BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CƠNG CỘNG
NGUYỄN THANH BÌNH
H
P
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÕNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT
DENGUE CỦA NGƢỜI DÂN TỪ 18 - 60 TUỔI TẠI THỊ TRẤN ĐĂK ĐOA,
HUYỆN ĐĂK ĐOA, TỈNH GIA LAI NĂM 2022
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
U
H
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số chuyên ngành: 87.20.701
\
Hà Nội, năm 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CƠNG CỘNG
NGUYỄN THANH BÌNH
H
P
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT
DENGUE CỦA NGƢỜI DÂN TỪ 18 - 60 TUỔI TẠI THỊ TRẤN ĐĂK
ĐOA, HUYỆN ĐĂK ĐOA, TỈNH GIA LAI NĂM 2022
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
U
H
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số chuyên ngành: 87.20.701
HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ THANH HƢƠNG
Hà Nội, năm 2022
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này, những số liệu trong luận văn này hồn tồn chính
xác, trung thực, do chính tơi thực hiện và kết quả nghiên cứu này chưa được cơng bố
lần nào. Nếu có gì sai trái tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.
Kon Tum, ngày 20 tháng 10 năm 2022
H
P
Nguyễn Thanh Bình
U
H
LỜI CẢM ƠN
ii
Để hồn thành luận văn này, tơi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và
đồng hành trong suốt thời gian qua của quý thầy cô giáo, anh chị đồng nghiệp và
bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng, Trường Cao đẳng cộng
đồng Kon Tum và quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và truyền đạt nhiều kiến
thức quý báu cho tôi.
Cô giáo hướng dẫn khoa học PGS-TS Lê Thị Thanh Hương đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, chia sẻ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp
nghiên cứu để tơi hồn thành luận văn này.
H
P
Sở Y tế tỉnh Gia Lai và Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Gia Lai đã tạo
điều kiện cho tôi tham gia khóa học này.
Trung tâm Y tế huyện Đăk Đoa, Trạm y tế thị trấn Đăk Đoa và chính quyền
địa phương đã tạo điều kiện và tham gia cùng tôi để thu thập số liệu tại địa bàn
chọn nghiên cứu.
U
Các Anh chị đồng nghiệp, gia đinh và bạn bè luôn động viên và giúp đỡ để
tơi hồn thành khóa học này.
Trân trọng cảm ơn!
H
Kon Tum, ngày 20 tháng 10 năm 2022
MUC LỤC
iii
Trang
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
viii
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3
H
P
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1.Khái quát đặc điểm bệnh sốt xuất huyết Dengue..........................................
4
1.2.Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và Việt Nam................
5
1.3. Thực trạng kiến thức, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue
8
của ngƣời dân......................................................................................................
U
1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất
14
huyết Dengue…………………………………………………………………
1.5. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu......................................................................
19
1.6. Khung lý thuyết............................................................................................
21
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu...................................................................................
22
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu................................................................
23
2.3.Thiết kế nghiên cứu.......................................................................................
23
2.4. Cỡ mẫu.........................................................................................................
23
2.5. Phƣơng pháp chọn mẫu................................................................................
24
2.6. Phƣơng pháp thu thập số liệu.......................................................................
25
2.7. Các nhóm biến số chính...............................................................................
26
2.8. Thƣớc đo, tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu.........................................
27
2.9. Phân tích số liệu...........................................................................................
30
H
iv
2.10. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu..............................................................
31
Chƣơng 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ
32
3.1. Thông tin chung về đối tƣợng mẫu nghiên cứu..........................................
32
3.2. Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của ngƣời dân....
35
3.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức, thực hành của ngƣời dân về
39
phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue.....................................................................
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
47
4.1. Thực trạng kiến thức, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue
47
của ngƣời dân.
4.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất
H
P
huyết Dengue.
4.3. Hạn chế của nghiên cứu.
KẾT LUẬN
52
58
60
5.1. Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất Dengue của ngƣời dân
60
5.2. Một số ảnh hƣởng đến kiến thức và thực hành của ngƣời dân về phòng
60
U
bệnh sốt xuất huyết Dengue
KHUYẾN NGHỊ
Phụ lục 1: Biến số và định nghĩa biến
H
Phụ lục 2: Phiếu điều tra kiến thức, thực hành phòng bệnh SXHD của người
62
67
72
dân từ 18-60 tuổi tại thị trấn Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai - 20202
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn sâu Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Đăk Đoa
82
Phụ lục 4: Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ chuyên trách chương trình SXH trạm
84
y tế thị trấn và cán chuyên trách chương trình sốt xuất huyết huyện Đăk Đoa
Phụ lục 5: Phiếu phỏng vấn sâu YTTB của thị trấn Đăk Đoa
86
Phụ lục 6: Phiếu thảo luận nhóm về kiến thức, thực hành phịng bệnh SXHD
88
đạt và khơng đạt của người dân tổ dân phố, thôn của thị trấn Đăk Đoa
Phụ lục 7: Tình hình mắc/chết SXHD tại Việt Nam giai đoạn 1980 -2020
90
Phụ lục 8: Tình hình mắc/chết SXHD Khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2015 -
91
2020
v
Phụ lục 9: Tình hình mắc/chết SXHD tỉnh Gia Lai giai đoạn 2004 -2020
H
P
H
U
92
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
Bộ Y tế
CBYT
Cán bộ y tế
DCCN
Dụng cụ chứa nƣớc
ĐTNC
Đối tƣợng nghiên cứu
ĐTV
Điều tra viên
HGĐ
Hộ gia đình
KTC95%
Khoảng tin cậy 95%
OR
Odds Ratio (Tỷ số Odds)
PVS
Phỏng vấn sâu
SV
Sinh viên
TLN
Thảo luận nhóm
TTKSBT
Trung tâm kiểm sốt bệnh tật
TTYT
Trung tâm Y tế
TYT
Trạm Y tế
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
VSMT
Vệ sinh môi trƣờng
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
H
U
H
P
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1:Tỷ lệ kiến thức đạt của ngƣời dân về phòng bệnh sốt xuất huyết
36
Dengue
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thực hành đạt của ngƣời dân về phịng bệnh sốt xuất huyết
38
Dengue
Bảng 1.1: Tình hình mắc/chết sốt xuất huyết Dengue của huyện Đăk Đoa giai
7
đoạn 2017 – 2020
Bảng 2.1: Bảng chấm điểm về kiến thức của ngƣời dân về bệnh SXHD
28
Bảng 2.2: Bảng chấm điểm về thực hành của ngƣời dân về bệnh SXHD
29
H
P
Bảng 3.1: Một số đặc điểm cá nhân về đối tƣợng nghiên cứu
32
Bảng 3.2: Tỷ lệ tiếp cận kênh truyền thơng phịng bệnh sốt xuất huyết Dengue
33
Bảng 3.3: Tỷ lệ các nội dung kiến thức đạt phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của
35
ngƣời dân
Bảng 3.4: Tỷ lệ thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của ngƣời dân
37
U
39
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với kiến thức phòng bệnh sốt xuất
huyết Dengue
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với thực hành phòng bệnh sốt xuất
huyết Dengue
H
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết
Dengue
43
46
viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do
vi rút Dengue gây ra. Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus là trung gian truyền
bệnh trong đó muỗi Ae. aegypti là véc tơ truyền bệnh chính.
