BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẶNG THỊ MINH PHƯỢNG
THỰC TRẠNG TN THỦ GĨI PHỊNG NGỪA NHIỄM KHUẨN VẾT
MỔ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI
KHOA SẢN,
BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY
2021
H
P
U
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
H
Hà Nội, 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẶNG THỊ MINH PHƯỢNG
THỰC TRẠNG TN THỦ GĨI PHỊNG NGỪA NHIỄM KHUẨN VẾT
MỔ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI
KHOA SẢN,
BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY
2021
H
P
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
U
H
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS.TS. ĐOÀN MAI PHƯƠNG
Hà Nội, 2021
i
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ v
ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................ 4
1.1. Một số khái niệm ......................................................................................... 4
1.2. Thực trạng tn thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ .................. 17
1.2.1. Thực trạng tn thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ tại Việt Nam17
H
P
1.2.2. Thực trạng tuân thủ gói phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ trên thế giới17
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tn thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn vết
mổ của nhân viên y tế ........................................................................................ 18
1.3.1. Yếu tố nhân viên y tế .............................................................................. 18
1.3.2. Yếu tố người bệnh .................................................................................. 19
1.3.3. Yếu tố khác ............................................................................................. 20
U
1.4. Thông tin chung về địa bản nghiên cứu .................................................. 21
1.5.
Khung lý thuyết ..................................................................................... 23
H
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................. 24
2.1. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................... 24
2.2. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 24
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................ 24
2.4. Cỡ mẫu ........................................................................................................ 24
2.4.1. Nghiên cứu định lượng ............................................................................ 24
2.4.2. Nghiên cứu định tính ............................................................................... 25
2.5. Phương pháp chọn mẫu ............................................................................. 25
2.5.1. Đối với nghiên cứu định lượng ............................................................. 25
2.5.2. Đối với nghiên cứu định tính ................................................................ 25
2.6. Cơng cụ và phương pháp thu thập số liệu ............................................... 26
ii
2.6.1. Xây dựng công cụ thu thập số liệu .......................................................... 26
2.6.2. Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ.............................................. 28
2.6.3 Kỹ thuật và quy trình thu thập số liệu ...................................................... 30
2.7. Biến số và chỉ số nghiên cứu định lượng .................................................. 32
2.7.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu ........................................... 32
2.7.2. Các nhóm biến số/chỉ số mục tiêu 1 ........................................................ 32
2.7.3. Các nhóm biến số/ chỉ số mục tiêu 2 ....................................................... 33
2.8. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu ............................................................ 34
2.8.1. Đối với nghiên cứu định lượng ............................................................. 34
H
P
2.8.2. Đối với nghiên cứu định tính ................................................................ 34
2.9. Sai số và cách khống chế sai số ................................................................. 35
2.9.1. Sai số gặp phải .......................................................................................... 35
2.9.2 Cách khắc phục sai số ............................................................................... 35
2.10. Đạo đức nghiên cứu.................................................................................. 35
U
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 36
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ............................................... 36
3.2. Thực trạng tuân thủ gói phịng ngừa NKVM của sản phụ .................... 37
H
3.2.1. Tn thủ sử dụng kháng sinh dự phòng ................................................ 37
3.2.2. Tuân thủ tắm trước phẫu thuật ............................................................... 38
3.3.3. Tuân thủ loại bỏ lông trước phẫu thuật.................................................. 39
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tn thủ gói phịng ngừa NKVM43
3.3.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tn thủ các biện pháp trong gói phịng
ngừa NKVM........................................................................................................ 43
3.3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói phòng ngừa NKVM ........... 47
3.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tn thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ
khi thực hiện nghiên cứu định tính .................................................................. 48
iii
H
P
H
U
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
APSIC
Hiệp hội Kiểm soát Nhiễm khuẩn Châu Á Thái Bình Dương
ASA
American society of Anestesiologist (Hội các nhà gây mê Hoa kỳ)
BVĐKQT
Bệnh viện Đa khoa quốc tế
BLĐ
Ban lãnh đạo
CDC
Centers for Disease Control
ICU
Intensive Care Unit
KSDP
Kháng sinh dự phòng
MRSA
Tụ cầu vàng kháng methicillin
NB
Người bệnh
NKBV
Nhiễm khuẩn bệnh viện
NKQ
Nội khí quản
NKVM
Nhiễm khuẩn vết mổ
NNISS
National Nosocomial infection Surveillance Systems
NVYT
Nhân viên y tế
PT
Phẫu thuật
RCT
Randomized controlled clinical trials
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
H
P
U
H
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1:Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ...... Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.2: Đặc điểm quá trình phẫu thuật ....................................................................... 36
Bảng 3.3: Mức độ tuân thủ kháng sinh dự phòng ........................................................... 37
Bảng 3.4: Mức độ tuân thủ tắm trước phẫu thuật ........................................................... 38
Bảng 3.5: Mức độ tuân thủ loại bỏ lông trước phẫu thuật .............................................. 39
Bảng 3.6: Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ KSDP .................................................. 43
Bảng 3.7: Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ tắm trước mổ....................................... 44
Bảng 3.8: Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ tẩy lông ............................................... 45
H
P
Bảng 3.9: Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chung .................................................. 46
H
U
vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong những ngun nhân chính gây
bệnh và có một số hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người
bệnh do thời gian nằm viện kéo dài, thời gian sử dụng kháng sinh làm tăng tỷ lệ tử
vong, chi phí điều trị và gánh nặng cho cả người bệnh và hệ thống y tế. Cơng tác
kiểm sốt nhiễm khuẩn phịng NKVM vơ cùng quan trọng và cấp thiết, thực hiện
kiểm soát NKVM tốt sẽ làm giảm rõ rệt tỷ lệ NKBV của toàn bệnh viện. Ban lãnh
đạo và hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn/ quản lý chất lượng ln mong muốn kiểm
sốt chất lượng thơng qua việc nhân viên y tế tuân thủ phòng ngừa nhiễm khuẩn vết
H
P
mổ đảm bảo an toàn người bệnh và nâng cao chất lượng, uy tín bệnh viện. Tuy nhiên,
chưa có nghiên cứu nào đánh giá về mức độ tuân thủ các phương pháp phòng ngừa
NKVM trên người bệnh được thực hiện tại bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City.
