Tải bản đầy đủ (.pdf) (144 trang)

Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã tân kiều, huyện tháp mười, tỉnh đồng tháp năm 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.76 MB, 144 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HUỲNH THỊ XƯƠNG MAI

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG

H
P

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BÀ MẸ CÓ CON
DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ TÂN KIỀU, HUYỆN THÁP MƯỜI,
TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018

U

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60720301

H

HÀ NỘI, NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HUỲNH THỊ XƯƠNG MAI

H
P



LUẬN VĂN THẠC SĨ

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BÀ MẸ CÓ CON
DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ TÂN KIỀU, HUYỆN THÁP MƯỜI,

U

TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018

H

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60720301

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN NGỌC ẤN

HÀ NỘI, NĂM 2018


I

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ......................................................................................................... VIII
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.........................................................................................3
Chương 1:....................................................................................................................4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................................4
1.1. Bệnh tay chân miệng:...................................................................................................................4
1.2. Đặc điểm chung của bệnh tay chân miệng:..................................................................................5

1.3. Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng:.................................................................................7
1.4. Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và ở Việt Nam: ......................................................8

H
P

1.5. Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng: ......................11
1.6. Một số đặc điểm và tình hình bệnh TCM tại địa bàn nghiên cứu: .............................................20

KHUNG LÝ THUYẾT ...............................................................................................24
Chương 2:..................................................................................................................26
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................26
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu:............................................................................26

U

2.2. Thiết kế nghiên cứu: ..................................................................................................................26
2.3. Mẫu và phương pháp chọn mẫu: ................................................................................................26
2.4. Phương pháp thu thập số liệu: ....................................................................................................29

H

2.5. Biến và định nghĩa biến: ............................................................................................................31
2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: ....................................................................................31
2.7. Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá ...............................................................................................31
2.8. Đạo đức nghiên cứu: .................................................................. Error! Bookmark not defined.

Chương 3:..................................................................................................................35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................................35
Chương 4:..................................................................................................................63

BÀN LUẬN ...............................................................................................................63
KẾT LUẬN ...............................................................................................................79
KHUYẾN NGHỊ ........................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................82
Phụ lục 1: ..................................................................................................................85


II

Phụ lục 2..................................................................................................................103
Phụ lục 3..................................................................................................................116

H
P

H

U


III

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBYT

Cán bộ Y tế

ĐTNC


Đối tượng nghiên cứu

ĐTV

Điều tra viên

EV

Enterovirus

TCM

Tay chân miệng

WHO

Tổ chức Y tế thế giới

YTCC

Y tế công cộng

H
P

H

U



IV

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 2013 – 2015 ........................................9
Bảng 2.1. Bảng chi tiết lấy mẫu từng ấp ...................................................................28
Bảng 3. 1. Đặc điểm của ĐTNC ...............................................................................35
Bảng 3. 2. Kiến thức của bà mẹ về dịch tễ học bệnh TCM: ......................................36
Bảng 3. 3. Kiến thức của bà mẹ về nhận biết dấu hiệu, sự nguy hiểm và biến chứng
của bệnh TCM ...........................................................................................................37
Bảng 3. 4. Kiến thức của bà mẹ về sự lây truyền của bệnh: .....................................38
Bảng 3. 5. Kiến thức của bà mẹ về các nguy cơ mắc bệnh TCM: ............................39

H
P

Bảng 3. 6. Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh TCM: .............................................39
Bảng 3.7. Kiến thức về chăm sóc và điều trị khi trẻ bệnh TCM: ..............................41
Bảng 3. 8. Thực hành rửa tay của bà mẹ: .................................................................43
Bảng 3. 9. Thực hành rửa tay cho trẻ: ......................................................................44
Bảng 3.10. Thực hành vệ sinh răng miệng cho trẻ: ..................................................46

U

Bảng 3.11. Thực hành vệ sinh nhà ở: .......................................................................47
Bảng 3. 12. Thực hành lau rửa đồ chơi cho trẻ:.......................................................48
Bảng 3. 13. Thực hành vệ sinh ăn uống:...................................................................49

H


Bảng 3. 14. Thực hành về xử lý phân, dịch tiết của trẻ: ...........................................49
Bảng 3. 15. Gia đình xung quanh, bạn bè, cơ quan có trẻ từng mắc bệnh TCM: ....52
Bảng 3. 16. Hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ cán bộ y tế: ..............................53
Bảng 3. 17. Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM bà mẹ được nghe/nhìn: .........55
Bảng 3. 18. Mối liên quan đặc điểm của bà mẹ với kiến thức phòng bệnh TCM:....57
Bảng 3.19. Mối liên quan của tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh
với kiến thức phịng bệnh TCM của bà mẹ: ..............................................................58
Bảng 3.20. Mối liên quan của hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ cán bộ Y tế với
kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ: ....................................................................59
Bảng 3.21. Mối liên quan của hiệu quả nguồn cung cấp thơng tin với kiến thức
phịng bệnh TCM của bà mẹ: ...................................................................................59


