Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Thực trạng chăm sóc y tế và xã hội tại cộng đồng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt trong chương trình quốc gia về sức khỏe tâm thần tại thành phố tuyên quang, năm 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 103 trang )

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN KHOA

H
P

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC Y TẾ VÀ XÃ HỘI TẠI
CỘNG ĐỒNG CHO BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TRONG CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA VỀ SỨC KHỎE
TÂM THẦN TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, NĂM 2016

U

H

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05

Hà Nội, 2016


i

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN KHOA

H


P

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC Y TẾ VÀ XÃ HỘI TẠI
CỘNG ĐỒNG CHO BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TRONG CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA VỀ SỨC KHỎE
TÂM THẦN TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, NĂM 2016

U

H

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Minh Thủy

Hà Nội, 2016


i

LỜI CẢM ƠN

Trong q trình học tập khố học Chun khoa II Quản lý Y tế, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cơ giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè.
Tơi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại
học, các Thầy Cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng, Sở Y tế, Sở Lao động
Thương binh và Xã hội, Bệnh viện đa khoa Tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện

H

P

cho tơi tham dự khố học cũng như tận tình giảng dạy, hướng dẫn, hỗ trợ tơi hồn
thành chương trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu.

Tơi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.BS Nguyễn Thị Minh
Thuỷ, người giáo viên với lòng nhiệt huyết đã tận tình giúp đỡ tơi từ khi xác định

U

vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hồn thành luận văn này.
Cuối cùng, tơi xin bày tỏ lịng cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
của tôi – những người đã luôn động viên, khích lệ tơi trong suốt q trình học tập
và nghiên cứu.

H

Học viên lớp CKII QLYT
Nguyễn Văn Khoa


ii

MỤC LỤC

Contents
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... i
MỤC LỤC .................................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ........................................................................................ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ .............................................................................................................. 1

H
P

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................... 4
1.1. Giới thiệu chung về bệnh tâm thần (TT) ............................................................. 4
1.1.1.

Định nghĩa Sức khoẻ tâm thần (SKTT) ..................................................... 4

1.1.2.

Định nghĩa Người bị bệnh TT ................................................................... 4

1.2.

Nguyên nhân và phòng ngừa ..................................................................... 4

1.3.

Các khó khăn mà người bệnh TT và gia đình họ phải đối mặt ................. 5

1.4.

Phát hiện bệnh Tâm thần ........................................................................... 6

1.5.


Bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL)............................................................... 7

1.6.

Khái qt về cơng tác chăm sóc người bệnh TTPL và các yếu tố ảnh

U

H

hưởng đến cơng tác chăm sóc y tế và xã hội. [3], [15] ................................................ 9
1.7.

Các yếu tố ảnh hưởng đến cơng tác chăm sóc y tế và xã hội .................. 11

1.8.

Thực trạng bệnh TT trên thế giới và tại Việt Nam .................................. 11

1.9.

Các nghiên cứu về chăm sóc bệnh nhân TTPL ....................................... 13

1.10.

Giới thiệu chung về thành phố Tun Quang và cơng tác chăm sóc, hỗ

trợ, phục hồi chức năng tại địa bàn nghiên cứu. ........................................................ 16
2.


Khung lý thuyết ....................................................................................... 18

Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................ 19
2.1.

Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 19

2.2.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................... 19

2.3.

Thiết kế nghiên cứu ................................................................................. 19

2.4.

Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu ............................................................. 20

2.5.

Phương pháp thu thập số liệu .................................................................. 20


iii

2.6.

Quy trình thu thập số liệu ........................................................................ 21


2.7.

Biến số nghiên cứu (phụ lục 3) ................................................................ 21

2.8.

Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ......................................... 22

2.9.

Quản lý và phân tích số liệu .................................................................... 25

2.10.

Đạo đức nghiên cứu ................................................................................. 25

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 27
3.1.

Thực trạng chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt

trong chương trình quốc gia về sức khoẻ tâm thần tại thành phố Tuyên Quang, năm
2016

27

3.3.

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai cũng như việc chăm sóc y tế và


xã hội tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016 ........................................................... 43

H
P

o Cộng đồng và gia đình người bệnh TTPL: ............................................................. 48
Chương 4. BÀN LUẬN ............................................................................................. 50
4.1.

Thực trạng người bệnh tâm thần được chăm sóc y tế và xã hội tại thành

phố Tuyên Quang, năm 2016 ...................................................................................... 50
4.2.

Việc triển khai chương trình chăm sóc SKTT quốc gia tại thành phố

U

Tun Quang, năm 2016 và các yếu tố ảnh hưởng .................................................... 59
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 63
KHUYẾN NGHỊ ........................................................................................................ 65

H

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 66
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 70
Phụ lục 2: Hướng dẫn thảo luận nhóm cán bộ y tế .................................................... 77
Phụ lục 3: Hướng dẫn thảo luận nhóm cán bộ xã hội ................................................ 79
Phụ lục 4: Nhóm biến số ............................................................................................ 81

BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA SAU BẢO VỆ ĐỀ CƯƠNG/BÁO CÁO .. 92
Xác nhận của GVHD

Học viên.............................................................................. 94


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BS

Bác sỹ

BYT

Bộ Y tế

CSSK

Chăm sóc sức khoẻ

CSC

Chăm sóc chính

NB

Người bệnh


NKT

Người khuyết tật

PHCN

Phục hồi chức năng

TP

Thành phố

TT

Tâm thần

TTPL

Tâm thần phân liệt

WHO

Tổ chức Y tế thế giới

H

U

H
P



v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin chung về người CSC bệnh nhân TTPL ................................... 25
Bảng 3.2: Người CSC được tiếp cận các thơng tin hướng dẫn cách chăm sóc ........ 26
Bảng 3.3: Nội dung người CSC được tư vấn, hướng dẫn ........................................ 27
Bảng 3. 4: Người bệnh TTPL được khám theo định kỳ ...........................................28
Bảng 3.5: Tần suất lĩnh thuốc tại trạm y tế xã/ phường ........................................... 28
Bảng 3. 6: Nguồn thuốc mà người bệnh TTPL sử dụng .......................................... 28
Bảng 3.7: Loại thuốc người bệnh TTPL đang được cấp sử dụng ............................ 29