Nghiên cứu: “Thực trạng tn thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ của nhân
viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa Sản, bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec
U
Times City năm 2021” được thực hiện trên đối tượng là 06 nhân viên y tế và 388 quy
trình phẫu thuật trên sản phụ mổ đẻ tại khoa Sản và khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện
H
đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ 20/05/2021 đến 20/04/2022 bằng phương
pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính. Nội dung
phỏng vấn sâu được ghi âm, sau đó gỡ băng và phân tích theo chủ đề. Số liệu định
lượng được nhập và quản lý bằng phần mềm EPIDATA 3.1, phân tích số liệu được
thực hiện bằng phần mềm thống kê STATA 16.0.
Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ gói phịng ngừa NKVM là 52,8% với việc tn thủ cả
4 biện pháp: sử dụng kháng sinh dự phòng, tuân thủ tắm trước PT, tuân thủ loại bỏ
lông và tuân thủ duy trì thân nhiệt trong PT. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức tn thủ
gói phịng ngừa NKVM được xác định bao gồm tuổi thai: Sản phụ có tuổi thai ≥37
tuần có tỷ lệ tuân thủ cao gấp 1,84 lần so với sản phụ có tuổi thai <37 tuần (OR=1,84;
vii
95%CI: 1,10 – 3,10), bệnh kèm theo của sản phụ: Sản phụ khơng có bệnh kèm theo
có tỷ lệ tn thủ cao gấp 1,89 lần (OR=1,89; 95%CI: 1,03 – 3,46) so với sản phụ có
bệnh kèm theo, hình thức phẫu thuật với tn thủ gói phịng ngừa NKVM: Sản phụ
có hình thức mổ phiên có tỷ lệ tn thủ cao gấp 6,49 lần so với hình thức mổ cấp cứu
(OR=6,49; 95%CI: 2,96 – 14,19). Một số yếu tố từ nhân viên y tế như: Việc cung
ứng không kịp thời các sản phẩm, vật liệu phục vụ các biện pháp trong gói phịng
ngừa NKVM. Quy trình thực hiện gói phịng ngừa NKVM chưa được tối ưu khi tốn
nhiều thời gian công sức của điều dưỡng phụ trách công tác này tại khoa. Bên cạnh
đó cũng việc triển khai thực hiện gói phòng ngừa NKVM cũng nhận được sự ủng hộ
H
P
và quan tâm sát sao của lãnh đạo khoa và lãnh đạo bệnh viện trong việc đào tạo tập
huấn và giám sát, đánh giá.
Khuyến nghị: Cần tăng cường các buổi đào tạo cơng tác kiểm sốt nhiễm
khuẩn, chú trọng vào việc tn thủ các biện pháp trong gói phịng ngừa nhiễm khuẩn
vết mổ của bệnh viện. Cần tăng cường tập trung các biện pháp phịng ngừa đối với
U
những đối tượng có nguy cơ cao như mắc bệnh kèm theo, phẫu thuật cấp cứu, hay
người bệnh có nguy cơ sinh non. Cần chuẩn hóa được quy trình, cơng cụ hướng dẫn
H
thực hiện gói phòng ngừa để thuận tiện nhất cho sản phụ và nhân viên y tế trong quá
trình thực hiện .
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong những ngun nhân chính gây bệnh
và có một số hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bệnh
do thời gian nằm viện kéo dài, thời gian sử dụng kháng sinh làm tăng tỷ lệ tử vong,
chi phí điều trị và gánh nặng cho cả người bệnh và hệ thống y tế. NKBV được ghi
nhận trên toàn thế giới. Hệ thống y tế của tất cả các nước phát triển và các nước đang
phát triển bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi NKBV [1]. Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM)
cũng là một trong 4 loại NKBV thường gặp nhất trong các cơ sở khám chữa bệnh
H
P
chiếm 20-30% các NKBV [2]. Tại một số nước châu Á như Ấn Độ, Thái Lan hay
Việt Nam tỷ lệ NKVM dao động từ 8,8-17,7% trong tổng số NB phẫu thuật [3]. Ở
các nước phát triển như Mỹ hay một số nước Tây Âu thì NKVM cũng là mối đe dọa
với NB phẫu thuật với tỷ lệ thay đổi từ 2-15% tùy theo loại phẫu thuật [4].
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu của Phạm Ngọc Trường (2015) về hiệu quả
U
các biện pháp can thiệp NKVM đưa ra chỉ có 49,3% người bệnh tham gia phẫu thuật
được tắm trước mổ với số người bệnh được NVYT hướng dẫn tắm chỉ có tỷ lệ <44%,
26,2% tổng số người bệnh được loại bỏ lông trước phẫu thuật, hay năm 2018 Trần
H
Thị Thu Trang và các cộng sự đã khảo sát thực trạng tuân thủ gói phòng ngừa NKVM
tại bệnh viện Tai Mũi Họng TP Hồ Chí Minh trên 206 người bệnh với tỷ lệ tuân thủ
đạt từ 85,7% - 100% [5]. Tại Mỹ, một nghiên cứu dự án về sự tăng mức độ tuân thủ
gói phịng ngừa NKVM của Carlos Pastor và cơng sự (2010) đưa ra, có sự gia tăng
trong việc tuân thủ quy trình trong gói phong ngừa NKVM và cả 2 giai đoạn tỷ lệ
tn thủ của gói phịng ngừa đều đạt trên 70% [6].
Cơng tác kiểm sốt nhiễm khuẩn phịng NKVM vơ cùng quan trọng và cấp thiết,
thực hiện kiểm sốt NKVM tốt sẽ làm giảm rõ rệt tỷ lệ NKBV của toàn bệnh viện.