Tại thị trấn Đăk Đoa số mắc/chết SXHD giai đoạn 2017 - 2020 là (276/0
ca): Năm 2019 số mắc cao nhất 155 ca, tỷ lệ mắc 993 ca/100.000 dân; thấp nhất
năm 2018 số mắc 22 ca, tỷ lệ mắc 146 ca/100.000 dân và khơng có tử vong,
nhƣng tồn tỉnh năm 2019 mắc/chết: (11.450/02 ca). Vì vậy, chúng tơi thực hiện
phƣơng pháp nghiên cứu cắt ngang, thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 6/2022
H
P
với 2 mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của người
dân từ 18 - 60 tuổi tại thị trấn Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai năm 2022.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành phòng bệnh
sốt xuất huyết Dengue của người dân từ 18 - 60 tuổi tại thị trấn Đăk Đoa, huyện
U
Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai năm 2022.
Nghiên cứu đƣợc thực hiện kết hợp phƣơng pháp định lƣợng và định tính,
phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, thu thập số liệu tại thực địa qua
H
phỏng vấn trực tiếp 400 đối tƣợng và kết hợp quan sát phần thực hành tại hộ gia
đình. Phƣơng pháp phân tích số liệu gồm: Tần số, tỷ lệ %, khoảng tin cậy 95%
của tỷ lệ %, tỷ số chênh OR và khoảng tin cậy 95% của OR. Kiểm định thống kê
bằng phép kiểm Chi bình phƣơng (Chi-squared test, 2).
Kết quả cho thấy kiến thức về phòng bệnh SXHD là 44,0%; thực hành về
phòng bệnh SXHD là 31,3%. Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng tích cực
tới kiến thức, thực hành phịng bệnh SXHD là: Nữ giới; dân tộc Kinh; trình độ
học vấn tốt hơn, nghề nghiệp lao động trí óc; kinh tế hộ gia đình khá giả và khơng
nghèo; hoạt động truyền thông; tập huấn cán bộ y tế, cộng tác viên; hoạt động
giám sát của cán bộ y tế; phun hóa chất diệt muỗi, diệt bọ gậy/lăng quăng; phối
hợp các ban ngành, đồn thể; chiến dịch vệ sinh mơi trƣờng; hoạt động cộng tác
ix
viên.
Dựa vào kết quả nghiên cứu tại thị trấn Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia
Lai, chúng tôi khuyến nghị đẩy mạnh hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe
cho ngƣời dân thay đổi kiến thức và hành vi về phòng bệnh SXHD: Biện pháp
phòng muỗi đốt, các biện pháp vệ sinh chung và biện pháp diệt muỗi, diệt bọ
gậy/lăng quăng. Ngồi ra đẩy mạnh cơng tác xã hội hóa phòng, chống bệnh sốt
xuất huyết và tăng cƣờng giám sát tại hộ gia đình để hƣớng dẫn ngƣời dân phát
hiện và xử lý ổ bọ gậy/lăng quăng.
H
P
H
U
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút
Dengue gây ra. Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus là trung gian truyền bệnh
trong đó muỗi Ae. aegypti là véc tơ truyền bệnh chính (1). Bệnh thƣờng có triệu
chứng sốt cao đột ngột, kéo dài 2 - 7 ngày và kèm theo đau đầu, đau cơ, đau xƣơng,
khớp, nổi ban; khi bệnh diễn biến nặng, biểu hiện xuất huyết dƣới da, niêm mạc,
xuất huyết nội tạng và gan to, có thể tiến triển đến hội chứng sốc Dengue dẫn đến tử
vong (2).
Biến đổi khí hậu cùng với sự bùng nổ dân số và đô thị hóa, biện pháp
phịng bệnh SXHD chƣa hiệu quả cho nên hiện nay bệnh SXHD trở thành vấn đề
H
P
sức khỏe cộng đồng rất quan trọng không chỉ nƣớc ta, mà trên tồn cầu có hơn
130 nƣớc, đặc biệt vùng Đơng Nam Á, Tây Thái Bình Dƣơng với hơn 3 tỷ
ngƣời trên thế giới đang sống vùng dịch tễ có nguy cơ mắc bệnh SXHD. Mỗi
năm, trên thế giới có hơn 100 triệu ngƣời lây nhiễm vi rút Dengue, trong đó trên
500.000 ngƣời vào viện, hàng chục nghìn ngƣời tử vong (3-5).