H
P

Bảng 3. 8: Loại thuốc mà người bệnh TTPL mua ngoài .......................................... 29
Bảng 3. 9: Số lần dùng thuốc của người bệnh TTPL trong ngày ............................. 30
Bảng 3.10: Thời điểm dùng thuốc cho người bệnh TTPL ....................................... 30
Bảng 3.11: Tần suất dùng thuốc của bệnh nhân TTPL ............................................ 30
Bảng 3.12: Liều dùng thuốc của người bệnh TTPL ................................................. 31

U

Bảng 3.13: Cách uống thuốc của người bệnh TTPL ................................................ 31
Bảng 3.14: Tác dụng phụ khi uống thuốc của người bệnh TTPL ............................ 31
Bảng 3.15: Xử trí của NCSC khi người bệnh TTPL gặp tác dụng phụ của thuốc ... 32

H


Bảng 3.16: Tần suất thăm khám tại nhà bệnh nhân của CBYT ............................... 32
Bảng 3.17: Chăm sóc về vệ sinh cá nhân hàng ngày của bệnh nhân TTPL............. 33
Bảng 3. 18: Tần suất gặp và nói chuyện với các thành viên trong gia đình............. 34
Bảng 3. 19: Tần suất người bệnh TTPL ăn chung với gia đình................................ 34
Bảng 3. 20: Đối tượng người bệnh TTPL có giao tiếp với những người ngoài xã hội.
35
Bảng 3.21: Tần suất người bệnh TTPL Người bệnh TTPL có giao tiếp với những
người ngồi xã hội .................................................................................................... 35
Bảng 3. 22: Người bệnh TTPL được khuyến khích làm việc phù hợp với khả năng ...
36
Bảng 3. 23: Người bệnh TTPL tham gia các hoạt động đoàn thể ............................ 36


vi

Bảng 3. 24: Người bệnh TTPL được tham gia câu lạc bộ thể thao hay một hội có
cùng sở thích hay đoàn thể tại địa phương ............................................................... 37
Bảng 3. 25: Người bệnh TTPL quan tâm tới tin tức thời sự hoặc nói chuyện thời sự
với người khác .......................................................................................................... 37
Bảng 3. 26: Người bệnh TTPL có thường xuyên đọc các bài viết trên báo về tin tức
trong nước và quốc tế ...............................................................................................38
Bảng 3. 27: Hỗ trợ người bệnh TTPL được nhận từ chính phủ/ cơ quan đồn thể/ cá
nhân .......................................................................................................................... 38
Bảng 3.28: Nguồn tiền được hỗ trợ cho người bệnh TTPL ..................................... 39
Bảng 3. 29: Hỗ trợ người bệnh TTPL được nhận từ cán bộ xã hội .......................... 39

H
P

Bảng 3.30: Điểm trung bình chăm sóc cho người bệnh tại cộng đồng .................... 40

Bảng 3. 31: Liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của người CSC với việc chăm
sóc người bệnh TTPL ............................................................................................... 40

H

U


vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ và có
khuynh hướng mạn tính. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ mắc bệnh
TTPL là 0,48 – 0,69% dân số. Theo thống kê của Chương trình Quốc gia năm
2012, ở Việt Nam tỷ lệ mắc TTPL là 0,47% dân số, bệnh khởi phát ở lứa tuổi 18 –
40. Người bệnh TTPL có những triệu chứng biến đổi phức tạp trên các mặt hoạt
động tâm thần, họ không thể thực hiện được rất nhiều hoạt động sinh hoạt hàng
ngày, do đó cần có sự chăm sóc, hỗ trợ lâu dài.
Cơng tác chăm sóc y tế, xã hội và phục hồi chức năng của người bệnh TTPL
được sự quan tâm của toàn xã hội, quản lý bệnh tâm thần phân liệt là chương trình
mục tiêu quốc gia trọng điểm. Cho đến nay, mơ hình đã bao phủ trên tồn 64 tỉnh

H
P

thành. Tuyên Quang là thành phố (tp) thuộc tỉnh Tun Quang, ở khu vực miền núi
phía Bắc, gồm có 13 xã phường. Trên địa bàn thành phố, chương trình sức khoẻ tâm
thần hiện nay đang quản lý 134 bệnh nhân tâm thần phân liệt và 137 bệnh nhân
động kinh. Nhằm đánh giá về thực trạng chăm sóc y tế và xã chăm sóc xã hội cho
bệnh nhân TTPL, chúng tơi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc y tế và


U

chăm sóc xã hội tại cộng đồng cho người bệnh Tâm thần phân liệt trong chương
trình Quốc gia về Sức khỏe tâm thần tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016”.
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang, định tính kết hợp định lượng

H

trên 137 đối tượng là người chăm sóc chính bệnh nhân tâm thần phân liệt và phỏng
vấn các bên liên quan. Kết quả cho biết điểm trung bình chăm sóc chung cho người
bệnh là 13,60. Nội dung được tư vấn: 100% được tư vấn sử dụng thuốc, 93,9%
được tư vấn CSYT, 74,8% được tư vấn PHCN. Có sự khác biệt về điểm trung bình
chăm sóc ở các nhóm tuổi, nhóm người CS lớn tuổi có điểm chăm sóc cao hơn. Ở
nhóm nghề nghiệp, nhóm CBCNVC và người hưu trí có điểm trung bình chăm sóc
cao hơn gấp 3 lần so với nhóm cịn lại (p<0,05). Các yếu tố ảnh hưởng gồm có cơng
tác tổ chức, quản lý chương trình; Cộng đồng và gia đình người bệnh TTPL. Qua
kết quả nghiên cứu, chúng tơi cũng có một số đề xuất với chính quyền địa phương,
các ban ngành đồn thể và ngành y tế về cơng tác điều trị, hỗ trợ, chăm sóc, tạo
điều kiện việc làm, hoà nhập đối với người bệnh TTPL; đề xuất người nhà người
bệnh TTPL dành thời gian quan tâm, giao tiếp, phối hợp với ngành y tế để chăm
sóc tốt người bệnh về mặt vật chất lẫn tinh thần.


