Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Giáo trình văn học việt nam hiện đại (từ sau cách mạng tháng tám 1945) phần 1 (tập 2)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.1 MB, 79 trang )

NGUYÊN VAN LONG (Chủ biên)— NGUYEN THI BINH
LÃ THỊ BẮC LÝ- MAI THỊ NHŨNG~ TRẦN ĐĂNG XUYỂN

Giáo trình
VĂN HOG VIET NAM HIEN DAI
Tập H

(TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945)
(Sách dành cho Cao đẳng Sư phạm)

4

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯPHAM.


l

MỤC LỤC
Lời nói đầu


.
i

.



Chương Í. Khái qt về văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tâm 1945 đến 1975...

8



A. Yêu cầu
CN...

se
an...
ố ốốố .ằ.ẻẶốẦẦ............

8

1. Vài nét về bối cảnh lịch sử~ xã hội, văn hóa, tư tưởng giai đoạn 1945 ~ 1975.

II. Các chặng đường phát triển của văn học ..
lil. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 ~ 1975.
IV. Khái quát trên những nét lớn về thành tựu và hạn chế của văn học Việt Nam
1945 ~ 1975...

C. Hudng dan hoc bal

Chương 1. The 1945 — 1975.
A. Yêu cầu

B. Nội dụng. . . . . . . . .

HH

án. 20c

I. Các chặng duGng tho ttf 1945 d&n 1975




23
2214

IL Những khuynh hướng chính trong sự vẫn động của thơ giai doan 1945 — 1975

€. Hướng dẫn học tập
Chuang HL. Tế Hữu (1920 ~ 20022.................
ri

escatessecneessccnsessecseersnecaneees 56

A. Yêu cầu..
B. Nội dung.

1. Vài nét về tiểu sử và con người. . . . . . . . . .
li. Con đường thơ của Tố Hữu

co c1

r2crey 56

II. Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
IV. Kết luận

ae

C. Hướng dẫn học tẬp. . . . . . . .


cv ch t2. 1H

H1.

74

Chương IV. Chế Lan Viên (1920 1989)...

A. Yêu cầu
E2.

8n...

..........................

1. Tiểu sử, con người .

.

I. Con duéng the ..

Mã số: 01.01. 23/681. ĐH 2007

HL. Phong cach nghé thuat tho Ché Lan Viên

tựa1

76



. Kết luận

I, Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau 1975...

C. Hướng dẫn học tập..

mm

IV. Kết luận
C. Hướng dẫn học tập

han



he,

.

vua

3
+. Chương V. Thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống MĨ cứu nước
<
A. Yéu céu

Chương X. Văn xuôi từ sau 1975 ..

B. Nội dụng


YOU CBU .......... cu.

.

1. Sự xuất hiện và quá trình trưởng thành của thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước

1. Diện mạo chung

H. The tré théi Ki chéng Miva khuynh hướng mở rộng, đào sâu hiện thực trong thơ...... 104

II, Những đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật.................... ceeeeireree

195

Ill, Chất trí tuệ, chính luận trong thơ trẻ thời kì chống MĨ............... àeeerieredreeree 109

reo
ng 1x......
HỊ. Đổi mới văn xi nhìn từ góc độ thể loại.............

200

Tài liệu tham khảo
Câu hỗi ôn tập

IV, Dac điểm nghệ thuật của thơ trẻ thời kì chống Mĩ.
€. Hướng dẫn học tập

Chương XI. Nguyễn Minh Châu (1930 — L


Chương VI. Văn xi (truyện và kí) giai đoạn 1945 — 19875.........eeeeeeerrrredeereeee 121

A. Yêu cầu...

121

A. YOU nhe es...........................

221

12 xeresree

223

III. Con đường sáng tác

40128120 g010011017211111 137

2e

cành

C. Hướng dẫn học TẬp. . . . . .

Ji. Quan niệm nghệ thuật



.


II, Điện mạo và thành tựu của các thể văn xuôi 1946 — 1975...
1012

neo

1. Tiểu sử và con ngư

|. Các chặng đường phát triển của văn xuôi 1946 đến 1975.
cách nen”, H2

207

B. Nội dung..

B. Nội dung

[†Í. Kết luận. . . . . . . . .

................

IV, Đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu....................

grrrerreiidrirrire 138

.C. Hướng dẫn học lập. . . . . . .

Chương VII. Tơ Hồi

c1


H221

1. Vài nét về tiểu sử, con người và quan niệm nghệ thuật ..

II. Quá trình sáng tác và những thành tựu nổi bật..................ceeeieeeerderre
„H Hết
.......
e Ha
ào
II. Phong cách nghệ thuẬT...........

7.101.710... 8n

l1

ẽ.=.-...........11.ố.

ar
8.
i00 0n".

.........

1l, Những

458

g

khuynh hưới


khuy

it
trong thơ tửt sau 1976...
ng chính

Hl, Khai quát chúng về những đổi mới của thở sau 1975...
_

................ 158
ˆ
ằŠ
Lm
`
a
la
X
ef
2.
|. Tiểu sử, con người và quan niệm nghệ thuật...................hherrrrreederdddeindrdie 158
.
yi
2 hà
km1. t1111 T171. n0 FOP
nhà HH
ch
II. Quá trình sáng TÁC...

1V. Kết luận

lẬD... ca
dẫn học IIIS
©. Hướng
RIE IEEE IEEE
I III

ETE AEA
PEEP EEE ERLE

III. Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải
Tư liệu tham khảo

Câu hồi ôn tập.
Chương

IX. Khai qu
"1

át về

A.

Yéu

văn

học

i
Việt Nam


tủ

Hl. Sự nghiệp sáng tác

—..................

Wh

cau

C.

B. Nội dung

ách
nghệ th
cách
nghệ
ghệ
thuật † thở thơ Xuân

Tai liệu hỌC

:

A. Yêu cầu

QUỲnHỳnh cà


{Ập-............... c1

Chương XIV. Văn học thiếu nhỉ

1. Bối oảnh lịch sử— xã hội và đòi hỏi đổi mới văn học

II. Tiến trình vận động của văn học từ sau 1975..............ceeirrrerirrririderriiirnie

Ph
. Phong



HH1
0121 rrg 2 48

12 01221211111xe Hk.

từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945...

261


B. Nội dung

. 262

1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của văn học thiếu nhi..

LOI NOI DAU


II. Khái quát quá trình phát triển và những thành tựu của văn học thiếu nhỉ Việt Nam... 264

IH. Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu...
©. Hướng dẫn học tập
: Phụ lục

Hướng dẫn sử dụng giáo trình

.307

Trong chương trình đào tạo mới của Trường Cao đẳng Sư phạm, ngành Ngữ văn, phần
Văn học Việt Nam hiện đại được bố trí thành hai học phần: Văn học Việt NanPhiện đại ï
(từ đầu thế kỉ XX đến 1945) và Văn học Việt Nam hiện đại II (từ sau Cách mạng tháng
Tám 1945). Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 1Í được biên soạn theo chương trình
học phần thứ hai nói ở trên.
Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 là một thời kì mới của nền văn
học dân tộc, đến nay đã trải qua hơn 60 năm, với bai giai đoạn chính: Từ năm 1945 đến
1975 và từ sau 1975. Đây là một thời kì văn học đã diễn ra những biến đổi sâu rộng ở nhiều
bình điện, trên một bối cảnh lịch sử ~ xã hội có nhiều biến cố trọng đại. Đã có một số cơng
trình văn học sử và giáo trình về văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945,
được viết trong những thời điểm khác nhau trước đây. Nhưng riêng với trường Cao đẳng
Sư phạm thì có lẽ đây là lần đầu tiên, một giáo trình về văn học Việt Nam thời kì từ sau
Cách mạng tháng Tấm, được biên soạn chính thức.
Giáo trình này được biên soạn sát với chương trình đào tạo của trường Cao đẳng
Sư phạm, đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Vì thế, cuốn sách khơng có tham vọng,
là một cuốn Lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại đúng với ý nghĩa và u cầu, của một cơng
trình lịch sử văn học. Trong giới hạn của chương trình, giáo trình này nhằm cung cấp những

kiến thức cơ bản, có hệ thống về điện mạo, đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu của hai

giai đoạn văn học: 1945 — 1975 và từ sau 1975. Tập thé các tác giả đã cố gắng để giáo trình
này hấp thụ được những thành quả nghiên cứu mới để cập nhật hóa trị thức, đồng thời thể
hiện sự đánh giá khách quan, khoa học, trên tính thần đổi mới, đối với một thời kì văn học
phong phú và mới mẻ, đã từng có và hiện vẫn cịn nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác

nhau. Mong muốn của tập thể biên soạn là như thế, nhưng chắc chắn cuốn sách không thể
đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu đó, và khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong các
đồng nghiệp và các bạn sinh viên sử dụng sách góp ý kiến để tập thể tác giá sửa chữa nâng
cao chất lượng trong những lần in sau.



THAY MẶT NHÓM BIÊN SOẠN:
Chủ biên

Nguyễn Văn Long


CHUONG |

Nhưng thực đân Pháp rắp tam quay trở lại chiếm nước ta, cả dân tộc ta phải tiến hành ˆ

cuộc kháng chiến kéo dài chín năm đây gian khổ, hi sinh để bảo vệ nền độc lập mới giành

KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM

được và chế độ mới cịn non trẻ. Tháng
bình lập lại trên đất nước ta, miền Bắc
hội. Nhưng cả dân tộc lại phải tiến hành
Bác, chống đế quốc Mĩ xâm lược. Cuộc


TU CACH MANG THANG TAM 1945

_ ĐẾN 1975

thống nhất đất nước.

~ Hiểu được văn học Việt Nam 1945 ~ 1975 đã nây sinh và phát triển trong những điều
kiện xã hội — lịch sử và văn hóa, tư tưởng có tính đặc thù. Từ đó, hiểu và phan tích được


— Nấm được các chặng đường phát triển, những thành tựu nhìn trên nét lớn và hạn chế
của văn học giai đoạn 1945 — 1975, Hiểu được vị trí của giai đoạn văn học này trong tiến
trình văn học hiện đại Việt Nam.

B.

NỘI DỤNG
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã mở đâu một kỉ nguyên mới trong lịch sử

dân tộc Việt Nam, đồng thời đã mở ra một thời kì mới cho văn học nước ta. Chặng đường từ
1945 đến 1975, nền văn học mới tổn tại và phát triển trong điều kiện dân tộc ta phải tiến
hành hai cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt. Nền văn học của giai đoạn lịch sử ấy có những

đặc điểm và quy. luật phát triển riêng, có những thành tựu đáng kế đáp ứng những đòi hỏi
của giai đoạn lịch sử đương thời, trở thành một giai đoạn mới trong tiến trình văn học đân

tộc ở thế kỉ XX.
I-`


VÀI NÉT VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ~ XÃ HỘI, VĂN HÓA, TỪ TƯỞNG
GIAI DOAN 1945 — 1975
;

1.

Về lịch sử~ xã hội
Từ 1945 đến 1975, trên đất nước ta đã diễn ra nhiều biến cố lịch sử trọng đại, tác động

sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã giật tung xiểng xích hơn tấm mươi
năm thống trị của thực dân Pháp và tiếp đó là phát xít Nhật, đồng thời lật nhào ngai vàng
mục ruỗng của chế độ phong kiến hàng nghìn năm, giành chính quyền về tay nhân dân,
: thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một trang mới vẻ vang trong lịch sử
dân tộc.

định Giơnevơ được kí kết, hịa
đi vào xây dựng chủ nghĩa xã
phóng miễn Nam, bảo vệ miền
bền bỉ và vô cùng ác liệt ấy đã

kết thúc với thắng lợi trọn vẹn ngày 30 thắng 4 năm 1975, giải phóng hồn toần miễn Nam,

A. U CẦU
những đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn này.

7 năm 1954, hiệp
được giải phóng và
cuộc chiến đấu giải

chiến đấu kiên trì,

Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến, cuộc cách mạng ruộng đất những năm
1953 ~ 1955, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với phong trào lợp tác hóa nơng
nghiệp diễn ra rầm rộ ở nơng thôn những năm 1958 — 1960 và công cuộc xây dựng đất nước
theo mơ hình chủ nghĩa xã hội thời kì đó, tất cả những biến cố lịch sử to lớn ấy đã tác động
mạnh mẽ và đưa đến những biến đổi cơ bản trong xã hội Việt Nam. Quần chúng nhân dân,
mà trước hết là giai cấp công nhân và nơng dân, được cách mạng giải phóng, đã phát huy
sức mạnh tiểm tàng của đân tộc và giai cấp cùng với tỉnh thần cách mạng của thời đại mới,
đã trở thành lực lượng chủ lực của cách mạng, gánh cả hại cuộc kháng chiến trên vai. Từ
sau hiệp định Giơnevơ (tháng 7 — 1954), đất nước tạm thời bị chia cất, kéo đài hơn hai mươi

năm, với sự tồn tại của hai thể chế chính trị xã hội, nền kinh tế và hệ tư tưởng khác biệt
giữa hai miễn Nam— Bắc. Nhưng khát vọng độc lập. đân tộc và thống nhất Tổ quốc là ý
nguyện thiêng liêng của cả dân tộc đã thành sức mạnh lớn lao để dân tộc ta giành chiến thắng
trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại.
:

2.

Về văn hóa, tư tưởng

Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) của Đăng Cộng sản Đông Dương đã xác định văn
hóa, là một mặt trận quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng. Bản báo cáo Chỉ nghĩa
Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chỉnh trình bày tại Hội nghị văn hóa tồn quốc
(tháng 7 năm 1948) ở Việt Bắc, tiếp tục khẳng định quan điểm ấy và đề ra bá phương chấm
xây dựng nền van hoa mới Việt Nam: đân tộc, khoa học, đại chúng. Văn hóa dân tộc, đặc biệt
là các giá trị văn hóa của quần F chúng lao động được coi trọng Jä phát huy cùng với việc tiếp
nhận văn hóa xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, Trung Quốc. Tuy nhiên, do điểu kiện chiến
tranh kéo đài và sự đối lập về ý Thức Tê trong thời kì "chiến tranh lạnh" trên thế giới lúc bấy

giờ nên việc giao lưu về văn hóa bị hạn chế, chủ yếu chỉ trong khối các nước xã hội chủ
nghĩa. Điều này cũng ảnh hưởng đáng kể đến đời $ống văn hóa, văn học ở nước ta trong
giai đoạn ấy.
v . Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và nhân
nước vĩ đại đã khơi đậy và phát huy cao độ truyền
Năm là chủ
nghĩa
yêu nước và chủ: nghĩa anh hùng,
Cùng với điều đó, ýthức giai
| ¡ cấp cũ ed: được để Cáo,

dân cùng với hai cuộc chiến tranh yêu
thống tỉnh thần sâu xa của dân tộc Việt
tinh than đoàn kết và š thức cộng‹ đồng.
thí phối đến nhiều mặt cửa đời sống xã

9


Mác - Lênin đã trở thành hệ tư tưởng chính thống
hội và quan hệ con người. Chủ nghĩa
trong xã hội, thay thế vị trí của các hệ tư tưởng khác đã từng có vai trị quan trọng trong đời
sống xã hội Việt Nam những thời kì trước năm 1945. Chủ nghĩa yêu nước, tỉnh thần cộng
đồng, lí tưởng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nền tầng sức mạnh tỉnh thần của đân tộc trong
hai cuộc kháng chiến, mà còn là nền tảng tư tưởng của văn học cách mạng.
i.

CAC CHANG DUONG

những bước đi của lịch sử. Vì vậy các chặng đường của văn học hầu như trùng với các


chặng đường lịch sử.
Từ 1945 đến 1954

;

Van hoc tong những ngày đầu cách mạng đã mau chóng tìm được nguồn cảm hứng

mới, hướng vào thể hiện hiện thực mới, đó là cuộc hồi sinh Kì điệu của đất nước và con
người. Trong thơ có sự bừng dậy mạnh
Huế tháng Tám và Vui bất tuyệt, Xuân
non song, Trần Mai Ninh với Tình sông
nhau ở một cảm hứng lớn bao trùm, là

mẽ của cảm hứng lãng mạn cách mạng. Tố Hữu với
Diệu với hai tráng khúc Ngọn quốc kì và Hội nghị
núi, Thâm Tâm có Mùa thụ mới..., tất cả họ đều gặp
niềm vui sướng tràn ngập, niềm tự hào và lòng mến

yêu tha thiết với đất nước, với cùộc đời mới. Văn xi tuy chưa có những tác phẩm xuất
sắc, nhưng cũng kịp ghi lại ít nhiều hình ảnh và khơng khí hết sức tưng bừng, say sưa của
những ngày đầu cách mạng, hình ảnh những đồn qn Nam tiến và cuộc chiến đấu chống
thực dân Pháp quay trở lại xâm lược ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ.
,
Ngọn lửa kháng chiến bùng lên khấp đất nước sau ngày toàn quốc kháng chiến
(19-12-1946) đã có sức thu hút đơng đảo những người cảm bút đến với các chiến khu và
những làng quê kháng chiến. Trong mấy năm đầu kháng chién,‘tuy lực lượng sáng
§
tác cịn
phân tần và gặp rất nhiều khó khăn, bố ngỡ, nhưng sáng tác van Hoc khơng hề đứt đoạn,

thậm chí khá sơi nổi và đã có một số thành tựu đặc sắc, nhất là về thơ. Một lớp
nhà thơ mới
xuất hiện hoặc chỉ thực sự được biết đến từ sau cách mạng, đã đem đến cho thơ mấy năm
đâu kháng chiến những tiếng thơ mới mẻ, với ý thức đi tìm tiếng nói nghệ thuật mới của
thời đại cách mạng. Quang Dũng, Hồng Câm, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hồng Trung

Thông, Hữu Loan.... mỗi người với điệu tâm hồn riêng đều đã có đóng góp để tạo nên cái
mới và những giá trị không thể phủ nhận của thơ kháng chiến. Văn xi trong những năm đầu

kháng chiến đã có được một số kí sự, bút kí đáng chú ý của Trần Đăng, Tơ Hồi, Hồng Lộc,
một ít truyện ngấn của Nam Cao, Hồ Phương, Thanh Tịnh, Kim Lân, những tùy bút của

Nguyễn Tuân.
Năm 1948, nhận thấy cần tập hợp đông đảo lực lượng văn nghệ, hướng họ vào phục vụ ,
các nhiệm vụ kháng chiến và phát triển mạnh mẽ hơn nữa phong trào văn nghệ ở Trung
ương và các địa phương, Đảng đã triệu tập Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất, thành

10

Bắc. Để phương châm xây dựng nền văn nghệ mới nhánh chóng đi vào đời sống và cũng
nhằm góp phần giải quyết một số vấn để trong văn nghệ lúc ấy, Hội văn nghệ ViệtNam

đã mở Hội nghỉ tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc vào giữa năm 1949, với
ba phiên tranh

huận: về sân khấu, về thơ và về chủ nghĩa hiện thực. Các cuộc tranh luận đã thúc đẩy hoạt
động phê bình, lí luận trong văn học kháng chiến và có tác động đến đời sống văn học.

