Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Kiến thức, thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản trung tâm y tế huyện thoại sơn tỉnh an giang năm 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.41 MB, 96 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÝ HẢI YẾN

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHO TRẺ BÚ SỚM CỦA SẢN

H
P

PHỤ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI KHOA CHĂM
SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN, TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG NĂM 2020

U

H

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÝ HẢI YẾN

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHO TRẺ BÚ SỚM CỦA SẢN


H
P

PHỤ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI KHOA CHĂM
SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN, TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG NĂM 2020

U

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

H

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐINH THỊ PHƯƠNG HÒA

HÀ NỘI, 2020


i

LỜI CẢM ƠN
au quá trình học tập, nghiên cứu và tiến hành làm luận văn, tôi xin gửi lời

S

cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học y tế công cộng,


lãnh đạo Trường cao đẳng y tế An Giang đã tạo điều kiện, phối hợp điều phối lớp
học rất phù hợp về thời gian và địa điểm học để chúng tơi có thể hồn thành tốt
khóa học.
Với lịng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy cơ các Bộ mơn, các
Phịng Ban liên quan của hai trường đã tạo điều kiện giúp đỡ, truyền đạt vốn kiến
thức vô cùng quý báu cho chúng tôi trong suốt q trình học tập và hồn thành luận
văn này.

H
P

Đặc biệt tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đinh
Thị Phương Hòa và ThS. Đồn Thị Thùy Dương đã tận tình hướng dẫn, động viên
tơi, hỗ trợ nhiệt tình và đưa ra những góp ý quan trọng giúp tơi hồn thành luận
văn.

Tơi xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp tại Trung tâm

U

y tế huyện Thoại Sơn, đặc biệt là Khoa chăm sóc sứa khỏe sinh sản đã hỗ trợ và
chia sẻ kinh nghiệm giúp tơi hồn thành nghiên cứu.

Sau cùng, tơi xin kính chúc q thầy cô và Ban Giám Hiệu trường Đại học Y

H

Tế Công Cộng – Hà Nội, Trường Cao đẳng Y tế An Giang dồi dào sức khỏe, đạt
nhiều thành công để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao quý của mình là truyền đạt kiến
thức cho các thế hệ mai sau.

Trân trọng!

An Giang, ngày 20 tháng 10 năm 2020
Học viên
Lý Hải Yến


ii

Danh mục các chữ viết tắt
BMHT:

Bú mẹ hoàn toàn

BVĐK:

Bệnh viện đa khoa

CBYT:

Cán bộ y tế

CNV:

Cơng nhân viên

CSSKSS: Chăm sóc sức khỏe sinh sản
ĐTNC:

Đối tượng nghiên cứu


ĐTV:

Điều tra viên

KTC:

Khoảng tin cậy

LMIC:

Các nước có thu thập thấp và trung bình (Low- and

H
P

Middle-Income Countries)
NCBSM: Nuôi con bằng sữa mẹ
NCV:

Nghiên cứu viên

NHS:

Nữ hộ sinh

NVYT:

Nhân viên y tế


TTYT:

Trung tâm y tế

THCS:

Trung học cơ sở

U

UNICEF: Quĩ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (United Nations

H

International Children's Emergency Fund)

WHO:

Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)


iii

Mục lục
ĐẶT VẤN ĐỀ .............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .........................................................................4
1.1. Các khái niệm trong nghiên cứu ..........................................................................4
1.2. Thành phần dinh dưỡng của sữa mẹ ....................................................................4
1.3. Lợi ích khi cho trẻ bú sớm ...................................................................................5

1.4. Các nghiên cứu về cho trẻ bú sớm sau sinh trên Thế giới và Việt Nam ..............7
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh ......................9
1.6. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu – huyện Thoại Sơn ...........................12

H
P

1.7. Khung lý thuyết ..................................................................................................14
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..........................................................14
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................15
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu nghiên cứu ...................................................15
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................15

U

2.4. Cỡ mẫu……………. ..........................................................................................15
2.5. Phương pháp chọn mẫu ......................................................................................16
2.5.1. Mẫu định lượng .......................................................................................16

H

2.5.2. Mẫu định tính…………………………………………………………..16
2.6. Phương pháp thu thập số liệu .............................................................................17
2.7. Các biến số nghiên cứu ......................................................................................19
2.8. Tiêu chí đánh giá ................................................................................................20
2.9. Phương pháp phân tích số liệu ...........................................................................20
2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .......................................................................21
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................................22
Chương 4: BÀN LUẬN ............................................................................................41
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu .......................................................41

4.2. Kiến thức, thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ .............................................41
4.2.1. Kiến thức của sản phụ về sữa non và cho trẻ bú sớm .............................41
4.2.2. Thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ ...................................................42


iv

4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm ...................................44
4.3.1. Ảnh hưởng của yếu tố cá nhân đến thực hành cho trẻ bú sớm ...............44
4.3.2. Ảnh hưởng giữa kiến thức và thái độ của sản phụ với thực hành cho trẻ
bú sớm sau sinh .................................................................................................46
4.3.3. Ảnh hưởng giữa yếu tố gia đình với thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh 47
4.3.4. Ảnh hưởng giữa dịch vụ y tế với thực hành cho trẻ bú sớm ...................48
KẾT LUẬN ...............................................................................................................51
KHUYẾN NGHỊ .......................................................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................54
PHỤ LỤC ..................................................................................................................59

H
P

H

U


v

Danh mục các bảng
Bảng 3.1. Thông tin cá nhân về ĐTNC (n=291) .......................................................22

Bảng 3.2. Đặc điểm lần sinh này và lịch sử sinh sản ĐTNC (n=291)……….. …...23
Bảng 3.3. Kiến thức của bà mẹ về sữa non, thời điểm có sữa non và thời điểm cho
trẻ bú sớm (n=291)…………………………………………….. ............24
Bảng 3.4. Số bà mẹ biết về lợi ích của sữa non (n=291) ..........................................25
Bảng 3.5. Số bà mẹ biết được các lợi ích cho trẻ khi được cho bú sớm ...................26
Bảng 3.6. Số bà mẹ biết được các lợi ích cho mẹ khi cho bú sớm ...........................27
Bảng 3.7. Tình trạng vắt bỏ sữa non, khó khăn khi cho con bú và số trẻ được cho