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong số các dạng khuyết tật về tâm thần, tâm thần phân liệt (TTPL) là một
bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ và có khuynh hướng mạn tính. Theo thống kê
của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,48 – 0,69% dân số [30]. Theo
thống kê của Chương trình Quốc gia năm 2012, ở Việt Nam tỷ lệ mắc TTPL là

0,47% dân số, bệnh khởi phát ở lứa tuổi 18 – 40 [2]. Và theo Trần Viết Nghị thì tỷ
lệ này là 0,3 – 1,5% [12]. Người bệnh TTPL có những triệu chứng biến đổi phức tạp
trên các mặt hoạt động tâm thần, họ không thể thực hiện được rất nhiều hoạt động
sinh hoạt hàng ngày, do đó cần có sự chăm sóc, hỗ trợ lâu dài [16].

H
P

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hiện nay cả nước có khoảng 17
trung tâm điều dưỡng, phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần tại 15 tỉnh/
thành và một số cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp khác. Có khoảng hơn 6000 người
bệnh tâm thần ở mức nặng đang được điều trị và phục hồi trong những trung tâm
này. Cũng theo số liệu điều tra năm 2010 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,

U

có tới 60.000 người tâm thần đi lang thang; 94.000 người có hành vi nguy hiểm đến
cộng đồng. Số người khơng có hành vi nguy hiểm, đang sống tại gia đình khoảng
40.000 người [6]. Cơng tác chăm sóc y tế, xã hội và phục hồi chức năng của người

H

bệnh TTPL được sự quan tâm của toàn xã hội, quản lý bệnh tâm thần phân liệt là
chương trình mục tiêu quốc gia trọng điểm. Chương trình này đã tập trung vào cơng
tác chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội cho người bệnh TTPL. Nhằm mục đích điều
trị và phục hồi giúp người bệnh trở lại cuộc sống bình thường trước đây, có thể hịa
nhập tốt với cộng đồng của mình. Cho đến nay, mơ hình đã bao phủ trên tồn 64
tỉnh thành với gần 40% xã/ phường của Việt Nam. Nhờ có mơ hình này, những
người bị TTPL và động kinh đã được quản lý tại cộng đồng và sự miệt thị đã được
giảm bớt. Điều này đóng góp phần rất lớn trong việc giảm đau khổ và vất vả cho cả

NB và gia đình họ [17].
Tuyên Quang là thành phố (tp) thuộc tỉnh Tuyên Quang, ở khu vực miền núi
phía Bắc, gồm có 13 xã phương. Đây là thành phố có tốc độ phát triển khá nhanh,


2

đơ thịnh hố mạnh mẽ. Tuy nhiên, đi đơi với sự phát triển nhanh về kinh tế - văn
hoá – xã hội cũng xuất hiện những mặt tiêu cực ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ tâm
thần xã hội, làm nảy sinh và gia tăng một số bệnh và rối loạn về tâm thần. Trên địa
bàn thành phố, chương trình sức khoẻ tâm thần hiện nay đang quản lý 134 bệnh
nhân tâm thần phân liệt và 137 bệnh nhân động kinh. Đây là một trong những
chương trình trọng điểm tại tỉnh và được sự quan tâm của chính quyền địa phương
cũng như ngành y tế.
Hiện nay, Tp. Tuyên Quang đã triển khai chương trình chăm sóc SK tâm thần
với sự phối hợp của nhiều ban ngành, đoàn thể trên địa bàn, tuy nhiên hiệu quả

H
P

chương trình đối với nhóm người khuyết tật (NKT) về tâm thần còn nhiều hạn chế.
Đối tượng NKT về tâm thần và gia đình người bệnh gần như chưa được hỗ trợ, đặc
biệt là tư vấn tâm lý, cách chăm sóc bệnh nhân tâm thần nói chung và TTPL nói
riêng, đặc biệt là chăm sóc về xã hội. Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào về
chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh TTPL. Vì lý do đó, chúng tơi thực hiện

U

nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội tại cộng đồng cho người
bệnh Tâm thần phân liệt trong chương trình Quốc gia về Sức khỏe tâm thần tại


H

thành phố Tuyên Quang, năm 2016”.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.

Mơ tả thực trạng chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt
trong chương trình quốc gia về sức khỏe tâm thần tại thành phố Tuyên
Quang 2016

2.

Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến cơng tác chăm sóc y tế và xã hội cho
người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng.

H
P

H

U


4


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về bệnh tâm thần (TT)
1.1.1. Định nghĩa Sức khoẻ tâm thần (SKTT)
Sức khoẻ TT là một trạng thái không chỉ là một trạng thái khơng có rối loạn
hay dị tật tâm thần, mà cịn là một trạng thái tâm thần hồn tồn thoải mái, cần phải
có chất lượng ni sống tốt, có được sự cân bằng và hồ hợp giữa các cá nhân, môi
trường xung quanh và môi trường xã hội. Như vậy, thực chất SKTT. Như vậy, thực
chất SKTT cộng đồng là:
-

Một cuộc sống thật sự thoải mái

-

Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác.

-

Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống.