Thực tế nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh phần lớn NKVM có thể phịng
ngừa được nhờ việc triển khai các biện pháp đơn giản và ít tốn kém như thực hành
2
vệ sinh tay, tắm cho NB trước phẫu thuật, tuân thủ chặt chẽ quy trình vơ khuẩn trong
khi phẫu thuật [7]. Tại Mỹ, một nghiên cứu của bệnh viện Đại học Y khoa Duke năm
2012 khi so sánh hiệu quả trước và sau khi sử dụng gói can thiệp NKVM trên 559
người bệnh (61,9% trước và 38,1% sau áp dụng gói NKVM) đã kết quả giảm đáng
kể sau khi sử dụng gói can thiệp NKVM từ 19,3% xuống cịn 5,7%, P<0,01.
Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City tiếp đón người bệnh phẫu thuật chuyên
khoa Ngoại và Sản số lượng lớn, hai chuyên khoa ngày cũng là một trong những
chuyên khoa mũi nhọn của bệnh viện với tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh năm 2019 và 2020
lần lượt là 0,19% (11/5650) và 0,22% (9/4038) đây là tỷ lệ khá là thấp nếu so với tỷ
H
P
lệ mắc nhiễm khuẩn sau sinh mổ tại Bệnh viện Sản – Nhi Cà Mau năm 2019 là 2,97%
(76/2.558) [8]. Mặc dù Bộ Y tế cũng đã có những hướng dẫn về việc thực hiện các
biện pháp phòng ngừa NKVM tuy nhiên việc tuân thủ các biện pháp này cịn nhiều
những hạn chế trên thực tiễn. Với mục đích giảm thiểu tối đa tỷ lệ NKVM qua đó
nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện và đưa ra những số liệu về mức
U
độ tuân thủ các biện pháp phòng ngừa NKVM trên đối tượng là sản phụ được chỉ
định sinh mổ. Do vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tn thủ gói
H
phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng
tại khoa Sản, bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2021” với hai
mục tiêu:
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tuân thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ của sản phụ tại
khoa Sản, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2021.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tn thủ gói phịng ngừa nhiễm khuẩn
vết mổ của sản phụ tại khoa Sản, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times
City năm 2021.
H
P
H
U
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm nhiễm khuẩn vết mổ
Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong
thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật khơng có cấy ghép và
cho tới 90 ngày sau phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant) [9].
NKVM là hiện tượng viêm nhiễm xảy ra do phản ứng của cơ thể với tác nhân gây
bệnh, bao gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn rối loạn tuần hoàn tại chỗ: Bao gồm rối loạn vận mạch và hình thành
H
P
dịch rỉ viêm.
- Giai đoạn tế bào: Bao gồm hiện tượng bạch cầu xuyên mạch, hiện tượng thực
bào.
- Giai đoạn phục hồi phẫu thuật: Nhằm loại bỏ các yếu tố gây bệnh, dọn sạch
các tổ chức viêm, phục hồi mô và tổ chức để tạo sẹo.
U
Việc thực hành kiểm sốt nhiễm khuẩn bệnh viện đã có từ lâu nhưng chưa thực
sự được hệ thống hóa thành một lĩnh vực có tính chất chun mơn mà nằm tản mạn
H
trong một số quy chế chuyên môn. Năm 1997, Bộ Y tế mới chính thức đưa quy chế
chống nhiễm khuẩn vào trong quy chế bệnh viện và xây dựng khoa chống nhiễm
khuẩn trong hệ thống tổ chức của bệnh viện, từ đó thực hành chống nhiễm khuẩn
mới thực sự được các bệnh viện quan tâm. Nhận thấy tầm quan trọng của công tác
chống nhiễm khuẩn, đến năm 2000 Bộ Y tế đã ra quy định thành lập Hội đồng chống
nhiễm khuẩn và Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc bệnh viện nhằm
làm cho công tác chống nhiễm khuẩn hiệu quả hơn [10]. Tình trạng NKVM ở Việt
Nam cũng có nhiều điểm giống như ở các nước đang phát triển khác như tỷ lệ NKVM
cao, tuân thủ thực hành phòng ngừa NKVM như thực hiện chuẩn bị người bệnh trước
phẫu thuật (tắm xà phòng khử khuẩn, loại bỏ lơng, kháng sinh dự phịng…), thực
5
hành vơ khuẩn trong mổ, chăm sóc sau mổ chưa đúng quy trình và chưa có hệ thống
giám sát chặt chẽ. Tuy vậy, NKVM ở nước ta có những đặc điểm khác biệt với các
nước đang phát triển và phát triển trên thế giới do đặc điểm môi sinh, hiểu biết về
cơng tác phịng chống nhiễm khuẩn vết mổ cịn hạn chế và những khó khăn về điều
kiện cơ sở vật chất, kinh tế, xã hội [10].
1.1.2. Khái niệm gói phòng ngừa NKVM
Một tập hợp nhỏ các can thiệp dựa trên bằng chứng cho một phân khúc người
bệnh /dân số và cơ sở chăm sóc xác định, khi được thực hiện cùng nhau, sẽ mang
lại kết quả tốt hơn đáng kể so với khi được thực hiện riêng lẻ [44].
H
P
Việc thực hiện các gói dịch vụ chăm sóc sẽ có tác động lớn nhất đến kết quả
của người bệnh khi bệnh viện xác định được những lỗ hổng trong thực hành tốt nhất
hoặc kết quả kém tiếp tục ở một khu vực cụ thể. Các gói phịng ngừa và kiểm soát
nhiễm trùng dựa trên bằng chứng đã được chứng minh là có tác động lớn hơn đến
U
việc giảm nguy cơ nhiễm trùng so với khi các chiến lược cải thiện riêng lẻ được
thực hiện riêng lẻ. Điều quan trọng là các nhà lãnh đạo phải đánh giá sự tuân thủ
với các gói và theo dõi những cải thiện trong kết quả lâm sàng.