H
P

uống các thứ khác ngoài sữa mẹ lần đầu sau sinh ...................................28
Bảng 3.8. Liên quan giữa đặc điểm cá nhân sản phụ với thực hành cho trẻ bú sớm
sau sinh (n=291) ......................................................................................30
Bảng 3.9. Liên quan giữa đặc điểm cuộc sinh nở của sản phụ lần này với thực hành
cho trẻ bú sớm sau sinh (n=291)..............................................................32

U

Bảng 3.10. Liên quan giữa kiến thức và thái độ của sản phụ với thực hành cho trẻ
bú sớm sau sinh (n=291)..........................................................................34
Bảng 3.11. Liên quan giữa yếu tố gia đình với thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh

H

(n=291) ....................................................................................................36
Bảng 3.12. Liên quan giữa dịch vụ chăm sóc sau sinh của NVYT với thực hành cho
trẻ bú sớm sau sinh (n=291) ....................................................................37
Bảng 3.13. Liên quan giữa sự hỗ trợ của NVYT với thực hành cho trẻ bú sớm sau
sinh (n=291) .............................................................................................39



vi

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 3.1. Kiến thức của các bà mẹ về lợi ích của sữa non (n=291)…………….25
Biểu đồ 3.2. Kiến thức của bà mẹ về lợi ích cho trẻ khi bú sớm (n=291) ................26
Biểu đồ 3.3. Kiến thức của bà mẹ về lợi ích cho mẹ khi cho con bú sớm (n=291) ..27
Biểu đồ 3.4. Thời điểm trẻ được bú mẹ lần đầu (n=291) ............................................28
Biểu đồ 3.5. Loại thức uống ngoài sữa mẹ trẻ được dùng đầu tiên sau khi sinh
(n=128) ....................................................................................................29

H
P

Biểu đồ 3.6. Các khó khăn mà bà mẹ gặp phải khi cho trẻ bú sớm sau sinh ............30

H

U


vii

TĨM TẮT NGHIÊN CỨU
Cho trẻ bú sớm trong vịng 1 giờ đầu sau sinh được đánh giá là một trong
những can thiệp có hiệu quả nhất nhằm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ nhỏ.
Huyện Thoại Sơn là một huyện nơng thơn mới, nơi có nhiều đồng bào dân tộc Kinh
và Kherme sinh sống, đến hiện tại chưa có đánh giá về thực hành cho trẻ bú sớm.

Vì vậy, đề tài "Kiến thức, thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ và một số yếu tố
ảnh hưởng tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn
tỉnh An Giang năm 2020" được tiến hành với 2 mục tiêu: Xác định tỉ lệ bà mẹ có
kiến thức, thực hành cho trẻ bú sớm và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực
hành cho trẻ bú sớm sau sinh của sản phụ tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản

H
P

Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn năm 2020.

Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang, định lượng kết hợp
định tính. Tổng số có 291 sản phụ đến sinh tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn từ ngày 1/3/2020 đến ngày 30/4/2020, trong đó
chọn ra 10 sản phụ để thực hiện phỏng vấn sâu, ngoài ra cũng tiến hành phỏng vấn

U

sâu 10 cán bộ là nhân viên y tế.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 51% bà mẹ khơng có kiến thức về sữa non,
70% bà mẹ không biết thời điểm cho trẻ bú sớm. Có 70,8% bà mẹ khơng biết về lợi

H

ích cho trẻ và 55% số bà mẹ khơng biết về lợi ích cho mẹ khi cho bú sớm. Tỉ lệ trẻ
được bú mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh là 61%, và trong vòng 90 phút là 73%. Vẫn
còn 43% trẻ sinh ra được cho uống các thứ khác ngồi sữa mẹ trước khi bú mẹ lần
đầu. Có tới 31% các bà mẹ vắt bỏ sữa đầu, 71% các bà mẹ gặp khó khăn khi cho trẻ
bú sớm. Các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến thực hành cho trẻ bú sớm có ý nghĩa

thống kê bao gồm: các bà mẹ dưới 35 tuổi, trình độ học vấn từ THCS trở lên, khơng
theo tơn giáo, có kiến thức đúng về sữa non và có niềm tin về lợi ích mang lại cho
trẻ khi được cho bú sớm. Tại cơ sở y tế, triển khai 10 bước thành công NCBSM có
ảnh hưởng tích cực đến thực hành cho trẻ bú sớm. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất
các cơ sở y tế cần củng cố, duy trì các hoạt động tư vấn về NCBSM chú trọng các
vấn đề liên quan đến bú sớm cho tất cả các thai phụ, đặc biệt quan tâm tới các sản
phụ lớn tuổi, trình độ học vấn thấp, có tơn giáo, sinh con lần đầu.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho trẻ bú sớm là cho trẻ bú mẹ trong vòng một giờ sau khi sinh(1).
Cho bú sớm làm tăng cường hệ miễn dịch cho trẻ. Dù đẻ ra ở đâu, cho trẻ bú mẹ
trong vòng một giờ đầu tiên sau khi sinh cũng làm tăng cơ hội sống sót, phát
triển của trẻ (2). Trẻ được bú sớm nhận được nguồn sữa non quý giá, là thức ăn
phù hợp nhất, tốt nhất đối với trẻ ngay sau sinh vì sữa non chứa nhiều vitamin A,
kháng thể, và các yếu tố bảo vệ khác, giúp củng cố và cân bằng hệ thống miễn
dịch thụ động của trẻ. Bú sữa mẹ sớm làm giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm
khuẩn và tử vong ở trẻ sơ sinh. Một số nghiên cứu đã chứng minh là bắt đầu cho
trẻ bú muộn hơn 1 giờ sau khi sinh (2-23giờ) tăng nguy cơ tử vong trẻ em cao

H
P

hơn 33%, bắt đầu cho con bú muộn hơn 24 giờ sau khi sinh làm tăng nguy cơ tử
vong ở trẻ em gấp 2 lần (3).