-

Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ

-

Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng

H
P


bằng, căng thẳng (stress). (nguyễn Việt – 1999).
1.1.2. Định nghĩa Người bị bệnh TT

U

Người bị bệnh TT là người có biểu hiện khác lạ về lời nói, hành vi, nhân
cách so với người bình thường. Người có bệnh TT thường không nhận thức được
khuyết tật và sự bất thường của mình. Với những người này, khả năng thực hiện các

H

hoạt động sinh hoạt hàng ngày và làm việc đều giảm sút. Tình trạng bất thường về
TT có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau hàng tháng. Người bị bệnh TT đơi khi
cũng có những lúc có những biểu hiện bình thường như trước khi mắc bệnh [3].
1.2.

Nguyên nhân và phòng ngừa
Theo tài liệu của Bộ Y tế về Phục hồi chức năng cho người có bệnh tâm thần,

có thể khái qt ngun nhân và phịng ngừa như sau [3]:
TT

Nguyên nhân

Phòng


5


Tạo nên một môi trường sống và
Chấn thương tâm lý
01

trong

cuộc sống gia đình, xã hội, từ
cơng việc

làm việc lành mạnh, mỗi người tự
thích ứng với hồn cảnh, tránh mọi
căng
Chấp hành luật lệ giao thông, đội

Chấn thương sọ não do tai nạn

mũ bảo hiểm, an tồn trong lao

giao thơng, tai nạn lao động

động và các

03

Các tệ nạn xã hội như ma
tuý,

tránh tai nạn
Phòng tránh và loại trừ các chất
gây


04

Nhiễm trùng, nhiễm độc
thần

02

05

06

07

1.3.

U

H

Tâm thần tuổi già

pháp phòng

H
P

Các rối loạn nội tạng, nội tiết tố

Yếu tố di truyền


biện

Khám, chẩn đoán sớm và điều trị
kịp
Chẩn đốn sớm, điều trị kịp
thời
Hỏi tiền sử gia đình, phòng tránh
các
Sống lành mạnh, thoải mái, đủ dinh
dưỡng, tập luyện thể lực để hạn
chế

Các khó khăn mà người bệnh TT và gia đình họ phải đối mặt
Về xã hội: người bị bệnh TT bị hạn chế tham gia các hoạt động của xã hội. Ở

nhiều cộng đồng, mọi người cho rằng người bị TT là do bị trừng phạt hoặc do ma
quỷ ám hại vì vậy họ xa lánh, xua đuổi hoặc thờ ơ khơng quan tâm chăm sóc.
Người bị TT trở thành gánh nặng cho gia đình và cộng đồng, gây xáo trộn cuộc
sống và an ninh trật tự.


6

Khó khăn trong việc thực hiện các chức năng sinh hoạt hàng ngày: hạn chế
không thực hiện được các chức năng ăn uống, tắm rửa vệ sinh cá nhân, mặc quần áo
cũng như các hoạt động khác trong cuộc sống hàng ngày.
Không tiếp tục làm việc được nữa, bỏ việc đi lang thang.
Trẻ em sẽ bị gián đoạn trong việc học hành hoặc không thể học tập được.
Người bị bệnh TT cũng thường bị rối loạn tâm lý, sinh lý, tính tình buồn vui

bất thường.
Quan hệ gia đình, vợ chồng cũng bị xáo trộn, thay đổi [3].
1.4.

Phát hiện bệnh Tâm thần

H
P

Người bị bệnh TT biểu hiện các hành vi xa lạ và các dấu hiệu sau:
- Nhức đầu, mất ngủ, thay đổi tính tình

- Vui vẻ bất thường, múa hát, nói năng ầm ĩ hoặc buồn rầu, ủ rũ khơng nói gì
- Nghe thấy tiếng nói hay nhìn thấy những hình ảnh mà khơng có trong
thực tế

U

- Tự cho mình có tài năng xuất chúng hoặc cho là có người theo dõi ám hại
mình

H

- Lên cơn kích động hoặc nằm im khơng ăn uống gì
- Trí tuệ bị ảnh hưởng, rối loạn
‐ Một số dấu hiệu khác như:
o Không chịu tắm giặt trong thời gian dài
o Tự nói chuyện liên tục và khơng cho người khác nói; lời nói khơng
có ý nghĩa
o Không tiếp xúc với những người khác, chơi đùa một mình

o Khóc một mình vơ cớ. Dấu hiệu này cho biết người bệnh cần sự
trợ giúp khẩn cấp từ gia đình và cộng đồng.
o Khơng nói câu gì, lầm lũi, u sầu, trầm cảm


7

1.5.

Bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL)

1.5.1. Khái niệm
TTPL là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hướng mạn
tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc
sống bên ngoài, thu dần vào bên trong, làm cho tinh thần trở nên khô lạnh dần, khả
năng làm việc, học tập ngày càng sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu
[16].
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tổng số người bệnh TTPL trên toàn
thế giới là khoảng 24 triệu người, tỷ lệ mắc bệnh TTPL là khoảng 0,48 – 0,69% dân

H
P

số [29].

1.5.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL

Bệnh TTPL biểu hiện rất đa dạng, triệu chứng lâm sang của bệnh vô cùng
phong phú, phức tạp và luôn biến đổi trên các mặc hoạt động tâm thần. Theo Bảng
phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 của TCYTTG (ICD-10), người bệnh TTPL có


U

một số triệu chứng đặc trưng sau [16]:

- Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt, bị đánh cắp hay bị phát thanh.

H

- Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõ rệt với
vận động thân thể hay các chi có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm
giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng.
- Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo
luận với nhau về bệnh nhân hoặc các ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận
nào đó của cơ thể.
- Các hoang tưởng dai dẳng khác khơng thích hợp về mặt văn hố và hồn
tồn khơng thể có được tính đồng nhất về tơn giáo hay chính trị hoặc những khả
năng và quyền lực siêu nhân (thí dụ: có khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang
tiếp xúc với người của thế giới khác).