PHAT TRIEN CUA VAN HOC


Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 phát triển gắn liền với

4.

lập Hội văn nghệ Việt Nam với cơ quan ngơn luận là Tạp chí văn nghệ, xuất bản ở Việt

Nhưng qua các ý kiến tại Hội nghị và cả tại những cuộc thảo luận ở một số địaphương,
đã có những ý kiến thể hiện các quan niệm ấu trĩ, hẹp hồi về văn nghệ cách mạng (như
thái độ đối với thơ Nguyễn Đình Thị thời kì đầu kháng chiến, quan niệm cho rằng tuổng,
cải lương khơng thích hợp với kháng chiến). Sau khi Hội văn nghệ Việt Nam ra đời, ở các
địa phương cũng lần lượt thành lập chỉ hội văn nghệ, tập hợp lực lượng và thúc đẩy sáng
tác ở các Liên khu.
Từ giữa cuộc kháng chiến chống Pháp (khoảng từ 1950 trở đi), văn học đã bám sát hơn
các nhiệm vụ kháng chiến, mở rộng sự phản ánh hiện thực và đã xuất hiện một số tác phẩm
truyện vừa, tiểu thuyết, kí sự đài với khả năng bao quát rộng hơn bức tranh hiện thực kháng

chiến (các tiểu thuyết Xung kích của Nguyễn Đình Thị, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Con

trâu của Nguyễn Văn Bồng, truyện vừa Bên đường 12 và Nhân dân tiến lên của Vũ Tú
Nam, Kí sự Cao ~ Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, tập Truyện Táy Bắc của Tơ Hồi). Về thơ,
bên cạnh thành tựu nổi bật của Tố Hữu, Tú Mỡ, là thơ của các nhà thơ thuộc thế hệ kháng
chiến: Quang Dũng, Hoàng Câm, Hữu Loan, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hồng Trung
Thơng, Nơng Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn... Thănh tựu văn học kháng chiến chống Pháp được
thể hiện tập trung ở Giải thưởng văn nghệ năm 1951-1952 va nam 1954~1955 cia Hoi van
nghệ Việt Nam.
Văn học thời kì 1945-1954 là chặng khởi đầu của một nên văn học mới. Bước đi ban
đầu ấy khó tránh khỏi những non nớt, ấu trĩ, chưa để lại được nhiều thành tựu kết tỉnh xuất

sắc. Nhưng hồn tồn khơng thể nói văn học thời kì này khơng có gì giá trị. Sự phát hiện và
sáng tạo hình tượng con người quần chúng với vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, gián dị, sự thể

hiện đậm nét và phong phú những biểu hiện của tình quê hương, đất nước và tình đồng bào,
đồng chí, đó phải kể là những giá trị tư tưởng và nghệ thuật nổi bật của văn học thời ki
kháng chiến chống Pháp, sẽ được kế thừa và phát triển ở các chặng đường sau.

2. Ti 1955 dén 1964.06 6øVea bếy ni
Cuộc kháng chiến chống thực đân Pháp kết thúc với thắng lợi của chiến dịch Điện

Biên Phủ, hịa bình được lập lại, nhưng đất nước phải tạm thời chia cất. Miền Bắc được
giải phóng, đi vào phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh, tiến hành cuộc cách mạng xã hội

chủ nghĩa. Đồng thời, nhân đân cả nước ta phải tiếp tục cuộc đấu tranh để thống nhất đất
sỹ

`

411


nước | Nên văn học cách mạng sau chặng khởi đầu ở thời kì kháng chiến chống Pháp, nay
trong điều kiện mới của lịch sử, đã có sự phát triển mạnh mẽ và khá toàn diện, đạt đến độ
trưởng thành.
Khi bước sang chặng đường mới, vào những năm 1956-1958 trong đời sống văn học ở
miền Bắc đã diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng mà nhiều người gọi IA cud

_nhân đường" lần

- thứ hai, Day là cuộc đấu tranh hết sức gay gắt và phức tạp về cả tư tưởng chính trị và quan
điểm
nghệ
tranh

cơng

văn nghệ, để tiếp tục xác lập sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ, đưa nên văn
đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ giữa năm 1958, sau khi kết thúc cuộc đấu
tư tưởng, nhiều văn nghệ sĩ lại được tạo điều kiện thâm nhập thực tế cách mạng trong
cuộc lao động xây-đựng đất nước, nền văn học bước vào một thời kì khởi sắc, trong

quỹ đạo của nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa. Các thể loại van hoc — nhất là truyện ngắn, tiểu
thuyết, thơ trữ tình - đều phát triển, có nhiều tác phẩm thành cơng, trong đó có những tác

phẩm xuất sắc.

Văn học cách mạng trong mười năm sau cuộc kháng chiến chống Pháp đã có sự mở
rộng về để tài, chủ đề, về khả năng bao quát hiện thực đời sống. Ba hướng
dé tài chính là:
tái hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc đấu tranh cách mạng thời kì trước
1945, cuộc sống mới và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cùng với cuộc đấu tranh
thống nhất đất nước. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được tái hiện trong nhiều cuốn
tiểu thuyết như Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Người người lớp lớp của Trần Dân,
Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Trước giờ nổ
súng của Lê Khâm, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỗi, Sống mới với Thủ dé cha
Nguyễn Huy Tưởng, Phá vây của Phù Thăng... Một số tác phẩm dựng lại bức tranh xã hội
Việt Nam thời kì trước 1945, tập trung vào giai đoạn mười năm từ phong trào Mặt trận dân
chủ đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, mà trung tâm là phong trào cách mạng của quần
chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (Mười năm của Tơ Hồi, Sóng gâm và Cơn bão
đã đến của Ngun Hồng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thị). Đề tài về sự hồi sinh của đất nước
sau chiến tranh và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc đã thu hút đông đảo
các cây bút thuộc nhiều thế hệ. Khẳng định L cuộc sống mới, con người mới và con đường đi

lên chủ`nghĩa xã hội là tư tưởng và cảm hứng chung của những tấc phẩm này. Bám sát các

sự kiện kinh tế— xã hội, minh họa các chủ trương chính sách, số lớn các tác phẩm về để tài
này chỉ có giá trị thời sự, ngoại trừ một số tác phẩm đã thể biện được những vấn đề của đời

sống tư tưởng, fĩnh cảm và mối quan hệ mới của con người. Tình cảm với-miên-Nam và
khát vọng thống nhất đất nước trở thành một chủ để lớn, một cảm hứng dồi dào trong thơ

thời kì ny

TT

TT

Về phương diện thể loại, thời kì 1955-1964 đã có sự phát triển khá tồn điện. Trong

thơ, có sự “hồi sinh" của nhiều nhà thơ từ phong trào Thơ mới, cùng với lớp nhà thơ kháng
chiến và một số gương mặt trẻ mới xuất hiện từ sau hịa bình. Nhiều tập thơ có giá trị, thu
12

hút được sự chú ý của cơng chúng, liên tiếp được xuất bản trong khoảng thời gian từ 1959 đến
1964, như: Trời mỗi ngày lại sắng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời của Huy Cận, Gửi miền Bắc,
Tiếng sóng của Tế Hanh, Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng
chung của Xuân Diệu, Bài thơ Hác Hải của Nguyễn Đình Thị, Những cánh buồm của
Hoang Trung Thong... Truyện-ngắn được mùa với khơng ít tập truyện có giá trị, để tài và
bút pháp khá đa dạng, xuất hiện một số cây bút chuyên về thể loại này và đã hình thành
được một số phong cách truyện ngắn. Tiểu thuyết khá phong phú vượt trội hẳn so với thời kì
kháng chiến chống Pháp. Kí và tùy
ry bút cũng5 khơng ít, nhưng hiếm tác phẩm hay, ngoại trừ
tập Sông Đà của Nguyễn Tuân. Kịch bản sân khấu kịch và ca kịch có số lượng nhiều hơn
thời kì trước, nhưng vẫn rất hiếm kịch bản hay. Phê. bình, nghiên cứu văn học có bước phát
triển rõ rệt, có đồng góp đáng kế vào quá trình văn học và đã hình thành đội ngũ ít nhiều

mang tính chuyên nghiệp.

3.

Từ 1964 đến 1975 văn học trong thời kì cả nước chống Mĩ
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mĩ lần đầu cho máy bay ném bom, bắn phá miền Bắc nước

ta. Cuộc kháng chiến chống Mĩ mở rộng trên địa bàn cả nước. Cả dân tộc bước vào cuộc
chiến đấu giải phóng miễn Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước đặt dân tộc ta trước những thử thách vô cùng ác liệt, gay gắt, địi hơi
huy động triệt để mọi tính thần và lực lượng của cả dân tộc cho cuộc chiến đấu ấy. Trong
hoàn cảnh ấy, văn học nhất thiết phải trở thành một vũ khí tỉnh thần quan trọng, phục vụ
cho những mục tiêu cao cả và sống còn của dân tộc. Nền văn học cách mạng đã qua hai
mươi năm xây dựng và trưởng thành, đã nhanh chóng nhập cuộc, đứng vào đội ngũ chung
của dân tộc trong cuộc ra trận vĩ đại. Chế Lan Viên đã khắc họa tư thế và vị trí của người
cầm bút: "Vóc nhà thơ đứng ngang tâm chiến lũy/Bên những ding sĩ đuổi xe tăng ngoài
đồng và hạ trực thăng rơi" (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?). Các văn nghệ sĩ déu có
những chuyến di ra mat tran hoặc bám sắt các trận địa, các vùng chiến sự ác liệt ở ngay trên
miền Bắc, nhiều người được điều động bổ sung cho lực lượng văn nghệ giải phóng ở miễn
Nam. Nhiều người viết thực sự là những người vừa cầm súng vừa cẩm bút, khơng ít nhà văn
da hi sinh 6 chiến trường trong tư cách của người chiến sĩ.
(Hướng vào cuộc kháng chiến chống Mĩ văn học đã có sự chuyển biến mạnh mẽ và
tốn,
am
hit
i
tập trung thể hiện hình tượng
Tổ quốc, nhân ân \Và người anh sin
Đó làn một nên văn học mang đậm tính sử thí, phù
hợp với đặc diểm và yêu cầu của thời đại, có tác đụng to lớn trong việc động viên tính thần


chiến đấu, khơi sâu lòng yêu nước và củng cố niềm tin vào thắng lợi.

Văn học những năm kháng chiến chống Mĩ bao gồm văn học ở miễn Bắc và văn học
giải phóng ở miền Nam, đã có sự phát triển khá toàn diện về các thể load Tho khang chién
chống Mĩ là một giai đoạn mới và có nhiều thành tựu trong tiến tìnổ thợ Vie

Nam hiện

13


đại, có nhiều tìm tồi sáng tạo cả về nội dung và hình thức. Về đội ngũ tác giả, bên cạnh
- những nhà thơ thuộc các thế hệ trước vẫn hiện diện khá đầy đủ, thì sự xuất hiện đơng đảo
và liên tục những cây bút thuộc thế hệ trẻ đã đem đến cho thơ chống Mĩ sự phong phú, nét
mới mẻ và trẻ trung, đóng góp một phần quan trọng trong thành tựu của thơ kháng chiến
chống Mĩ{ Văn xi có sự phát triển khá đều các
thể loa
truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, đặc

biệt thể trưyện kí được nhiêu cấy bút sử dụng để viết vẻ những người anh bùng tiêu biểu của
cuộc kháng chiến chống Mĩ. Kịch nói cũng có một số vở diễn gây được tiếng vang, tuy cịn
hiếm kịch bản có giá trị văn học. Phê bình văn học tập trung vào việc biểu dương các tác
phẩm đáp ứng được yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt là bộ phận văn học giải
phóng ở miễn Nam.
Nhìn chung, văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ đã làm tốt nhiệm vụ của một nền
văn học cổ vũ chiến đấu, nêu cao lí tưởng chủ nghĩa u nước và chủ nghĩa anh hùng, góp
phần tích cực vào việc động viên mọi nguồn sức mạnh của dân tộc cho cuộc kháng chiến. Nền
văn học ấy "xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nên văn học chống chủ
nghĩa đế quốc trong thời đại ngày nay" (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương


tại Đại hội lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam, 1976).

Từ 1945 — 1954 trong các đô thị ở miền Nam nằm đưới sự kiểm sốt của chính quyền
Sài Gịn đã tồn tại một bộ phận văn học với những nội dung, đặc điểm và quy luật riêng,
khác với nên văn học cách mạng. Văn học vùng đô thị miền Nam trước 1975 là một thực
thể phức tạp, với nhiều khuynh hướng và bộ phận khác nhau, có khi đối lập rõ rệt. Bên cạnh
đồng văn học chống Cộng, phục vụ cho âm mưu của kẻ thù dân tộc và cách mạng thì cịn có
bộ phận văn học u nước và cách mạng, gắn bó với phong trào đấu tranh của nhiều tầng
lớp nhân dân cho độc lập, hịa bình và thống nhất Tổ quốc. Một số cây bút cách mạng hoạt
động trong vùng địch kiểm sốt, như Lí Văn Sâm, Vũ Hạnh, Viễn Phương, Lê Vĩnh Hịa...,
vẫn tìm cách đăng tải những sáng tác trên các sách báo công khai, nhằm nuôi dưỡng tỉnh
thần yêu nước, hướng về cách mạng, tố cáo kẻ thù dân tộc. Phong trào đấu tranh của thanh
niên, sinh viên các đô thị miền Nam đã sản sinh một dòng văn học, chủ yếu là thơ ca, trần
đẩy nhiệt huyết yêu nước, tỉnh thần đấn thân, mà tiêu biểu là thơ của Trần Quang Long
(Thưa me, Trái từn), Ngơ Kha (Trường ca hịa bình), Trân Vàng Sao (Bài thơ của một người

yêu nước mình)... Bên cạnh đó cịn có những tác phẩm giàu tính hiện thực, giá trị nhân văn
của những cây bút khác, như Sơn Nam (Hương rừng Cà Mau), Vũ Bằng (Thương nhớ Mười

hai), Nguyễn Văn Xuân (Bão rừng)... cũng góp vào những giá trị bền vững của văn học giai
đoạn này. Thơ của Thanh Tâm Tuyển, Nguyên Sa, Bùi Giáng tuy thể hiện sự khơng hoảng
và nội cơ đơn, nhưng có nhiều tìm tồi cách tân thơ theo hướng hiện đại.

14

se

i.


NHUNG DAC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1945-1975

1.

Nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phục vụ các

nhiệm vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu

Trong giải đoạn lịch sử từ 1945 đến 1975 nội dung bao trùm toàn bộ đời sống dan
tộc ta và trên đất nước là cuộc chiến đấu cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cho lí
tưởng xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh ấy do đội tiên phong của giai cấp công nhân và
đân tộc là Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo. Vì thế mọi bình điện của đời sống
xã hội, từ chính trị, quân sự đến kinh tế, văn hóa đều phải đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đề cương văn hóa (1943) cũng như nhiều văn kiện khác của Đáng luôn xác định văn hóa
~ tư tưởng là một mặt trận quan trọng phải được đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định với văn nghệ sĩ: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh
chi em là chiến sĩ trên mặt trận ấy" (Thư gửi các họa sĩ nhân triển lãm hội họa toàn quốc
năm 1951 ở Việt Bắc). Sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ được thể hiện trên nhiều
phương diện, cả về tư tưởng và tổ chức: Nêu ra đường lối văn nghệ và mục tiêu, nhiệm vụ
của văn nghệ trong từng giai đoạn cách mạng, tập hợp đội ngũ văn nghệ sĩ trong các tổ
chức văn nghệ, tạo điều kiện cho họ thâm nhập thực tế để sáng tác, chỉ đạo hoạt động phê
bình và những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ... Sự lãnh đạo ấy nhằm đảm bảo
cho văn nghệ đi đúng đường lối, thực sự trở thành vũ khí tính thần phục vụ có hiệu quả
nhất cho các mục tiêu của cuộc đấu tranh.

Nền văn học mới đã gắn bó mật thiết với vận mệnh của dân tộc và trở thành một phần
không tách rời của sự nghiệp đấu tranh ấy. Nó hướng vào phục vụ cho những nhiệm vụ
chính trị, theo sát những yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Điều này quy định từ để
tài, các chủvđề chính, cảm hứng bao trùm cho đến nhân vật trung tâm của văn học ở từng

chặng đườngTrong những năm kháng chiến chống Pháp, văn học theo sát các diễn biến
của cuộc kháng chiến ở tiền tuyến và hậu phương, cổ vũ lòng yêu nước và tỉnh thần kháng
chiến của đông đảo quần chúng nhân dân. Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc, văn học tập trung khẳng định cuộc sống mới và người lao động mới, phục vụ
cơng cuộc hợp tác hóa nơng nghiệp và cơng nghiệp hóa, phục vụ cuộc đấu tranh thống nhất

đất nước. Trongg những năm cả nước kháng chiến chống-Mĩ, văn. học cổ vũ cuộc chiến đấu,

ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng và những tấm gương tiêu biểu cho cuộc chiến đấu ở
ca hai mién Nam, Bac.
Phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu thì lẽ tất nhiên nhân Vật trung tâm của nên văn học
ấy phải là những người chiến sĩ và quần chúng cách mạng. Con người trong văn học được
nhìn nhận và thể hiệnở tư cách cơng dân, ở ý thức chính trị và trong đời sống cộng đồng,
trong cuộc đấu tranh cho những lí tưởng cao cả của dân tộc va cách mạng; vận mệnh của

15

,


mỗi cá nhân, những
những lợi ích và số
cách mạng. Những
đoạn này là những

vấn đề tư tưởng và các mối quan hệ của con người đều được xem Xét từ
phận của cả cộng đồng, từ các yêu cầu và mục tiêu của từng giai đoạn
tình cảm được thể hiện phong phú và cảm động nhất trong văn học giải
tình cẩm trong các quan hệ cộng đồng; tình quê hương đất nước, tình


đồng bào, đồng chí, đồng đội, tình qn dân, tình cảm giai cấp, tình cảm với Đảng và với
/

lãnh tụ...

Nền văn học phục vụ chính trị và cuộc chiến đấu cũng đòi hỏi và đã sản sinh ra một
đội ngũ nhà văn chiến sĩ. Đó là những nghệ sĩ hãng hái và tự nguyên đem nghệ thuật phục
vụ cách mạng với tỉnh thần của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Nhà văn đã
hịa mình với quần chúng nhân đân, bám sát những nơi mũi nhọn của cuộc đấu tranh. Trong
kháng chiến chống Pháp nhiều văn nghệ sĩ đã đầu quân, đi chiến địch trong kháng chiến
chống Mĩ, nhiều văn nghệ sĩ vào tuyến lửa, vào chiến trường miền Nam. Xuân Diệu đã viết
về sự gắn bó của nhà thơ với nhân dân mình: "Tơi cùng xương thịt với nhân dân của tôi ~
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu ~ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu — Của triệu người yêu
dấu gian lao” (Những đêm hành qn).

2.

Cách mạng khơng chỉ giải phóng cho đân tộc rnà cịn nhằm giải phóng cho nhân dân.
Quần chúng nhân dân mà chủ yếu là công nông binh đã trở thành lực lượng chủ lực của
cách mạng và kháng chiến. Vì thế, nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu cũng
phải là nền văn học hướng về đại chúng, phục vụ đại chúng.
Đại chúng hóa đã được nêu lên như một yêu cầu, một phương châm của nền Văn học

nền văn học mới, lại là nguồn

Đại chúng được thể hiện tr

HN


gần gũi với
5i đại chúng, tiếp thụ từ kho tầng văn hoe dan gian va “nuyên thong đồng thời
đùng ngôn ngữ nghệ thuật giản di, dé-hiéu,gần với tiếng nói của quần chúng nhân dân.
Đại chúng hóa đã giúp mở rộng công chúng văn học, tạo điều kiện để văn học đến
được với quần chúng đông đảo, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những tài năng nghệ thuật

từ trong quần chúng để bổ sung cho đội ngũ văn nghệ.

Nhưng đại chúng hóa cũng tạo ra một số hạn chế cho văn học) Coi trọng tính phổ cập,
lấy sự tiếp nhận của đại chúng làm một
n
tiêu ' chuẩn quan trọng,bs khí đã bạn chế những tìm
lếp nhận của đại chúng) Việc để cao
nhân \Vat quan chúng có Trường “hop di đến cực đoan, một chiều và hạ thấp niữïng nhân vật
thuộc các tầng lớp khác. Việc các nhà văn học tập, vận dụng những hình thức nghệ thuật và
phương tiện biểu đạt quen thuộc với đại chúng có khi đã dẫn đến sự coi nhẹ, xóa nhịa phong
cách, cá tính của mỗi tác giả ~ điều này thể hiện khá rõ trong giai đoạn kháng chiến chống

Pháp, về sau da dan được khắc phục.