U
Tại Việt Nam, bệnh SXHD là vấn đề y tế công cộng đáng quan tâm và là một
trong những bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao ở nƣớc ta. Bệnh SXHD có tỷ lệ
H
mắc/100.000 dân đứng thứ 5 và tỷ lệ chết/100.000 dân đứng thứ 3 trong 10 bệnh
truyền nhiễm (6). Bệnh gây hậu quả trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, cuộc sống
của con ngƣời và tốn kém chi phí điều trị. Dịch bệnh ghi nhận ở các khu vực nhƣ:
Miền Bắc; miền Nam; miền Trung và Khu vực Tây Nguyên, nhất là ở các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven biển miền Trung (7). Giai
đoạn năm 2016 - 2020 Việt Nam có tổng số mắc/chết: (916.044 ca/135 ca). Đặc biệt
năm 2019 có số mắc/chết cao nhất (330.025/49 ca) (8).
Huyện Đăk Đoa là huyện miền núi khu vực Tây Nguyên thuộc tỉnh Gia Lai,
cách thành phố Pleiku 15 km với đặc điểm dân tộc thiểu số chiếm 2/3 dân số của cả
huyện, trình độ văn hóa của ngƣời dân cịn thấp, phong tục, tập quán lạc hậu, ngƣời
dân có thói quen dự trữ nƣớc mƣa để sinh hoạt, ý thức ngƣời dân vệ sinh môi
trƣờng kém, từ năm 2017 - 2020 huyện Đăk Đoa có số mắc/chết sốt xuất huyết là
2
(672/0 ca), nhƣng toàn tỉnh năm 2019 mắc/chết: (11.450/02 ca). (9). Thị trấn Đăk
Đoa nằm tiếp giáp với thành phố Pleiku về hƣớng Đông, từ năm 2017 - 2020 thị
trấn có số ca mắc/chết (276/0 ca), số mắc cao nhất năm 2019 là155 ca, tỷ lệ mắc
993 ca/100.000 dân. (10-13).
Qua khảo sát nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận tại tỉnh Bình Định,
kiến thức, thực hành chung đạt tƣơng ứng: 36,5% và 29,5% (14), nghiên cứu của
Huỳnh Ngọc Ánh tại tỉnh Quảng Ngãi kiến thức, thực hành chung đạt tƣơng ứng:
66,3% và 52,3% (15). Hiện nay chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phịng
bệnh. Vì vậy, kiến thức, thực hành phịng bệnh SXHD của ngƣời dân đóng vai trò
rất quan trọng (16, 17). Để thực hiện đƣợc điều đó cần xác định thực trạng kiến
H
P
thức, thực hành phòng bệnh SXHD của ngƣời dân nhƣ thế nào? Những yếu tố nào
ảnh hƣởng tới kiến thức, thực hành của ngƣời dân? Tại thị trấn Đăk Đoa chƣa có
nghiên cứu nào có thể trả lời những câu hỏi đó. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của ngƣời dân
từ 18 - 60 tuổi tại thị trấn Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai năm 2022 và
U
một số yếu tố ảnh hƣởng” từ đó có những đề xuất, khuyến nghị phù hợp cho cơng
tác phịng bệnh SXHD tại địa phƣơng.
H
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của ngƣời
dân từ 18 - 60 tuổi tại thị trấn Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai năm 2022.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức, thực hành phòng bệnh
sốt xuất huyết Dengue của ngƣời dân từ 18 - 60 tuổi tại thị trấn Đăk Đoa, huyện
Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai năm 2022.
H
P
H
U
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát đặc điểm bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.1.1. Khái quát bệnh sốt xuất huyết Dengue
Bệnh SXHD là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền bệnh và có
thể gây thành dịch lớn. Đây là bệnh dịch lƣu hành địa phƣơng ở Việt Nam, nhất là
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven biển miền
Trung. Do đặc điểm địa lý, thời tiết khác nhau, ở miền Nam và miền Trung bệnh
xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc và Tây Nguyên bệnh thƣờng xảy ra từ tháng 4
H
P
đến tháng 11. Ở Miền Bắc những tháng khác bệnh xảy ra ít vì khí hậu lạnh, ít mƣa,
khơng thích hợp cho muỗi Aedes aegypti sinh sản và hoạt động. Bệnh SXHD phát
triển nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9, 10 trong năm (1).
1.1.2. Tác nhân gây bệnh
Do vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus, họ Flaviviridae, có 4 típ huyết
U
thanh DEN - 1, DEN - 2, DEN - 3 và DEN – 4 (1).
1.1.3. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng
H
Ngƣời chƣa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh từ trẻ sơ sinh cho
tới ngƣời lớn. Sau khi khỏi bệnh sẽ đƣợc miễn dịch suốt đời với típ vi rút Dengue
gây bệnh nhƣng khơng đƣợc miễn dịch bảo vệ chéo với các típ vi rút Dengue khác.
Nếu bị mắc bệnh lần thứ hai với típ vi rút Dengue khác, ngƣời bệnh có thể sẽ bị
bệnh nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue (1).
1.1.4. Véc tơ truyền bệnh
Bệnh không lây truyền trực tiếp từ ngƣời qua ngƣời mà do muỗi đốt từ ngƣời
bệnh có mang vi rút sau đó truyền vi rút sang ngƣời lành qua vết đốt của muỗi. Ở
Việt Nam, có hai lồi muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes
albopictus, trong đó quan trọng nhất muỗi Aedes aegypti (1).