8

- Ảo giác dai dẳng với bất cứ loại nào có khi kèm theo hoang tưởng thống
qua hay chưa hồn chỉnh, khơng có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc có kèm theo
ý thức quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
- Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói đưa đến tư duy khơng liên quan,
lời nói khơng thích hợp hay bịa đặt.
- Tác phong căng trương lực: kích động, giữ nguyên dáng, phủ định, khơng
nói, sững sờ.

- Các triệu chứng âm tính như vơ cảm, ngơn ngữ nghèo nàn, cảm xúc cùn
mịn hay đáp ứng cảm xúc khơng thích hợp dẫn đến cách ly xã hội hay giảm

H
P

hiệu xuất lao động. Các triệu chứng không do trầm cảm hay thuốc gây ra.
- Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng tồn diện tập tính của
cá nhân như mất hứng thú, thiếu mục đích, lười nhác, mải mê suy nghĩ về cá
nhân, cách ly xã hội.

Tiêu chuẩn về lâm sàng phải có ít nhất 1 triệu chứng rõ ràng thuộc vào các

U

nhóm triệu chứng từ (1) đến (4), nếu khơng rõ thì phải có 2 triệu chứng trở lên.
Hoặc có từ 2 triệu chứng trở lên trong nhóm các triệu chứng từ (5) đến (9).

H

Tiêu chuẩn về thời gian: các triệu chứng trên phải tồn tại từ một tháng trở lên
dù được điều trị hay không.

Người bệnh TTPL dần tách rời với thực tại, cắt đứt với thế giới bên ngoài,
quay về cuộc sống nội tâm bên trong, chủ yếu bằng tính khó thâm nhập, kỳ dị, khó
hiểu. Thế năng tâm thần bị giảm sút thể hiện bằng cảm xúc ngày càng khô lạnh và
trở nên bàng quang vô cảm xúc, tư duy ngày càng nghèo nàn, cứng nhắc, học tập
sút kém, thói quen nghề nghiệp ngày càng dần tan biến, ý chí ngày càng suy giảm.
Người bệnh khơng thiết làm gì, bị động trong cuộc sống, thậm chí không thực hiện
những hoạt động cơ bản của cuộc sống như ăn, uống, tắm rửa, vệ sinh cá nhân…Họ

thường xa lánh mọi người, đi lang thang khơng có mục đích. Có người lên cơn kích
động, hị hét, đập phá, có những người có những động tác lặp đi lặp lại, điệu bộ
nhún vai, nhếch mép…Một số người có hành vi kỳ dị như trời nắng thì mặc áo


9

bơng, trời rét thì ở trần, lội xuống song bơi. Có người lúc thì ngồi co ro một mình ở
nhà, lúc thì chạy nhảy ngồi đường can thiệp vào cơng việc của người khác, thậm
chí có hành vi bạo lực làm ảnh hưởng đến người khác.
Bệnh TTPL có khuynh hướng mạn tính, những triệu chứng trên của người
bệnh địi hỏi phải cần có sự quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ người bệnh lâu dài cho đến
suốt đời [22].
1.5.3. Đặc điểm tiến triển lâm sàng của bệnh TTPL
Theo Trần Viết Nghị (2000) [12] cho biết, R. Murray chia TTPL có 4 nhóm
tiến triển như sau:

H
P

- Người bệnh có một thời kỳ bị bệnh duy nhất sau đó bệnh ổn định hồn toàn.
Kiểu tiến triển này chiếm 20% tổng số bệnh nhân tâm thần phân liệt.
‐ Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát bệnh hầu như ổn định
(chiếm 35%).

U

- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát có biểu hiện thiếu sót
hành vi tâm thần rõ ràng (8%).


‐ Bệnh tái phát, sau mỗi đợt tái phát các di chứng tâm thần nặng nề dần lên

H

giống như kiểu tiến triển liên tục nặng (chiếm 35%).
- Tỷ lệ tái phát, sau 2 năm, chiếm khoảng 40% và tỷ lệ này tăng lên đến 80%
nếu người bệnh không được điều trị liên tục.
Do vậy bên cạnh sự can thiệp điều trị của thầy thuốc thì gia đình và cộng
đồng đóng vai trị rất lớn trong việc giám sát, duy trì điều trị cho người bệnh để góp
phần làm giảm tỷ lệ tái phát của bệnh.
Khái quát về công tác chăm sóc người bệnh TTPL và các yếu tố ảnh
hưởng đến cơng tác chăm sóc y tế và xã hội. [3], [15]
1.6.1. Cơng tác chăm sóc người bệnh TTPL

1.6.

Theo sổ tay chăm sóc người bệnh TTPL và tài liệu chăm sóc PHCN cho
người bệnh TTPL dựa vào cộng đồng, cơng tác chăm sóc người bệnh TTPL gồm có
chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội:


10

Chăm sóc y tế cho người bệnh TTPL gồm các nội dung sau:
o Thăm khám định kỳ cho người bệnh TTPL: hàng tháng, người bệnh cần
phải gặp cán bộ y tế chuyên khoa ít nhất một lần để điều chỉnh lượng thuốc tâm
thần của người bệnh ngay cả khi người bệnh rất tốt. Cần phải yêu cầu người
bệnh hoặc gia đình đưa người bệnh tới gặp thầy thuốc chuyên khoa ngay khi:
1.6.2.


Có biểu hiện tái phát như mất ngủ, rối loạn hành vi, hoang

tưởng, ảo giác, kích động, tự sát…
1.6.3.

Có biểu hiện tác dụng phụ của thuốc như: rối loạn vận

động do thuốc, ngấm thuốc (chậm chạp, chảy nước dãi, bất động, run,

H
P

nói khó), đứng ngồi khơng n và kèm theo sốt cao không do nhiễm
trùng…

o Cấp thuốc và giám sát sử dụng thuốc của người bệnh:
1.6.4.

Y tế cơ sở quản lý cấp phát thuốc tâm thần cho gia đình

người bệnh 10 ngày/ lần.
1.6.5.