V

Bảng 3.22. Mối liên quan giữa giữa đặc điểm của bà mẹ với thực hành về phòng
bệnh TCM: ................................................................................................................60
Bảng 3.23. Mối liên quan của tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh
với thực hành phịng bệnh TCM của bà mẹ: .............................................................61
Bảng 3.24. Mối liên quan của hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ cán bộ Y tế với
thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ: ...................................................................61
Bảng 3.25. Mối liên quan của hiệu quả nguồn cung cấp thông tin với thực hành
phòng bệnh TCM của bà mẹ: ....................................................................................62
Bảng 3.26. Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM: ............62

H
P

H


U


VI

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Một vài hình ảnh về bệnh tay chân miệng ..................................................5

H
P

H

U


VII

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biều đồ 1.1. Tình hình số ca mắc bệnh tay chân miệng tại các huyện, thị, thành phố
tỉnh Đồng Tháp đến tuần 52, ngày 31/12/2017 ........................................................10
Biều đồ 1.2. Tình hình số ca mắc và tử vong bệnh tay chân miệng qua các năm của
huyện Tháp Mười (năm 2010 đến năm 2017) ...........................................................23
Biều đồ 1.3. Trung bình số ca mắc bệnh TCM 6 năm tại các xã, thị trấn huyện Tháp
Mười (năm 2012 đến năm 2017) ...............................................................................24
Biểu đồ 3.1. Bảng tổng hợp đánh giá kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh TCM: .. 48
Biểu đồ 3.2. Kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh TCM:................................51


H
P

Biểu đồ 3.3. Biểu đồ tổng hợp đánh giá thực hành đạt của bà mẹ về phòng bệnh
TCM: .........................................................................................................................51
Biểu đồ 3.4. Thực hành chung của bà mẹ về phòng bệnh TCM: ..............................60
Biểu đồ 3.5. Đánh giá chung hiệu quả hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM từ CBYT:
...................................................................................................................................62
Biểu đồ 3.6. Đánh giá chung hiệu quả thông tin bệnh TCM bà mẹ được nghe/nhìn
...................................................................................................................................65

H

U


VIII

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người,
dễ gây thành dịch do vi-rút đường ruột gây ra; bệnh được Tổ chức Y tế thế giới xếp
vào một trong những bệnh truyền nhiễm khẩn cấp phải được thông báo.
Tại huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp, trong 5 năm gần đây tình hình mắc
TCM trên địa bàn huyện diễn biến phức tạp và hết sức nguy hiểm. Trên địa bàn
huyện đến cuối năm 2017, trẻ dưới 5 tuổi là lứa tuổi mắc bệnh cao nhất, 361/461 ca
chiếm đến 78,3% và xã Tân Kiều là xã có số ca mắc bệnh TCM cao nhất. Vì vậy

H
P


hiệu quả của cơng tác phịng bệnh TCM phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thực
hành của bà mẹ. Nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về kiến thức, thực hành của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu mơ tả
cắt ngang có phân tích từ tháng 12/2017 đến tháng 11/2018 trên 278 bà mẹ có con
dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều với hai mục tiêu: (1) Mơ tả kiến thức, thực hành về
phịng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện

U

Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2018 và (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến
kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ.

H

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Có 49,6% bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh
Đồng Tháp có kiến thức đạt và 50,4% bà mẹ có kiến thức khơng đạt về phịng bệnh
TCM. Trong đó, kiến thức về dấu hiệu và biến chứng bệnh TCM, kiến thức về
chăm sóc và điều trị khi trẻ bệnh TCM đạt rất thấp, dưới 45,0%.
Có 45,1% bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh
Đồng Tháp có thực hành đạt và 54,9% bà mẹ có thực hành khơng đạt về phịng
bệnh TCM. Trong đó, thực hành về rửa tay cho trẻ, thực hành về rửa tay của bà mẹ,
thực hành vệ sinh răng miệng cho trẻ đạt rất thấp, dưới 41,0%.
Trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập bình quân, số thành viên của gia
đình, tình hình mắc bệnh TCM của gia đình xung quanh bà mẹ và hiệu quả nguồn


IX


cung cấp thơng tin có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến kiến thức phòng bệnh
TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập bình qn và kiến thức phịng bệnh
TCM của bà mẹ có liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành phịng bệnh TCM
của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị cụ thể để hiệu quả phòng bệnh
TCM của bà mẹ được nâng lên trong thời gian tới:
- Đối với Trạm Y tế:
+ Tăng cường công tác truyền thông phịng bệnh TCM cho bà mẹ có con

H
P

dưới 5 tuổi.

+ Tổ chức các buổi thực hành cho bà mẹ về 6 bước rửa tay bằng xà phòng
theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phịng bệnh TCM.

+ Phân cơng cán bộ kết hợp nhân viên y tế ấp xuống địa bàn vãng gia, nói
chuyện chuyên đề hướng dẫn, tuyên truyền các biện pháp phòng bệnh TCM.