1.1.5. Phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue
5
Đến nay, bệnh SXHD chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu, chƣa có vắc xin phịng
bệnh, hoạt động diệt véc tơ đặc biệt là diệt lăng quăng/bọ gậy với sự tham gia tích
cực của hộ gia đình và cả cộng đồng là biện pháp hiệu quả trong phòng chống
SXHD (1).
1.2. Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Nghiên cứu của Wilder- Smith năm 2019, từ năm 2000-2013 cho thấy số
ngƣời mắc bệnh SXHD tăng 400% trên thế giới trong 13 năm nghiên cứu. Trƣớc
năm 1970, có 9 quốc gia ghi nhận có dịch bệnh SXHD (18). Đến nay dịch bệnh
SXHD đã lan rộng ra 128 nƣớc ở Nam Mỹ, Địa Trung Hải, Đơng Nam Á và Tây
H
P
Thái Bình Dƣơng. Năm 2018 các nƣớc ở khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á và Tây
Thái Bình Dƣơng số ca mắc bệnh SXHD chiếm 75%. Hàng năm trên thế giới có
khoảng 390 triệu ngƣời mắc bệnh SXHD, trong 9 năm từ năm 2010 - 2019, số ca
mắc SXHD tăng từ 2,2 triệu ngƣời lên 3,6 triệu ngƣời (19). Nghiên cứu của Salles
năm 2018 cho thấy tỷ lệ ca SXHD nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần so
U
với khu vực Châu Mỹ (20).
Năm 2017 tác giả Lee nhận định các nƣớc Philippines; Malaysia; Việt Nam
là nƣớc có tỷ lệ mắc bệnh SXHD cao nhất trong khu vực Đơng Nam Á. Tình hình
H
SXHD trên thế giới diễn biến phức tạp làm ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh
tế của ngƣời dân, đặc biệt là các nƣớc thuộc vùng lƣu hành bệnh SXHD cao nhƣ
Việt Nam. Năm 2017, số mắc/100.000 dân tại các nƣớc khu vực Châu Mỹ, Đông
Nam Á ở mức rất cao nhƣ: Peru 195 ca, Nicaragua 199 ca, Argentina 121ca, Brazil
171 ca, Ecuador 49 ca, Malaysia 141 ca, Philippines 33 ca, Lào 30 ca, Singapore 20
ca (21).
1.2.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, những năm đầu ở nƣớc ta dịch sốt xuất huyết chỉ xuất hiện ở
một vài địa phƣơng với các ổ dịch nhỏ, số lƣợng ngƣời mắc bệnh SXHD ít, tỷ lệ
ngƣời tử vong cao, các ổ dịch khu trú ở khu vực thành thị của các tỉnh đồng bằng.
Đến nay bệnh lƣu hành hầu hết ở các tỉnh, thành phố, nhƣng tập trung chủ yếu các
tỉnh miền Nam, miền Trung. Giai đoạn từ năm 1980 - 1999 mỗi năm ghi nhận trung
6
bình 100.000 ngƣời mắc, 300 - 400 ngƣời tử vong, tỷ lệ tử vong trung bình từ 0,080,09%. Năm 1987 số lƣợng mắc bệnh SXHD trên 300.000 ngƣời, năm 1983 và năm
1987 tử vong trên 1.500 ngƣời. Giai đoạn từ 2000 - 2015 chƣơng trình sốt xuất
huyết mục tiêu quốc gia đƣợc triển khai, dịch bệnh SXHD đã giảm, trung bình mỗi
năm ghi nhận khoảng 50.000 - 100.000 ngƣời mắc, gần 100 ngƣời tử vong. Giai
đoạn từ năm 2016 - 2020 bệnh sốt xuất huyết có chiều hƣớng gia tăng trở lại số mắc
trung bình mỗi năm khoảng 157.000 ngƣời và tử vong 34 ngƣời. Giai đoạn đầu và
giai đoạn gần đây số mắc và tử vong có tỷ lệ nghịch với nhau. Đây chính là sự nổ
lực của ngành y tế về cơng tác phịng và điều trị bệnh SXHD (Phụ lục 7).
1.2.3. Khu vực Tây Nguyên
H
P
Số lƣợng mắc bệnh SXHD của khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2015 - 2020
có xu hƣớng gia tăng hơn so với những năm trƣớc, tổng số mắc/chết 100.037/16 ca.
giai đoạn này năm 2019 có số mắc/chết cao nhất theo từng tỉnh: Đăk Lăk có số
mắc/chết cao nhất: 43.904/04 ca, tỷ suất mắc 1.232 ca/100.000 dân; đứng thứ hai là
Gia Lai 37.430/02 ca, tỷ suất mắc 962 ca/100.000 dân; tiếp theo là Đăk Nông số
U
mắc/chết 9.996/01 ca, tỷ suất mắc 886 ca/100.000 dân và cuối cùng là Kon Tum số
mắc/chết 8.707/02 ca, tỷ suất mắc 686 ca/100.000 dân. Năm 2019 Kon Tum có số
ca mắc thấp nhất khu vực nhƣng số chết bằng tỉnh Gia Lai (Phụ lục 8).
H
1.2.4. Tỉnh Gia Lai
Hệ thống y tế của tỉnh Gia Lai từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở ngày càng đƣợc
củng cố, công tác dự phòng và điều trị đƣợc cải thiện rõ rệt. Những năm gần đây
tình hình bệnh dịch sốt xuất huyết của tỉnh chƣa đƣợc đẩy lùi, ngƣợc lại ngày càng
gia tăng. Năm 2016 số mắc rất cao và có tử vong 13.374/01 ca, đến năm 2019 số
mắc/chết 11.450/02. Tuy nhiên số mắc cao nhƣng tỷ lệ tử vong vẫn thấp hơn so với
số lƣợng tử vong chung của cả nƣớc (Phụ lục 9).