U

Y tế cơ sở hướng dẫn gia đình cho người bệnh uống thuốc

theo chỉ dẫn trong đơn của thầy thuốc chuyên khoa (lưu ý thuốc phải vào

H


tận bụng người bệnh vì nhiều người bệnh giấu thuốc khơng uống).
Hướng dẫn uống thuốc gồm có: loại thuốc, số lần dùng thuốc, thời gian
dùng thuốc, tần suất, liều dùng, cách uống, xử trí khi gặp tác dụng phụ.
1.6.6.

Y tế cơ sở kịp thời báo cáo cho thầy thuốc chuyên khoa

biết khi người bệnh khơng chịu uống thuốc để có thay đổi điều trị thích
hợp.
1.6.7. Y tế cơ sở giám sát định kỳ tại gia đình người bệnh.
Chăm sóc xã hội cho người bệnh TTPL:
o Vệ sinh cá nhân hàng ngày cho người bệnh TTPL.
o Giao tiếp trong gia đình với người bệnh TTPL.
o Khuyến khích người bệnh TTPL giao tiếp với mơi trường bên ngồi.
o Khuyến khích người bệnh TTPL làm việc phù hợp với khả năng.
o Khuyến khích người bệnh TTPL tham gia hoạt động xã hội, tham gia
hoạt động thể thao, đọc sách hoặc tin tức.


11
o Hỗ trợ về mặt vật chất, tinh thần từ phía các cơ quan đồn thể, các tổ
chức hoạt động xã hội.
1.7.

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc y tế và xã hội
Cơng tác tổ chức và quản lý chương trình: nguồn lực, mơ hình quản lý, năng

lực của các thành phần tham gia, sự sẵn có của thuốc, sự dễ dàng tiếp cận chương
trình quốc gia về sức khoẻ TT.

Cộng đồng và gia đình người bệnh: các yếu tố nhân khẩu học như kinh tế,
văn hoá, nghề nghiệp, địa dư; Sự kỳ thị của gia đình và cộng đồng; Sự hỗ trợ về
tinh thần và vật chất từ các tổ chức xã hội, cơ quan đoàn thể.
1.8.

H
P

Thực trạng bệnh TT trên thế giới và tại Việt Nam

Trên toàn thế giới, sức khoẻ tâm thần thường gắn liền với những kỳ thị và
phân biệt đối xử nặng nề. Nhưng sức khoẻ tâm thần và bệnh tâm thần là một phần
của mỗi quốc gia, mỗi nền văn hoá, độ tuổi và điều kiện kinh tế xã hội. Hiện nay,

U

theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,48 –
0,69% dân số [30] và có gần 01 triệu người tự tử mỗi năm vì TTPL [14]. Người bị
rối loạn TT là một trong số những người ít được quan tâm nhất trên thế giới. Tại

H

nhiều cộng đồng, bệnh TT không được coi là một bệnh lý thực sự mà được xem như
một sự khiếm khuyết trong tính cách. Thậm chí ngay cả khi được cơng nhận là có
bệnh, bệnh nhân TT thường nhận được sự điều trị thiếu tính nhân đạo. Sự miệt thị
đối với bệnh TT có thể loại bỏ bằng cách làm cho cộng đồng nhận thức được rằng
các rối loạn TT có thể phịng chống được [13].
Ở nước ta, kết quả điều tra quốc gia năm 1999 – 2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10
bệnh TT thường gặp (gồm TTPL, trầm cảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ
ở người già, loạn TT sau chấn thương sọ não, chậm phát triển TT là, rối loạn hành

vi ở thanh thiếu niên, rối loạn TT do rượu, ma tuý) chiếm khoảng 15% dân số,
tương đương với khoảng 13,5 triệu người mắc bệnh [4]. Đến năm 2012, theo thống
kê của Chương trình Quốc gia năm 2012, ở Việt Nam tỷ lệ mắc TTPL là 0,47% dân
số, bệnh khởi phát ở lứa tuổi 18 đến 40 [2]. Số liệu của Bộ Lao động - Thương binh


12

và Xã hội cho biết hiện nay cả nước có khoảng 17 trung tâm điều dưỡng, phục hồi
chức năng cho người bệnh tâm thần tại 15 tỉnh/ thành và một số cơ sở bảo trợ xã hội
tổng hợp khác. Có khoảng hơn 6000 người bệnh tâm thần ở mức nặng đang được
điều trị và phục hồi trong những trung tâm này. Mặc dù vậy, nguồn lực trên vẫn
chưa thể đáp ứng được hết nhu cầu của người bệnh. Vẫn còn có tới 60.000 người
tâm thần đi lang thang; 94.000 người có hành vi nguy hiểm đến cộng đồng. Số
người khơng có hành vi nguy hiểm, đang sống tại gia đình khoảng 40.000 người
[6]. Như vậy, có một lượng rất lớn người bệnh tâm thần đang sống ở cộng đồng.
Chính vì thế, các mơ hình chăm sóc người bệnh tâm thần dựa vào cộng đồng được

H
P

coi là một giải pháp tốt, là xu hướng mà thế giới đang đi theo.

Hiện tại, Việt Nam là một trong 35 nước chưa có luật về sức khoẻ tâm thần.
Hơn một nửa các nước Đông Nam Á khơng có hoạt động chăm sóc sức khoẻ tâm
thần tại cộng đồng hay hoạt động điều trị các rối loạn tâm thần nặng tại tuyến cơ sở,
các bệnh viện và viện vẫn là cơ sở điều trị chủ yếu. Với thực trạng như vậy, Nghị

U


quyết của Hội đồng Y tế thế giới tháng 5/2012 đã đưa ra khuyến cáo rằng các quốc
gia cần có các đáp ứng tồn diện và có phối hợp ở cấp độ quốc gia nhằm ứng phó

H

với gánh nặng bệnh tâm thần [4].