H
1.1.3. Nội dung trong phòng ngừa NKVM
1.1.3.1. Phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ theo Tổ chức y yế thế giới
Năm 2016, WHO đưa ra gói khuyến cáo phịng ngừa NKVM bao gồm 26 nội
dung trong đó bao gồm 9 khuyến cáo trước phẫu thuật, 14 khuyến cáo trong phẫu
thuật và 3 khuyến cáo sau phẫu thuật [11].
Trước phẫu thuật
Khuyến cáo đầu tiên được WHO đưa ra đối với người bệnh trước phẫu thuật là
tắm trước mổ với việc thực hiện nhằm đảm bảo da sạch nhất có thể, làm giảm số
lượng vi khuẩn vãng lai và định cư trên da, đặc biệt là vùng phẫu thuật. Nhiều khuyến
nghị cho rằng giảm vi khuẩn trên da có thể ngăn ngừa NKVM. Khuyến nghị này áp
6
dụng với mọi NB mổ phiên và thời điểm thực hiện là tối hôm trước và/hoặc sáng
ngày phẫu thuật. Kết quả từ 9 nghiên cứu (trong đó có 7 nghiên cứu thử nghiệm và
2 nghiên cứu quan sát trên 17.087 NB) cho thấy tắm cho NB trước phẫu thuật bằng
xà phịng kháng khuẩn khơng làm giảm đáng kể tỷ lệ NKVM so với xà phòng thường
(OR= 0,92; 95% CI: 0,80–1,04). Do đó, WHO đề nghị rằng cả xà phịng thường và
xà phịng kháng khuẩn (chứa Chlorhexidine 2-4%) đều có thể được sử dụng để phòng
NKVM [11]. Tiếp theo, sử dụng mupirocin 2% đề phịng ngừa NKVM ở người có
tụ cầu vàng cộng sinh ở mũi cũng được WHO gợi ý nên cân nhắc sử dụng để bôi
trong mũi trước khi phẫu thuật (tim mạch, chấn thương chỉnh hình). WHO cũng nêu
H
P
ra kháng sinh dự phòng (KSDP) là kháng sinh được dùng trước lúc rạch da nhằm tạo
được nồng độ kháng sinh đủ cao cần thiết tại vùng mô của cơ thể hoặc vết thương
nơi phẫu thuật sẽ được tiến hành. Các bằng chứng có chất lượng trung bình cho thấy
việc sử dụng KSDP trong vòng 120 phút trước khi rạch da làm giảm tỷ lệ NKVM có
ý nghĩa so với sử dụng KSDP lớn hơn 120 trước khi rạch da. Một số nghiên cứu so
U
sánh thời điểm dùng KSDP giữa khoảng 120 - 60 phút với 60 - 0 phút, giữa 60 - 30
phút và 30 - 0 phút không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giảm tỷ lệ
H
NKVM. Chỉ định về thời gian sử dụng KSDP trước khi rạch da còn chưa thống nhất
giữa các hướng dẫn thực hành lâm sàng đang lưu hành. Hiệp hội dịch tễ học Hoa Kỳ
khuyến cáo sử dụng KSDP trong vòng 1 giờ (60 phút) trước khi rạch da, trong đó sử
dụng trong thời gian 0-30 phút có ý nghĩa hơn so với sử dụng trong khoảng 30-60
phút, còn hội dược sĩ Hoa Kỳ khuyến cáo sử dụng KSDP trong vòng 1 (60 phút) giờ
trước khi rạch da. Kết quả tổng quan tài liệu, WHO khuyến cáo sử dụng KSDP trong
vòng 120 phút trước rạch da (chú ý đến thời gian bán phân hủy của KSDP được sử
dụng) và chưa đưa ra thời điểm tối ưu để sử dụng kháng sinh dự phịng [11].
Việc tầm sốt vi khuẩn sinh men beta–lactamase phổ rộng trước phẫu thuật và sử
dụng miếng dán kháng khuẩn sau khi chuẩn bị da trước phẫu thuật không được WHO
khuyến cáo do thiếu chứng cứ, bên cạnh đó đối với các phẫu thuật đại, trực tràng
7
chương trình WHO cũng đưa ra nên kết hợp sử dụng kháng sinh đường uống và
chuẩn bị ruột cơ học trước phẫu thuật do một số kháng sinh đường uống có tác dụng
chống lại vi khuẩn Gram (-) và vi khuẩn kị khí là những vi khuẩn chính trong hệ tiêu
hóa. Tổng cộng 11 nghiên cứu thực nghiệm trên 2.416 NB cho thấy sử dụng kháng
sinh đường uống kết hợp với chuẩn bị ruột cơ học trước mổ đối với PT đại, trực tràng
cho thấy giảm tỷ lệ NKVM đáng kể so với chỉ chuẩn bị ruột cơ học (OR=0,56; 95%
CI: 0,37–0,83). Kết quả của 13 nghiên cứu thực nghiệm cho thấy chỉ chuẩn bị ruột
cơ học trước mổ không làm giảm tỷ lệ NKVM so với không chuẩn bị ruột cơ học
(OR=1,31; 95% CI: 1,00–1,72) [11].