.
.
7
1.2.5. Huyện Đăk Đoa
Bảng 1.1: Tình hình mắc/chết sốt xuất huyết Dengue của huyện Đăk Đoa giai đoạn
2017 – 2020.
Stt
Xã/Thị Trấn
1
Thị Trấn
Xã Hải Yang
2
Xã ĐăkSơMei
3
Xã Đăk Rong
4
Xã Nam Yang
5
Xã Hà Bầu
6
Xã Tân Bình
7
Xã HNeng
8
Xã KDang
9
10 Xã GLar
11 Xã A Dƣk
12 Xã Trang
13 Xã Ia Băng
14 Xã Ia Pêt
15 Xã Kon Gang
16 Xã Hà Đông
17 Xã HNol
Tỷ lệ mắc/100.000 dân
Tỷ lệ mắc/100.000 dân theo năm
2017
2018
175
0
107
91
60
121
438
82
53
0
17
19
55
0
29
0
0
79
146
0
0
71
72
44
20
41
51
0
16
54
9
0
0
0
0
41
2020
H
P
U
H
2019
993
0
47
244
1,452
115
1,017
223
466
0
47
104
79
40
0
0
26
351
464
0
15
16
116
12
460
0
100
0
30
0
32
0
0
0
25
101
Tử vong
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
(Nguồn số liệu báo cáo của Trung tâm Y tế huyện Đăk Đoa từ năm 2017 - 2020)
Tình hình mắc bệnh sốt xuất huyết của huyện Đăk Đoa gia tăng có tính chất
theo chu kỳ, từ năm 2017 - 2020 cho thấy số ca mắc cao nhất năm 2019 là: 413 ca,
tỷ lệ 351ca/100.000 dân; năm 2020 là: 127 ca, tỷ lệ mắc 101ca/100.000 dân; năm
8
2017 là: 86 ca, tỷ lệ mắc 79 ca/100.000 dân và thấp nhất năm 2018 là: 46 ca, tỷ lệ
mắc 41/100.000 dân. Thị trấn số mắc năm 2019 cao nhất là: 155 ca, tiếp đến là xã
Nam Yang 108 ca và xã Tân Bình 50 ca (Xã Nam Yang và xã Tân Bình có tỷ lệ
ngƣời kinh 100%) và khơng có tử vong.
1.2.6. Thị trấn Đăk Đoa
Theo báo cáo hằng năm của Trung tâm Y tế huyện Đăk Đoa tình hình mắc
sốt xuất huyết của thị trấn: Năm 2017 số ca mắc 26 ca, tỷ lệ mắc 175 ca/100.000
dân; năm 2018 số ca mắc 22 ca, tỷ lệ mắc 146 ca/100.000 dân; năm 2019 số ca mắc
155 ca, tỷ lệ mắc 993 ca/100.000 dân; năm 2020 số ca mắc 73 ca, tỷ lệ mắc 464
ca/100.000 dân. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết/100.000 dân của thị trấn: Năm 2018 và
H
P
năm 2020 cao nhất huyện; năm 2017 cao thứ hai và năm 2020 cao thứ ba (Bảng 1.1)
1.3. Thực trạng kiến thức, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của
ngƣời dân
1.3.1. Kiến thức của ngƣời dân về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue
Kiến thức về tác nhân gây bệnh
U
Kết quả của nhiều tác giả đã cho thấy ngƣời dân đã biết tác nhân gây bệnh
SXHD là do nhiễm vi rút Dengue. Nghiên cứu của Selvarajoo Sivaneswari và cộng
sự năm 2020 tại Malaysia, kết qủa cho thấy bệnh SXHD do vi rút truyền bệnh khá
H
cao chiếm tỷ lệ là 82,2%. Ngoài ra đối tƣợng tham gia nghiên cứu trả lời vi rút
Dengue có khả năng lây nhiễm nhiều lần cho một ngƣời tỷ lệ là 66,7%(22).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vĩnh Điền tại xã Đại Ân 2, huyện Trần
Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2016, kết quả cho thấy 49% ngƣời dân tham gia nghiên cứu
biết đƣợc nguyên nhân gây bệnh SXHD (23), kết quả này tƣơng đƣơng với nghiên
cứu của Nguyễn Huy Bổng tại xã Hòa Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
năm 2016, kết quả cho thấy có 57,9% đối tƣợng biết nguyên nhân gây bệnh SXHD
do muỗi (24) và nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Ánh tại Quận Cầu Giấy, Hà Nội
năm 2015 cho thấy có 68,7% đối tƣợng biết trung gian truyền bệnh SXHD là do
muỗi vằn (15).
Kiến thức về véc tơ truyền bệnh
9
Khảo sát nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiệt tại xã Quốc Thái, huyện An Phú,
tỉnh An Giang năm 2015, cho thấy 78,4% ngƣời dân có kiến thức hiểu biết nơi đẻ
trứng của muỗi và nơi cƣ trú của muỗi 86,9% (25). Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ
Ngọc Nhuận tại thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2016 cho
thấy ngƣời dân biết 55% muỗi vằn đậu trong nhà và biết nơi sống của bọ gậy 91,9%
(14). Nghiên cứu của Lê Thanh Tùng năm 2017 tại xã Nhân Cơ, huyện Đăk RLấp,
tỉnh Đăk Nông cho thấy 45,1% ngƣời dân biết muỗi sinh sản ở DCCN, lọ hoa, chậu
cây cảnh (26). Kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Dũng tại xã Kỳ Lôi, huyện Kỳ
Anh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 cho thấy ngƣời dân có kiến thức đúng về nơi muỗi
đậu, nơi để trứng của muỗi là 60% (27). Nghiên cứu của Phan Văn Sâm tại xã
H
P
Lƣơng Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2020, kết quả cho thấy biết nơi muỗi
vằn đẻ trứng là 93,5% (28).