Tại Việt Nam tỷ lệ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh còn rất
thấp. Theo nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2014, chỉ có 17,7%

bà mẹ cho con bú trong 1 giờ đầu (4), tại Bệnh Viện Nhi Đồng I thành phố Hồ

U

Chí Minh năm 2010 là 42,3% (5). Tuy nhiên gần đây với nỗ lực nhằm cải thiện
thực hành chăm sóc trẻ sơ sinh thiết yếu, việc cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da mẹ kề
da bé ngay sau khi sinh đã hỗ trợ tích cực cho trẻ bú sớm. Theo đánh giá của

H

WHO khu vực Tây Thái Bình Dương vào năm 2016 - 2017 ở Việt Nam đã có tới
73% trẻ vừa mới sinh được cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh (6).
Huyện Thoại Sơn là huyện nông thôn mới của tỉnh An Giang, nằm trong
khu vực tứ giác Long Xuyên, được hình thành từ năm 1979 sau khi chia tách
huyện Châu Thành thành 02 huyện là huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn.
Huyện Thoại Sơn có nhiều người dân tộc Kinh và Kherme sinh sống. Khoa
Chăm sóc sức khỏe sinh sản thuộc Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn trung bình
hàng năm tiếp nhận khoảng 1500 sản phụ vào chuyển dạ đẻ. Khoa đã triển khai
chính sách hướng dẫn và tạo điều kiện cho trẻ bú sớm, bú hồn tồn theo bộ tiêu
chí đánh giá chất lượng bệnh viện 2016 và quyết định về việc phê duyệt tài liệu
hướng dẫn chun mơn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau
đẻ của bộ y tế ban hành (7). Tuy nhiên, thực trạng về kiến thức và thực hành cho


2

trẻ bú sớm và những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của các
bà mẹ chưa được nghiên cứu và đánh giá tại địa phương. Xuất phát từ thực tế đó
tơi tiến hành nghiên cứu đề tài "Kiến thức, thực hành cho trẻ bú sớm của sản
phụ và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản Trung

tâm y tế huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang năm 2020". Mục đích nghiên cứu là
nhằm đóng góp thơng tin trong nỗ lực cải thiện tình trạng bú sữa mẹ tại địa
phương. Kết quả của nghiên cứu dự kiến sẽ là cơ sở để trung tâm đề xuất những
biện pháp can thiệp sản khoa, lập kế hoạch hỗ trợ bà mẹ sinh thường và sinh mổ,
nhằm tăng tỉ lệ cho con bú trong một giờ đầu sau sinh, góp phần tăng tỉ lệ bú mẹ
nói chung.

H
P

H

U


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức và thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ tại khoa chăm sóc
sức khỏe sinh sản Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2020.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ
tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn, tỉnh
An Giang năm 2020.

H
P

H

U



4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm trong nghiên cứu
Bú sớm: là cho trẻ bú mẹ trong vòng một giờ sau khi sinh (1).
Sữa non: Sữa non được hình thành từ tuần thứ 14 - 16 của thai kỳ và được tiết
ra trong 1 - 3 ngày đầu sau đẻ, có màu vàng nhạt hoặc trong, sánh đặc (8).
1.2. Thành phần dinh dưỡng của sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ
nhỏ vì trong sữa mẹ có đầy đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như
protein, glucid, lipid và mỡ vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự
hấp thu và phát triển của cơ thể trẻ. Việc cho bú mẹ trong thời gian đầu đời là hết

H
P

sức cần thiết nhằm đảm bảo cho bé ít bệnh tật, phát triển cân bằng và hài hòa (9).
Nhờ sự phát triển của khoa học bắt đầu từ những năm 80 người ta hiểu rõ hơn
về thành phần và cơ chế hình thành sữa mẹ cũng như tầm quan trọng của sữa mẹ.
Ngày nay cùng với cơng nghệ hóa sinh, sinh học phân tử, sữa mẹ đã được phân tích
sâu sắc hơn cho kết quả gồm hàng trăm chất dinh dưỡng khác nhau với thành phần

U

cân đối và hợp lý. Thành phần sữa mẹ ở 2 giai đoạn sữa non và sữa trưởng thành cũng
được nghiên cứu và khẳng định là thức ăn lý tưởng, phù hợp với nhu cầu của trẻ theo
từng giai đoạn phát triển (10).


H

1.2.1. Sữa non: Sữa non số lượng ít nhưng độ đậm cao. Sữa non giàu kháng thể,
nhiều protein kháng khuẩn, nhiều tế bào bạch cầu hơn sữa trưởng thành, giúp trẻ
pḥịng chống nhiễm khuẩn, dị ứng và có khả năng miễn dịch nhiều bệnh mà trẻ
có thể mắc sau đẻ. Sữa non có tác dụng xổ nhẹ, đào thải phân su, thải bilirubin ra
khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da của trẻ (8).
1.2.2. Sữa trưởng thành: có đầy đủ và cân đối các thành phần dinh dưỡng.
Protein sữa mẹ có chứa nhiều acid amin thiết yếu với lượng phù hợp và dễ tiêu
hóa. Sữa mẹ có acid béo cần thiết như acid linoleic cần cho sự phát triển của não,
mắt và sự bền vững thành mạch của trẻ, hơn nữa lipid trong sữa mẹ dễ được tiêu
hóa hơn do có lipase. Lactose trong sữa mẹ cung cấp thêm nguồn năng lượng cho
trẻ, một số lactose vào ruột lên men tạo thành acid lactic giúp cho hấp thu canxi
và muối khoáng tốt hơn (1).


5

Sữa mẹ còn chứa nhiều các men giúp cho trẻ tiêu hóa và hấp thu tốt. Hoạt
tính lysozym, amylaza của sữa non cao hơn 60 lần và ở sữa hoàn thiện là 40 lần
so với sữa bò. Nhiều các men khác cũng có mặt với nồng độ rất cao bao gồm
transaminaza, catalaza, lactaza, dehydrozenaza, proteaza và lipaza. Nội tiết tố
giáp trạng và những nội tiết tố khác cũng được tiết ra ở sữa mẹ (11). Sữa mẹ cịn
có nhiều vitamin và muối khoáng như vitamin A, C, Can xi, Sắt, tỷ lệ Ca/P thích
hợp dễ hấp thu, phịng được một số bệnh do thiếu vi chất gây ra như khô mắt do
thiếu vitamin A, thiếu máu thiếu sắt, còi xương (11).
Một thành phần quan trọng chỉ có trong sữa mẹ đó là chất kháng khuẩn.
Đó là các kháng thể IgA có nhiều nhất trong sữa non và giảm dần ở các ngày sau

H

P

đó. Lactoferin là một protein gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn khơng cho vi khuẩn
ưa sắt phát triển. Các enzyme lactozym có tác dụng tiệt khuẩn. Hơn 80% trong
sữa là các thực bào, lympho bào có tác dụng tiết IgA và thực bào , interferon có
tác dụng ức chế hoạt động của vi khuẩn, virut, nấm (9). Mặc khác trong sữa mẹ
cũng có yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn lactobacillus bifidus, lấn át

U

sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh như Ecoli. Sữa mẹ có khoảng hơn 100 thành
phần khơng tìm thấy trong bất kỳ loại sữa công thức nào, hầu như không một đứa
trẻ nào dị ứng với sữa của mẹ mình (1).