H
P
Trước đây, việc cạo lơng tóc vùng phẫu thuật là một phần của chuẩn bị NB trước
phẫu thuật thường quy. Loại bỏ lơng, tóc có thể cần thiết để tạo điều kiện bộc lộ vùng
phẫu thuật phù hợp. Cân nhắc mặt lợi và hại khi loại bỏ lơng, tóc trước khi phẫu thuật
– sự có mặt của lơng, tóc có thể gây khó khăn trong việc khâu vết thương và công
tác thay băng. Nhiều quan điểm cho rằng lơng tóc liên quan đến sự thiếu sạch sẽ và
U
có thể gây NKVM. Tuy nhiên, loại bỏ lơng tóc trái ngược lại có thể gây tăng nguy
cơ NKVM bởi nó gây tổn thương da qua các vết dao cạo để lại hoặc loại kem tẩy
H
lơng có thể làm kích ứng da và vi sinh vật trên da xâm nhập, phát triển gây nhiễm
khuẩn. 15 nghiên cứu thực nghiệm so sánh giữa loại bỏ lông và không loại bỏ lông
cho thấy loại bỏ lông bằng dao cạo hoặc thuốc rụng lông không làm giảm NKVM
khi so sánh với không loại bỏ lông. Tuy nhiên, khi lông cần thiết loại bỏ, bằng chứng
chất lượng thấp chỉ ra rằng dùng kéo có lợi ích đáng kể trong việc giảm NKVM so
với dao cạo (OR=0,51; 95% CI: 0,29-0,91). WHO khuyến cáo NB trải qua bất kì
phẫu thuật nào cũng khơng nên loại bỏ lơng, tóc và nếu thật sự cần thiết (phẫu thuật
sọ não hoặc lơng tóc gây khó khăn trong q trình thao tác), chỉ nên loại bỏ lơng, tóc
bằng kéo cắt hoặc máy cắt. Tuyệt đối khơng sử dụng dao cạo trong mọi thời điểm,
cả khi trước phẫu thuật và khi trong phòng mổ.
8
Chuẩn bị vùng da trước phẫu thuật chỉ sự chuẩn bị da lành của NB trong phòng
mổ trước khi phẫu thuật. Mục đích của thủ thuật này là giảm vi khuẩn trên da nhiều
nhất có thể trước khi rạch da. Các dung dịch thường được sử dụng để chuẩn bị da
trước phẫu thuật là chlorhexidine trong cồn và PVP-I trong cồn. Theo các nghiên cứu
có giá trị thấp, Chlohexidine trong cồn có lợi ích hơn trong phịng NKVM so với
PVP-I trong cồn (OR = 0,58; 95% CI: 0,42-0,8). Do đó, WHO khuyến cáo dùng dung
dịch Chlohexidine trong cồn để sát khuẩn vùng da tại vị trí phẫu thuật [11].
Rửa tay ngoại khoa đóng một vai trị quan trọng trong việc duy trì nguy cơ nhiễm
khuẩn thấp nhất của phẫu trường, đặc biệt trong trường hợp găng vơ khuẩn có lỗ
H
P
thủng. Rửa tay ngoại khoa đã được đề cập đến trong tất cả khuyến cáo hiện có về
phịng ngừa NKVM. Trong khuyến cáo này, WHO đánh giá hiệu quả của 2 phương
pháp vệ sinh tay (vệ sinh tay bằng xà phòng và nước với vệ sinh tay bằng dung dịch
chứa cồn). Trong 5 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NKVM không khác nhau ở nhóm rửa
tay bằng dung dịch chứa cồn với vệ sinh tay bằng nước và xà phòng kháng khuẩn
U
(4% povidone-iodine hoặc 4% chlorhexidine gluconate), kết quả cũng tương tự khi
so sánh với xà phòng thường. Như vậy, cả hai phương pháp rửa tay bằng xà phòng
H
và nước (scrubbing) và sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn (rubbing) đều được
chấp nhận để giảm tỷ lệ NKVM [11].
Trong phẫu thuật
Trong thời gian phẫu thuật WHO đã đưa ra tổng cộng 14 khuyến cáo bao gồm từ
những khuyến cáo thiếu chứng cứ cho đến những khuyến cáo có chứng cứ đã được
kiểm định thông qua nhiều nghiên cứu. WHO chưa đưa ra được khuyến nghị cho
việc thay bộ dụng cụ vơ khuẩn mới khi đóng da, cân cơ hay việc thiếu chứng cứ trong
khuyến cáo không nên sử dụng hệ thống thơng khí Laminar, có hay khơng nên sử
dụng quạt và thiết bị thơng khí tự nhiên trong phịng mổ để giảm NKVM. Bên cạnh
đó, WHO cũng đưa ra những gợi ý mang tính tin cậy cao như việc nên xem xét chỉ
9
định bổ sung đa dinh dưỡng công thức qua đường miệng hoặc ruột cho những NB
nhẹ cân và trải qua PT lớn, không cần ngừng sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trước
khi PT, người bệnh người lớn đặt NKQ trong q trình PT có chức năng thơng khí
bình thường cần duy trì FiO2 > 80% trong cuộc mổ và nếu có thể thì kéo dài 2-6 giờ
sau mổ để giảm nguy cơ NKVM, nên sử dụng các thiết bị giữ ấm trong phịng mổ và
trong suốt q trình phẫu thuật để duy trì thân nhiệt NB, sử dụng quy trình kiểm sốt
đường máu tích cực xung quanh cuộc mổ cho cả NB tiểu đường và khơng tiểu đường,
duy trì thể tích tuần hồn phù hợp trong cuộc mổ, toan và áo chồng phẫu thuật vơ
khuẩn, dùng một lần hoặc hấp tái sử dụng, vơ khuẩn đều có thể được sử dụng trong
H
P
phòng mổ, nên cân nhắc sử dụng dụng cụ bảo vệ vết thương trong PT bụng sạch nhiễm, nhiễm hoặc bẩn, sử dụng dung dịch PVP-I để rửa vết thương trước khi đóng
vết thương để giảm NKVM, đặc biệt đối với vết thương sạch và sạch - nhiễm. WHO
không khuyến cáo sử dụng kháng sinh để rửa vết thương trước khi đóng vết thương
nhằm mục đích giảm NKVM và WHO cũng gợi ý nên sử dụng liệu pháp tạo áp lực
U
âm vết thương đối với NB người lớn trong phẫu thuật lần đầu có nguy cơ cao để cải
thiện oxy và dinh dưỡng cho vết thương ngoài ra nó làm căng bề mặt vết thương tăng
H
tổng hợp protein, tăng kích thích và hình thành mơ hạt nhanh liền vết thương, tất cả
khuyến cáo trên của WHO đều nhắm tới mục đích chung là giảm thiểu nguy cơ
NKVM [11].