Kiến thức về thời điểm muỗi đốt
Muỗi vằn cái hoạt động đốt ngƣời thời điểm ban ngày, hoạt động mạnh nhất
vào sáng sớm và chiều tối. Nghiên cứu của Kazaura năm 2019, cho thấy 75%
U
ĐTNC trả lời muỗi lây truyền vi rút SXHD đốt ngƣời bệnh vào ban ngày (29).
Nhƣng cũng có nghiên cứu kiến thức của ngƣời dân biết về thời điểm muỗi đốt rất
thấp nhƣ nghiên cứu của Dhimal Meghnath và cộng sự tại Nepal năm 2014 cho thấy
H
ĐTNC trả lời SXHD do muỗi đốt vào ban ngày là 8%(30). Theo nghiên cứu của
Nguyễn Văn Kiệt tại xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang năm 2015, cho
thấy kiến thức hiểu biết về thời điểm muỗi đốt ngƣời truyền bệnh ban ngày là
51,6% (25). Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Ánh tại Quận Cầu Giấy, Hà Nội
năm 2015 cho thấy có 62% đối tƣợng biết muỗi truyền bệnh SXHD hoạt động đốt
ngƣời vào ban ngày (15). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận thị trấn
Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2016 cho thấy ngƣời dân biết thời
điểm muỗi đốt ngƣời ban ngày là 25,9% (14).
Kiến thức về đƣờng lây
Một số nghiên cứu của các nƣớc trên thế giới cho rằng kiến thức của ngƣời
dân biết đƣờng lây truyền bệnh SXHD là do muỗi Aedes aegypti đốt là khá cao.
10
Nghiên cứu của Gyawali Narayan và cộng sự tại Australia năm 2016 cho thấy
ĐTNC trả lời lây truyền bệnh SXHD do muỗi đốt là 94,47% (31). Nghiên cứu của
Selvarajoo Sivaneswari và cộng sự tại Malaysia năm 2020 cho thấy hầu hết ngƣời
dân biết đƣờng lây truyền bệnh SXHD do muỗi đốt là 97,2% (22). Tuy nhiên,
Nghiên cứu của Kazaura tại khu vực nông thôn TanZania năm 2019 cho thấy tỷ lệ
kiến thức đúng về đƣờng lây truyền bệnh SXHD của ngƣời dân thấp hơn là 32,5%
(29).
Tại Việt Nam kiến thức của ngƣời dân hiểu biết về đƣờng lây bệnh SXHD
tƣơng đƣơng các nghiên cứu của nƣớc ngoài nhƣ: Nghiên cứu của Nguyễn Thị
Minh Ngọc tại Hải Phòng năm 2018 cho thấy có 83,9% ngƣời dân biết đến đƣờng
H
P
lây truyền bệnh SXHD là do muỗi đốt (32). Kết quả nghiên cứu của Phan Văn
Sâm tại xã Lƣơng Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2020 cho thấy đối
tƣợng biết đƣờng lây truyền bệnh SXHD khá cao 98,5% (28). Tuy nhiên, cũng có
một số nghiên cứu cịn thấp, nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiệt tại xã Quốc Thái,
huyện An Phú, tỉnh An Giang năm 2015 cho thấy có 73,8% ngƣời dân biết đến
U
đƣờng lây bệnh SXHD là do muỗi vằn đốt (25).
Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh
Kiến thức về các biện pháp phịng bệnh SXHD đóng vai trị hết sức quan
H
trọng là một trong những mắc xích khơng thể thiếu đƣợc. Vì vậy, ngƣời dân cần
phải có kiến thức đúng về phòng bệnh SXHD. Nghiên cứu của Kazaura tại
TanZania năm 2019 cho thấy có 64,9% ĐTNC trả lời dùng vợt muỗi và có 44,1%
ĐTNC trả lời dùng hóa chất xịt diệt muỗi (29). Nghiên cứu của Selvarajoo
Sivaneswari và cộng sự tại Malaysia năm 2020 cho thấy việc sử dụng bình xịt muỗi
để diệt muỗi chiếm 94,5%, tiếp theo là 58,3% là sử dụng thuốc đuổi muỗi (22).
Khảo sát nghiên cứu của Kazaura năm 2019 cho thấy ngƣời dân có kiến thức chung
đúng là 28%: Trong đó, kiến thức về ngủ màn là 64,9%, mặc quần, áo dài tay là
22,7% (29). Nghiên cứu của Lê Thanh Tùng năm 2017 tại xã Nhân Cơ, huyện
Đăk RLấp, tỉnh Đăk Nông cho thấy ngƣời dân có kiến thức ngủ màn 84,2% (26).
Kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Dũng năm 2021 tại xã Kỳ Lôi, huyện Kỳ
Anh, tỉnh Hà Tĩnh cho thấy ngƣời dân có kiến thức phịng muỗi đốt bằng biện
11
pháp ngủ màn là 80,3% (27). Kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Ngọc Ánh tại
xã Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi năm 2014, cho thấy đối tƣợng biết
biện pháp diệt véc tơ để phòng bệnh SXHD là 72%; đối tƣợng biết các biện pháp
phòng tránh muỗi đốt khác là 36,7%; đối tƣợng biết biện pháp phòng diệt lăng
quăng/bọ gậy là 74,3% (15).