Văn học hướng về đại chúng

ngay trong buổi đầu xây TẾ

trong cách mạng của quần chúng (Vợ chồng A Phú của Tơ Hồi, Vợ nhật của Kim
Lân,
Mùa lạc của Nguyễn Khải! Bão biển ccủa Chu Văn.. S

vừa là đối tượng phần ánh, vừa là cơng chúng của


Bổs§ lực lượng sáng táác

ác hình

tượng tan ơng tập thể, thể hiện sức mạnh và

khí thế của quân chúng (Trận phố Ràng và Một cuộc chuẩn bị của Trân Đăng, Kí sự Cáo
Lạng của Đguyễn Huy Tưởng, "Xiơig kích” của Nguyễn Đình Thị, Vùng mổ của Võ Huy
Tam, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Sống mấi với Thủ đô của Nguyễn Huy
Tưởng, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Mặt đường khát vọng của Nguyễn
Khoa Điểm, Chiến sĩ của Nguyễn Khải, Cửa biển của Nguyên Hồng v.v...), hoặc trong
những hình tượng nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất của giai cấp, của nhân dan va
dân tộc (Đất nước đứng lên và Rừng xà ñu của Nguyên Ngọc, Một truyện chép ở bệnh viện
của Bùi Đức Ái, Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt của Tố Hữu, Sống như anh của

3.
/

:

Nén van hoc chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi

Trong giai doan 1954-1975, vận mệnh của Tổ quốc đứng trước những thử thách gay
gat, ca đân tộc muôn người như một sát cánh trong cuộc chiến đấu vì lí tưởng chung là độc

lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Nền văn học của giai đoạn lịch sử ấy khơng thé [a tiếng

nói của những số phận cá nhân mà phải là tiếng nói của cả cộng đồng dân tộc và nhân dân.
Những chủ để bao trùm trong nên văn học giải đoạn ấy là những vấn dé về vận mệnh của_.


cộng đồng: hiện thực mà văn học phần ánh là hiện thực lịch sử dân tộc)nhân vật

nhất là người anh bùng đại.1 diện cho sức mạnh và phẩm chất của dân
lân tộc, giai cấp, cho thời
đại và nhà văn cũng là người phát ngôn cho tư tưởng, lập trường, tình cảm, quan niệm, của

cộng đồng, nhân danh cộng đồng mà ca ngợi và lên án, kêu gọi và cổ vũ. Đó là một nên văn

học theo khuynh hướng sử thí, nó tiếp cận và phần ánh thực
do" moi giá trị - kể cả các giá trị thẩm mĩ ~ từ những tiêu chí
văn học ấy đã sáng tạo một thế giới nghệ thuật, bao gént cả
hình tượng con người~ mang một vẻ đẹp riêng, đậm màu sắc

tại từ quan điểm sử thi, "cân
và lợi ích của cộng đồng. Nền
bức tranh đời sống vànove
sửthì vàvà chất lãng mạn.

Khuynh hướng sử thị đã chỉ _ phối hâu khắp các sáng tác thuộc đủ mọi thể loại. Nó

khơng chỉ thể hiện trong tiểu thuyết ma con & truyện ngắn và kí, nó cũng thấm sâu vào thơ

Trần Đình Vân, Người mẹ cẩm súng của Nguyễn Thị...).

rữ
trữ tình, từ thơ ngắn đến các
ác trường ca; vào kịch bản sân khấu. Khuynh hướng sứ thi đã hình

ân vật quần chúng cũng thường được thể hiện với sự đối đời nhờ cách.mạng và sự

trưởng s thành tĩ nợ cáclứn
mang\ Đó là con đường từ tần Bhậđ nnơ lệ thành người tự do cũng.
là q trình giải phóng cả về tinh thần, phục hồi những giá trị nhân cách và trưởng thành

từ những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp v và nhất
xong thời Kì chống : Mỹ khuynh
hướng ấy càng phát triển mạnh mẽ và bao trầm cả nên văn học, _ `
1

tinh tix những bước khởi đầu của nên văn học mới ngay sau Cách mạng tháng Tám, nhưng

TTR 6 St
TRUÊNG P VI BANG Si Bian

TH

Tin

EEA

PAAO

SIN

OF

ị 1019

7



Khuynh hướng sử thì chỉ phối từ việc lựa chọn dé tài, chủ để đến việc xây dựng hình
tượng nhân vật và chỉ phối cả đặc điểm kết c:cấu tác phẩm, nghệ thuật trần thuật trong văn
xuôi và cái tôi trữ tình trong tel DEI, chủ dé phải là những vấn đề có liên ¡ quan mật thiết
đời sống lịch sử, vận mệnh của đân iộc và nhân dã Bãy đhững tình_cảm cơng đồng.
đến đời
Nhiễu tác phẩm — cả thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết đã trực tiếp tái hiện,“Khái quát con đường

học đã sáng tạo được những hình tượng nghệ thuật cao đẹp về đất nước, về nhân dân, về các
tầng lớp, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống dân tộc vừa đậm nét
thời đại. Xuất phát từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người ~ mà điểm chủ yếu là
nhìn con người trong tư cách công dân, con người dân tộc và giai cấp, văn học giai đoạn
đây đãtsáng tạo những loại hình nhân vật mới, vừa phản ánh những mẫu người mới trong

thể chỉ viết về những sự việc và con người trong một phạm ví hạn hẹp của khơng gian, thời
gian, nhưng vẫn để cập và gợi mở được bối cảnh lịch sử và những vấn để có ý nghĩa tồn
dân tộc (Truyện Tây Bắc của Tơ Hồi, các truyện và kí của Nguyễn Thị là những ví dụ tiêu
ng tiêu biểu cho
biểu). Nhân-vật trung tâm của nên văn học cũng phải là eqn người-matính
quần chúng nhân đidân, cho đân tộc và thời đại cách mạng) Trong văn¡ học thời KỸ Kháng
chiến chống Pháp, đó là nhân vật quần chúng; ở văn học 1955-1964 đã xuất hiện những
hình tượng điển hình của người anh hùng mới, tiêu biểu cho số phận và con đường trưởng
thành của quần chúng nhân dân trong cách mạng (Núp trong Đất nước đứng lên, Chị Tư
Hậu trong Một truyện chép ở bệnh viện, Lương trong Trước giờ nổ súng, Khắc trong Võ
bờ....). Văn học thời kì cả nước chống Mĩ tập trung xây dựng bình tượng người anh hùng
mang đẩy đủ những nét phẩm chất tình thần, sức mạnh và ý chí của cả dân tộc trong cuộc
chiến đấu chơ lí tưởng cao cả. Con người cả trong thơ trữ tình, trường ca, trong truyện, kí
đều mang phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng, đó chính là những nhân vật sử thi của nền
`
văn học hiện đại.


1945-1954, nổi bật hình tượng nhân vật quần chúng, mà chủ yếu là cơng nơng bình: Hình
ảnh những người lao động mới và những con người nhỏ bé được đổi đời gắn liên với sự hồi
sinh của đất nước và trong mơi trường tập thể ~ đó là mẫu nhân vật mới của văn học những
năm hịa bình, sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Văn học trong cao trào cả nước kháng
chiến chống Mĩ đã sáng tạo được nhiều hình tượng nhân vật mang vẻ đẹp cao cả của chủ
nghĩa anh hùng, kết tinh những phẩm chất của dân tộc và tỉnh thần thời đại, đặc biệt phải kể
đến những nhân vậi tiêu biểu cho thế hệ trẻ "thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai” (Bằng
Việt). Nhìn chung, trong văn học giai đoạn 1945-1975, nổi trội và phong phú hơn cả là
"hình tượng người lính và hình tượng người phụ nữ. Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các hình
tượng người nơng dân, người đân miễn núi, các em thiếu nhi, và đặc biệt là sự thành cơng
của việc xây dựng hình tượng Bác Hồ.

và vận mệnh của nhân dân, dân tộc trong một giai đoạn lịch sử.}Ở

nhiều tác phẩm khác, có

Văn học théo khuynh hướng sử thi cũng tất yếu ñm đến những phương thức nghệ thuật
phù hợp với nội dung sử thi, đồng thời cũng tạo nên giọng điệu đặc trưng là giọng ngợi ca,
trang trọng. Ở Tố Hữu, Chế Lan Viên, giọng điệu ấy nhiều khi vút cao lên thành giọng
hùng :ca, thành lời truyền lệnh; còn với nhiều cây bút khác, giọng chủ âm ấy lại được kết
bợp với chất trữ tình, lãng mạn để thành giọng điệu vừa trang nghiêm vừa tha thiết.
Khuynh hướng sử thi còn tiếp tục chỉ phối nền văn học trong những năm nửa cuối thập
kỉ bẩy mươi và đầu những năm tám mươi, sau khi chiến tranh kết thúc, rồi rnờ nhạt dan dé
chuyển sang những khuynh hưởng khác, khi văn học bước vào thời kì đối mới.

W. KHÁI QUÁT TRÊN NHỮNG NÉT LỚN VỀ THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ
CUA VAN HOC VIET NAM 1945-1975

Kế thừa những truyền thống và kinh nghiệm nghệ thuật của một nên văn học có lịch sử

lâu đời, văn học Việt Nam 1945-1975 đã xứng đáng với sứ mệnh cao cả của một nên văn
học cách mạng hướng về đại chúng nhân dan, phục vụ chiến đấu, đã góp được những thành
.
tựu cho sự phát triển nền văn học đân tộc trong thời đại mới.
1. Hướng vào hiện thực xã hội lịch sử với nhiều biến cố trọng đại, văn học thời kì này
thời kì lịch sử đầy gian lao, hi
đãi ghi lạiđược những hìnháảnh1 khong thể phai mờ của một
sinh "nhưng hết sức vẻ vang củaa dinn tộc
tộc t

18

ta}*Với hai cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, văn

đời sống xã hội, vừa thể hiện quan niệm thẩm mĩ của nên văn hoà. Trong văn học

2.{Vê nội dung tư tưởng, văn học thời kì này đã phát huy cao độ
tỉnh thần cơ bản của dân tộc — cũng là những nnét nổi bật trong phẩm
Nam của thời đại ấy, đó là chủ nghĩa u nước và tính thần nhân đạo
thời kì văn học nànào mà tỉnh thần dan tộc, ý thức cộng đồng; tĩnh cârŸ

những truyền thống
c
chất
con người. Việt
Có thể nói chưa có
q hương đất nước,

tình nghĩa đồng bào, đồng chí lại được thấm nhuần sâu rộng và biểu hiện thật phong phú,


nhiều vẻ như trong văn học giai
trong tình quê hương, làng xóm,
Chủ nghĩa yêu nước thường gắn
cuộc đấu tranh giành độc lập và

đoạn 1945-1975. Lòng yêu nước thường được thể hiện
trong tình đồng bào, đồng chí, tình qn đân "cá nước”:
liên với chủ nghĩa anh hùng trong thời kì diễn ra những
giữ gìn đất nước. Tỉnh thần yêu nước vừa là một truyền

thống sâu xa, lại vừa là nét nổi bật trong tỉnh thần của thời đại cách mạng, được thể hiện

trong niềm tự hào và ý thức làm chủ đất nước của quần chúng, trong tư tưởng đất nước
gắn liền với nhân dân, của nhân đân, trong lí tưởng độc lập tự do gắn với chủ nghĩa xã
hội. Tỉnh thần nhân đạo được thể hiện trong khát vọng giải phóng con người, trong lịng
nhân ái và truyền thống tình nghĩa thủy chung. Chủ nghĩa nhân đạo của văn học mới
hướng về những người lao động, phát huy tình.cảm giai cấp và những phẩm chất tốt đẹp
của quần chúng nhân dân, khẳng định con đường giải phóng và sự trưởng thành của quần
chúng trong cách mạng.
3.Vẻ mặt thể loại, văn học giai đoạn 1945~1975 đã có sự phát triển ngày càng phong

phú và khá toàn diện, đã tạo ra những biến đổi nhất định trong từng thể loại, phù hợp với
yêu cầu thể hiện những nội dung mới và địi hơi của cơng chúng mới) Các thể loại phát triển
khá toàn diện, nhưng thơ và truyện ngắn, truyện vừa vẫn nổi trội hơn. Tho ca thoi kháng

19


tiếng nói trữ
chiến chống Pháp đã đem đến một tiếng nói trữ tình mới mẻ, khỏe khốn cơng góp

thành
tình của quần chúng. Thơ của các nhà thơ lớp trước cách mạng có nhiều
Xuân
phần thúc đẩy sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại (Tố Hữu, Chế Lan Viên,
chống Mĩ
Diéu, Té Hanh, Huy Can...). Các lớp nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp và
thơ ca
cho
mới
cũng không hiếm tài năng và có nhiều tìm tồi sáng tạo góp phần đổi
(Nguyễn

Đình Thị, Quang

Dũng,

Chính

Hữu,

Hồng

Cảm,

Hồng

Trung Thơng,

Xn


Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điểm, Nguyễn Duy...).
dạng hơn
Truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết của ta khá phong phú, ngày càng đa
đấu ấn
được
ghi

hay
về phong cách và bút pháp. Nhiều cây bút truyện ngắn có tác phẩm
Quang Sáng,
riêng trong thể loại này (Tơ Hồi, Kim Lân, Nguyễn Thị, Anh Đức, Nguyễn
Thị,
Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu...). Cịn Ngun Hồng, Nguyễn Đình
Minh Châu,...
Ngun Ngọc, Nguyễn Văn Béng, Phan Tit, Nguyén Khai, Chu Van, Nguyễn
oe
/
lại có những tiểu thuyết và truyện vừa được đánh giá cao.

Kí, ki
Kí cũng phát triển mạnh, nhất là trong thời kì chiến tranh với nhiều thể tài: bút
sự kiện
sự, truyện kí, tùy bút, hồi kí... đã ghi lại kịp thời nhiều hình ảnh chân thực về những
những
trọng đại của chiến tranh và cách mạng, biểu dương những tấm gương anh hùng,
cịn
Tn,
Nguyễn

nhất

chiến cơng trên nhiều mặt trận và lĩnh vực. Ngoài cây bút đặc sắc
;
phải kể đến kí của Tơ Hồi, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Thi...
Nên kịch cách mạng đánh đấu sự khởi đầu bằng thành công của vở Bắc Sơn (1946) của
tác
Nguyễn Huy Tưởng. Tiếp đó, trong kháng chiến chống Pháp đã có một phong trào sáng
là loại
và biểu diễn kịch rất sôi nổi, rộng khắp ở những vùng kháng chiến, tuy hầu hết chỉ
được
"kịch cương" khơng có kịch bản chặt chẽ. Nhìn chung, kịch bản và vở điễn ngày càng
dan
hat
kịch
thể
các
triển
phong phú cả về để tài và thể loại — bên cạnh kịch nói cũng phát
tộc và cả kịch thơ, cùng với các kịch bản của Việt Nam, sân khấu từ sau 1954 cịn có sự
hiện điện với sức thu hút cơng chúng của nhiều vở kịch nước ngồi. Trong thời kì kháng
vùng
chiến chống Mĩ, nhiều vở kịch giàu tính thời sự đã đến được với công chúng ở nhiều
các tácgiả
kể cả ở tiên tuyến, đem lại sự động viên, cổ vũ rất đáng kể cho công chúng. Về

viết kịch, phải kể đến Nguyễn Huy Tưởng, Học Phi, Đào Hồng Cẩm, Ngơ Y Linh (Nguyễn
/
Vũ), Lộng Chương, Nguyễn Đình Thi.
Lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học đã có đóng góp đáng kể vào đời sống văn học từ
sau Cách mạng tháng Tám 1945, trước hết là ở việc giới thiệu, truyền bá tư tưởng và quan
thành

điểm văn nghệ mác xít, đường lối văn nghệ của Đảng, biểu dương những tác phẩm
công, khẳng định thành tựu của nên văn học cách mạng và đấu tranh chống những quan
điểm văn nghệ sai lệch với quan điểm của Đảng. Từ sau năm 1954, nhất là từ khoảng 1960
trở đi, hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học có bước phat triển đáng kể, đặc biệt là trong
việc tìm hiểu, giới thiệu di sẵn văn học dân tộc, cả dân gian và cổ điển, đồng thời cũng quan
tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện
đại Việt Nam. Một số cơng trình lịch sử văn học Việt Nam được biên soạn theo quan điểm
20

mới của khoa nghiên cứu văn học mác xít, những bộ hợp tuyển văn học Việt Nam các thời
kì, đó có thể coi là thành tựu đáng kế nhất của nghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn này.
4. Một đội ngũ nhà văn đông đáo, gồm nhiều thế hệ và không hiếm tài năng, được
đào luyện trong cách mạng và kháng chiến — đó cũng phải kể là một thành tựu của nền
văn học mới. Từ đội ngũ ấy đã hình thành nên kiểu nhà văn - chiến si, dem nghệ thuật
phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và hai cuộc
chiến tranh ái quốc. Đội ngũ ấy đông đảo và gồm nhiều thế hệ: Những nhà văn lớp trước
cách mạng, đã di từ nhiều khuynh hướng nghệ thuật đến với nên văn học mới; lớp nhà
văn trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Pháp, trong số đó có nhiều người xuất
thân từ phong trào quần chúng; thế hệ những cây bút xuất hiện từ sau cuộc kháng chiến
chống Pháp và nhất là trong thời kì kháng chiến chống Mĩ đem đến cho văn học sức trẻ
và nết mới của một thế hệ sinh trưởng trong lòng xã hội mới. Ba thế hệ ấy vừa thống nhất
vừa bố sung cho nhau và từ đội ngũ đông đảo ấy đã xuất hiện nhiều tài năng, hình thành
những phong cách nghệ thuật đặc sắc.
5. Những hạn chế của văn học giai đoạn này là điều khó tránh khỏi và cũng dễ nhận ra.
Hình thành và tổn tại trong hồn cảnh chủ yếu là hai cuộc kháng chiến, nên văn học
gap khong it khó khăn, trở ngại từ điều kiện sáng tác đến việc phổ biến và sự tiếp nhận của
công chúng. Văn học thời chiến cố nhiên khó tránh khỏi sự khắc khổ và nhất làà tínhh phiến Sign. trong việc phản ánh đời sống. Hiện thực mà văn học quan tâm trước hết phải llà những”
vấn đề có ý nghĩa lịch sử, quan hệ tới vận mệnh của dân tộc, nhân đân. Đời sống thế sự và

riêng tư ít được quan tâm thể hiện, nếu có thì cũng phải được nhìn và đánh giá trên quan

điểm của cộng đồng. Sự giới hạn trong quan niệm về hiện thực như trên cũng đi liên với
cách xử lí các đề tài, các vấn để của đời sống được phản ánh trong văn học {coi trọng việc
phần ánh hiện thực trong quá trình phát triển cách mạng, điều này dễ dẫn đến việc lược quy
sự đa dạng, phức tạp của hiện thực đời sống vào những mơ hình mang tính giản đơn, quy
phạm, vào những hướng giải quyết có tính cơng thức có và đường như đã được định trướợ/
Chúng ta thường gặp trong văn học giai đoạn này những mơ-típ chủ đề như: thức tỉnh, vùng
đậy đấu tranh, trưởng thành trong cách mạng, từ khổ đau, nô lệ đến được giải phóng, cơ đơn
riêng lẻ đến sự hịa nhập với tập thể, với cuộc đời chung... Những chủ đệ nói trên khơng
phải là khơng có cơ sở trong thực tiễn cách mạng, nhưng cũng khơng thể đủ. để bao. quất
tồn bộ sự phong phú và phức tạp của đời sống.
Về phương thức nghệ thuật, có sự dé cao bút pháp hiện thực, tái hiện đời sống trong
dạng thức giống như nó tồn tại. Điều đó có đem lại những thuận lợi trong việc thể hiện bức
tranh đời sống trong tác phẩm, nhưng. lại làm nghèo đi nhiều khả năng và sức mạnh của hư
cấu tưởng tượng, hạn chế sự đa dang của các thủ pháp nghệ thuật ⁄
Việc coi trọng yêu cầu phục vụ kịp thời những nhiệm vụ chính trị nhiều khi cũng dẫn

đến lối viết minh họa giản đơn, dễ đãi, đến “chủ nghĩa để tài", khi nhà văn thiếu sự hiểu biết

21


CHƯƠNGII

sâu sắc về đời sống và thiếu bản lĩnh tư tưởng. Những tác phẩm như thế chẳng những khơng
có giá trị lâu bền mà cũng rất hạn chế trong tác dụng phục vụ các nhiệm vụ trước mat.