H

1.3. Lợi ích khi cho trẻ bú sớm

Cho trẻ bú sớm làm tăng cường hệ miễn dịch cho trẻ, cũng làm tăng cơ
hội sống sót, phát triển của trẻ. Những lợi ích này khiến cho việc bắt đầu cho con
bú sớm trở thành một trong các biện pháp chính trong chăm sóc đối với trẻ sơ
sinh thiết yếu (2). Nghiên cứu cho thấy bắt đầu cho trẻ bú muộn hơn 1 giờ sau
khi sinh (2-23giờ) có nguy cơ tử vong cao hơn 33%, những người bắt đầu cho
con bú muộn hơn 24 giờ sau khi sinh làm nhân đôi nguy cơ tử vong, trẻ được bú
sữa mẹ sớm cũng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong những
tháng đầu sau sinh (3). Cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh là cách thức để
mẹ truyền cho con nguồn sữa non với nồng độ cao vitamin A, kháng thể, các yếu
tố bảo vệ khác, giúp củng cố và cân bằng hệ thống miễn dịch thụ động của trẻ.
Cho trẻ bú sớm sau khi sinh là biện pháp quan trọng vì trong thời điểm



6

này trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo nhanh nhẹn nhất và dễ thực hành bú mẹ nhất.
Khi thời điểm này đi qua, trẻ trở nên buồn ngủ hơn và bắt đầu hồi phục sau quá
trình thở. Trong 1 giờ đầu tiên, quan trọng là để trẻ ở gần mẹ, để trẻ có cơ hội
được bú sớm. Khơng cho trẻ bú mẹ sớm sau khi sinh là một trong những nguy cơ
khiến trẻ thôi bú sớm sau 2 tháng (12).
Theo kết quả nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định rằng cho trẻ bú sớm
trong vòng một vài giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể
cứu sống được trên 1 triệu trẻ em hàng năm, là một trong những can thiệp mang
lại hiệu quả cao nhất nhằm cứu sống trẻ em (13).
Bên cạnh những lợi ích mang lại cho trẻ khi được cho bú sớm thì việc này

H
P

cũng đem đến rất nhiều lợi ích và thuận tiện cho người mẹ. Cho con bú giúp tạo
ra sự kết nối tình cảm giữa mẹ và bé. Cho trẻ bú sớm gíúp cho bà mẹ chóng co
hồi tử cung, tránh băng huyết sau đẻ. Khi trẻ bú sẽ kích thích hypothalamus sản
xuất ra một hormone khác đó là oxytocin có tác dụng co các tế bào cơ ở xung
quanh tuyến sữa gây nên phản xạ tiết sữa. Oxytocin cũng có tác dụng trên cơ tử

U

cung, do đó nếu trẻ bú mẹ ngay lập tức sau đẻ, oxytocin sẽ được sản xuất và tác
dụng lên tế bào cơ tử cung giúp cho việc cầm máu nhanh sau đẻ (14).
Cho trẻ bú sớm sau sinh làm cho sữa mẹ mau về, bởi vì động tác mút vú

H


của trẻ sẽ kích thích tuyến n giải phóng prolactin, nó sẽ kích thích các tế bào
tuyến sữa sản xuất ra sữa. Như vậy trẻ càng bú nhiều thì càng có nhiều prolactin
và sữa sẽ tiết ra nhiều hơn. Như vậy biện pháp đơn giản nhất, kinh điển nhất và
tự nhiên nhất để tăng lượng sữa của mẹ là cho trẻ bú thường xuyên, không hạn
chế số lần trong ngày. Một đứa trẻ đói thường bú nhiều hơn là những đứa trẻ đã
no, nếu cho trẻ ăn những thức ăn khác trước khi bú, nó có thể làm cản trở sự tiết
sữa (13). Nghiên cứu cho thấy, sữa mẹ bắt đầu tiết ra mau hơn ở những người mẹ
cho bú sớm, cho bú nhiều lần. Sữa mẹ tiết ra sớm một cách rõ ràng ở những
người mẹ bắt đầu cho bú mẹ trong một giờ đầu sau sinh hơn các bà mẹ đợi cho
sữa tự xuống.
Thời điểm bà mẹ bắt đầu cho trẻ bú theo khuyến cáo của WHO cũng như
chiến lược hợp tác của WHO và UNICEF về sự sống còn của trẻ đã khuyến nghị


7

mẹ nên cho trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giúp trẻ tận dụng được
nguồn sữa non là loại sữa tốt nhất, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học
thích ứng với cơ thể non nớt của trẻ sơ sinh, càng bú sớm thì càng tốt cho trẻ và
không cần cho trẻ mới sinh ăn bất kỳ thứ gì khác trước khi bú mẹ lần đầu (1).
Ngay sau đẻ cần cho trẻ tiếp xúc da kề da với mẹ, để tạo điều kiện tự
nhiên cho trẻ tìm vú mẹ và bắt đầu bữa bú đầu tiên. Theo đặc điểm sinh lý của
trẻ, thời gian từ khi trẻ sinh ra được áp vào ngực bà mẹ cho đến khi trẻ tự tìm
được bầu vú mẹ và bắt đầu bú vào khoảng 1 giờ. Đây được gọi là hành vi sinh
tồn theo bản năng của trẻ (8).
1.4. Thực trạng cho trẻ bú sớm sau sinh trên Thế giới và Việt Nam