Theo kết quả nghiên cứu của Shuaib Faisal và cộng sự tại Westmoreland,
Jamaica năm 2010, kết quả cho thấy phƣơng tiện truyền thơng đóng vai trò rất quan
trọng vào các mức độ nhận thức giữa cá nhân đƣợc phỏng vấn cho thấy Radio và
Truyền hình là nguồn chủ yếu của thông tin về bệnh SXHD và số ngƣời tham gia
nhận đƣợc thông tin về bệnh SXHD từ cán bộ y tế là 52,0% (33). Nghiên cứu của
H
P
Al-Dubai tại Malaysia năm 2013 cho thấy việc tiếp cận phƣơng tiện thông tin đại
chúng thuận tiện là yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh SXHD (34).
Kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Dũng năm 2021 tại Hà Tĩnh cho thấy đối
tƣợng nhận thông tin từ ti vi, loa đài, CBYT có kiến thức đạt cao hơn nhóm ngƣời
khơng đƣợc nhận đƣợc thơng tin. Những ngƣời mong muốn nhận thơng tin về
U
phịng muỗi đốt, hóa chất diệt muỗi có kiến thức đạt cao hơn 2,5 lần so với nhóm
ngƣời khơng muốn nhận thơng tin. (27).
Tại Mexico năm 2011 tiến hành nghiên cứu kiểm soát Aedes aegypti kết hợp
H
giữa truyền thông giáo dục sức khỏe và phun malathion để làm giảm sinh sản của
muỗi. Ngƣời ta đã chọn ngẫu nhiên 187 hộ gia đình, điều tra KAP và chỉ số côn
trùng trƣớc và sau can thiệp: 46 HGĐ chỉ phun Malathion, 47 HGĐ chỉ áp dụng
truyền thông, 49 HGĐ áp dụng cả 2 phƣơng pháp, 45 HGĐ không can thiệp. Can
thiệp trong thời gian 6 tháng cho thấy chiến dịch truyền thông giáo dục sức khỏe
làm giảm nơi sinh sản của muỗi Aedes aegypti hơn việc sử dụng hoá chất Malathion
(35) và theo báo cáo của WHO cho thấy phƣơng pháp phun hố chất diệt muỗi ít
hiệu quả, gây tốn kém nhiều và ngồi ra phun hố chất còn làm cho ngƣời dân ỷ lại,
ý thức lơ là chủ quan, khơng tích cực loại bỏ nơi sinh sản của muỗi để phòng bệnh
sốt xuất huyết (36-38).
1.3.2. Thực hành của ngƣời dân về phòng bệnh sốt xuất Dengue
Thực hành về các biện pháp phòng tránh muỗi đốt
12
Nghiên cứu của Trần Quốc Dũng tại Hà Tĩnh năm 2021 cho thấy những
ngƣời đƣợc tiếp cận với các thông tin truyền thơng về phịng bệnh SXHD giúp
ngƣời dân thực hành phòng bệnh SXHD tốt hơn (27). Nghiên cứu của Dhimal
Meghnath và cộng sự tại Nepal năm 2014 cho thấy có 81% ĐTNC trả lời đúng dùng
màn để phịng tránh muỗi đốt (30). Nghiên cứu của Gyawali Narayan và cộng sự tại
Australia năm 2016 cho thấy có 85,03% ĐTNC xác định đúng ít nhất một phƣơng
tiện phịng ngừa, có tổng cộng 69,72% ĐTNC trả lời sử dụng thuốc chống côn
trùng, mặc quần áo kín và tránh đến các khu vực dễ bị muỗi đốt (31). Nghiên cứu
của Kazaura tại TanZania năm 2019 cho thấy 22,7% ĐTNC trả lời mặc quần áo dài
tay để phòng tránh muỗi đốt (29).
H
P
Theo Nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiệt tại xã Quốc Thái, huyện An Phú,
tỉnh An Giang năm 2015 cho thấy có 18,4% đối tƣợng ngủ màn kể cả ban ngày
(25), kết quả này tƣơng đƣơng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phƣơng Huyền
và nghiên cứu của Lê Thanh Tùng lần lƣợt: 19,6%; 17,3% (26, 39). Kết quả các
nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ ngủ màn ban ngày còn thấp là phù hợp với thực tế.
U
Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận tại thị trấn Vân Canh,
huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2016 cho thấy ngƣời dân ngủ màn ban
ngày phịng bệnh SXHD có tỷ lệ là 41,8% cao hơn các nghiên cứu trên (14).
H
Thực hành về các biện pháp vệ sinh chung
Nghiên cứu của Dhimal Meghnath và cộng sự tại Nepal năm 2014 cho thấy
các ĐTNC trả lời đậy các DCCN trong nhà 95%, chặt cây bụi trong sân 94%, loại
bỏ nƣớc đọng quanh nhà 95%, xử lý các vật dụng chứa nƣớc nhƣ lốp xe, các bộ
phận của ô tô, chai nhựa, chậu nứt, v.v. 91%, ngăn chặn nƣớc đọng 90%, dọn sạch
rác/thùng rác 92%, úp ngƣợc thùng chứa để tránh đọng nƣớc 90% (30). Nghiên cứu
của KazauraTanZania năm 2019 cho thấy ĐTNC trả lời loại bỏ nƣớc tù đọng xung
quanh nhà của họ, làm sạch các nơi có thể chứa nƣớc chiếm 17,1% và 9% trả lời
phá hủy nơi muỗi sinh sản nhƣ phát quang bụi rậm và các nơi chứa nƣớc mƣa (29).
Nghiên cứu của Selvarajoo Sivaneswari và cộng sự tại Malaysia năm 2020 cho thấy
biện pháp diệt bọ gậy: 95,0% ĐTNC trả lơi tìm kiếm và tiêu diệt nơi sinh sản của
muỗi nhƣ bụi rậm, vỏ lốp xe, 53,5% ĐTNC cọ rửa thùng chứa nƣớc để loại bỏ trứng
13
muỗi bám vào thùng chứa (22).