THƠ

Giai đoạn 1945 ~ 1975 JA chặng đường đầu tiên của nền văn học mới, nên những non yếu ấy
bên cạnh nguyên nhân khách quan củcủa lịch sử, còn đọ những


ee

1945 - 1975

hạn chế chủ quan trong nhận thức

của đội ngũ văn học, trong quan để và lãnh đạo văn nghệ, cả trong lí luận phê bình văn hog->

A. YEU CAU
® Cần nắm vững được các nội dung chính:
{Văn học Việt Nam 1945-1975 là giai đoạn mở đầu của một thời kì văn học mộ} Nền
văn học ấy nảy nở và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, khi cả dan tộc phải đồn

~ Các chặng đường phát triển: 1945 ~ 1954, 1955— 1964; 1965 ~ 1975. Những đặc điểm
về nội dung và nghệ thuật của mỗi chặng đường thơ.

tất cả tính thần và lực lượng vào cuộc chiến đấu cho độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Mi

vậy, lẽ tất yếu là văn học phải hướng vào những mục tiêu, nhiệm vụ cao cả và
dân tộc. Nhìn chung, nền văn học tronggiải đoạn ấy đã làm tròn được vai trò
hổi của lịch sử. Văn học cách mạng đã có tác dụng to lớn trong việc thức
truyền thêm sức mạnh và niém tin cho đông đảo công chúng trong hai cuộc

sống cồn của cả
của nó trước địi
tinh, động viên,
kháng chiến Và




— Những khuynh hướng chính trong sự vận động của thơ giai đoạn 1945 ~ 1975:
® Vận dụng phân tích một số bài thơ giai đoạn 1245 — 1975 trong chương trình Trung
học cơ sở và Trung học phổ thơng.

B.

cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miễn Bắc, góp phân to lớn clo việc xây dựng tư tưởng, bồi đắp

NỘI DUNG
Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến tiếp đó đã đưa đến những biến đổi sâu

tâm hồn và phát triển nhân cách của con người Việt Nam khơng chỉở thời đại ấy mà cịn cho
ˆ
các thế hệ tiếp theo.

rộng về nội dung trữ tình, vẻ chất liệu, ngôn ngữ cho nên thơ. Việt Nam. Kế tục đồng thơ yêu

Từ sau 1975, trong những điều kiện mới của lịch sử - xã hội, nên văn học cũng chuyển
sang một giai đoạn mới. Sau khoảng mười năm chuyển tiếp từ văn học thời chiến sang văn
học thời hậu chiến, từ 1986 nên văn học bước vào thời kì đổi mới, hịa nhập với cơng cuộc

trước, thơ 1945 — 1975 là một giai đoạn mới, có nhiều đóng góp vào tiến trình thơ Việt
Nam hiện đại.

đổi mới mạnh mẽ và toàn điện trên đất nước ta. Văn học đã mở rộng va đào sấu sự khám
phá về hiện thực
dân chủ hóa và
1975, nhất là từ
nên văn học dân


và con người trong tính đa đạng, phức tạp và ln biến dong, trong xu thế
thức tỉnh ý thức cá nhân, tỉnh thần nhân bản. Văn học Việt Nam từ sau
thời kì đổi mới đã đì những bước tiếp xa hơn trên con đường hiện đại hóa
tộc, để hịa nhập sâu rộng hơn vào tiến trình văn học thế giới. -

CG. HUGNG DẪN HỌC BÀI
1.

Văn học Việt Nam 1945-1975 đã trải qua những chặng đường phát triển nào? Nêu van

tắt tình hình văn học và thành tựu nổi bật của mỗi chặng đường.
2.
3.

Phân tích những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam 1945-1975 và mối quan l hệ
giữa các đặc điểm ấy.
`
:
Bằng những dẫn chứng chủ yếu từ các tác phẩm đã học trong chương trình văn học

trung học phổ thơng, hấy chứng minh một đặc điểm của văn học Việt Nam giai đoạn
1945-1975 1a chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thủ.

4.

Về mặt tư tưởng, văn học 1945-1975 đã kế tục và phát huỷ những truyền thống tư
tưởng chủ yếu trong văn học dân tộc như thế nào?

nước và cách mạng trước 1945, trên cơ sở những thành tựu hiện đại hóa thơ:ca ở giai đoạn


1.

CAC CHANG DUONG THO TU 1945 ĐẾN 1975

1. - 1945 ~ 1954: Những năm đầu cách mạng vả trong kháng chiến chống Pháp
Cách mạng, rồi tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Pháp đã khơi nguồn cho những cảm

hứng rất mới trong thơ, làm đổi thay cả diện mạo và đặc điểm của nên thơ.

—_ˆ

1.1. Quá trình phát triển của thơ 1945 — 1954
~ Trong hon mmột năm dau céch mang,.tho.ca-tran-ddy-cam hitng lãng mạn cong dan; say
Sửa ngợi ca Cuộcc hồi.sinh ¢ củ
ất nước và niềm vui sướng trọng độc lập tự do~ Huế tháng
Tám của Tố Hữu, Tình sơng núi của “Trần Mai Ninh, Ngộn quốc kì của Xuân Diệu... -là
những thi phẩm tiêu biểu đã ghi lại được khơng khí lịch sử và trạng thái tỉnh thần của thời
đại. Từ cuối 1946, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã lan rộng ra tồn quốc, thơ
cũng nhanh chóng hướng đến những hình ảnh, sự việc và con người kháng chiến. Trong mấy
năm đầu của cuộc kháng chiến, thơ là thể loại nổi trội và phong phú hơn cả; cũng như mọi lĩnh
vực hoạt động văn
in hoa tinh than khác thơ đã được
ược huy động và
vào cuộ
cuộc.
ộc chiến đấu của dan tộc, trở
thần của con người Việt Nam

kháng chiến.


Nhà

phê

bình Hồi

Thanh,

trong cuốn

ig

2

23


Nói chuyện thơ kháng chiến (1952) đã nhận xét: "Con người kháng chiến lo lắng hồi hộp,
chờ đợi hi vọng, phấn khởi, sống dồn trong một hai năm nhiều hơn những cuộc sống nhạt
kéo dài trong hàng thế kỉ. Do đó cần phải có thơ, Các nhà thơ, làm thơ, anh cán bộ chính trị,
anh qn sự, anh cơng an, anh bình dân học vụ, anh thơng tin, anh đội viên binh nhì, anh

nó đi ngược với phương châm đại chúng hóa của nên văn nghệ, nó xa lạ với đại chúng, nói
nhiều tâm sự riêng, khó hiểu, lại khơng có vần, quần chúng khơng thể tiếp nhận được. Cách
nhìn ấy đối với thơ Nguyễn Đình Thi cũng như đối với một số hiện tượng tìm tịi khác trong
thơ hồi đầu kháng chiến là một hạn chế thật đáng tiếc.

hỏa thực", các chị phụ nữ, các em thiếu nhỉ, hết thấy đều làm thơ".
£ Chỉ trong một thời gian ngắn tới năm 1948 trong thơ kháng chiến đã xuất hiện khơng Ít

thi phẩm đặc sắc với những hướng tìm tịi khác nhau, tạo nên một diện mạo khá đa dạng và

—— Đại chúng hóa là xu hướng mà nhiều nhà thơ đã tìm đến ngay từ những năm đầu của
cuộc khẩng chiến và nó sớm + tr thành khuynh hướng chủ đạo trong thơ
thợ ‹ ca giai đoạn này.
Tố Hữu là một trong những người mở đầu cho xu hướng này bằng một loạt bài thơ được

nhiều bài thuộc trong số những thi phẩm tiêu biểu của thơ ca kháng chiến: Cánh khuya,
Nguyên tiêu, Báo tiệp của Hồ Chí Minh, Tây Tiến của Quang Dũng, Bên kia sơng Đuống
của Hồng Cẩm, Đồng chí, của Chính Hữu, Cá nước và Phá đường của Tố Hữu, Lên Cấm
Sơn của Thôi Hữu


Bước vào cuộc. kháng chiến (cảm -hứng lãng man trong thơ hơn một năm đầu cách

mạng được tiếp nối t

¿ lãng mạn anh hùng của những con người đi vào cuộc

chiến đấu với tính thân) ï'Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" (Quang Dũng),
Huong khai thác tâm hứng Hang man
1
anh hùng đã tìm thấy đại biểu xuất Sac nhat À

viết ngay sau chiến thắng Việt Bắc cuối năm 1947 và liên tiếp trong vài năm sau đó, những

bài Cá nước, Phá đường, Bâm ơi, Voi, Bà mẹ Việt Bắc... của ông đã đem đến cho thơ ca
kháng chiến một mạch thơ thật bình dị, hồn nhiên, trong sáng, với tiếng nói và hình ảnh
chân thực của qn chúng kháng chiến khơng cần tơ vẽ hay mĩ lệ hóa, rất gần gũi với tiếng
thơ hồn nhiên của các tác giả quần chúng. Không chỉ biến đổi về ngơn ngữ, giọng điệu,

cách nói mà Tố Hữu cồn tìm đến một tâm thế trữ tình mới hướng vào khẳng định, ngợi ca

nhân vật quần chúng bằng cách sáng tạo kiểu trữ tình nhập vai hoặc để "cái tơi" nhà thơ lùi
lại phía sau làm nổi bật hình ảnh quần chúng.

hút nhiềuu cây bị
ot _ Xu Lhướng đại chúng hóa đã ¿thu hú
bao, tung hồnh, vừa tỉnh tế, tài hoa, trong đó Táy T¡lến được xexem là th

phẩm độc đáo, tồn

bích hiếm có của nền thơ kháng chiến.
Thơ Nguyễn Đình Thị trong những năm đầu kháng chiến là một biện tượng rất đáng
chú ý, mở ra một hướng tìm tịi cách tân cho thơ. Đề cao vai trị của cảm xúc và coi trọng
hình ảnh trong thơ, Nguyễn Đình Thi hướng tới biểu hiện thứ nhạc bên trong, không phải
nhạc điện của chữ và lời mà là thứ nhịp điệu của tình ý và hình ảnh, có thể vang lên ở cả
những khoảng trống giữa các chữ.
` thức tìm tịi tiếng nói nghệ thuật mới của thời đại có nhiều biến động đữ đội cùng
với quan niệm thơ như trên tất yếu sẽ đãn Nguyễn Đình Thi đến thứ thơ hướng nội và lối

thơ tự do khơng vần hoặc rất ít vần)



Các bài thơ được viết trong khoảng những năm 1948 - 1949 của Nguyễn Đình Thi
(Sáng mắt trong như sáng năm xưa, Đêm mút tỉnh, Chia tay, Khơng nói, Đường núi...) đã
minh chứng cho quan niệm và hướng tìm tịi của tác giả. Sự tìm tịi của Nguyễn Đình Thi đã
có tác dụng thúc đẩy xu hướng tự đo hóa hình thức thơ và sự phát triển của thơ tự do, thơ
không vần trong các giai đoạn sau của nền thơ Việt Nam hiện đại.
Trong cuộc thao luận về thơ do Hội Văn nghệ Việt Nam tổ chức ở Việt Bắc năm 1949,

thơ Nguyễn Đình Thị đã được đem ra phân tích, phê bình. Hầu hết các ý kiến đều phê phán

gay gắt thơ Nguyễn Đình Thi, chí ít thì cũng hồi nghi xu hướng tìm tồi của tác giả, bởi vì
ŒĨ Anh hỏa thực: người lầm công việc cấp dưỡng nuôi quâa trong bộ đội.

24

huộc nhiều thế hệ khác nhau, t từ các

Thành tựu cũa thơ Khẩng chiến những năm đầu theo hừớng này cịn có thể kể nhiều trtrường
hợp nữa: Lên Cẩm Sơn của Thôi Hữu, Bài ca vỡ đất và Bao giờ trở lại của Hồng Trung
Thơng, Viếng bạn (vẫn được coi là của Hoàng Lộc)... Riêng Hoàng Câm với Bên kia sơng
Đuống lại có cách xử lí chất liệu đân gian, dân tộc một cách khá hiện đại. Chính Hữu từ
Ngày về đến Đồng chí và những bài thơ tiếp theo cũng là một trường hợp rất tiêu biểu cho sự
chuyển biến theo hướng đưa thơ trở về với đời sống của quần chúng kháng chiến, tìm chất thơ

trong cái bình dị, bình thường.

.

Phong trào sáng tắc thơ, ca đao, hị, về của quần chúng tiếp tục phát triển sôi nổi và

rong khap: Tho bang sting cla bộ đội, thơ ca trên báo tường, báo liếp, báo tay của các cơ
quan, đơn vị, câu hồ tiếp vận của dân công, ca dao phát động quần chúng của nông dân
trong đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất... Các nhà thơ lớp trước cách mạng cũng
chuyển hẳn sang viết những bài thơ học theo lối thơ đại chúng: Xuân Diệu có Bà cụ mù lịa,
Tặng làng cơng và tập Mẹ con được viết trong thời gian đi tham gia phát động quần chúng.
Ở Thanh Hóa, Chế Lan Viên viết Bữa cơm thường trong bản nhỏ, Nhớ lấy để trả thì,
Nguyễn Bínhở Nam Bộ có hai bài thơ dài Đồng Tháp Mười và Ông lão mài gươm, Tế Hanh
kể chuyện Người đàn bà Ninh Thuận... Với các nhà thơ trưởng thành từ phong trào quần

chúng hoặc hoạt động ở cơ sở thì ngay từ đầu họ đã tìm được tiếng nói trứ tình của quần
chúng và đóng góp cho thơ kháng chiến nhiều tác phẩm tiêu biểu: Hồng Trung Thơng với
tập Q hương chiến đấu, Trần Hữu Thung có Thăm lúa, Minh Huệ với bai Dém nay Bac

không ngủ, Hồng Nguyên với Nhớ, Hồ Vy có Lời quê... Các nhà tho dan*téc thiểu số như

25


Nơng Quốc Chấn, Bàn Tài Đồn, đã đem đến cho thơ kháng chiến tiếng thơ độc đáo, hồn `
nhiên, mang bản sắc dân tộc mình... Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và Hội nghị

Giơnevơ thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, thổi vào
trong thơ luỗng cảm hứng sử thị hào hùng với lòng tự hào dân tộc và niềm vui chiến thắng,
đồng thời cũng thúc đẩy các nhà thơ sáng tạo những bài thơ theo hướng khái quát, tổng hợp,
nhìn lại cả chặng đường kháng chiến và suy ngẫm về dân tộc, về lịch sử cách mạng: Hoan
hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Việt Bắc của Tố Hữu, Quê hương Việt Bắc và Đất nước của
Nguyễn Đình Thi. Xu hướng này sẽ còn được tiếp tục phat triển trong thơ những nãm sau
cuộc kháng chiến chống Pháp.

1.2. Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ (1945 — 1954)
a. Lịng u nước là tình cảm bao trùm và sâu rộng nhất, nó gắn bó mọi con người Việt
Nam trong một khối thống nhất của tình đồng bào đã có từ ngàn xưa, nay lại càng thắm

thiết hơn trong cách mạng và kháng chiến. Trong thơ, tình cảm ấy được thể hiện cụ thể
thành mn nghìn trạng thái, Đó là tình cẩm thiết tha và nỗi nhớ da diết về một quê hương
Kinh Bắc trù phú, tươi đẹp đang bị giày xéo dưới gót giày của quân xâm lược (Bên kia sơng

Đuống của Hồng Câm), hay một “Xứ Đồi mây trắng lắm" (Mắt người Sơn Tây của Quang
Dũng), một mùa thu Hà Nội với hương cốm mới và “những phố dài xao xác hơi may" trong

thơ Nguyễn Đình Thi, mảnh đất miễn Đông trong thơ Xuân Miễn, Đồng Tháp Mười trong
thơ Nguyễn Bính... Đó là tình cảm gắn bó tiền tuyến với hậu phương, quân với dân như cá
với nước đã được nói lên rất chân thực và cảm động trong thơ Hồng Trung Thơng (Báo giờ
trở lại), Hồng Ngun (Nhớ), trong một Lời quê chân chất của Hồ Vy, nó cũng thấm sâu
vào tình mẹ con của những người mẹ nông dân với đứa convệ quốc quân (Bêm ơi, Bà Bú

của Tố Hữu), và nỗi nhớ thương mong đợi của người vợ với người chồng đi chiến đấu
(Thăm lúa của Trần Hữu Thung). Đó cịn là nghũa tình gắn bó và lịng biết on sâu nặng của
người cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc qua bao năm tháng cùng chia sẻ dang cay
ngọt bài, là tình đồn kết miền ngược với miền xi, là lịng kính u vô vàn của nhân dân,
chiến sĩ với vị lãnh tụ của đân tộc mà gần gũi: “Người là Cha, là Bác, là Anh". Lòng yêu :
nước cũng đi liên với lịng căm thù qn giặc cướp nước, ý chí chiến đấu và chủ nghĩa anh
hùng trong cuộc kháng chiến, tỉnh thần lạc quan, vượt lên mọi gian khổ, hi sinh, là niềm tin

vào chiến thắng. Lòng yên nước còn được thể hiện trong một biểu hiện khơng thể thiếu, đó
là tỉnh thần tự hào dân tộc. Kế tiếp truyền thống tỉnh thần ấy từ trong lịch sử, ở thời đại cách
mạng giải phóng cho quần chúng thì lịng tự hào đân tộc luôn gắn liền với ý thức làm chủ
của nhân dân. Đã khơng ít lần trong thơ ca kháng chiến vang lên những lời khẳng định day
tự hào: "Trời xanh đây là của chúng ta, Núi rừng đây là của chúng ta” (Nguyễn Đình ThÙ,

"Của ta trời đất, đêm ngày, Núi kia, đổi nọ, sông này của ta", "Mây của ta, trời thấm của

ta” (T6 Hitu).
26

,

b. Thơ hướng vào thể hiện hình ảnh quần chủng nhân dân qua hình tượng cái "tơi"

trữ tình quần chúng và các nhân vật trữ tình. Cách mạng khơng chỉ giải phóng cho đơng

đảo quần chúng nhân dân mà phải dựa hẳn vào lực lượng quần chúng, phát huy sức mạnh vĩ đại
và tiêm năng cách mạng của quần chúng để thực hiện được những sự nghiệp lớn lao. Trong
thơ kháng chiến, hình ảnh con người quân chúng đã xuất hiện ngay từ buổi đầu và ngày
càng đông đảo, đa dạng, chân thực, làm biến đổi hẳn các đạng thức của cái “rôi” trữ tình và
nhân vật trữ tình.
Một trong những thành tựu quan trọng nhất của Thơ Mới 1932 ~ 1945 là việc sáng tạo
hình tượng cái "zơ/” trữ tình cá nhân, đại diện và người phát ngôn đầy đủ cho ý thức cá

nhân, và con người cá nhân — cá thể của thời dại. Đến thơ kháng chiến, để thể hiện trực tiếp

con người quần chúng, các nhà thơ đã sáng tạo hình tượng cái "rơi" trữ tình quần chúng và
đó là dạng thức phổ biến và tiêu biểu nhất của cái “tơi” trữ tình trong thơ thời kì này. Với
các cây bút từ trong phong trào quần chúng thì lẽ tự nhiên tiếng nói trữ tình của họ đã là sự
tự biểu hiện của quần chúng được chọn lọc và nâng cao. Cịn với các nhà thơ chun
nghiệp, để nói được tiếng nói, tâm tình, ý nghĩ của quần chúng, nhiều người đã tìm đến
phương thức trữ tình "shập với” quần chúng. Đồ là cách mà Tố Hữu đã sử dụng rất thành
công trong Phá đường, Bằm ơi, Hồng Nguyên trong Nhớ, Hồng Trung Thơng trong Bài ca
vỡ đất. Cũng có những trường hợp mà chủ yếu là ở chặng đầu của thơ kháng chiến, cái “!ôi”

tác giả vẫn xuất hiện trong bài thơ, nhưng chỉ như một đường viên hay cái nên để làm nổi bật

hình ảnh quần chúng ở trung tâm chú ý của bài thơ (Cá nước, Lên Tây Bắc của Tố Hữu, Lên
Cẩm Sơn của Thôi Hữu, Người đàn bà Ninh Thuận của Tế Hanh). Cái "rôi" tác giả ở đây

khơng nhằm tự biểu hiện mình mà chủ yếu là để hướng tới nhân vật quần chúng, biểu hiện
lòng yêu mến, cảm phục hay ngợi ca những con người ấy.