Sau phẫu thuật
WHO khuyến cáo một cách mạnh mẽ rằng không nên kéo dài việc sử dụng kháng
sinh dự phòng sau cuộc mổ kể cả NB có ống dẫn lưu. WHO cũng gợi ý khơng có bất
kỳ loại băng vết thương nâng cao nào để giảm NKVM hơn các loại băng vết thương
cơ bản mục đích của việc băng vết thương sau phẫu thuật là để thấm máu dịch. Các
loại băng nâng cao được sử dụng bao gồm những băng có thành phần kháng khuẩn
10
hydrocolloid, hydroactive, phân tử hay ion bạc, polyhexamethylene biguanide. Băng
cơ bản là băng vơ khuẩn có khả năng thấm hút [11].
1.1.3.2. Gói tn thủ phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ của CDC
Ngay sau 1 năm WHO đưa ra gói khuyến cáo về phịng ngừa NKVM thì năm
2017 CDC cũng đã đưa ra được hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ, trong
hướng dẫn này CDC tập trung vào các khuyến cáo được lựa chọn để ngăn ngừa
NKVM. Những khuyến cáo này được kiểm duyệt bởi các chuyên gia lâm sàng và
được cung cấp từ ủy ban cố vấn liên bang cho Trung tâm kiểm sốt và phịng ngừa
dịch bệnh. Các khuyến nghị của hướng dẫn này cũng được phát triển dựa trên việc
H
P
xem xét có hệ thống bằng các bằng chứng tốt nhất về phòng ngừa nhiễm khuẩn vết
mổ được thực hiện trong MEDLINE, EMBASE, CINAHL và thư viện Cochrane từ
năm 1998 đến tháng 4 năm 2014 [12]. Trong đó, CDC khuyến cáo rằng, trước khi
phẫu thật NB nên được tắm với xà phịng có hoặc khơng có chất khử khuẩn hoặc
chất sát trùng ít nhất một lần vào đêm trước ngày phẫu thuật. Thực tế đã có nhiều
U
nghiên cứu chỉ ra rằng khơng có sự khác biệt khi tắm với xà phịng có và khơng có
chất khử khuẩn nhưng lại có sự khác biệt giữa việc có tắm trước mổ với không tắm
H
trước mổ, điều này được chỉ ra trong nghiên cứu của Joan Webster và cộng sự năm
2015 trong thử nghiệm đầu tiên trên 7.791 NB so sánh giữa việc tắm bằng
Chlorhexidine gluconate 4% và xà phòng thường đã khơng thấy được sự khác nhau
giữa 2 nhóm NB này với RR là 0,91. Bên cạnh đó, trong thử nghiệm thứ hai với quy
mô 1.443 người tham gia so sánh việc tắm bằng Chlorhexidine gluconate 4% và
không tắm trước khi phẫu thuật đã cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
hai nhóm với RR là 0,36 (95%CI: 0,17-0,79) [13].
Kháng sinh dự phòng cũng được đưa ra và chỉ nên được thực hiện khi được chỉ
định dựa trên các hướng dẫn thực hành lâm sàng đã được công bố và thời gian được
dùng sao cho nồng độ diệt khuẩn đạt mức cao nhất. Trong các phẫu thuật mổ lấy thai,
11
nên dùng kháng sinh trước khi rạch da và chuẩn bị da trong phòng phẫu thuật nên
được thực hiện bằng cách sử dụng chất có cồn trừ khi có chống chỉ định [12]. Đối
với các phẫu thuật sạch và không bị nhiễm bẩn, khơng nên dùng thêm kháng sinh dự
phịng sau mổ, ngay cả khi có dẫn lưu. Một số khuyến cáo khác cũng được CDC đưa
ra như việc không được bôi các chất kháng khuẩn tại chỗ vào vết mổ. Trong phẫu
thuật thì kiểm sốt đường huyết nên được thực hiện với lượng đường huyết <
200mg/dL và nên duy trì thể trạng bình thường ở tất cả các NB. Tăng cường kiểm
soát FiO2 nên được thực hiện trong phẫu thuật và sau khi rút ống nội khí quản trong
giai đoạn hậu phẫu ngay lập tức cho những NB có chức năng phổi bình thường được
H
P
gây mê tồn thân với đặt nội khí quản và khơng nên truyền các sản phẩm từ máu cho
NB phẫu thuật như một biện pháp để phịng ngừa NKVM.
1.1.3.3.
Gói tn thủ phịng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ của APSIC
Đến năm 2019 Hiệp hội Kiểm soát Nhiễm khuẩn Châu Á Thái Bình Dương
(APSIC) cũng đã đưa ra hướng dẫn về phịng ngừa NKVM. Nhìn chung, khơng có
U
nhiều sự khác biệt so với gói khuyến cáo phịng ngừa NKVM của WHO đưa ra năm
2016 với 9 khuyến cáo trước mổ, 8 khuyến cáo trong cuộc mổ và 1 khuyến cáo sau
H
mổ. Giống như WHO, APSIC cũng đưa ra khuyến cáo với việc tắm trước phẫu thuật
bằng xà phịng có hoặc khơng có chất kháng khuẩn sẽ có lợi trước phẫu thuật, nhưng
chưa đưa ra được bằng chứng về sự khác nhau giữa việc tắm trước phẫu thuật và
không tắm trước phẫu thuật ảnh hưởng tới kết quả NKVM [14].
APSIC đưa ra khuyến cáo về kháng sinh dự phòng nên sử dụng kháng sinh phổ
hẹp, chẳng hạn như cefazolin cho hầu hết các thủ thuật phẫu thuật hoặc cefoxitin cho
phẫu thuật bụng giống như một kháng sinh dự phịng phẫu thuật. Trong các tình
huống mà tỷ lệ mắc NKVM liên quan đến tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA)
cao hoặc trong trường hợp dị ứng với penicillin thì vancomycin hoặc fluoroquinolone
có thể được sử dụng thay thế. Các bằng chứng hiện tại cũng ủng hộ việc sử dụng
12
thuốc kháng sinh dự phòng trong 1 giờ (60 phút) trước khi rạch da hoặc trước khi
garo trong các phẫu thuật chỉnh hình hoặc trong vịng 2 giờ (120 phút) đối với
vancomycin và fluoroquinolones [14].