Tại Việt Nam nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kiệt tại xã Quốc Thái,
huyện An Phú, tỉnh An Giang năm 2015, cho thấy thực hành đúng về phòng bệnh
SXHD của ngƣời dân khá cao nhƣ: 91,5% súc rửa DCCN sinh hoạt 01lần/tuần;
90,7% đậy kín DCCN sinh hoạt; vật phế thải vứt ra sân và úp lại là 70,3%; vật phế
thải có chứa nƣớc cho vào nơi để rác là 93,0% (25). Tuy nhiên, vẫn có một số
nghiên cứu thấp hơn nhƣ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận năm
2016 tại thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định cho thấy ngƣời dân
thực hành các biện pháp vệ sinh phòng bệnh SXHD nhƣ: Có 48,2% đậy kín nắp
DCCN sinh hoạt; có 63,2% thau rửa DCCN sinh hoạt; 24,1% thả cá vào DCCN
H
P
sinh hoạt; thu nhặt phế liệu phế thải là 35,9% và có 53,6% HGĐ súc rửa DCCN
sinh hoạt định kỳ (14).
Thực hành về các biện pháp diệt muỗi
Nghiên cứu của Dhimal Meghnath và cộng sự tại Nepal năm 2014 cho thấy
80% ĐTNC trả lời diệt muỗi sử dụng bình xịt diệt côn trùng (30). Nghiên cứu của
U
Kazaura tạiTanZania năm 2019 cho thấy 64,9% ĐTNC trả lời dùng vợt muỗi và
44,1% ĐTNC trả lời dùng hóa chất xịt diệt muỗi (29). Nghiên cứu của Selvarajoo
H
Sivaneswari và cộng sự tại Malaysia năm 2020 cho thấy việc sử dụng bình xịt muỗi
để diệt muỗi chiếm 94,5% (22). Nghiên cứu của Gyawali Narayan và cộng sự tại
Australia năm 2016 cho thấy 20,93% ĐTNC trả lời xông hơi và dọn sạch các dụng
cụ chứa nƣớc xung quanh nhà ở là biện pháp tiêu diệt muỗi truyền bệnh SXHD
(31).
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Ngọc Ánh tại xã Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi năm 2014, cho thấy thực hành diệt muỗi truyền bệnh SXHD của ngƣời
dân có 51,0% dùng vợt điện diệt muỗi; có 34,7% hộ gia đình dùng hóa chất diệt
muỗi (15). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận tại thị trấn Vân Canh,
huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2016 cho thấy ngƣời dân thực hành diệt muỗi
bằng cách phun thuốc diệt muỗi là 47,3%; dùng hƣơng để xua muỗi là 21,4% và
dùng vợt, đèn để diệt muỗi là 52,7% (14). Nghiên cứu của Nguyễn Phƣơng Huyền
14
tại quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2015 cho thấy ngƣời dân dùng hóa chất để diệt
muỗi là 37,4%; ngƣời dân dùng hƣơng để xua muỗi là 58,2% (39). Nghiên cứu của
Trần Quốc Dũng năm 2021 tại xã Kỳ Lôi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cho thấy
thực hành các biện pháp diệt muỗi nhƣ phun thuốc là 51,1%; dùng hƣơng xua muỗi
là 45,9%; dùng vợt diệt muỗi là 47,1% (27). Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên
cho thấy các biện pháp diệt muỗi đƣợc ngƣời dân dùng chủ yếu nhƣ phun hóa chất,
dùng hƣơng, dùng vợt để xua muỗi.
Thực hành về các biện pháp diệt lăng quăng/bọ gậy
Nghiên của Nguyễn Văn Kiệt tại xã QuốcThái, huyện An Phú, tỉnh An Giang
năm 2015, cho thấy thực hành biện pháp diệt lăng quăng/bọ gậy: HGĐ thả cá ăn
H
P
lăng quăng/bọ gậy là 28,6% (25), tƣơng tự nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận
tại thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2016, kết quả cho thấy
đối tƣợng thả cá vào DCCN để diệt bọ gậy là 24,1% và nghiên cứu của Huỳnh
Ngọc Ánh tại xã Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi năm 2014, kết quả cho
thấy ĐTNC thả cá diệt bọ gậy là 26,6% (14, 15).
U
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Hồng tại xã Mỹ Long, huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016, cho thấy xã Mỹ Long đối tƣợng thực hành
diệt lăng quăng/bọ gậy phịng bệnh SXHD: có 39% ngƣời dân thả cá ăn lăng
H
quăng/bọ gậy; có 5,5% dùng vợt diệt lăng quăng/bọ gậy; bỏ muối vào chén chống
kiến là 8%(40). Tại khu vực Tây Nguyên, Viện VSDT Tây Nguyên từ năm 2007 2008 nghiên cứu mơ hình phịng bệnh SXHD dựa vào cộng đồng, xã hội hóa cơng
tác phịng, chống bệnh SXHD để tổ chức các chiến dịch diệt lăng quăng/bọ gây một
năm 02 lần và kết hợp các kênh truyền thông đến tận ngƣời dân, kết quả tại các
điểm nghiên cứu số mắc SXHD giảm, hoạt động của CTV đƣợc duy trì và thực hiện
thƣờng xuyên, hành vi của ngƣời dân đƣợc thay đổi rõ rệt (41)
1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng tới kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất
huyết Dengu
1.4.1. Mối liên quan tới kiến thức phịng bệnh sốt xuất huyết Dengue
Giới tính
Giới tính đã đƣợc nhiều nghiên cứu chỉ ra là có mối liên quan tới kiến thức