Nhan vat quần chúng trong thơ kháng chiến là một thế giới nhân vật phong phú, thuộc

nhiều tầng lớp, lứa tuổi, địa phương, dân tộc với nhiều nét phẩm chất, vẻ đẹp, được thể hiện

trong nhiều tình huống, hoàn cảnh. Nhưng tiêu biểu và nổi bật nhất là hình ảnh những

người mẹ, người phụ nữ và anh bộ đội Vệ quốc quân.
Nhân vật trữ tình quần chúng được
chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày và
và trong suy nghĩ, tình cắm. Thơ kháng
vai trị và sức mạnh của tầng lớp, thế hệ

hiện ra ở cuộc đời thực của họ, trong lao động và
trong đời sống tập thể, trong hành động, việc làm
chiến chú ý thể hiện nhận thức chính trị, ý thức về
mình ở các nhân vật quần chúng. Khơng ít bài thơ
được mở đầu bảng cách tự xưng danh, tự giới thiệu của nhân vật quần chúng với lịng tự

hào, tự tin mà trước kia chưa thể có:

Em là con gái Bắc Giang
Rết thì mặc rét nước làng em lo

(Phá đường - Tố Hữu)

ø
27


Từ sự thay đổi trong quan niệm thẩm mĩ đã đưa đến sự biến đổi mạnh mẽ về chất liệu

Chúng ta đoàn áo vải

thi ca. Thơ Mới 1932 - 1945 cũng đã từng tạo nên một hệ thống thí liệu mới so với thơ


Sống cuộc đời rừng núi bấy nay
(Bài ca vỡ đất - Hồng Trung Thơng)

Lũ chúng tơi

:

bọn người tứ xứ

truyền thống. Thoát khỏi những quy phạm, ước lệ quen thuộc trong kho thi liệu, văn liệu
của thơ văn cổ Trung Hoa, Thơ Mới giải phóng tình cảm, cảm xúc, đưa các trạng thái phức
tạp, tỉnh vi hoặc mơ hồ của nội cảm thành chất liệu quan trọng bậc nhất của thơ ca. Nhưng

Gặp nhau hồi chưa biết chữ

chất liệu ấy đã không đủ cho thơ để diễn tả đời sống cách mạng và kháng chiến với những
biến động đữ dội của xã hội và các quan hệ phong phú, những tình cảm rộng mở hướng ra

Quen nhau từ buổi một, hai

bên ngoài của con người kháng chiến. Thơ kháng chiến đã tìm đến những chất liệu giàu

(Nhớ - Hồng Ngun)
Khơng xa rời bản chất trữ tình của thể loại, thơ đặc biệt chú trọng biểu hiện vẻ đẹp tâm
hồn, tình cảm, các mối quan hệ giàu nghĩa tình của con người quần chúng như: tình quê
hương, nghĩa đồng bào, tình đồng chí đồng đội, tình qn dân... Con người kháng chiến
được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội là chủ yếu chứ không phải trong các quan hệ
riêng tư, gia đình. Nếu có nói đến những quan hệ và tình cảm này thì cũng là để làm cụ thể
hóa và sâu sắc thêm cho những tình cảm xã hội, quan hệ cộng đồng. Không gian, môi

trường để con người hiện diện và tự bộc lộ thường phải là không gian rộng lớn của quê
hương, đất nước, của những nẻo đường kháng chiến, của núi rừng và chiến khu, những không
gian công cộng.
c. Thơ kháng chiến đã tạo nên sự thay đổi về quan niệm thẩm mĩ và chất liệu thi ca.

Cách mạng và kháng chiến đưa thơ trở về với hiện thực đổi sống của đất nước và nhân
đân, giúp các nhà thơ tìm thấy chất thơ trong cuộc sống hàng ngày, trong sinh hoạt, lao
động và đấu tranh của quần chúng. Nhà thơ của thời đại mới trước hết cũng là một công
dân, một cán bộ, hay chiến sĩ, sống với cuộc đời thực, với mọi gian khổ, buồn vui, lo lắng,

tính hiện thực trong đời sống hàng ngày của các tầng lớp nhân dân, và cùng với điều đó cịn
có những sự kiện chính trị, quân sự, những câu chuyện cẩm động, những tấm gương cao
đẹp trong cuộc chiến đấu. Hầu như bài thơ nào cũng được đan dệt nên bằng những chỉ tiết,
hình ảnh, sự việc của đời sống hiện thực, vì thế, trong thơ kháng chiến có sự gia tăng đáng

kể của chất tự sự các thành phần miêu tả, kể chuyện xuất hiện khá phổ biến ở những mức
độ khác nhau. Lối thơ kể chuyện được sử dụng khá rộng rãi, kể cả trong những bài thơ ngắn
và nhất là ở những bài thơ dài gần với truyện thơ hay trường ca. Có thể kể những ví dụ quen
_ thuộc: Kể chuyện Vũ Lăng (Anh Tho), Người đàn bà Ninh Thuận (Tế Hanh), Từ đêm 19
Khương Hữu Dụng).
d.

Về hình thức thể loại, thd kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn gốc

dân gian, dân tộc, đồng thời phát triển thể thơ tự do và lối thở hợp thể

Theo hướng dân tộc và đại chúng, thơ đã tìm vẻ với các thể thơ quen thuộc của dân
gian và đân tộc, như lục bát, bốn tiếng, năm tiếng. Lục bát trong giai đoạn này nghiêng về

phía ca dao hơn là kế tục truyền thống lục bát cổ điển hay Thơ Mới. Tố Hữu là nhà thơ vận

đụng thành thục thể lục bat ca dao (Bdm oi, Ba Bu, Phá đường), đạt đến đỉnh cao là bài Việt

hi vọng của con người kháng chiến, cùng với đông đảo mọi người. Đời sống như vậy đã tác
động và làm biến đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ. Khi Tố Hữu

Bắc. trong đó chất đân gian đã kết hợp với chất cổ điển. Phong vị ca dao không chỉ bộc lộ ở

cảm nhận được cái thi vị đậm đà trong cuộc gặp gỡ tình cờ của người cán bộ với anh Vệ
quốc quân trên đèo Nhe có "Bóng tre trầm mát rượi”, khi Chính Hữu nói lên một cách thấm
thía cái đẹp của tình đồng đội qua sự sẻ chia những gian lao, thiếu thốn rất thực: “Áo anh

dựng hình ảnh. Cịn Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Lưu Trọng Luư thì khai thác thể hát giặm
Nghệ Tĩnh trong những bài thơ tiêu biểu của mỗi người.

rách vai, Quần tơi có vài mảnh vá...”, thì chính là các nhà thơ đã tìm thấy chất thơ trong cái
bình đị, hàng ngày, gần gũi của đời sống kháng chiến, của con người quần chúng. Phương
châm dân tộc, hiện thực và nhân đân của nền văn nghệ càng thúc đẩy hướng đi này trong
thơ. Nếu như ở một số bài thơ trong thời kì đầu kháng chiến, các nhà thơ cịn chú trọng khai
thác chất thơ trong những cái khác thường, phi thường theo cảm hứng lãng mạn, thì hầu như
phương hướng lầm kiếm và phát hiện cái đẹp và chất thơ trong phần lớn thơ ca kháng chiến
lại là trong cái bình thường, giản dị, tự nhiên của đời sống kháng chiến. Thơ kháng chiến đã
đưa đến sự đổi thay quan trọng về quan niệm thẩm mĩ, về cái đẹp trong thơ.

28

thể thơ, mà còn hiện ra trong những lối so sánh, ví von, những cách diễn đạt và cách xây

Tho tự do đã được thể nghiệm trong phong trào Thơ Mới, nhưng cồn ít và chưa có mấy
bài thành cơng thực sự. Đến thơ kháng chiến, thể thơ tự do đã xuất hiện khá phổ biến và có
nhiều thành cơng, làm cho thể thơ này trở nên quen thuộc với quần chúng. Khơng kể những

trường hợp như thơ Nguyễn Đình Thi ở giai đoạn đầu và thơ Chính Hữu đã sử dụng thể thơ
tự do một cách rộng rãi, thì phổ biến ở nhiều tác giả là cách sử dụng xen kẽ những đoạn thơ
tự do với những đoạn thơ cách luật (thường là thơ lục bát), tạo nên những bài thơ hợp thể,
và cách này hầu như chỉ thấy trong thơ kháng chiến, đến các giai đoạn sau ít thấy.
e. Cùng với sự biến đổi căn bản về nội dung tư tưởng, cảm xúc thì ngơn ngữ thơ kháng

chiến tất yếu cũng có những biến đổi mạnh mẽ so với ngơn ngữ thơ thời kì trước cách
29


mạng: Xu hướng chung là đưa ngôn ngữ thơ phát triển về phía hiện thực đời sống, trước hết
là đời sống lao động, đấu tranh của quân chúng nhân dân, về gần với tiếng nói hàng ngày,
tự nhiên, bình đị, sinh động. Có thể bắt gặp khá phổ biến trong thơ những từ ngữ, cách nói
mang tính khẩu ngữ của quần chúng. Từ những so sánh, theo lối ví von của ca dao: "Mura
phùn uới áo tứ thân, Mua bao nhiêu hạt thương bâm bấy nhiêu" (Tố Hữu), đến những lồi
chất phác, thật thà của người dân quê miền Trung: “Thương anh, nó có ~ cầu anh mạnh,

anh nên thằng Tây bể sọ dữa" (Hỗ Vy), "Độc lập nhớ rể viên chơi ví chắc" (Hồng Nguyên).
Từ địa phương được đưa vào thơ khá rộng rãi và nhiều trường hợp đã góp phần tạo nên chất
liệu hiện thực với sắc thái riêng độc đáo của bài thơ.
Ngoài từ ngữ sinh hoạt, các từ thuộc lĩnh vực chính trị, quân sự cũng có mặt ở khơng
ít bài thơ, điều này phân ánh sự tham gia tích cực và tâm lí hào hứng của quần chúng với
đời sống chính trị, quân sự. Một đặc điểm của ngôn ngữ thơ kháng chiến là việc sử dụng
rộng rãi địa danh. Trong thơ Việt Nam, chưa bao giờ các địa danh của mọi vùng, miền lại
xuất hiện nhiễu và rất phổ biến như ở thơ thời kì này, thạm chí nó đầy đặc trong một bài
hay một câu thơ, vậy mà hầu như khơng có trường hợp nào gây ra sự phản cảm cho người

đọc. Bởi đẳng sau những địa đanh ấy là một vùng đất đai, xứ sở của Tổ quốc, là sự chất
chứa những vẻ đẹp, những đau thương, cả những kỉ niệm và lịng u mến của con người.
Có lẽ Quang Dũng và Tố Hữu là hai tác giả tiêu biểu nhất cho việc sử dụng thành công.

địa danh trong thơ,

2.

Thơ trong mười năm hịa bình sau cuộc kháng chiến chống Pháp
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hịa bình lập lại, miền Bắc được giải

phóng đơng thời nhân dân cả nước ta phải tiến hành cuộc đấu tranh giành thống nhất Tổ
quốc. Thơ trong khoảng mười năm, từ 1955 đến 1964, đã có bước phát triển mới, phong
phú, đa dạng và vững chắc, trên cơ sở những thành tựu và phương hướng mà thơ ca kháng
chiến trước đó đã đạt được.
2.1. Nhìn chung về sự phát triển và thành tựu của thơ 1955 — 1964
‘ Trong những năm đầu hòa bình, thơ: ca tập
iến thất
"Bên (

trung thể hiện niềm vụi và niềm tự hào lớn
lên những kỉ niệm còn tươi nguyên về

c giả đã sáng tác những bài thơ có tính khái qt rộng lớn hơn để nhìn
lại và suy ngẫm về cách mạng và kháng chiến, về những chặng đường vừa đi qua của lịch sử
dân tộ ở. Tố Hữu sau T4 đi tới và Việt Bắc viết năm 1954, lại tiếp tục hướng ấy với Xa... nay,

Quang vinh Tổ quốc chúng ta (1955), Nguyễn Đình Thị hồn thành bài Đất nước, Trần Dân có
bài thơ dài Cách mạng tháng Tám, Văn Cao viết một trường ca quy mô về Hải Phòng qua
những biến thiên của lịch sử và xã hội ~ Những người trên cửa biển (1956).

30

Công cuộc khôi phục lại đất nước sau chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới đã mở ra

những đề tài và nguồn cảm hứng mới cho thơ: Cảm hứng về sự hồE-sinh-của-đất-nước- gan
liên với cảm hứng về lao động xây dựng, với
u hao của con người lao
động làm chủ. Từ giữa năm 1958; theo chủ: trương của Đảng, văn nghệ sĩ lại được tạo diéu
kiện để thâm nhập thực tế, đến với cuộc sống lao động và đấu tranh của nhân dân, nhất là ở
những nơi mũi nhọn, tiêu biểu cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miễn Bắc. Huy Cận

về với những người thợ mỏ ở Quảng Ninh và đã tìm được một nguồn mạch mới đơi đào cho
thơ mình, ơng đã cho in liên tiếp các tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng (1959), Đất nở hoa
(1960), Bài thơ cuộc đời (1963). Xuân Diệu sau khi đã giải quyết được sự hòa hợp riêng

chung (t4p thơ Riêng chung — 1960) thì hãng hái cổ vũ và thể nghiệm phương hướng mở

- rộng cánh cửa cho cuộc sống lao động vào
thơ và địa danh được ghỉ lại trong các tập
ông, ta cũng thấy Xuân Diệu hãng say và
phương, đưa vào thơ mình khơng chỉ có về

thơ, để thơ đi vào cuộc sống. Chỉ qua tên các
Một khối hông (1964), Hai đợt sóng (1967)
khơng mệt mỏi đến với rất nhiều vùng nhiều
đẹp của thiên nhiên đất nước mà còn cả hình

những người lao động và cơng việc lao động với nhiều gian lao, vất vả, nặng nhọc.

bài
của
địa
ảnh


Đến với vùng mỏ Quảng Ninh, Huy Cận còn gặp được biển và những người lao động

trên biển, một dé tai dé bất nhạy với cảm hứng vũ trụ và xúc cảm về không gian vốn rất
quen thuộc trong thơ ông. Các bài Mưa xuân trên biển, Đoàn thuyên đánh cá vẫn được xem
là những bài thơ chứng tô hồn thơ Huy Cận đạt được độ chín trong chặng đường mới của
thơ mình, tìm được sự hài hịa giữa thiên nhiên, vũ trụ với con người và xã hội.

Trong các tap Dat nd hoa, Bài thơ cuộc đời, Huy
thiên nhiên và lao động với những hình ảnh quen thuộc
với những cơng việc lao động bình thường của Những
hát của tâm chàng thợ mộc, bay câm xúc khoan khối

buổi cày trở về với xóm nhỏ...

Cận tiếp tục khai thác cảm hứng về
của sông nước, đồng bãi, làng xóm,
bạn chài hạ thuyên xuống hước, Bài
nhẹ nhang của người nơng dân xong

Với Hồng Trung Thơng, chất thơ khỏe khoán ở nhà thơ này vốn đã gắn bó chặt chế

với những con người lao động và chiến đấu ngay từ khổi đầu con đường thơ, thì nay trong
các tập thơ Đường chúng !a di, Những cánh buẩm, hình ảnh cuộc sống lao động và con
người lao động vẫn tiếp tục ở vị trí trung tâm trong thế giới thơ của ông, nhưng đã được mở
rộng và làm cho phong phú thêm với nhiều hình ảnh và cảm xúc vừa cụ thể, hiện thực, vừa
thêm chất mơ mộng, suy tưởng.

CThế hiện sự hồi sinh của đất nước, khẳng định cuộc sống mới và lí tưởng xã hội chủ

nghĩa, thơ cồn dé cập và giải đáp một vấn dé trọng yếu trong đời sống tư tưởng tính thần


Của xã hội đường thời, vấn để mối quan hệ riểng~ chung; con đường từ cái riêng đi đến hòa

hập

với cái chung. Nếu như trước đó, trong thời kì kháng chiến chống Pháp, vấn để cái

tiếng hầu như không được đặt ra, bởi vì con người cá nhân hịa tan trong Cộng đồng, hiện

31


điện trong tập thể, thì nay trong đời sống hịa bình, cuộc sống riêng cần và có thể trở lại như
một nhu cầu tất yếu của mỗi người. Nhưng xây dựng chủ nghĩa xã hội lại đòi hỏi phải giải
quyết mối quan hệ riêng chung, cá nhân và tập thể, mỗi người và mọi người. Trong thơ, vấn
để ấy đã được nhiều nhà thơ để cập như một chủ để quan trọng, bức thiết, chỉ phối mọi
quan hệ xã hội và tình cảm, cảm xúc của con người. Các nhà thơ từ phong trào Thơ Mới đến

với thơ cách mạng đã giải đáp vấn đề riêng — chung bằng những trải nghiệm qua chính con

đường đi của cuộc đời và thơ mình, con đường "Từ chân trời của một người đến chân trot
của mọi người" (Paul Éluard). Xuân Diệu đặt cho một tập thơ quan trọng, đánh dấu bước
ngoặt phát triển của tho minh, cái tên Riéng chung (1960). Trong tập thơ, qua những kỉ
niệm thấm thiết của lịng mình, Xn Diệu thể hiện sự gắn bó, lịng biết ơn với đất nước và
cách mạng, cảm nhận được sự đổi thay lớn lao trong tình cảm, cảm xúc của mình do cách
mạng đem lại, để dứt khoát hơn với những ám ảnh của quá khứ, để càng gắn bó tâm hồn
mình với đất nước, nhân dân và cuộc sống hiện tại. Qua hình ảnh giọt lệ mà nhận ra sự đổi
thay sâu sắc trong tâm hồn, cách sống, điệu cảm xúc của mình: “Xưa lệ sa ta ốn hận đất
trời", "Trái đất ba phần tư nước mắt, Di như giọt lệ giữa khơng trung”, cồn nay thì "Giọt
nước mắt ta chan chứa tình người (Lệ).

Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) của Chế Lan Viên tập trung thể hiện hành tình tu
tưởng và tâm hồn của một nghệ sĩ, một hén tho “ny thung liing dau thuong ra cdnh dong
vui” như chính lời của tác giả. Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã lạc quá xa
vào cõi thân bí và siêu hình, nên con đường trở về với cuộc sống thực trên mặt đất, với đất
nước và nhân dân của nhà thơ này là một con đường đài phải qua nhiều trăn trở, day dứt, tự
phủ định để vượt lên mình, như Chế Lan Viên tự nhận thấy: “Đi xa về hóa chậm, Biết bao
tà nhiêu khé”. Ánh sảng và phù sa thể hiện trung thực cuộc đấu tranh nội tâm thẩm lặng mà

quyết liệt để vượt lên và chiến thắng nỗi cô đơn, buôn thương, những tư tưởng siêu hình về

bản thể, những ý nghĩa bị quan trước bệnh tật. Trong cuộc đấu tranh này, nhà thơ đã giành
được chiến thắng, không chỉ bởi nghị lực và ý chí của mình, mà cịn vì đã tìm được điểm
tựa cho niềm tin và sức mạnh, cũng đông thời là cái đích hướng tới của thơ mình, đó là ánh
sáng của lí tưởng cách mạng và phù sa của đời sống nhân dân. “Ảnh sáng rọi soi tôi và phà
sa bồi đắp tôi. Ảnh sáng tỉnh thần và phù sa vật chất của lí trưởng tơi" (Chế Lan Viên ~ Loi
chú thích cho tựa đê của tập tho).
Vấn để riêng — chung cũng là một chủ để quan trọng trong tập thơ Gió lộng (1961)
của Tố Hữu. Đối với nhà thơ cách mạng này, ngay từ buổi đầu của con đường thơ và con
đường cách mạng, vấn để riêng — chung đã được giải đáp một cách rất rõ ràng: “Tơi buộc
lịng tơi với mọi người... Tơi đã là con của vạn nhà..." (Từ ấy). Đến tập Gió lộng, Tố Hữu
nhìn nhận sự thống nhất riêng chung như là lẽ sống của con người cách mạng, hơn thế
nữa còn là quy luật tất yếu của sự sống, của đời sống nhân gian (Tiếng ru). Nhà thơ cũng

32

thể biện cụ thể sự thống nhất riêng chung qua những kỉ niệm, những trải nghiệm trong

cuộc đời cách mạng của mình (Me Tơin), hay trong cách cảm nhận về cuộc sống mới hôm
nay (Bài ca mùa xuân 1961).