Chương trình Mục tiêu Quốc gia (chương trình ưu tiên hàng đầu) về sức
khoẻ TT được hình thành năm 1999. Chương trình đã tập trung vào xây dựng “mơ
hình chăm sóc sức khoẻ tâm thần dựa vào cộng đồng”. Cho đến nay, mơ hình đã
bao phủ trên tồn 64 tỉnh thành với gần 40% xã/ phường của Việt Nam. Nhờ có mơ
hình này, những người bị TTPL và động kinh đã được quản lý tại cộng đồng và sự
miệt thị đã được giảm bớt. Điều này đóng góp phần rất lớn trong việc giảm đau khổ
và vất vả cho cả NB và gia đình họ [17].
Tuy nhiên, chương trình SKTT hiện nay tại Việt Nam có xu hướng chú trọng
vào khía cạnh lâm sàng và được xem là nhiệm vụ của riêng ngành y tế hơn là phát
hiện sớm và phòng ngừa bệnh phát sinh với sự tham gia của các ban ngành khác và
của toàn xã hội. Mặc dù hoạt động khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế đã được cải


13

thiện từ khi có chương trình Mục tiêu Quốc gia về sức khoẻ tâm thần nhưng vẫn
cịn nhiều khó khăn như mạng lưới chưa hoàn thiện, thiếu nhân lực, thuốc men và
trang thiết bị. Chi phí để điều trị các rối loạn TT cũng khá cao do bản chất kinh niên
của bệnh [17].
Tại Việt Nam, trước nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khoẻ tâm thần
của nhân dân nhằm giảm bớt gánh nặng do rối loạn tâm thần gây ra, việc hồn thiện
hành lang chính sách và luật pháp, cũng như tăng cường việc chỉ đạo điều hành
trong cơng tác tác chăm sóc sức khoẻ (CSSK) là một trong những giải pháp quan

trọng, trong đó có việc xây dựng Chiến lược Quốc gia về CSSK tâm thần cho giai

H
P

đoạn 2016 – 2025 nhằm đưa ra định hướng cho cơng tác CSSK tâm thần tồn diện,
lồng ghép và dựa vào cộng đồng. Ngoài ra, việc xây dựng Luật Sức khoẻ Tâm thần,
thành lập Uỷ ban Quốc gia về Sức khoẻ Tâm thần để điều phối liên ngành hiệu quả,
và thiết lập đơn vị chuyên trách về sức khoẻ tâm thần trong Bộ Y tế là những vấn đề
cần được ưu tiên triển khai thực hiện trong giai đoạn tới [4].
1.9.

U

Các nghiên cứu về chăm sóc bệnh nhân TTPL

1.9.1. Nghiên cứu trên thế giới

H

Trong nghiên cứu của Nghiên cứu của Hou SY và cộng sự tiến hành năm
2007 tại Đài Loan cũng cho thấy rằng những NCSC cho bệnh nhân TTPL đều phải
chịu gánh nặng chăm sóc (GNCS) từ mức độ trung bình trở lên. Nghiên cứu chỉ ra
tình trạng sức khỏe về tinh thần và thể chất của CNSC ảnh hưởng tới mức độ gánh
nặng. Cảm nhận về tình trạng sức khỏe bản thân càng khơng tốt thì GNCS càng cao.
Một yếu tố thuộc về đặc điểm của người bệnh cũng ảnh hưởng tới mức GNCS đó là
mức độ thực hiện các hoạt động hàng ngày. Sự phụ thuộc của bệnh nhân vào người
chăm sóc càng lớn thì mức độ gánh nặng càng cao. Có sự liên quan này là do sự hỗ
trợ từ phía NCSC dành cho bệnh nhân càng nhiều, thời gian dành cho các công việc
khác trong gia đình, xã hội và cân bằng trong cuộc sống của người chăm sóc càng

khó khăn nên mức độ gánh nặng càng cao. Hạn chế của nghiên cứu là mới tập trung


14

phân tích sự ảnh hưởng các yếu tố liên quan tới NCSC và bệnh nhân, chưa đi sâu
khác thác các khía cạnh liên quan tới sự hỗ trợ của xã hội [26].
Trong một nghiên cứu của Caqueo – Urizar A (2006) về việc chăm sóc người
bệnh TTPL cho biết các yếu tố tuổi của NCSC có liên quan đến việc chăm sóc cho
người bệnh TTPL, tuổi càng lớn thì gánh nặng chăm sóc càng cao; bên cạnh đó là
những khó khăn do yếu tố nghề nghiệp, trình độ học vấn của NCSC [21]. Trình độ
học vấn càng cao thì mức độ chăm sóc càng tốt, điều này được giải thích do những
người có trình độ học vấn cao thường có mức lương trong công việc cao, giảm các
vấn đề liên quan đến tài chính. Trình độ học vấn cao cũng có khả năng có kiến thức

H
P

để đối phó tốt hơn với các vấn đề trong việc chăm sóc [28]. Ngồi ra, yếu tố tuổi
của người bệnh TTPL cũng ảnh hưởng đến việc chăm sóc, ở những người bệnh trẻ
tuổi, họ thường khơng có khả năng chăm sóc bản thân và có địi hỏi cao hơn trong
chăm sóc, kèm theo là lo lắng của bố mẹ khi về già khơng có khả năng chăm sóc
cho con cái [27].

U

Trong một nghiên cứu tại Đài Loan cho biết khi NCSC được hỗ trợ từ các
thành viên khác trong gia đình và xã hội thì chất lượng chăm sóc tốt hơn. Tương tự

H


như vậy, những hỗ trợ từ phía xã hội bao gồm hỗ trợ về kinh tế, tinh thần và chăm
sóc bệnh nhân giúp cho chất lượng chăm sóc người bệnh tốt hơn [23]. Nghiên cứu
của Peuter (1985) cũng đã chứng minh rằng khi được chăm sóc tốt, các triệu chứng
báo hiệu bệnh TTPL được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, khẩn trương (ngoại trú
tại nhà) thì chỉ có 06% người bệnh phải nhập viện lại.
Roick C và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tại Đức và Anh nhằm tìm ra
sự khác biệt về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần ở hai quốc gia này và kết
quả cho biết nhu cầu của người bệnh TTPL ở Đức được đáp ứng cao hơn ở Anh
(bao gồm điều kiện sống cơ bản và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ). Sự hỗ trợ của
các dịch vụ này đã giúp người bệnh có sức khoẻ tốt hơn, từ đó giảm bớt gánh nặng
cho gia đình [24].