H
P


1.4.1. Thực trạng kiến thức về bú sớm của các bà mẹ

Mặc dù hiểu biết của các bà mẹ cũng như cộng đồng về lợi ích của NCBSM
là khá tốt, tuy nhiên kiến thức về cho trẻ bú sớm còn hạn chế, đặc biệt là về hiểu
đúng về các khái niệm bú sớm, sữa non và lợi ích của việc cho con bú sớm.
Nghiên cứu của tác giả Yến Nhi năm 2014 tại BVĐK Kiên Giang (4) cho thấy tỉ

U

lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ bú sớm là khá cao (80%), tuy nhiên số bà mẹ biết
về lợi ích cho mẹ khi cho trẻ bú sớm chỉ là 28,5% và cho trẻ khi là 26,5%. Các
nghiên cứu khác gần đây cũng cho kết quả tương tự. Nghiên cứu năm 2017 tại

H

Lạng Sơn chỉ có 10,7% bà mẹ có kiến thức đúng về lợi ích của sữa non, về khái
niệm sữa non là 11,1% (15); nghiên cứu của tác giả Phan Thị Ánh Tuyết số bà
mẹ có kiến thức đúng về khái niệm sữa non cũng chỉ ở mức 16,7% (16).
1.4.2. Thực trạng về thực hành cho trẻ bú sớm
Mặc dù nhiều lợi ích được cơng nhận từ việc cho bú sớm nhưng tỷ lệ cho
bú sớm còn ở mức thấp ở phần lớn các nước trên thế giới bao gồm cả Việt Nam.
Một nghiên cứu gần đây được công bố trên The Lancet (17), so sánh tỷ lệ
trẻ được bú sớm ở 46 quốc gia thu nhập thấp và trung bình (LMIC) và các quốc
gia có thu nhập cao. Trong số 49% LMIC có sẵn dữ liệu, báo cáo có hơn một nửa
số trẻ sơ sinh được cho bú sớm và chỉ một quốc gia (Cộng hòa Slovak) ghi nhận
80%. Đáng chú ý là 50% LMIC khơng có dữ liệu về việc số trẻ được cho bú sớm.
Tuy nhiên, ở các nước có thu nhập cao có ít dữ liệu hơn: chỉ 6 trong số 27 quốc



8

gia được kiểm tra có dữ liệu về cho con bú sớm, với tỷ lệ cao nhất được báo cáo
ở Ý là 94% và thấp nhất ở Ả Rập Saudi là 23%. Ở khu vực Nam Á đang ở mức
thấp, từ 45% đến 72,7%, thấp nhất là ở Nepal (36,4%) và cao nhất là ở Ấn Độ và
Sri Lanka (83,3%) (10).
Số liệu về tỷ lệ trẻ được bú mẹ ở Anh được công bố bởi Dịch vụ Y tế
Quốc gia (NHS) cho thấy số lượng trẻ mới sinh được bú sớm sau sinh giai đoạn
2013-2014, ước tính là 75% (18). Tại Hoa Kỳ, trong số 54% bệnh viện đạt tiêu
chuẩn bệnh viện bạn hữu trẻ em vào năm 2013 chỉ có 65% số trẻ sinh ra được
cho bú sớm (19).
Các nghiên cứu tại Việt Nam về tỉ lệ cho trẻ bú sớm sau sinh cho các kết

H
P

quả khác nhau giữa các vùng`miền, khu vực, dân tộc. Khảo sát xu hướng cho trẻ
bú sớm giai đoạn 2006 - 2011 cho thấy tỷ lệ này giảm từ 59,9% xuống còn
39,7% (20). Đánh giá về thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ ở 14 quốc gia ở khu vực
Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam được xếp hạng thấp nhất về NCBSM hoàn
toàn (21). Ở giai đoạn này, tỷ lệ trẻ được bú sớm hầu như đều thấp ở những địa

U

bàn nghiên cứu trên cả nước. Kết quả ở Hà Nội năm 2011 chỉ đạt 38,1% trẻ được
bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh (22), tại thị trấn Rạng Đông, Nghĩa Hưng, Nam
Định năm 2014 có hơn phân nửa số bà mẹ được điều tra cho con bú sau 1 giờ đầu

H


sau sinh (23). Tại Quảng Ngãi năm 2015, tỷ lệ trẻ được bú sớm là 33,2% (24).
Từ năm 2014, với sự nỗ lực từ Bộ Y tế và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế,
qui trình chăm sóc trẻ sơ sinh thiết yếu tại các cơ sở y tế được ban hành bao gồm
cả việc cho trẻ bú sớm. Việc thực hiện đặt trẻ nằm da kề da với mẹ ngay sau khi
sinh, ngồi lợi ích giữ ấm, tăng cường tình cảm mẹ và con thì cịn có lợi ích nữa
là hỗ trợ cho trẻ bú sớm. Số liệu từ giai đoạn này đã cho thấy nhiều tín hiệu tích
cực về cải thiện thực hành cho trẻ bú sớm. Nghiên cứu ở Lương Sơn, Hịa Bình
năm 2016, cho kết quả về tỷ lệ các bà mẹ thực hành cho trẻ bú sớm là 79,9%
(25). Nghiên cứu tại huyện Hoài Đức, Hà Nội của tác giả Vũ Thị Nhung tỷ lệ bà
mẹ cho con bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh là 29,4% (26). Nghiên cứu
của tác giả Đàm Thị Thơ tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ trẻ
được bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh cũng thấp chiếm 46,9% (27).


9

Về thực hành liên quan đến bú sớm như hành động vắt bỏ sữa đầu hoặc
cho trẻ ăn một số thức ăn khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Tỉ lệ
bà mẹ cho con bú sớm tại BVĐK Trung tâm Lạng Sơn (15) là 64,1%; tỉ lệ bà mẹ
vắt bỏ sữa non chiếm 12,1%, có 30,2% trẻ được gia đình cho ăn các thứ khác
ngồi sữa trước khi cho bú mẹ lần đầu sau sinh. Theo kết quả nghiên cứu năm
2014 tại Lương Sơn của tác giả Đỗ Thị Ánh (28), thì có 79,9% các bà mẹ cho trẻ
bú sớm, 26,8% bà mẹ cho trẻ uống các thứ khác ngoài sữa mẹ trước khi cho trẻ
bú mẹ lần đầu tiên.
1.5. Yếu tố ảnh hưởng tới thực hành cho trẻ bú sớm
Mặc dù cho con bú là cách ni con tự nhiên có từ khi có sự sống của loài