Một đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà thơ và đã tạo được nhiều bài thơ đặc
sắc trong thơ giai đoạn này, tác động sâu xa đến tình cảm và tư tưởng của đơng đảo nhân
dan, do là tì
ién Nam va | khát vọng thống nhất đất nước. Tình cảm quê hương,
đất nước vẫn là nguồn
mạch đổi đào tạo cảm hứng cho thơ ca Việt Nam ở nhiều thời đại,
mà gần nhất là thơ kháng chiến chống Pháp. Từ cuối năm 1954, đất nước tạm thời bị chia
cắt, tình cảm dân tộc đặt trước cảnh ngộ ngang trái ấy, được đồn vào nỗi nhớ thương hướng
về miền Nam của Tổ quốc và bật lên thành ý chí, khát vọng, niễm tin vào cuộc đấu tranh
cho thống nhất đất nước.
Trong những năm đầu, khi đất nước mới bị chia cất, thơ thường tái hiện hình ảnh quê
hương miễn Nam và những con người ở nơi đó, qua những kỉ niệm của tuổi thơ hay trong
kháng chiến chống Pháp. Các nhà thơ quê ở phía Nam vĩ tuyến 17 (Tố Hữu, Xuân Diệu, Tế
Hanh, Hoàng Tố Nguyên, Ca Lê Hiến...) và những người từng gắn bó với miền Nam trong
cuộc kháng chiến (Nguyễn Bính) có thuận lợi và đễ thành cơng trong hướng khai thác này.
Tố Hữu nhớ về quê hương xứ Huế trong những kÍ niệm tuổi thơ với nét buồn hiu hắt thấm
cả vào trong khơng gian mây gió: "Máy núi hìu hìu, chiều lặng lặng, Mi¿a nguồn gió biển,
nắng xa khơi" (Quê mẹ). Xuân Diện nhớ một vườn xoài tuổi nhỏ và nhớ nhất là con sơng

nhỏ Gị Bồi quê má đầy nắng gió phương Nam (Nhớ quê Nam). Cịn Tế Hanh thì vẫn được

gọi là nhà thơ của quê hương miền Nam, nhà thơ của đấu tranh thống nhất, với một loạt tập
thơ tập trung vào chủ để này: Lòng miền Nam (1956), Gửi miễn Bắc (1958), Tiếng sóng
(1960), Hai nữa yêu thương (1962). TE Hanh viét vé con sơng q hương đã gắn bó với ki

niệm tuổi thơ, về em Ái, chị Duyên và bao nhiêu con người lao động bình đị ở một vùng

quê ven biển miễn Nam trong thời kì kháng chiến, hay về Cái giống đầu làng, nhận ra đắng

hình quê hương qua gương mặt của người thương (Mặt quê hương)... Nhà thơ điễn t rất


đúng tâm trạng khác khoải "ngày Bắc đêm Nam" của những người con miền Nam tập kết

trên đất Bắc (Chiêm bao). Cịn Nguyễn Bính Gửi người vợ miền Nam nỗi nhớ thương đa
điết mà hằng đêm rực cháy lên trong lịng với bầu trời sao: “Trời cịn có bữa sao quên mọc,

Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em" (Đâm sao sáng). Con sông Bến Hải với cầu Hiền Lương

và bãi biển Cửa Tùng, một vùng đất
nước thành hai miền Nam Bắc một
trong thơ hồi này. Đứng trên bờ Bắc
ra biển rộng, càng thấm thía cái phi
từng thân thuộc với mình ở bên kia
lịng Lưu Trọng Lư:
3 VHVN Tạp It

hiển hòa và đẹp, bị biến thành giới tuyến ngăn cách đất
thời, cũng đã trở thành đề tài được nói đến khơng ít lần
con sơng ấy, phóng tầm mắt nhìn về phương nam, nhìn
lí của sự chia cắt đất nước, nỗi nhớ về những nơi chốn
giới tuyến đã trở thành niềm đau xót, uất nghẹn trong

atý
33


Ở phân trên, khi tìm hiểu sự phát triển của thơ giai đoạn 1955 — 1964, chúng ta đã nói
đến sự mở rộng các đề tài, chủ đề và cảm hứng trong thơ, bám sát và đáp ứng những như
cầu đã trở nên đa dang và cao hơn trước trong đời sống tỉnh thần, tình cẩm của con người ở
thời kì sau chiến tranh và bước vào xây dựng cuộc sống mới.


Trời trong hay trời động

Con chỉm con cá cũng thẳng cánh thẳng vi

Sao đến chỗni

`

Trước mắt tơi như có hào sâu ngăn lại

Cùng với cảm hứng về cuộc sống mới, về sự hồi sinh của đất nước, về miền Nam và
ếu là về cuộc kháng

Đất Việt Nam, người Việt Nam khơng bước tới

Mắt mãi nhìn mịn hết nửa con ngươi

ch mạng đượẽ trân

Thân đứng đây, thân chết nửa con người
Lời tơi nói lời tơi nghe, đứt đoạn.

(Sóng vỗ cửa Tùng)
Cũng khai thác để tài ấy, Hồng Trung Thơng có Cửa Tùng, Trình Đường viết 726, cịn
Tế Hanh thì Nói chuyện với con sơng Hiển Lương.



Với tấm lịng tha thiết hướng về miền Nam, các nhà thơ đã kịp thời ghí lại trong thơ

hình ảnh q hương và con người miễn Nam trong những đau thương dưới sự khủng bố, đàn
áp của kẻ thù và cuộc đấu tranh anh đũng của nhân đân miễn Ñam cho quyền sống, cho tự

đo và thống nhất Tổ quốc.
Các nhà thơ Thanh Hải, Giang Nam là những cán bộ cách mạng ở lại hoạt động trong
vùng chính quyền Sài Gịn kiểm sốt, đã ghí lại những hình ảnh đau thương, sự hi sinh anh
dũng của những người cách mạng và đồng bào miễn Năm, đồng thời thể hiện niềm tin vào

cuộc đấu tranh và tấm lòng của nhân dân hướng về cách mạng, hướng về miễn Bác (Mô anh
hoa nd, Cháu nhớ Bác Hồ của Thanh Hải, Lá thư thành phố, Quê hương của Giang Nam).
Đặc biệt, năm 1958 chị Trần Thị Lí - Người con gái anh hùng ở Quảng Nam bị kẻ thù tra

tấn tần bạo với mấy chục vết thương trên mình, được bí mật đưa ra miễn Bắc đã làm đấy lên
trong nhân đân miền Bắc và cá nước những tình cảm xúc động mạnh mẽ đành cho chị và cả
miễn Nam. Tố Hữu gọi Trần Thị Lí là Người con gái Việt Nam, "người con gái anh hàng”,
Trần Nguyên thấy Em là tất cả quê hương.
Dòng thơ về đấu tranh thống nhất đã tiếp nối và khơi sâu nguồn mạch tình cảm dân tộc
vốn là một truyền thống lớn của thơ ca Việt Nam, của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

trước đó. Thơ đã góp phần khắc sâu trong nhận thức và tình cảm của mỗi người Việt Nam
một chân lí lớn: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một và thống nhất Tổ quốc là
khát vọng sâu xa, cháy bỏng của cả dân tộc. Mạch tình cảm ấy sẽ được kế tục và phát triển
cao rộng hơn nữa trong thơ thời kì cả nước kháng chiến chống Mĩ.

2.2. Những đặc điểm
a. Sự mở rộng các để tài, chủ đề và cảm hứng trong thơ đi liền với sự phát triển theo
hướng đa đạng và thống nhất của cái "0ơ" trữ tình.

34


“ong như những giá
gi trị tỉnh thần quý báu, những kỉ niệm đầy ân tình và cịn là ánh sáng
tiếp tục rọi chiếu con đường đi tới. Đó là cách cẩm nhận rất thống nhất của các nhà thơ
cũng như của toàn xã hội lúc ấy. Chế Lan Viên viết:

Ôi kháng chiến mười viãm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau cịn đủ sức soi đường
:

(Tiếng hát con tàu)

Còn Tố Hữu viết bài thơ diễn ca lịch sử Ba muươi năm đời ta có Đảng với cảm hứng ôn
lại quá khứ cách mạng để thể hiện lòng biết ơn với Đảng và khẳng định con đường cách
mạng tiếp tục đi tới. Đối sánh quá khứ lịch sử đau thương với hiện tại tươi sáng là cách suy
nghĩ và xây dựng tứ thơ khá quen thuộc trong nhiều bài thơ của nhiều tác giả: Hai hình
người gỗ, Các vị La Hán chùa Tây Phương và nhiều bài thơ khác của Huy Can, Lai vé tinh
nhỏ của Yến Lan, Ba mươi năm đời ta có Đảng và Bài ca mùa xuân 1961 của Tố Hữu, Lệ

của Xuân Diệu... Cách cảm nhận về quá khứ lịch sử như trên tuy có ý nghĩa tích cực, nhưng
khơng tránh khỏi sự phiến điện một chiều và nhiều khí rơi vào cơng thức.
Cái "/ơi”-trữ tình trong thơ giai đoạn này, so với thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

đã có sự mở rộng và phát triển đáng kể, mang tinh da đạng và thống nhất mà nền tầng từ
tưởng của nó là sự thống nhất riêng ~ chung. Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của
sự mở rộng và phát triển ấy là sự hiện điện trở lại của cái "tôi" riêng tư, trong dạng thức
chủ thể tác giả hay nhân vật trữ tình mang bản sắc cá nhân và tình cảm riêng tư. Trong
thơ kháng chiến chống Pháp nổi bật lên là cái “/ói” quần chúng, nói tiếng nói chung của
giai cấp, tầng lớp, của đại chúng. Cái."rôi" trữ tình tác giả hoặc là hịa tan vào cái chung
bằng cách nhập vai nhân vật quần chúng, hoặc nếu có hiện điện thì cũng là để nói về


người khác, hướng về đại chúng, chứ khơng phải nhằm nói về mình. Trong thơ từ sau

1954, cái “tôi” riêng của tác giả đã dan
hướng nội đã tăng lên. Vẫn chủ yếu để
chung, như khẳng định cuộc sống mới,
quốc, nhưng trong nhiều trường hợp, các

xuất hiện trở lại và cùng với nó, xu thế trữ tình
cập đến những vấn đề và tình cảm mang ý nghĩa
tình cảm với miễn Nam và ý chí thống nhất Tổ
tác giả đã tiếp cận và cảm nhận những cái chung
ấy từ những cách nhìn, sự trải nghiệm hay kỉ niệm, ấn tượng riêng của mình, gắn với cái

35


"‡2¡” của chủ thể trữ tình. Những tình cảm chung, chân lí chung của đời sống nhờ thế mà

có thêm sức thuyết phục, cảm hóa mọi người.

Viết về tình cảm với miền Nam, nhiều nhà thơ đã đem vào đó một phần cái “tơi” riêng

của mình với những kỉ niệm tuổi thơ, những ấn tượng riêng về quê hương, gia đình, nỗi nhớ

thương với những người thân cịn ở bên kia giới tuyến. Còn Chế Lan Viên nhớ đến Gốc
nhấn cao trong vườn mẹ để mong mơi có một ngày “Chắp đường Nam Bắc con thẪm mẹ,
Hi một chìm ngọn dâng mẹ ăn”.
Trong hồn cảnh hịa bình, cuộc sống bình thường trở lại bên cạnh những cái chung,
vọng
cái phần xã hội, con người còn được trở về với cái riêng, nảy sinh những nhu cầu, khát

trở
mặt

đã

của cá nhân, đó cũng là điều hồn tồn chính đáng. Bởi thế, cái “rơi” riêng
lại trong thơ, mà trước hết là ở những để tài về tình yêu và hạnh phúc, tình gia đình, nỗi
buồn và niềm vui mnang tính cá nhân. Trong thơ kháng chiến chống Pháp, thơ tình đích thực
hầu như vắng bóng. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi trong hồn cảnh chiến tranh và khi con
người cá nhân đã hòa tan trong cộng đồng thì biển nhiên khơng có mảnh đất cho thơ tình
nây nở, bởi vì thơ tình thực sự phải là tiếng nói trực tiếp của cái "rơi" riêng tư cá thể, tự ý
thức
cập
viết
một

sâu sắc về nhu cầu, khát vọng hạnh phúc. Trong thơ kháng chiến, tình yêu chỉ được để
khi nó lầm sâu sắc thêm cho tình cảm với đất nước và tính thần chiến đấu (Nhớ, Bài thơ
cạnh đơn Tây của Nguyễn Đình Thi). Sau 1954, tình u lứa đơi đã dân trở lại thành
thì để quen thuộc và không thể thiếu trong thơ, đáp ứng một nhù cầu thiết yếu của công

chúng, đặc biệt là tuổi trẻ. Xuân Diệu, từng được coi là thị sĩ của tình yêu và tuổi trẻ, nay

thể khai thác mọi tâm trạng và cung bậc của tình u lứa đơi trong thơ mình, nó trở
một mảng thơ khơng thể thiếu trong các tập thơ của ông kể từ Riêng chúng (1960) trở,
Hanh rất thành công trong đề tài về miền Nam và đấu tranh thống nhất đất nước,
cũng còn viết rất hay vẻ tình yêu trong xa cách nhớ thương (Vườn xưa, Bài thơ tình
Hàng Châu, Cơn bão). Cay bút nữ rất trẻ Xuân Quỳnh mới bước vào làng thơ đầu
những năm 60 đã tự khẳng định và được chú ý bởi một tiếng nói mạnh bạo tự nhiên và nồng


lại có
thành
di. Té
nhưng
viết ở

nàn trong tình u (Chdi biếc, Thuyền và biển).

Cái “tôi” riêng tư xuất hiện trở lại trong thơ, nhưng không phải là cái “ôi” cá nhân — cá
thể của Thơ Mới khơng tìm được mối liên hệ với xã hội và những người khác, nên luôn cảm
thấy bơ vơ, cô đơn giữa cõi đời và trong vũ trụ: “Một chiếc linh hôn nhỏ, Mang mang thiên
cổ sâu" (Huy Cận), "Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bể” QXuân Diệu). Cái "/ôi" riêng tư trong
thơ sau 1954 luôn được đặt trong mối quan hệ thống nhất với xã hội, với đời sống chưng
của đất nước, nhân dân, dù mối quan hệ này có được thể hiện trực tiếp hay khơng thì nó vẫn
:
nằm sâu trong ý thức của nhà thơ.
Bên cạnh sự xuất hiện trở lại của cái “rôi" riêng tư, thơ trong giai đoạn. này còn hướng

dân
tới sáng tạo hình tượng cái “ơi” trữ tình trong đạng khái qt, đại điện cho cộng đồng

tộc, đất nước, cách mạng, cái “rối” sử thị. Cái “tôi” trong đạng thức này thường xuất hiện ở

36

những bài thơ có tính khái qt, tổng hợp về đất nước hay một chặng đường lịch sử của đân
tộc, của cách mạng như: Cách mạng tháng Tám của Trân Dân, Quang vinh Tổ quốc chúng
ta, Bài ca mùa xuân 1961 của Tố Hữu, Ở dau, ở đâu? Ở đất anh hùng của Chế Lan Viên.

Cai "167" sit thi nay 1A sy tiép nối một hướng đã được mở ra trong thơ giai đoạn 1945 —

1954, nhưng được gia tăng sức khái quát và chú trọng khắc họa tư thế, tấm vóc của đất
nước, của cách mạng trong tương quan với thời đại và lịch sử. Tố Hữu tự hào hình dung tu
thế của đất nước:
Chào 61, đỉnh cao mn trượng

Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
Trơng lại ngần xưa, trông tới mai sau

Trông Bắc, trông Nam, trộng cả địa cầu.
(Bài ca nàa xuân 1961)
Cai "tdi" sit thi sẽ được tiếp tục phát triển và thành hình tượng bao trùm trong thơ thời

kì chống Mĩ cứu nước.
b...

`

Những phong cách riêng đã xuất hiện và được khẳng định, làm phong phú và đa

dạng cho tiếng nói chung và diện mạo của nền thơ.
Trong giai đoạn 1945 — 1954, khí đời sống cá nhân, cái "/ơi” riêng phải hịa tan trong
cái chung của cộng đồng, thì tiếng nói riêng, phong cách cá nhân trong nghệ thuật chưa thể
được coi trọng và có diéu kiện phát triển. Sau 1954, cuộc sống hịa bình trở lại và với sự

phát triển của xã hội, con người với tư cách cá nhân, với cuộc sống riêng khơng thể khơng

được tính đến. Tương ứng với điều đó, trong nghệ thuật đã có sự quan tâm trở lại tới phong
cách và cá tính, kinh nghiệm và quan niệm riêng của mỗi người nghệ sĩ, cố nhiên là ở trong
chừng mực nó khơng mâu thuẫn mà phải phù hợp với tư tưởng chung, lợi ích chung của


cách mạng và dân tộc. Trong thơ ở chặng đường này, hiện tượng đáng chú ý nhất về mặt đội
ngũ tác giả là sự tự khẳng định trở lại của nhiều nhà thơ thuộc thế hệ Thơ Mới. Qua mười
năm đến với cách mạng, với nhân đân và trải qua cuộc kháng chiến đầy gian lao, thử thách,
nhiều nhà thơ của thế hệ này đã thực sự đổi mới tư tưởng và cảm xúc, xác định được con
đường nghệ thuật mới và tìm được tiếng nói nghệ thuật của mình, phù hợp với yêu cầu của
thời đại. Họ vốn là những nhà thơ mà tài năng và phong cách đã được khẳng định trong
phong trào Thơ Mới hoặc tuy mới xuất hiện nhưng đã bộc lộ được cá tính nghệ thuật với
nhiều hứa hẹn. Từ sau 1954, những nét đặc trưng ổn định trong phong cách nghệ thuật của
các nhà thơ này đã trở lại như một thuộc tính giá trị, tạo nên cái nhìn và giọng điệu riêng

của mỗi nhà thơ, làm giàu cho nên thơ dân tộc. Người đọc lại có thể nhận ra sức mạnh của

cảm xúc, những cảm giác tỉnh tế tạo nên cách cảm nhận thế giới nghiêng về trựcgiác, trực
cảm của Xuân Diệu; sức mạnh trí tuệ trong những suy tưởng, triết lí tạo nên sức hấp dẫn
của thơ Chế Lan Viên; sự giấn dị, tự nhiên mà không kếm sâu sắc trong tho Té Hanh...
37


* 3.

Cố nhiên, phong cách nghệ thuật không phải là nhất thành bất biến. Chặng đường thơ từ sau

3.1. Thơ với cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc

nét mới, những sự
1954 cũng đã đem lại cho phóng cách nghệ thuật các nhà thơ này những
biến, đối ma nguồn gốc sâu xa là từ sự biến đổi trong tư tưởng và cảm xúc, cùng với sự trải

Ngày 5-8-1964 đế quốc Mĩ cho máy bay bắn phá một số địa điểm ở miễn Bắc và từ


nghiệm đời sống cửa họ. Tố Hữu có một phong cách nghệ thuật nhất quán từ trước tới sau,
” dù nội dung hiện thực đời sống và tình cảm của tác giá có biến đổi qua các chặng đường
: sáng tác. Ở các nhà thơ thuộc thế hệ kháng chiến như Nguyễn Đình Thị, Chính Hữu, Hồng
Trung Thơng, phong cách nghệ thuật của mỗi người cũng được định hình rõ nét. Với một số
cây bút trẻ xuất hiện ở đầu những năm 60 (Xuân Quỳnh, Ca Lê Hiến, Bằng ViệO người ta
cũng nhận ra nét riêng ở họ, hứa hẹn có thể trở thành những phong cách nghệ thuật góp vào

sự đà đạng của nên thơ.
c.

Thơ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ (1965 ~ 1975)

đầu năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quan và hải quân của Mĩ với miền
Bắc ngày càng ác liệt, đồng thời chúngö ạt đổ quân vào miễn Nam. Cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước để giải phóng miễn Nam, bảo vệ miền Bắc kéo dài hơn mười năm với
nhiều giai đoạn và diễn biến phức tạp, với những hi sinh to lớn và thang lợi trọn vẹn, xứng
đáng là một trong những cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giữ nước của
dân tộc ta.

:

.