Khuyến cáo về dinh dưỡng và kiểm soát đường huyết được APSIC đẩy lên thành
những khuyến cáo trước mổ thay vì là trong/quanh cuộc mổ như của WHO. Về dinh
dưỡng APSIC khuyến cáo rằng ở những NB nhẹ cân cần trải qua các phẫu thuật lớn,
đặc biệt là ung thư và phẫu thuật tim mạch cần được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng
bằng đường uống hoặc đường ruột nhằm ngăn ngừa NKVM [14]. Khác với WHO,
APSIC đưa ra mức HbA1C trước phẫu thuật phải dưới 8 mmol/l thay vì là ≤ 8,3
H
P
mmol/l như WHO đưa ra [14].
Bên cạnh những khuyến cáo về chuẩn bị ruột cơ học kết hợp và chuẩn bị kháng
sinh uống được khuyến cáo cho tất cả các phẫu thuật đại trực tràng tự chọn ở người
lớn, phương pháp để loại bỏ lông tại vị trí phẫu thuật trước khi phẫu thuật, vệ sinh
tay ngoại khoa, sát khuẩn da cũng được khuyến cáo tương tự như WHO, ngồi ra
APSIC cũng khơng hề có khuyến cáo về việc tầm soát vi khuẩn sinh men beta–
lactamase phổ rộng trước phẫu thuật hay việc sử dụng miếng dán kháng khuẩn sau
khi chuẩn bị da trước phẫu thuật, 2 khuyến cáo được WHO gợi ý không nên áp dụng
hoặc do thiếu chứng cứ [11, 14].
U
H
1.1.3.4. Các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ tại Bệnh viện Đa Khoa
Vinmec
Gói phịng ngừa NKVM áp dụng tại Vinmec Times City
Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City tham khảo các khuyến cáo tổ chức
đã đưa ra gói phịng ngừa NKVM gồm có các yếu tố sau:
NB tắm trước phẫu thuật
NB được loại bỏ lông trước phẫu thuật
NB được sử dụng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật sạch và sạch
nhiễm
NB được theo dõi nhiệt độ trong phẫu thuật.
13
Tại phòng khám
Người bệnh khám bệnh tại phòng khám sau đó được sắp xếp lịch mổ sẽ được
kê đơn trên hệ thống và phát gói tắm tại nhà thuốc. Điều dưỡng sẽ phát tờ rơi hướng
dẫn người bệnh tự tắm ở nhà tối ngày hôm trước khi đến phẫu thuật.
Người bệnh có lịch phẫu thuật trước sẽ được hẹn giờ phẫu thuật và sẽ đến
trước giờ hẹn 2 tiếng để chuẩn bị các thủ tục trước phẫu thuật.
Người bệnh mổ cấp cứu sẽ tiếp nhận vào phòng sinh chuẩn bị trước phẫu thuật
thực hiện các thủ tục hành chính, hồ sơ bệnh án, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật cũng
như thuốc kháng sinh dự phòng sử dụng cho người bệnh và điều dưỡng phòng khám
H
P
sẽ thực hiện truyền tĩnh mạch kháng sinh dự phòng và được chuyển sang phòng mổ.
Tại khoa phòng nội trú
Người bệnh được tiếp đón tại khoa nội trú để chuẩn bị các thủ tục trước phẫu
thuật, người bệnh được tắm trước phẫu thuật 1 giờ.
U
Nhân viên y tế sẽ chuẩn bị xà phòng trung tính, xà phịng khử khuẩn (dung
dịch Povidine Scrub 4%/Chlohexidin 4%) hoặc khăn tẩm Chlohexidin 2%, v.v...
Khăn tắm và quần áo sạch của bệnh viện.
H
Nhân viên y tế giải thích ý nghĩa của việc tắm trước phẫu thuật, chỉ rõ cho NB
vùng dự kiến phẫu thuật và thông báo cho NB các bước tiến hành để họ yên tâm và
hợp tác trong quá trình thực hiện.
Tắm lần 1 vào buổi tối trước khi phẫu thuật
Nếu NB nằm viện nội trú trước khi phẫu thuật có khả năng tự tắm hoặc điều
dưỡng/ người nhà tắm tối thiểu một lần/ ngày bằng các dung dịch tắm các bước sau:
Bước 1: Tắm và gội đầu bằng xà phịng trung tính bằng cách lấy một lượng xà
phòng để xoa đều lên da đầu, nhẹ nhàng sau đó xả nước để làm sạch xà phịng trên
14
tóc và da đầu. Tắm bằng xà phịng trung tính bằng cách lấy một lượng xà phịng xoa
lên tồn bộ cơ thể nhẹ nhàng không gãi gây xước da sau đó xả nước làm sạch.
Bước 2: Tắm bằng xà phịng khử khuẩn (XPKK) hoặc khăn tẩm chất khử khuẩn
Chlohexidine 2%. Nếu tắm bằng XPKK thì có thể lấy khoảng 10 đến 15 ml vào khăn
sạch và tạo bọt. Dùng khăn đó cọ sạch tồn bộ cơ thể từ đầu đến chân tối thiểu 3 phút
(chú ý các phần có nếp gấp như nách, bẹn, rốn); đặc biệt làm sạch kỹ vùng rạch da,
tránh để XPKK tiếp xúc mắt, mũi, miệng, chỉ rửa bên ngồi bộ phận sinh dục và
khơng rửa bên trong. Xả nước làm sạch xà phòng trên cơ thể, lau khô bằng khăn sạch
và mặc quần áo.