H
P


người, tuy nhiên các bà mẹ cũng cần phải học hỏi để việc cho con bú được thuận
lợi và mang lại lợi ích tối ưu nhất cho cả mẹ và con. Hầu hết các bà mẹ đều có
thể cho con bú với điều kiện họ có đầy đủ thơng tin và sự hỗ trợ từ gia đình và
cộng đồng cũng như từ dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Họ cần được tiếp cận với sự
giúp đỡ thực tế có kỹ năng từ các nhân viên y tế được đào tạo, và các chuyên gia

U

tư vấn cho con bú, những người có thể giúp tăng sự tự tin của các bà mẹ, cải
thiện kỹ năng cho con bú và ngăn ngừa hoặc giải quyết các vấn đề cho con bú.
Trung tâm Dinh dưỡng Sức khỏe Cộng đồng tại Úc đã phát triển một

H

khung khái niệm minh họa các ảnh hưởng của mức độ cá nhân, nhóm và xã hội
đối với việc NCBSM. Khung này thể hiện việc cho con bú có thể bị ảnh hưởng
bởi nhiều yếu tố. Ảnh hưởng của cấp độ nhóm và cấp xã hội có thể tương tác
theo cách tích cực hoặc tiêu cực đến yếu tố cá nhân như kiến thức và kỹ năng của
bà mẹ. Ví dụ, một bà mẹ có thể lên kế hoạch cho con bú, nhưng một môi trường
không hỗ trợ trong bệnh viện có thể dẫn đến việc cơ ấy quyết định ngừng cho con
bú sớm. Tương tự, ngay cả khi việc cho con bú vẫn xảy ra khi xuất viện, việc
thiếu hỗ trợ tại nhà hoặc trong cộng đồng cũng có thể khiến cơ ấy dừng lại sớm.
1.5.1. Yếu tố cá nhân
Các yếu tố cá nhân liên quan đến cho con bú sớm bao gồm cà yếu tố về
đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế gia đình và liên quan đến việc sinh đẻ.
Tuổi của bà mẹ được một số nghiên cứu kết luận là có mối liên quan đến


10


thực hành cho bú sớm. Những bà mẹ trẻ (< 25 tuổi) thường ít cho con bú sớm
hơn các bà mẹ lớn tuổi hơn. Giải thích vấn đề này, các tác giả cho rằng bà mẹ trẻ
thường cảm thấy mệt mỏi hoặc chán nản sau sinh nên tăng nguy cơ khơng cho
con bú sớm (29). Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho kết quả là tuổi bà
mẹ không có liên quan nhiều đến thực hành bú sớm do họ được tiếp cận nhiều
hơn với những thông tin về lợi ích của cho con bú sớm (25), (28).
Trình độ văn hoá cũng là một yếu tố liên quan đến thực hành cho con bú
sớm. Các bà mẹ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên có tỷ lệ cho
con bú sớm cao gấp 4,3 bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn (29). Tuy nhiên,
cũng như yếu tố tuổi của bà mẹ, một số nghiên cứu cho là mối liên quan giữa tuổi

H
P

bà mẹ và thực hành cho con bú sớm là không chắc chắn (28).

Yếu tố dân tộc được nhiều nghiên cứu khẳng định có liên quan chặt chẽ
đến cho con bú sớm. Bà mẹ là người dân tộc Kinh có khả năng thực hiện việc
cho con bú sớm sau sinh cao gấp khoảng từ 14- 20 lần so với bà mẹ người dân
tộc khác (28),(29).

U

Một trong những yếu tố quan trọng nhất được tìm thấy ảnh hưởng đến
việc bắt đầu cho con bú sớm là yếu tố liên quan đến sinh đẻ. Các bà mẹ sinh ngã
âm đạo có nhiều điều kiện cho bú sớm hơn so với sinh mổ do sinh mổ là một trở

H

ngại gây ra sự chậm trễ trong thời gian bắt đầu cho trẻ bú sớm. Bà mẹ sinh

thường có khả năng thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh cao hơn so với bà mẹ sinh
mổ gấp khoảng từ 2,5 - 9,1 lần (15), (28). Đau sau phẫu thuật, khó chịu đáng kể
khi bế và tư thế em bé, chậm tiếp xúc da mẹ kề da bé, chậm tiết sữa, hạn chế vận
động và cần thêm trợ giúp cho trẻ bú mẹ có thể giải thích cho sự chậm trễ
này. Phụ nữ trải qua sinh mổ có thể cần thêm trợ giúp để có được sự thoải mái và
tự tin cho bú (14). Bà mẹ sinh con hai lần hai, trẻ có cân nặng trên 2,5 kg có khả
năng thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh tốt hơn so với bà mẹ sinh con trên hai
lần, sinh con có cân nặng dưới 2,5 kg (15).
Ngồi ra, một số yếu tố cá nhân khác có mối liên quan tiêu cực đến thực
hành cho con bú sớm như tình trạng kinh tế xã hội thấp; có rào cản ngôn ngữ,
hoặc khả năng hạn chế quyền truy cập thông tin (29). Không đủ niềm tin và thiếu


11

hiểu biết về lợi ích của NCNSM cũng là yếu tố quan trọng cản trở cho con bú
sớm. Tỷ lệ cho con bú sớm thấp trong nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hoa liên
quan đến thực tế là có 30% bà mẹ nghĩ là mình khơng đủ sữa và có đến 20% nghĩ
là cho trẻ uống thêm sữa ngoài sẽ tốt cho trẻ hơn (30).
1.5.2. Yếu tố gia đình và xã hội
Một số nghiên cứu chỉ ra các yếu tố nhóm và xã hội làm giảm sự tự tin
của người phụ nữ hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến thực hành cho trẻ bú sớm như:
thiếu sự hỗ trợ của gia đình; lời khun khơng nhất qn từ các nhân viên y tế,
người thân trong gia đình, bạn bè; quan niệm sai lầm rằng sữa bột trẻ em tương
đương về mặt dinh dưỡng với sữa mẹ; sự thiếu hiểu biết của những người thân

H
P

xung quanh (31).