Nhữ một lẽ tất yếu trong truyền thống văn học của đân tộc, thơ cũng như mọi thể loại

Vé mat nghé thuat, tho giai đoạn này vừa coi trọng việc kế thừa những kinh nghiệm

khác đã trở thành vũ khí tính thần, thành một sức mạnh tham gia vào cuộc chiến đấu, gắn

nghệ thuật của thơ các giai đoạn trước, vừa có những tìm tịi, sáng tạo mới.


bó với vận mệnh cửa đân tộc, nhân dân. Từ chủ đề đấu tranh thống nhất chuyển sang chủ để

“Thơ sau 1954 đã kế tục nhiều đặc điểm nghệ thuật của thơ thời kì kháng chiến chống

kháng chiến chống Mĩ dường như là một sự vận động liên tục, tự nhiên của nền thơ, Giặc

Pháp như tăng cường chất liệu đời sống hiện thực, yếu tố tự sự, đưa thơ về gần với tiếng nói
hàng ngày của đại chúng. Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu phát triển đa dạng và thể hiện sự

Mĩ tấn cơng miền Bắc đã chạm đến tình cẩm sâu xa và thiêng liêng của mỗi người Việt
Nam, làm bừng dậy sức mạnh lớn lao của lịng u nước, tính thần dân tộc, ý chí độc lập, tự

trưởng thành của nên thơ cách mạng, thơ giai đoạn này cịn tìm về và coi trọng việc kế thừa

do. Những tình cảm lớn lao ấy đã trở thành nguồn mạch dồi dào cho cảm hứng thơ ca. Tạm

những sáng tạo nghệ thuật của thơ ca đân tộc từ trước 1945, kể cả thơ cổ điển và Thơ Mới.

rời bỏ một số đề tài và cảm hứng về đời sống thường ngày trong hịa bình hay những vấn đề

Về mặt thể thơ, ngồi những thể có nguồn gốc đân gian và dân tộc, các thể thơ tứ

riêng tư, thơ tập trung vào một hướng lớn là cuộc chiến đấu chống Mĩ của cả dân tộc ở hai

tuyệt, bẩy tiếng, tám tiếng, thơ tự do đã được sử dụng rộng rãi và có nhiều thành công. Thể

miền Nam, Bắc. Nhưng sự thống nhất trong cảm hứng lớn và đề tài bao trùm không làm cho

ˆ bẩy tiếng hình thành từ thơ thất ngơn cổ điển và thể tám tiếng được sáng tạo trên cơ sở thể


nền thơ roi vào tình trạng nghèo nàn, đơn điệu.

hát nói là những thể thơ được sử đụng nhiều và đã ổn định trong Thơ Mới. Trong thơ kháng

Trong mấy năm đầu của cuộc kháng chiến chống MI, thơ thường viết vỆ những cuộc
lên đường, ra đi, những cữðc hia’ hi ›ng niềm tin tưởng. Chính Hữu miêu tả Đường ra

chiến chống Pháp, các thể này được sử dụng một cách hạn chế, thì nay đã xuất hiện trở lại
một cách phổ biến trong thơ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan: Viên, Tế Hanh và

Št

nhiều nhà thơ khác. Trong tập Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, thơ tứ tuyệt chiếm

trận trong khí

ca nude lên đường: Sing | nhỏ, súng to, chiến trường chật chội,

Tiếng cười hăm hở đây sông, đây cầu", Nguyễn Mĩ — một nhà thơ trễ, trước khi lên đường

một số lượng đáng kể và có khơng ít bài đặc sắc, vẫn có được cái hàm súc dư ba của thể thơ
tứ tuyệt cổ điển mà vẫn mang được nét mới mẻ, hiện đại (Gốc nhấn cao, Thư mùa nước lũ,
Hai câu hỏi, Nhớ Việt Bac...).. Tho tu do đã có vị trí chắc chắn trong thơ kháng chiến chống

vào chiến trường đã viết bài Cuộc chia li màu đó nói về cuộc chia li đây tin tưởng với
người ra trận.

Pháp, nay đã trở nên quen thuộc với công chúng qua sáng tác của nhiều nhà thơ thuộc các


Bước vào ‹ cuộc kháng chiế

hống Mi với ý thức công dân và tỉnh thần của người chiến

thế hệ khác nhau. Riêng Chế Lan Viên còn thể nghiệm đưa thơ tự do tiến gần đến thơ văn

sĩ, các nhà thơ đã đưa thơ lên.
lên

„Hơi mỗi nhọn của
cuộe-chiếm
đấu. Chế Lan

xuôi trong một số bài thơ dài (Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi) và Huy Cận cũng đi

Viên đã tự hào vẽ nên vóc dáng và tư thế của nhà thơ trong cuộc chiến đấu của cả dân tộc:

theo hướng ấy ở một số bài thơ giàu chất suy tưởng trong tập Bài thơ cuộc đời.
Bên cạnh việc coi trọng những chất liệu, hình ảnh được khai thác trực tiếp từ hiện thực
đời sống, các nhà thơ đã quan tâm nhiều hơn đến việc sáng tạo những hình ảnh khái quát,
tượng trưng, cả những hình Ảnh kì ảo được sáng tạo bằng trí tưởng tượng phong phú, táo
bạo. Cùng với việc coi trọng vai trồ của quan sát, xúc cảm, tình cảm thì sự khái quát, suy
tưởng liên tưởng, tưởng tượng đã có vị trí đáng kể truag sáng tao thi ca.

38

“Vác nhà thơ đứng ngang tâm chiến lấy, Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngồi đơng và hạ
:

trực thăng rơi" (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?). Cịn Xn Diệu thì nói về sự gắn bó


của nhà thơ với nhân dân và đất nước.
'Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi,

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt hầu


Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu đấu, gian lao.
(Những đêm hành quan)

Để làm một vũ khí chiến đấu, thơ không ngần ngại cất lên thành lời kêu gọi, khẩu hiệu,

mệnh lệnh tiến công: "Giặc Mĩ mày đến đây, thì ta tiêu điệt ngay" (Chế Lan Viên — Sao
chiến thẳng), "Anh chị em ơi! Hãy giương súng lên cao chão xuân 68" (Tố Hữu ~ Xuân 68).
Trong thơ những năm đầu của cuộc chiến tranh thường gặp hình ảnh con đường ra trận,
những cuộc lên đường với khát vọng chiến đấu và niềm tin tưởng. Cuộc chiến tranh càng
lan rộng và quyết liệt, thơ càng bám sát hiện thực chiến tranh, với nhiều hình ảnh cụ thể,
chân thực và sinh động. Các nhà thơ trẻ, nhất là những nhà thơ - người lính, đã đem đến
cho thơ chất sống hiện thực phong phú, tươi nguyên cùng với sự nhạy cảm, trẻ trung trong
tâm hồn của một thế hệ sấn sàng gánh vác sứ mệnh lịch sử trước tiếng gọi của Tổ quốc.
Xuất hiện và được khẳng định trong cuộc thi tho của tuần báo Văn nghệ năm 1968, 1969,
thơ Phạm Tiến Duật đã đem đến cho thơ chống Mĩ hình ảnh trực tiếp của những người lính
lái xe, những cô gái thanh niên xung phong thật trẻ trung, hồn nhiên tỉnh nghịch mà hiện
ngang, đũng cảm trên tuyến đường Trường Sơn. Gần bó với thực tiễn của cuộc chiến tranh,
các nhà thơ lớp trẻ đã đưa vào trong thơ nhiều hình ảnh, chỉ tiết vừa cụ thể, sinh động, vừa
có sức khái quát về cuộc chiến đấu của dân tộc, về nhân dân, đất nước.

WjKhông chỉ bám sắt hiện thực chiến tranh ở những bình ảnh, chỉ tiết cụ thể như đã nói ở


trên, Thơ chống Mĩ còn theo sát cuộc chiến đấu của dân tộc trên những sự kiện lớn, những
vấn để hệ trọng trong đời sống chính trị, tư tưởng).Theo hướng đó, thơ chống Mĩ giàu tính
thời sự và đậm chất chính luận. Khơng chỉ Tố Hữu, Chế Lan Viên chuyển mạnh theo hướng
thơ chính luận thời sự, mà cảm hứng ấy cũng chỉ phối sáng tác của Xuân Diệu, Huy Can,
Tế Hanh, Hoàng Trung Thông và nhiều nhà thơ khác, kể cả những tác giả thuộc lớp trẻ.
Những năm cuối chiến tranh và sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống MI,

theo-hướng lãng cường chất triết
sử thị và chất chính luận
cảm
hứng
thơ tiếp tục khai thác

lí, suy tưởng nhằm hướng tới nhận thức và phát hiện về đất nước, dân tộc, về cuộc chiến đấu
trong chiều sâu và ý nghĩa lịch sử. Nhu cầu này đã thúc đẩy tạo ra những biến đổi về hình
thức thơ, mà rõ nhất là sự xuất biện khá nhiều của những bài thơ dài, những tùy bút thơ và
các trường ca.

Sự phát triển mạnh mẽ của thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ cịn được thể hiện ở

phương điện đội ngũ sáng tác. Chưa bao giờ lực lượng sáng tác thơ lại tập hợp được nhiều
thế hệ va nhiệu phong cách, vừa thống nhất vừa bổ sung cho nhau như thời Kì này. Thế hệ
các nhà thơ xuất hiện từ trước 1945 như Tố Hữu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế
Lan Viên..., vẫn tiếp tục sáng tác khá dồi đào và nhiều người đạt được những đỉnh cao mới,
tạo ra chặng đường mới trên con đường thơ của mìn!', Thế hệ kháng chiến chống Pháp như
40

Chính Hữu, Nguyễn Đình Thí, Hồng Trung Thơng cũng thực sự khởi sắc, tạo được sự
chú ý. Các nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu những năm 60, đặc biệt đơng đảo trong thời kì chiến
tranh chống Mĩ, đã đem đến cho thơ sức sáng tạo mới mẻ, trẻ trung, trong sáng, nhạy cảm,

mà trong đó có khơng ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định: Xuân Quỳnh, Bằng
Việt, Vũ Quân Phương, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa
Điểm, Thanh Thảo... Đội ngũ sáng tác thơ ở vùng giải phóng và các chiến trường miễn
Nam đã đông đảo và vững mạnh lên nhiều. Giang Nam, Thanh Hải vẫn bám trụ ở những
chiến trường quen thuộc của họ; Ca Lê Hiến từ miền Bắc trở về chiến trường Nam Bộ với
bút danh Lê Anh Xuân; từ các đô thị và vùng tạm bị chiếm xuất hiện những tiếng thơ đấu
tranh, thức tỉnh của thế hệ trẻ trong vùng kiểm soát của kẻ thù, như Trần Quang Long,
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao... trong đội ngũ đông đảo hàng vạn thanh niên
cầm súng đi vào các chiến trường tham gia cuộc chiến đấu giải phóng miễn Nam, đã nảy nở

nhiều tài năng thơ như là một nhu cầu tự ý thức và tự biểu hiện của thế hệ trẻ.
Đồng thơ yêu nước và chiến đấu đã chảy suốt liên tục cùng với cuộc kháng chiến
chống Mĩ của cả dân tộc và còn tiếp tục phát triển trong những năm vừa mới kết thúc cuộc
chiến tranh, nó đã hoằn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang của thơ ca đối với đất nước và cách
mạng trong một thời kì đầy thử thách, gian lao.

3.2. Những đặc điểm
Thơ những năm kháng chiến chống Mĩ là một giai đoạn mới trong tiến trình thơ Việt
Nam hiện đại, với diện mạo và đặc điểm riêng, với những thành tựu đặc sắc, kế tục các
chăng đường thơ cách mạng hai mươi năm trước đó, từ sau Cách mạng tháng Tám 1945.
a. _ Thơ kháng chiến chống Mĩ tập trung biểu hiện những tình cẩm và tử tưởng lớn, bao
trùm trong đời sống tỉnh thần của con người thời đại chống Mĩ cứu nước
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ đặt dân tộc ta trước những thứ thách gay
gat, van mệnh của đất nước, tự do và độc lập của dân tộc đứng trước nguy cơ một mất một
còn. Trong những năm tháng ấy, đời sống và số phận của mỗi người tất yếu phải gắn chặt
với vận mệnh của đất nước, với cuộc chiến đấu của dân tộc. Trong hồn cảnh lịch sử và khí
quyển tỉnh thần ấy, thơ khơng thể khơng trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát
ngơn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất .của mọi người, của tồn
dân tộc. Đó là lúc, như cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên: “Những năm đất nước có chưng
tâm hơn, có chung khn mặt. Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau", bởi vậy,

khơng có con đường nào khác cho thơ ngoài con đường “Bay theo đường dân tộc dang bay".
Chủ nghĩa yêu nước là nguồn động lực tính thần lớn nhất của hết thầy mọi người trong
cuộc kháng chiến, cũng là nguồn ân hứng lớn bao trùm và thấm sâu trong mọi tác phẩm

tho ca. Kế tục truyền thống tư tưởng'yêu nước của nền thơ dân tộc, trực tiếp nhất là của thơ
ood

41


4

kháng chiến chống Pháp
chống Mĩ chủ nghĩa yêu
biểu hiện hết sức phong
những tiếng gọi Tổ quốc,

Đất nước đân tộc còn được nhìn nhận trong mối tương quan với nhân loại, với thời
đại, để khẳng định sứ mệnh của đân tộc Việt Nam, vai trò, ý nghĩa của cuộc chiến đấu
chống Mĩ của nhân dân ta. Cuộc chiến đấu của chúng ta còn là "Vi ba ngàn triệu trên đời”,
là tiếng gọi tập hợp, là “người lính đi đâu"... Các nhà thơ đã tạo dựng những hình tượng thật

và thơ đấu tranh thống nhất đất nước, trong thơ thời kì kháng chiến
nước được phát triển tới những chiều cao và độ sâu mới và được
phú, đa dạng. Đã bao nhiêu lân trong thơ thời kì này vang lên
khi thì hào hùng, trang nghiêm, lúc lại thiết tha, sâu lắng.

lớn lao, kì vĩ vẻ Tổ quốc trong không gian và thời gian. Tố Hữu đứng ở nơi giao điểm của
không gian thời đại và thời gian lịch sử kéo gần mặt trời lại để trị chuyện:


Ơi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi

Mặt trời dé day

(Tổ Hữu)

,

Ôi Tổ quốc! ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

ˆ_

Có vui khơng?



Nhìn Nam, Bắc, Tây, Đông

(Chế Lan Viên)

Hỏi cả hai mươi thế kỉ
(Chào xuân 67)

Tình u Tổ quốc là đỉnh núi, bờ sơng

Cịn Chế Lan Viên thì tự hào khẳng định tầm vóc của Tổ quốc:

Những lúc tột cùng là đồng huyết chảy
~


Tên Tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi

(Xuân Diệu)

Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng

Khong chỉ cảm nhận Tổ quốc, bằng tình cảm, thơ cịn Khám phá, phát hiện về Tổ quốc
bằng nhận thức sâu sắc, bằng sức mạnh tư tưởng của thời đại. Đất nước được nhìn nhận về

Ta moc day trước mắt nhìn nhân loại

khơng gian. Đất nước là núi sông hùng vĩ, rừng biển bao la liên một dải "Đầu trời ngất đình
Hà Giang, Cà Mau cuối đất mỡ màng phù sa” (Lê Anh Xuân), cho đến "Một đáo vắng Hòn

Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hing.
(Thời sự hè 72, bình luận)
Phát hiện vẻ Tổ quốc cũng có nghĩa là khám phá về đân tộc Việt Nam, con người
Việt Nam với những phẩm chất cao đẹp và bền vững là chñ nghĩa anh hùng và tình thương,
_ lịng nhân ái, đức hi sinh. Thơ đã xây dựng được nhiều hình tượng đẹp về con người Việt

Ngư cịn chớp bể, Một rặng núi Kì Sơn cịn lắm lúc mưa ngn" (Chế Lan Viên), và với
người lính trong một trận chiến đấu, đất nước lúc ấy có thể là “Một gốc sim thơi, mội gốc

sửn căn. Anh ơm súng bị lên với trái tìm tình nguyện" (Hữu Thỉnh). Đất nước cũng ở ngay

trong những gì hết sức gần gũi, thân thuộc trong “Miếng trâu bây giờ bà ăn, đất nước có từ
khi cái kèo cải cột thành tên, hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, dần, sàng”

Nam thời đánh Mĩ, ở nhiều tầng lớp, thế hệ, lứa tuổi, nhưng đều là biểu tượng của đân tộc


(Nguyễn Khoa Điểm).
Không chỉ cảm nhận đất nước ở chiều rộng khơng gian địa lí, thơ thời kì này đặc biệt
coi trọng sự phát hiện vẻ đất nước trong chiêu dài thời gian lịch sử và bể sâu văn hóa, tỉnh
thân truyền thống. Ý thức về lịch sử mà chủ yếu là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước,
đã mở rộng và làm sâu sắc hơn cho quan niệm về đất nước, dân tộc và về sự thống nhất liên
mạch giữa quá khứ với hiện tại. Luôn bắt gặp trong thơ những từ ngữ và hình ảnh về thời
gian lịch sử về bốn nghìn năm đất nước: “Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận" (Tố Hữu), "Ta sống

cùng Tổ quốc bốn nghìn năm, mà ta chưa hiểu hết" (Chế Lan Viên), và luôn vang lên trong

thơ tên của những anh hùng giữ nước, những triểu đại vẻ vang và những chiến công oai
hùng. Chưa bao giờ lịch sử đấu tranh của đân tộc lại được làm sống đậy với tất cả niềm tự
hào và say sưa như trong văn thơ thời kì này, bởi vì lịch sử cần thiết và thực sự phải trở
thành động lực tỉnh thần và sức mạnh to lớn cho con người Việt Nam, dân toc Viet Nam
trong cuộc đối đâu với kẻ thù hùng mạnh vào bậc nhất trên Trái Đất.
42

=|

và nhân dân. Nhận thức về đất nước luôn gắn liên với nhận thức về nhân dân, đó cũng a
một nét nổi bật trong chủ nghĩa yêu nước ở thời kì này. Cuộc kháng chiến chống Mĩ một
lần nữa thể hiện sức mạnh vô tận, phẩm chất tuyệt vời và những hi sinh vô cùng to lớn của
nhân dan. Tu tưởng đất nước của nhân đân đã thấm sâu vào cái nhìn và xúc cảm của mọi
nhà thơ khi nói về đất nước. Nhân đân, đó là vơ vần những con người bình thường, vơ danh,
thầm lặng, “Khơng ai nhớ mặt đặt tên, Nhưng họ đã làm nên đất nước", đã “hóa thân cho
dáng hình xứ sở, Lâm nên đất nước mn đời” (Nguyễn Khoa Điểm). Nhân dân, đó là
. những người mẹ, người cha, người chị, ở mọi nơi, mọi vùng, tiền tuyến và hậu phương,
miễn Nam và miền Bắc, mà mỗi người lính, người cán bộ đều được họ giúp đỡ, chở che,
nuôi dưỡng. Rất nhiều bài thơ đã ghi lại được hình ảnh chân thực của những con người ấy

cùng với tình cảm sâu nặng, thiết tha . người làm thơ (Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy,
Khúc hát ru những em bé lôn trên lưng tmẹ và Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điểm, Đất quê
ta mênh mông của Dương Hương Ly...)'

43


Thơ thời kì khâng chiến chống
trữ tình: cái "Tơi" sử thi và cái

b.

Mĩ tập trung xây dựng hai loại hình tượng cái "Tơi"

"Tơi" thế hệ.
Cái "Tơi” sử thì xuất hiện trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp và được tiếp tục ở
mười năm hịa bình, đến cuộc kháng chiến chống Mĩ, đã trở thành hình tượng cai "Pdi" tit
tình chủ đạo và đặc trưng trong thơ thời kì này. Cái “Tdi” sir thi tao cho nhà tho tam thế trữ
tình cao rộng với tư cách phát ngơn cho cả dân tộc, đất nước, nhân đân. Bởi vậy, cái "Tôi”
ấy có thể cất lên lời kêu gọi, mệnh lệnh, hơ hào, cổ vũ: "Hấy gầm lên như sấm sét dùng
đùng, Tất cả pháo và xông lên dũng sĩ“ (Tố Hữu), "Hãy yêu, hãy yêu và bảo vệ, Mây nước,
cửa nhà, văn học, ngữ ngôn” (Chế Lan Viên). Cái "Tôi" sử thị đại điện cho tiếng nói của dân
tộc, lương trí của nhân loại để vạch mặt, lên án, chất vấn, truy kích kề thù, tố cáo những âm
mưu và tội ác của chúng. Tư thế của cái "Tỏi" sử thi cho nhà thơ có chỗ đứng ở đỉnh cao
cũa thời đại để bao quất cả thời gian và không gian, lịch sử và biện tại, dân tộc và nhân loại,

quá khứ và tương lai, để mà phát hiện, suy ngẫm, hình dung, dự đốn về mọi vấn để hệ

trọng, lớn lao của vận mệnh đất nước, lịch sử dân tộc. Nhờ thế mà thơ thời Kì chống Mĩ đã
có sự mở rộng rất đáng kể về không gian và thời gian được chiếm lĩnh trong thơ, nối liền

- quá khứ lịch sử với hiện tại và tương lai, liên kết dân tộc với thời đại và nhân loại.
Nhưng cái "Tôi” sử thi chủ yếu hiện ra trong sự tự nhận thức, phát hiện và tự thể hiện

của dân tộc và nhân dan qua tiếng nói của người đại điện là nhà thơ, 6 phần trên, khi nói về
chủ nghĩa yêu nước trong thơ thời kì chống Mĩ, chúng ta đã để cập tới điều này. Ở đây chỉ
lưu ý thêm rằng, khi nói về đân tộc, đất nước, nhà thơ thường sử dụng cái "Tơi" với hai bình
diện. Một mặt, đó là sự khẳng định, tự biểu hiện của cả cộng đồng dân tộc, nhân dan; mat
khác, nhà thơ lại trong vai trị người chiêm ngưỡng, nhìn ngắm, ngợi ca với tất cả sự cảm
phục, thành kính và tự hào. Có thể thấy rõ đặc điểm này qua nhiều ví dụ, chẳng hạn những
câu thơ sau:

Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu
Trong khổ đau Người đẹp hơn nhiều
Như bà me sớm chiều gánh nặng
Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng.
(Tố Hữu ~ Chào xuân 67)
Nhờ sự kết hợp hai bình diện này mà cái "Tơi” sử thi trong thời kì chống Mĩ tuy rất
thống nhất nhưng khơng đơn điệu, khơng hồn tồn thủ tiêu cái “Toi” của tác giả, vì thế ban

sắc, cá tính của mỗi nhà thơ vẫn cịn chỗ để bộc lộ, phát huy.