H
P
Nếu tắm bằng khăn tẩm Chlohexidine 2% thì sau khi tắm bằng xà phịng trung
tính bước 1 lau khơ và sử dụng khăn tẩm Chlohexidine 2% lau toàn bộ cơ thể từ cổ
đến chân, đặc biệt lau kỹ vùng dự kiến rạch da và không tắm lại bằng nước hay thoa
bất kỳ loại kem hay mỹ phẩm nào lên cơ thể. Người bệnh mặc quần áo sạch của bệnh
viện
U
Tắm lần 2: Vào ngày phẫu thuật trước khi đến phòng mổ 1 giờ (Các bước tắm
như lần 1 bằng xà phòng khử khuẩn hoặc khăn tẩm Chlohexidine 2%)
H
Điều dưỡng bệnh phòng ghi chép hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin ngày, giờ thực
hiện kỹ thuật và ghi rõ tình trạng NB trước, trong và sau khi thực hiện kỹ thuật.
Điều dưỡng bệnh phịng làm sạch bỏ lơng làm sạch vùng rạch da cho sản phụ khi
có chỉ định bằng kéo hoặc tơng đơ để làm sạch bỏ lông mu (lông nằm trên đường
rạch da phẫu thuật dự kiến).
Tại phòng mổ
Người bệnh phẫu thuật sẽ được điều dưỡng bệnh phòng đưa tới phịng mổ và bàn
giao với phịng mổ các thơng tin hồ sơ bệnh án, tình trạng người bệnh, tình trạng
tắm, chỉ định kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật.
15
Người bệnh phẫu thuật cấp cứu sẽ chuyển từ phòng sinh sang phòng mổ và được
sát khuẩn da tại vị trí phẫu thuật trước khi rạch da, loại bỏ lơng nếu có chỉ định của
bác sỹ và sử dụng kháng sinh dự phòng nếu là phẫu thuật sạch.
NB phẫu thuật sản khoa có chỉ định sử dụng kháng sinh dự phòng sẽ được chỉ
định truyền kháng sinh đúng phác đồ, tốc độ và đường truyền theo quy định của bệnh
viện và thời gian kết thúc kháng sinh trước khi rạch da 30 phút.
Sử dụng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật sạch và sạch nhiễm để dự phòng
nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật. Kháng sinh dự phịng là một trong những biện pháp
giúp hạn chế nhiễm khuẩn bệnh viện.
H
P
Tiêu chí lựa chọn kháng sinh: Kháng sinh lựa chọn dựa trên các yếu tố như là tác
dụng bao phủ được chủng vi khuẩn thường gặp tại vị trí phẫu thuật và có mức độ
nhạy cảm với các vi khuẩn gây NKBV nhưng cũng tránh lựa chọn kháng sinh có phổ
quá rộng để hạn chế nguy cơ gia tăng các chủng vi khuẩn đa kháng. Phải cân nhắc
U
các yếu tố của người bệnh để dùng kháng sinh dự phòng như NB có NK từ trước, đã
dùng kháng sinh trong vịng 90 ngày trước phẫu thuật, mang vi khuẩn đề kháng, đã
nằm viện kéo dài hoặc có sẵn vật liệu nhân tạo.
H
Liều dùng và độ dài của kháng sinh dự phòng: Liều dùng được tính theo chức
năng gan, thận bình thường. Ở NB có suy giảm chức năng gan thận, khơng cần hiệu
chỉnh liều nếu dùng 1 liều duy nhất. Trường hợp kéo dài thời gian dự phòng kháng
sinh, nên hiệu chỉnh các liều tiếp theo phù hợp với chức năng gan thận của người
bệnh.
- Trẻ em tính theo mg/kg cân nặng, không quá liều tối đa dành cho người lớn.
- NB béo phì, chú ý điều chỉnh liều dự phịng do dược động học của kháng sinh
có thể thay đổi.
- Độ dài của kháng sinh dự phòng:
16
- Kháng sinh dự phòng chỉ cần một liều duy nhất là đủ với hầu hết phẫu thuật.
Không nên dùng KSDP quá 24 giờ đối với hầu hết các loại phẫu thuật. Một số
loại phẫu thuật đặc biệt (gồm phẫu thuật tim mạch, ghép gan), kháng sinh dự
phịng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 48 giờ.
- Phẫu thuật kéo dài quá 2 lần thời gian bán thải của thuốc hoặc NB mất máu (trên
1,5 lít) thì dùng thêm một liều KSDP. Khoảng cách dùng thêm liều KSDP tính
từ lần dùng KSDP trước (khơng tính từ thời điểm rạch da)
- Thời điểm dùng KSDP trước phẫu thuật:
- Thời điểm dùng KSDP phải phù hợp để kháng sinh đạt được nồng độ trong mô
H
P
cao nhất tại thời điểm rạch da.
- KSDP phải kết thúc trước khi rạch da và không quá 60 phút. Một số lưu ý khi
dùng KSDP như sau:
Nhóm kháng sinh β-lactam, thời gian sử dụng tối ưu nhất là trong vòng 15
đến 30 phút trước khi rạch da
U
Vancomycin và ciprofloxacine cần được truyền tĩnh mạch chậm để hạn chế
tác dụng khơng mong muốn, do đó nên bắt đầu dùng trong vòng 2 giờ trước
khi rạch da.
H
Trường hợp NB đang sử dụng kháng sinh ngay trước phẫu thuật, nếu kháng
sinh đó có phổ tác dụng trên các chủng vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn
vết mổ thì khơng cần bổ sung thêm KSDP khác nhưng cần điều chỉnh thời
điểm dùng kháng sinh cho phù hợp, có thể sử dụng thêm một liều kháng
sinh trong vòng 60 phút trước khi rạch da.
Trong quá trình phẫu thuật NB luôn được giữ ấm và theo dõi nhiệt độ cơ thể
bởi máy sưởi để duy trì nhiệt độ cơ thể và ghi lại trong hồ sơ bệnh án phẫu thuật.
Tại phòng hồi tỉnh sau phẫu thuật