán này cho
biết niên đại thành lập hội quán là vào khoảng năm 1875 và đại trùng tu vào năm
1931 [29, tr.356], nhưng có nghiên cứu lại cho rằng hội quán xây vào năm 1883
[49, tr. 9].
Hội quán Quảng Triệu: Quảng Triệu là tên gọi ghép hai chữ đầu của hai
thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc là Quảng Châu và Triệu
Khánh. Hội quán do người Hoa kiều tại Hội An có nguồn gốc ở hai thành phố này
xây dựng làm nơi sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng riêng của người Quảng Đông
ở Hội An. Theo các tài liệu thì hội quán xây dựng vào năm 1885. Đầu tiên, hội quán
thờ Thiên Hậu và thờ thêm Quan Công và Phật. [29, tr.357], [23, tr.35]. Còn theo
những người trong ban quản lý hội quán thì hội quán được lập vào cuối thế kỷ 17.
1.4. Những phát hiện khảo cổ học có liên quan đến các hội quán tại Hội
An.
Từ năm 1992, Viện Nghiên cứu Văn hóa quốc tế thuộc Đại học nữ Chiêu Hòa
(Nhật Bản) bắt đầu điều tra, khảo sát phố cổ Hội An trên nhiều lĩnh vực. Những
năm 1993, 1994, các nhà khảo cổ học Nhật Bản đã dành nhiều công sức phối hợp
với trường Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ quan chức năng địa phương tiến
hành điều tra khai quật nhiều địa điểm trong khu phố cổ Hội An như ở Đình Cẩm
Phơ, Đình Ấp Tu Lễ, nhà số 85 Trần Phú, trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu, nhà
số 129 Phan Chu Trinh... kết quả điều tra khảo cổ học đã được kết hợp với điều tra
địa bạ các gia đình đã nhận định: dãy phố phía nam của đường Trần Phú (nhà số 85
20
Trần Phú) hiện nay, vào trước thế kỷ thứ 18 khơng có dấu vết dân cư. Vào thế kỷ 7,
chắc chắn ở đây là bờ sông hoặc là chỗ thấp của lịng sơng. Việc xây dựng nhà cửa
ở khu này diễn ra từ từ ở thế kỷ 18. Những địa điểm ở phía bắc của đường Trần Phú
(nhà số 144, 80, 78) qua điều tra khai quật không xuất hiện di tích nào có niên đại
vào thế kỷ thứ 17 [49, tr.52].
Năm 2006, Khu phố cổ Hội An triển khai “Dự án tôn tạo cơ sở hạ tầng trong
Khu phố cổ Hội An” do Sở Văn hóa Thơng tin Quảng Nam làm chủ đầu tư. Trong
q trình thi cơng các dự án này làm xuất lộ nhiều dấu tích khảo cổ học quan trọng.
Tháng 8/2006, đoàn khảo cổ học của Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học
nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) tiến hành khai quật tại 4 địa điểm ở Hội An là: nhà số 16
đường Nguyễn Thị Minh Khai, 76/18 Trần Phú, khu vực Trường Trần Q Cáp và
phía Đơng Chùa Cầu. Thơng qua diễn biến của kết cấu địa tầng, mật độ phân bố của
các hiện vật sành sứ có nguồn gốc khác nhau cũng như vị trí xuất lộ của dấu vết
ván, cọc cừ bằng gỗ... một lần nữa khẳng định vị trí bờ Bắc của dịng sơng chảy qua
Hội An thế kỷ 17 nằm tại khu vực giữa đường Trần Phú và đường Nguyễn Thái
Học hiện nay.
Tháng 7 năm 1989, di chỉ hội quán Triều Châu được thám sát, kết quả đã tìm
thấy dấu vết kiến trúc cổ và gốm sứ Đại Việt thời Lê – Nguyễn; gốm sứ Trung
Quốc thời Minh Thanh; gốm sứ Nhật Bản (lị Hizen), các loại gạch ngói, tiền đồng
Việt Nam, Trung Quốc có niên đại từ thế kỷ 15 – 20. Qua hiện vật và vị trí di chỉ
cho thấy nơi đây đã có cư dân sinh sống liên tục từ sau thế kỷ 15 đến nay. [43,
tr.325,326].
Cho đến nay, chưa có khai quật khảo cổ chính thức nào được thực hiện tại các
hội quán ở Hội An, ngoại trừ thám sát ở di chỉ hội quán Triều Châu, nhưng qua các
kết quả nghiên cứu trên, cũng cho thấy lịch sử xây dựng các hội quán và vị trí cảnh
quan của các hội quán khi xưa. Cụ thể, các hội quán chỉ có thể xây dựng từ thế kỷ
18 trở về sau. Bấy giờ, mặt trước các hội qn là bờ sơng, thuyền bè có thể vào ra
và thuận lợi cho việc vận chuyển các nguyên vật liệu để xây dựng hội quán.