Điều kiện hỗ trợ từ những người thân trong gia đình có ảnh hưởng quan
trọng đối với việc cho trẻ bú sớm. Nghiên cứu năm 2014 cho thấy những người
mẹ khơng có sự trợ giúp của người thân trong gia đình có tỉ lệ khơng cho con bú
sớm cao hơn các bà mẹ khác gấp 3,7 lần (28). Nghiên cứu của Trần Hữu Bích và

U

cộng sự cho thấy tỷ lệ bú sớm ở địa phương khi có sự hỗ trợ của người cha tăng
lên rõ rệt (32).
1.5.3. Yếu tố dịch vụ y tế

H

Vai trò của dịch vụ y tế và sự chăm sóc sau sinh của NVYT đối với sản
phụ có ảnh hưởng rất lớn đến việc nuôi con bằng sữa mẹ. Trong các nhà hộ sinh
cũng như những phòng khám phụ nữ hoặc ở nơi chăm sóc sau đẻ, nó lại càng đặc
biệt quan trọng, bởi vì họ đến đây trong tình trạng cần được chăm sóc sức khỏe
hoặc vì những bệnh tật của họ. Những cán bộ y tế trở thành một phần của xã hội
ảnh hưởng mạnh mẽ đến họ (29). Các cán bộ y tế có thể ảnh hưởng tới hành vi về
nuôi con của các bà mẹ bằng cách cung cấp thơng tin, hướng dẫn cách chăm sóc,
bảo vệ nguồn sữa. Cả hai đều làm cho bà mẹ hiểu và bảo vệ được nguồn sữa.
Nghiên cứu cho thấy các cán bộ y tế ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nuôi con,
bởi vì chính họ là nguồn gốc của mọi thơng tin về cách nuôi con. Họ cung cấp cho
các bà mẹ những thông tin về khoa học và thực hành về cách ni con và trên cơ sở
đó tạo điều kiện cho sự quyết định về cách nuôi con như thế nào, và đây cũng là nơi


12


luôn động viên họ về mặt tinh thần mà mỗi người phụ nữ đều rất cần thiết (33).
Có bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của dịch vụ y tế đến thực
hành cho trẻ bú sớm. Amon tìm thấy rằng một số cán bộ y tế thậm chí ở trong
các bệnh viện lớn cũng cho các bà mẹ những lời khun khơng đúng, những điều
đó làm trì hỗn việc cho con bú mẹ sớm từ 1 đến 3 ngày sau sinh (34).
Tuy nhiên cũng có bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của dịch vụ
y tế đến thực hành cho trẻ bú sớm. Kết quả của một nghiên cứu cho thấy các bà
mẹ không được NVYT tư vấn về bú sớm khi mang thai, khi nằm viện có thực
hành cho trẻ bú muộn hơn gấp 2,8 lần so với những bà mẹ được NVYT tư vấn
(28), tương tự với nghiên cứu ở Ethiopia năm 2013 cho thấy bà mẹ được NVYT

H
P

tư vấn NCBSM khi mang thai tại bệnh viện có tỷ lệ cho trẻ bú sớm cao hơn 2-3
lần so với nhóm các bà mẹ khơng được NVYT tư vấn (35).

Tổ chức Y tế Thế giới đã xuất bản tài liệu chuyên đề về hướng dẫn
NCBSM, các khuyến cáo đều dựa trên các bằng chứng khoa học của nhiều cơng
trình nghiên cứu trên thế giới về lợi ích của ni con bằng sữa mẹ, theo đó mỗi

U

cơ sở y tế có cung ứng dịch vụ sức khoẻ sinh sản và chăm sóc sơ sinh cần triển
khai 10 bước sau (36):

1. Có chính sách quy định về NCBSM.

H


2. Đào tạo nhân viên y tế những kỹ năng cần thiết.
3. Giáo dục trước sinh cho các phụ nữ mang thai.
4. Hỗ trợ các bà mẹ cho con bú sớm sau sinh.
5. Hướng dẫn cho bà mẹ thực hành cho con bú.
6. Không cho trẻ sơ sinh ăn uống bất kỳ thứ gì ngồi sữa mẹ.
7. Khơng cách ly sản phụ và trẻ sơ sinh.
8. Khuyến khích cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu.
9. Khơng cho trẻ bú bình sữa và ngậm núm vú giả.
10. Tăng cường thiết lập và duy trì hoạt động các nhóm hỗ trợ NCBSM.
1.6. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu – huyện Thoại Sơn
Huyện Thoại Sơn ngày nay là một trong 11 huyện thị của tỉnh An Giang,
nằm về phía đơng nam tứ giác Long Xuyên; huyện lỵ đặt tại thị trấn Núi Sập.


13

Phía Bắc giáp huyện Châu Thành, Tây Bắc giáp huyện Tri Tôn, Đông giáp thành
phố Long Xuyên, Nam giáp huyện Thốt Nốt (Cần Thơ), Tây và Tây Nam giáp
huyện Tân Hiệp và Hịn Đất (Kiên Giang). Thoại Sơn có diện tích tự nhiên là
46.885,52 ha, trong đó có 41.261,22 ha đất canh tác. Tồn huyện có 42.267 hộ
với 180.951 nhân khẩu, được phân bố trên 14 xã, 3 thị trấn (Núi Sập, Ĩc Eo và
Phú Hịa) với 76 ấp có nhiều đồng bào dân tộc Kinh và Kherme sinh sống.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngành y tế Thoại Sơn
cũng có nhiều bước tiến bộ vượt bậc, trong đó vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ
trẻ em rất được quan tâm.
Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một khoa lâm sàng có nhiệm vụ đỡ đẻ,

H
P


chăm sóc sức khỏe Bà mẹ - trẻ sơ sinh và khám chữa bệnh phụ khoa. Cùng chung
với sự hình thành trung tâm, Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản là khoa hình thành
sớm ngay từ đầu. Qua năm tháng khoa đã phát triển không ngừng, nâng cao chất
lượng điều trị. Hiện tại khoa có 22 cán bộ trong đó: Bác sỹ: 03, đều là Bác sĩ
chuyên khoa I; Nữ hộ sinh có 16 trong đó: 4 Đại học và 6 cao đẳng nữ hộ sinh, Nữ

U

hộ sinh trung học: 6 (có 3 đang theo học cao đẳng NHS); Hộ lý: 2; cán bộ Dược: 1.
Để đảm bảo thực hiện tốt chức năng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, khoa
Chăm sóc sức khỏe sinh sản đã bố trí liên hồn hợp lý từ buồng chờ đẻ, buồng đẻ,