15
1.9.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Theo tác giả Phạm Thanh Hải, Nguyễn Văn Thu khi thực hiện nghiên cứu
khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi của người thân đối với bệnh nhân TTPL tại
huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai; có đến 46,1% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
khơng có kiến thức về nguyên nhân của bệnh và 57% cho rằng bệnh TTPL điều trị
được. Trong nghiên cứu này, chỉ có 2,3% là khơng có kiến thức về triệu chứng của
bệnh. Kết quả nghiên cứu tại Long Thành, Đồng Nai cũng cho biết NB TTPL được
thu dung và điều trị bởi mơ hình quản lý bệnh TTPL tại cộng đồng đã đem lại kết
quả rất khả quan, các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm rõ rệt, chức năng, người

H
P

bệnh được phục hồi, các ảnh hưởng gây rối và gây hại giảm thiểu đáng kể, NB tái
thích ứng xã hội, lao động được đem lại của cải vật chất cho gia đình và xã hội [18].

Một nghiên cứu khác của Nguyễn Minh Hải tại thị trấn Vĩnh An cho kết quả tỷ lệ
người bệnh uống thuốc đều là 75%, vẫn còn 20,4% người bệnh uống thuốc không
đều và 4,06% người bệnh bỏ trị [9]. Nghiên cứu Đánh giá thực hành chăm sóc NB

U

TTPL tại Bình Xun, Vĩnh Phúc của tác giả Đinh Quốc Khánh và Trần Hữu Bình
cho biết tỷ lệ gia đình đưa người bệnh đi khám và lĩnh thuốc đều tại trạm là 91%,

H

cho người bệnh uống thuốc đúng cách là 90%, cho người bệnh uống thuốc đúng
liều là 85%, giúp NB hoà nhập cộng đồng chiếm tỷ lệ thấp hơn là 60%. Kết quả này
cho thấy cần phải chú trọng hơn rất nhiều về công tác giúp người bệnh tái hoà nhập
cộng đồng [5].

Trong một nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú (2009) tại Nghệ An nhằm đánh
giá kết quả quản lý bệnh Tâm thần phân liệt từ chương trình mục tiêu quốc gia
Chăm sóc sức khoẻ Tâm thần trên địa bàn tỉnh Nghệ An cho biết tỷ lệ mắc bệnh
TTPL trên địa bàn tỉnh là 0,34%. Số NB TTPL được quản lý điều trị từ Dự án Quốc
gia CSSKTT là 2346 NB, chiếm tỷ lệ 22%. Trong nghiên cứu này, số 18,79% xã,
phường có triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về CSSKTT. Tỷ lệ NB tâm
thần phân liệt có hành vi nguy hại lạ 4,13% và tỷ lệ NB tái phát bệnh thường xuyên


16

là 5,97%. So với bình quân cả nước, số cán bộ y tế (CBYT) làm việc trong chuyên
ngành TT trên 100.000 dân ở Nghệ An rất thấp [10].
1.10. Giới thiệu chung về thành phố Tuyên Quang và công tác chăm sóc, hỗ

trợ, phục hồi chức năng tại địa bàn nghiên cứu.
1.10.1.Thơng tin chung về tỉnh Tun Quang và chương trình quốc gia về
bảo về SKTT cộng đồng
2

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía bắc có diện tích 5.876km , chiếm 1,8%
diện tích cả nước với 07 đơn vị hành chính. Năm 2015, dân số tỉnh là 759.792
người. Với 22 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh đã tạo cho Tuyên Quang sự đa

H
P

dạng trong bản sắc văn hoá của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, đây cũng là chướng
ngại vì sự khơng đồng đều về trình độ dân cư, lao động, khác biệt văn hố giữa các
dân tộc. Cơng tác y tế của tỉnh được quan tâm từ phía chính quyền địa phương nên
có nhiều chỉ tiêu đạt và vượt so với mục tiêu quy hoạch đề ra. Đến năm 2014, tồn
tỉnh có 171 cơ sở y tế, trong đó có 15 bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, 141 trạm y tế

U

xã phường; trong đó có 64 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.

Riêng Thành phố Tuyên Quang có 13 phường, xã trong đó có 8 phường.

H

Chất lượng khám chữa bệnh của tỉnh nói chung và tại thành phố nói riêng ngày
càng được nâng cao. Cơng tác dự phịng đã khống chế không để dịch lớn xảy ra và
các chương trình y tế quốc gia được thực hiện đầy đủ và đạt chất lượng. Đây là
thành phố có tốc độ phát triển khá nhanh, đơ thịnh hố mạnh mẽ. Tuy nhiên, đi đôi

với sự phát triển nhanh về kinh tế - văn hoá – xã hội cũng xuất hiện những mặt tiêu
cực ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ tâm thần xã hội, làm nảy sinh và gia tăng một số
bệnh và rối loạn về tâm thần. Trên địa bàn thành phố, chương trình sức khoẻ tâm
thần hiện nay đang quản lý 134 NB tâm thần phân liệt và 137 NB động kinh. Đây là
một trong những chương trình trọng điểm tại tỉnh và được sự quan tâm của chính
quyền địa phương cũng như ngành y tế.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố đã triển khai chương trình quốc gia về bảo
vệ sức khoẻ TT cộng đồng với sự phối hợp của nhiều ban ngành, đoàn thể trên địa


×