Cùng với cái "Tơi" sử thị, cái "Tói” thế hệ là dạng thức tiêu biểu, nổi bật của cái "Tơi”
trữ tình trong thơ các nhà thơ trẻ thời kì chong Mi. Cai “Tdi” thé hé thong nhất với cái "Tơi”
sử thi có thể coi là một biến thể, một đạng độc đáo và cụ thể của cái “72/” sử thí, Chưa có
giai đoạn nào mà trong thơ lại cùng lúc xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ trẻ của
cùng một thế hệ, như trong thời kì này. Thơ của các nhà thơ trẻ là tiếng nói tự ý thức, tự

44

biểu hiện của thế hệ trẻ tự nguyện nhập cuộc và được trải nghiệm qua thử thách của chiến


tranh. Mỗi nhà thơ trong số họ đều ý thức rõ ràng về thế hệ mình và về tính chất dai điên

cho tiếng nói thế hệ của thơ mình. Bởi thế, cái "7ơi” trữ tình trong thơ họ là cái "Tơi" thế

hệ. Thế hệ ấy thấu hiểu trách nhiệm và sứ mệnh của mình:

Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai
(Bằng Việt)
Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính.
Trùng điệp áo màu xanh là một tiếng trả lời
(Thanh Thảo)

Họ cũng ý thức về việc tự ghi lấy hình ảnh của thế hệ mình bằng văn chương:
Khơng có sách chúng tơi làm ra sách
Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình.
(Hitu Thinh)
Cái "Tdi" thế hệ cịn được thé hiện trong hình ảnh những con người cụ thể, tiêu biểu
cho thế hệ ấy, và đây là đóng góp xuất sắc của thơ trẻ vào việc xây dựng hình tượng nghệ
thuật về con người Việt Nam của thời đại chống Mĩ, Người đọc khơng thể qn chân dung
của những người lính lái xe, cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn
trong thơ Phạm Tiến Duật, người lính bộ binh trong thơ Nguyễn Đức Mậu (Ngi rừng theo
đội hình đánh giặc), cùng với sự hì sinh và tình đồng đội của họ trong Nấm mộ và cây
trầm, người chiến sĩ giải phóng hi sinh trong tư thế nổ súng tiến cơng trong thơ Lê Anh
Xn, chân dung những người lính xe tăng, xạ thú trung liên trong thơ Hữu Thỉnh, và cịn

bao nhiêu những hình ảnh khác vẫn lưu lại trong thơ và trong lòng bạn đọc.
Mười năm thơ kháng chiến chống Mĩ cũng là chặng đường mà cái "Tôi" thế hệ đã ghi
lại quá trình trưởng thành về ý thức của thế hệ trẻ đã đi qua suốt một cuộc chiến tranh ngày
càng dữ đội, quyết liệt. Từ cái náo nức, say sưa với cảm hứng lãng mạn của buổi đầu đến sự

trải nghiệm với nhiều suy tư, trầm tĩnh trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, cái "Tôi" của
thơ trẻ muốn tìm cho mình một tiếng nói trầm tĩnh, trực tiếp, thậm chí đến trần trụi, chối bỏ
những gì hoa mĩ và sáo mịn trong thơ. Thanh Thao viết Bài ca ống công như là tuyên ngôn
thơ của thế hệ mình:
Những trắng ca thuở trước
Cịn hát trong sách thôi
Những thanh gươm, yên ngựa
Giờ đã cũ mèm rồi
Bài hát của chúng tôi

Là bài ca ống công

%
45


phẩm chất cao quý như chính con người Việt Nam. Tính chính
tưởng là đặc điểm nổi bật trong thơ của các nhà thơ lớp trước, cũng
các nhà thơ trẻ. Nhưng trong thơ của thế hệ này, ưu thế nổi trội
quan trọng nhất của họ chính là việc gia tăng chất liệu hiện thực

Cái tôi thế hệ tạo nên sự thống nhất trong tiếng thơ của các nhà thơ trẻ, nhưng vẫn số
thể nhận ra những giọng điệu riêng mang rõ bản sắc của từng người, ở những nhà thơ có tài

năng và cá tính.
c. Tăng cường tính chính luận, nội dung chính trị đã thâm nhập và chỉ phối mạnh

năng cho thơ chiếm lĩnh thực tại bộn bẻ, phong phú và đa dạng của hiện
thực chiến tranh.


mẽ mọi lĩnh vực của đời sống kể cả thơ. Nhằm dé cap và giải đáp những vấn để mang ý

Các nhà thơ người lính đã đưa vào trong thơ nhiều chân dung thế hệ trẻ với
những chỉ tiết
chân thực, sinh động và đặc sắc về cuộc sống chiến trường, chiến đấu và
sinh hoạt của
người lính, tình đồng đội và cả tình u, niềm vui và nỗi đau của họ. Người đọc
không thể
không nhớ những chỉ tiết, hình ảnh như chiếc xe khơng kính của Phạm Tiến Duật,
mái tăng
“bdu troi vuông" của N, guyễn Duy, chùm hoa bưởi tỏa hương lặng lẽ mà nồng
nàn trong thơ
Phan Thị Thanh Nhàn hay tiếng ve theo cùng những người lính trẻ ra mặt
trận trong thơ
Hồng Nhuận Cẩm... Xu hướng đưa chất liệu hiện thực đời sống vào thơ
đã được mỡ ra từ
thời kì kháng chiến chống Pháp và đã thu được nhiều thành công. Thơ những
năm chống
Mĩ tiếp tục đẩy mạnh xu hướng ấy, đồng thời đạt được sự kết hợp nhuần nhuyễn
hơn giữa
ngoại cảnh với nội tâm, miêu tả và biểu hiện, cụ thể và khái qt.

nghĩa chính trị của cuộc sống, thơ tìm đến khuynh hướng trữ tình chính trị với sự tăng
cường yếu tố chính luận. Bam sát thời sự điễn biến của cuộc chiến đấu, kíp thời đề cập và
giải đáp những vấn đề hệ trọng về tư tưởng chính trị, khẳng định đường lối và quyết tâm
chiến đấu của dân tộc, lên án kẻ thù trong những âm mưu thủ đoạn và tội ác của chúng...
đó là những cảm hứng và chủ để thường trực trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên và nhiều nhà

thơ khác. Tính chính luận thường gắn bó và được bổ sung bằng chất suy tưởng, triếtlí Nhà
thơ vừa nhữ một nhà tuyên truyền, cổ động, lại vừa là nhà tư tưởng, nhà nghệ


sĩ để phát

hiện, khám phá và say mê khẳng định Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, thời đại. Chưa bao giờ
trong thơ có nhu cầu khám phá và khẳng định truyền thống dân tộc và phẩm chất con người
Việt Nam như ở thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tố Hữu đã nhiều lần phát hiện và khẳng
định về đân tộc, mà mỗi lần vẫn không thôi ngạc nhiên, tự hào:
“Việt Nam, Người là ai mà trỏ thành nhân loại?

II.

1945 — 1975

Nên thơ cách mạng từ sau tháng Tám 1945 là một nên thơ thống nhất trước hết là
về tư
tưởng và lí tưởng thẩm mĩ. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại, các nhà thơ thuộc nhiều
thế hệ
đã nỗ lực tìm kiếm, thể nghiệm để mở rộng và tăng cường khả năng chiếm lĩnh
đời sống
, sáng tạo nghệ thuật của thơ. Những tìm tịi của từng nhà thơ có thể rất khác
nhau nhưng
nhìn trên tổng thể cả nên thơ thì thấy nổi lên những khuynh hướng chính dudi đây.

Trước cái chết khơng cúi đầu chịu chết

Lửa bên mình một tấc cũng khơng đi”.
Cịn Chế Lan Viên thì tự nhận thấy:
"Ta sống cùng Tổ quốc bốn nghìn năm mà ta chưa hiểu hết
Cho đến những trang Kiêu cũng thành trang leo lết,


1.

Chưa cái gì nói được Việt Nam ta”.

Tăng cường chất liệu hiện thực nhằm đưa thơ về gần với đời sống thực...

Thơ trữ tình là tiếng nói của
trữ tình. Nhưng khơng phải vì thế
cái "Tơi", đặc biệt là những hình
Q Đơn từ xưa đã từng cho rằng

Huy Cận đi giữa đồng lúa Thái Bình mà nghĩ về sự tiếp nối nây nở của lịch sử:
Rồi lịch sử như một bơng lúa mdy
Nó khơng thơi, reo mãi xuống đất này

tình cảm, cẩm xúc thơng qua sự biểu hiện của cái "Tơi
mà trong thơ trữ tình khơng có mặt các yếu tố khác ngồi
ảnh của thế giới thiênnhện số đời sống con người. Lê
trong thơ có cả ba yếu tố: rính, cảnh và sự.

Trong Thơ Mới, do chỉ chú trọng khám phá và biểu biện cái "Tôi" cá nhân —
cá thể,
nên thế giới nghệ thuật của nó chủ yếu được xây dựng bằng chất liệu nội cảm
với những
trạng thái đa đạng, tỉnh tế của tình cảm, cảm xúc, cảm giác, ấn tượng, tưởng
tượng. Cái
ôi" Thơ Mới đánh mất mối liên hệ với cuộc đời bên ngoài, chỉ tìm điểm tựa ở chính
mình

Bốn nghìn năm, mùa gặt hái hôm nay

Lại tru hại, nhựa mâm thêm náo nức.
(Đi trên mảnh đất này)

46

NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CHÍNH TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THƠ

GIẢI ĐOẠN

Người là ai mà sức mạnh thân kì

Cịn Xuân Diệu lại khẳng định "Chúng ta chính là sự sống", sự sống chẳng bao giờ
chán nắn, nhất định sẽ vượt lên chiến thắng mọi sự tần bạo của kẻ thù nhàm hủy diét su
sống trên đất nước ta. Nhà thơ trẻ Phạm Tiến Duật nhìn ra sức sống của đất nước trong
những trái cây bốn mùa tươi tốt: "Mfạch đất ta dôi dào sự sống, Nên nhành cây cũng thấp
sáng quê hương". Nguyễn Duy suy tưởng về dan toc qua hình ảnh cây tre với bao nhiều

luận và chất triết lí, suy
thấm đượm cả trong thơ
và cũng là sự đóng góp
đời sống, mở rộng khả

nên càng ngày càng chìm sâu vào trong nỗi cô đơn, trống vắng. "Đời
chúng ta nẦm trong

vịng chữ Tơi. Mất bê rộng ta tìm bê sâu, nhưng càng đi sâu càng lạnh"
(Hoài Thanh và
Hoài Chân ~ Thí nhân Việt Nam 1932 ~ ï 941). Cách mang va khang chiến
đã lay tinh


ˆ

mạnh mẽ cái Tôi của các nhà Thơ Mới (đưa thơ trở về mảnh đất của đời sống hiện thực,
với
4

47


yếu,
cuộc sống của đất nước và nhân dân) Đến với đời sống, thơ cũng phải như một lẽ tất
quan
mở rộng cánh cửa cho cuộc sống vào thơ, tạo nên sự biến đổi quan trọng về thí liệu và
của
niệm thẩm mĩ. Mọi mặt của đời sống mà trước hết là sinh hoạt, lao động, đấu tranh
tầng
quần chúng nhân dân đã in dấu đậm nét trong thơ giai đoạn 1945 — 1975. Xu hướng
tiếp
cường chất liệu hiện thực đời sống đã khởi đầu từ thơ kháng chiến chống Pháp, được
được

bình
hịa
tục trong thơ về lao động và xây dựng cuộc sống mới trong những năm
đưa vào
đẩy mạnh trong thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ. Nhìnchung} chất liệu hiện thực
cao hơn
thơ khơng chỉ ngày càng đa đạng, phong phú hơn mà còn được chọn lọc, nâng
tiết, hình
bằng sự phát hiện những ý nghĩa sâu sắc, giá trị độc đáo và điển bình của mỗi chỉ

sống vào
đời
ảnh, Đồng thời, đó cũng là q trình khác phục dân hiện tượng đừa hiện thực
thành
thơ một cách xô bổ, thiếu chọn lọc, ngoại giới lấn ất nội tâm. Ở những8 trường: hợp
tinh,
công, chất liệu hiện thực luôn gắn bó làm một với tâm hên, cảm xúc của cái “(ôi int
độ của con
ngoại cảnh thống nhất với nội tâm và nhằm biểu hiện tình cảm, tu tưởng, thái
những âm

người trước đời sống. Khi đó, tho JA sự mở rộng tâm hồn ra ngoại giới và cũng

_
vang của đời sống vào trong lòng nhà thơ.
thơ
Việc tăng cường chất liệu hiện thực đời sống đã dẫn tới bệ quả là yếu tổ tự sự trong
thuộc loại
được gia tăng một cách đáng kể. Mặc dù bản chất của thơ xét về mặt thể loại là
nhau và đã
trữ tình, nhưng từ xa xưa thơ đã dung nạp các yếu tổ tự: sự ở những mức độ khác
phẩm nổi
thi
có những thể thơ có thể chứa đựng cả sự việc, câu chuyện. Khơng íf những
R
tiếng trong thơ Đường, thơ Tống của Trung Hoa và trong nên thơ cổ điển Việt Nam
nhập
những bài thơ giàu yếu tố tự sự. Từ thơ kháng chiến chống Pháp, yếu tế tý sự đã thâm
cuộc
ảnh

rộng rãi vào thơ, góp phần quan trọng cho thơ điễn tả trực tiếp vàsinh dong nình
những
sống và con người kháng chiến. Khơng ít những bài thơ kháng chiến thành công là
bài thơ
bài thơ giàu chất tự sự. Lối thơ kế chuyện được sử dụng khá rộng rãi cả ở những
câu thơ.
ngắn, còn nhiều trường hợp khác thì đã thành những truyện thơ với hàng trăm
công
Tố Hữu, Tế Hanh, Anh Thơ, Trần Hữu Thung là những cây bút tiêu biểu cho thành
đoạn sau.
của lối thơ kể chuyện trong thợ kháng chiến chống Pháp cũng như ở cả các giai
rãi hơn
Yếu tố tự sự không chỉ có ở những bài thơ kể chuyện, mà tổn tại phổ biến rộng
tả hoạt
điễn
việc,
sự
trong hầu hết thơ ca kháng chiến ở các chỉ tiết miêu tả cảnh vật và
thơ
động của con người. Trong thơ những năm sau kháng chiến chống Pháp và nhất là trong
khai
thời kì kháng chiến chống Mĩ, yếu tố tự sự vẫn tiếp tục có vị trí đáng kể, nhưng cách
quát
khái
sức
thác và xử lí chất liệu hiện thực ở nhiều trường hợp đã nhuần nhuyễn hơn, có
a
nghệ thuật cao.

Như cầu mở rộng khả năng bao quát biện thực rộng lớn và phong phú của thời đại cách


Cố nhiên, yếu tổ tự sự không thể tồn tại một cách biệt lập trong thơ mà cần được
hợp, thống nhất với chất trữ tình và cả những yếu tố khác, như chính luận,
triết lí,
tưởng. Thêm nữa, nó cịn phụ thuộc vào bút pháp và phong cách của mỗi tác giả để
tạo
những cấu trúc nghệ thuật riéng biệt, độc đáo, vừa phản ánh được hình ảnh của thực
tại
sống thời đại, vừa in đậm bản sắc, cá tính của chủ thể sáng tạo.

2...

kết
suy
nên
đời

Tăng cường tính khái quát, chất triết lí, suy tưởng trong thơ

Trong bản chất thể loại của nó, thơ khơng đối lập với triết lí, suy tưởng, với chất trí tuệ.
Sự hàm súc và chiều sâu luôn là một yêu cầu cao đối với thơ, mà điều đó thường chỉ có thể
đạt được bằng cách huy động sức mạnh của trí tuệ, thơng qua suy tưởng, triết lí, khái qt,
` cố nhiên phải là một thứ trí tuệ của thơ và trong thơ, nghĩa là gấn bó mật thiết với tình cảm,
cảm xúc như sức nóng và ánh sáng của ngọn lửa. Nhà văn Nguyễn Tn có một định nghĩa
chí lí về thơ: "Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ dé con nhue bị
phong kín". Chất triết lí, suy tưởng trong thơ sau 1945 khơng hướng vào những vấn đề
mang tính siêu hình về bản thể con người, vũ trụ mà gắn liên với những vấn để từ tưởng

trong đời sống cách mạng, vì thế cũng mang đậm tính chính
Nên thơ cách mạng không chỉ phân ánh hiện thực cách

tâm hồn con người mà cịn phải để cập và giải đấp khơng ít
cảm trong một thời đại có rất nhiều biến động mạnh mẽ và

luận,

mạng, kháng chiến và đời sống
những vấn đề của tư tưởng, tình
lớn lao. Ý thức về điều đó, Chế
Lan Viên vị
viết 7h xưa chỉ hay than mà ít hỏi, Đảng dạy ta thơ phải trả lời", & một chỗ
khác, nhà thơ lại nói: "Ƒhơ khơng chỉ đưa rụ mà cịn thức tỉnh, khơng chỉ ø hời mà cịn đập
bản, quát tháo, lo toan"
/
a

Gần bó mật thiết với vận mệnh của đân tộc và cách mạng, thơ không thể xa rời đời

sống chính trị của đất nước trên những vấn đề cốt yếu và vì vay| tính chính luận
l
đã trở-shành
một đặc điểm khá phổ biến trong thơ giai đoạn-1945 - 1975. . Thực ta di
cling chinh Ja su
kế tục một đặc điểm nổi bật của đồng thơ cách mang trước 1945, Nội dung chính luận trong
thơ những năm chống Mĩ cứu nước càng được mở rộng và phong phú. Thơ bám sát những
sự kiện lớn và từng chặng đường của cuộc kháng chiến, ca ngợi những chiến công và thắng
lợi của quân và dân ta, kịp thời vạch trần, đã kích những âm mưu, thủ đoạn, tội ác của kẻ

1Ù cịn tập trung phát biện, khẳng định, lí giải về sức mạnh và phẩm chất dân tộc Việt

Nam trong truyền thống cũng như trong hiện tại /nêu cao vị trí, ý nghĩa cuộc kháng chiến


chống Mĩ của nhân đân ta đối với lịch sử dân tế và thời đại,

Tính chính luận được bổ sung và nâng cao bằng những suy tưởng triết 1 sức mạnh trí
tuệ bổ sung cho nhiệt tình cơng dân và tỉnh thần chiến đấu. Nhà thơ vừa là người tuyên

thơ
mạng và kháng chiến cũng thúc đẩy các nhà thơ tìm đến những thể thơ đài như truyện

cả
ngay
và trường ca, mà trong đó yếu tố tự sự có vai trị quan trọng khơng thể thiếu,
những trường ca khơng có cốt truyện.

truyền cổ động, vừa là nhà tư tưởng suy tư chiêm nghiệm, vừa là người nghệ sĩ say mê,
nhiệt
thành gắn bó với đời sống của dân tộc và đất nước. Ở một số nhà thơ như Chế Lan Viên,

48

4 VHVN Tập H

49


×