H

buồng làm thuốc, buồng hậu sản, buồng hậu phẫu, buồng tắm bé, buồng đơn
nguyên sơ sinh. Trong những năm qua khoa CSSKSS ln đỡ đẻ an tồn cho trên
1500 sản phụ mỗi năm, chăm sóc theo dõi tốt sau đẻ, hạn chế mức thấp nhất các
tai biến sản khoa, phẫu thuật an toàn cho trên 360 ca mỗi năm, hầu như khơng có
nhiễm trùng nặng sau mổ, các tai biến ở mức rất thấp. Sau khi mổ, trẻ mạnh khỏe
được giao cho người nhà sản phụ chăm sóc và cho nằm cùng mẹ khi bà mẹ được
đưa về phòng hậu phẫu. Trẻ bú mẹ lần đầu phụ thuộc vào sự cố gắng của mẹ, sự
giúp đỡ, động viên của NVYT và những thành viên trong gia đình. Đối với sản
phụ sinh thường, trẻ được về với mẹ và gia đình ngay khi sinh.


14

1.7. Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên mục tiêu và tham khảo các đề tài
trước đó về yếu tố ảnh hưởng tới thực hành cho trẻ bú sớm (4, 5). Các yếu tố ảnh

hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm được chia thành 3 nhóm chính đó là yếu tố
cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố dịch vụ y tế.
Yếu tố cá nhân là các yếu tố bên trong của mỗi cá nhân có ảnh hưởng đến
thực hành cho trẻ bú sớm bao gồm: tuổi, trình độ học vấn, tơn giáo, nghề nghiệp,
niềm tin.
Yếu tố gia đình đó là sự tham gia của người chồng và người thân có ảnh
hưởng trực tiếp/ gián tiếp đến thực hành cho trẻ bú sớm.

H
P

Yếu tố dịch vụ y tế căn cứ vào 10 bước nuôi con bằng sữa mẹ thành công tại
cơ sở y tế như các chính sách, năng lực của CBYT, tư vấn NCBSM, chăm sóc hậu
sản…, các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp/gián tiếp đến thực hành cho trẻ bú sớm.

H

U


15

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các bà mẹ sinh con tại Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản – Trung tâm y tế
huyện Thoại Sơn đang nằm viện sau sinh từ 3-5 ngày (theo quy định của khoa
CSSKSS, sản phụ sinh thường nằm viện ít nhất 3 ngày để theo dõi sức khỏe mẹ
và bé, sản phụ sinh mổ nằm viện ít nhất 5 ngày để theo dõi và tiêm kháng sinh
theo phác đồ điều trị).
- Bác sỹ, các hộ sinh đang công tác tại Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản, lãnh

đạo Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng

H
P

- Các sản phụ đẻ thường và đẻ mổ, đang nằm viện sau sinh từ 3-5 ngày tại Khoa
chăm sóc sức khỏe sinh sản – Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn và đồng ý tham
gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ

- Mẹ có bệnh khơng được cho con bú theo chỉ định của bác sĩ

U

- Bà mẹ có trẻ tử vong

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu nghiên cứu

- Thời gian thu thập thông tin: Từ tháng 03/2020 đến tháng 04/2020

H

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2019 đến tháng 7/2020
- Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản – Trung
tâm y tế huyện Thoại Sơn.
2.3. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính:
- Định lượng để mô tả thực trạng cho bú sớm và một số yếu tố liên quan đến

thực trạng cho bú sớm của bà mẹ
- Định tính được thực hiện để bổ sung, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thực
trạng cho bú sớm của bà mẹ, đặc biệt tập trung vào khía cạnh dịch vụ y tế theo 10
bước bệnh viện nuôi con bằng sữa mẹ của Tổ chức y tế thế giới (36).
2.4. Cỡ mẫu
* Nghiên cứu định lượng được tính theo công thức cỡ mẫu cho một tỷ lệ


16

nghiên cứu mơ tả cắt ngang:
n=Z2(1-α/2)
Trong đó
p = 46.7% (Tỉ lệ cho trẻ bú sớm sau sinh của bà mẹ tại Bệnh viện huyện Tam
Nông tỉnh Phú Thọ, năm 2012) (37).
Z là hệ số tin cậy tính theo α: lấy α=0.05 thì Z(1-α/2) = 1,96.
d là sai số chấp nhận được: 0,06
thay vào cơng thức ta có cỡ mẫu tối thiểu là: n = 265
Để dự phòng các đối tượng từ chối hoặc bỏ cuộc nên cộng thêm 10%. Như vậy

H
P

cỡ mẫu nghiên cứu là n = 291 bà mẹ.

* Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu cho 20 lượt, gồm 10 bà mẹ
(trong tổng số 291 ĐTNC) và 10 NVYT làm việc tại trung tâm y tế.
2.5. Phương pháp chọn mẫu
2.5.1. Mẫu định lượng


Chọn mẫu toàn bộ. Mỗi ngày khoa CSSKSS tiếp nhận trung bình 15 sản

U

phụ vào chuyển dạ, mỗi ngày ĐTV chọn tất cả sản phụ nhập viện theo tiêu chuẩn
chọn và loại trừ để lấy mẫu trong 20 ngày.

H

2.5.2. Mẫu định tính:
* Đối với các bà mẹ:

- Chọn có chủ đích 10 bà mẹ, gồm: 5 bà mẹ sinh thường và 5 bà mẹ sinh mổ để
tìm hiểu sâu về các vấn đề liên quan đến bú sớm.
- 5 bà mẹ sinh thường: 3 bà mẹ cho bú sớm và 2 bà mẹ không cho bú sớm.
- 5 bà mẹ sinh mổ: 3 bà mẹ cho bú sớm và 2 bà mẹ không cho bú sớm.
- Sau khi thu thập số liệu bằng phiếu điều tra, chọn ra các bà mẹ theo tiêu chuẩn
ở trên, thân thiện, sẵn lịng chia sẽ các thơng tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu.
* Đối với cán bộ y tế:
- Chọn mẫu có chủ đích: phó giám đốc trung tâm, trưởng khoa, phó khoa và điều
dưỡng trưởng khoa CSSKSS.
- Chọn mẫu ngẫu nhiên: Trong ngày họp khoa thường lệ, trưởng khoa thông qua


×