U

- Đối với Ủy ban nhân dân xã:

Chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể phối hợp Trạm Y tế thực hiện chiến dịch

H


rửa tay bằng xà phòng, tuyên truyền các biện pháp phòng bệnh TCM; Trạm Truyền
thanh tăng thời lượng phát sóng về bài viết phòng chống bệnh TCM.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh nhiễm vi-rút cấp tính, lây từ người
sang người, dễ gây thành dịch do vi-rút đường ruột gây ra. Các vi-rút có khả năng
gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi-rút Coxsackie, vi-rút Enterovirus và các
vi-rút đường ruột khác, trong đó thường gặp là vi-rút đường ruột týp 71 (EV71) và
Coxsackie A16, A6, vi-rút EV71 có thể gây các biến chứng nặng và dẫn đến tử
vong. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi và có
khả năng gây thành dịch lớn. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn
thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lịng bàn

H
P

tay, lịng bàn chân, đầu gối, mơng. Bệnh có thể diễn biến nặng và gây biến chứng
nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong
nên cần phải được phát hiện sớm, điều trị kịp thời [16, 17].

Trong những năm gần đây, bệnh TCM đang là một vấn đề Y tế công cộng
rất đáng lo ngại của nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam [8]. Theo

U

báo cáo của Bộ Y tế, cả nước ghi nhận 43.162 trường hợp mắc bệnh tay chân
miệng tại 63 tỉnh, thành phố [18].


Tại tỉnh Đồng Tháp, là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ, một trong

H

những điểm nóng về tình hình bệnh TCM của khu vực. Năm 2012 có 6.188 ca
mắc, 07 ca tử vong; năm 2013 có 3.848 ca mắc, 05 ca tử vong; năm 2014 có 4.525
ca mắc, 01 ca tử vong; năm 2015 có 4.009 ca mắc, 01 ca tử vong. Đến 31/12/2017
tồn Tỉnh có 6.710 ca, bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp và khơng có dấu hiệu
dừng lại [24].
Tại huyện Tháp Mười, theo báo cáo Trung tâm Y tế huyện, trong năm
2010 bệnh TCM chỉ mắc 23 ca, nhưng đến năm 2011 bệnh TCM tăng lên 554 ca;
đỉnh điểm năm 2012 bệnh TCM tăng lên 587 ca (01 ca tử vong), năm 2013 là 369
ca (01 ca tử vong), năm 2014 là 488 ca (tử vong 01 ca, tồn Tỉnh chỉ có 01 ca tử
vong), năm 2015, 2016 số cas mắc có giảm. Tuy nhiên, tính đến 31/12/2017 số ca
mắc lại tăng rất cao là 461 ca, tăng 236 ca (105,0%) so với cùng kỳ năm 2016 (225


2

ca), huyện luôn đứng tốp đầu của tỉnh Đồng Tháp về số ca mắc bệnh TCM [10-12,
19-23].
Mặc dù ngành Y tế huyện Tháp Mười đã tổ chức nhiều hoạt động phịng
bệnh TCM nhưng số ca mắc khơng ngừng tăng cao, trong năm 2017 trẻ dưới 5
tuổi là lứa tuổi mắc bệnh cao nhất, chiếm 361/461 ca (78,3%) và xã Tân Kiều là xã
có số ca mắc bệnh TCM cao nhất [23]; theo số liệu thống kê từ năm 2012 đến năm
2017 thì xã Tân Kiều cũng là xã có số ca mắc bệnh cao nhất trong 13 xã, thị trấn
của huyện. Bệnh chưa có vắc xin phịng và thuốc điều trị đặc hiệu, do đó biện
pháp hữu hiệu nhất là phịng bệnh TCM cho trẻ. Điều này phụ thuộc hồn tồn vào
người mẹ khi chăm sóc trẻ, chỉ khi mẹ có kiến thức, thực hành tốt mới có biện


H
P

pháp phịng bệnh hiệu quả. Từ đó chúng tơi nhận thấy, kiến thức và thực hành
phịng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi là việc làm cần thiết nhất để khống
chế số ca mắc; để có cơ sở can thiệp tại cộng đồng, xây dựng kế hoạch phòng bệnh
TCM tại xã Tân Kiều nói riêng và của huyện Tháp Mười nói chung. Chúng tơi tiến
hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng và một số

U

yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp
Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2018”.

H


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Mô tả kiến thức, thực hành về phịng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có
con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2018.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng
bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Tân Kiều, huyện Tháp
Mười, tỉnh Đồng Tháp.

H
P


H

U


4

Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Bệnh tay chân miệng:

1.1.1. Vài nét về lịch sử bệnh tay chân miệng:
Bệnh TCM được Robinson và cộng sự lần đầu tiên mô tả ở Canada năm
1957, đặc trưng: sốt, tổn thương ở hầu họng và mụn nước ở bàn tay, bàn chân,
mông, gối liên quan với Coxsakievirus A16, Alsop và cộng sự ghi nhận một vụ
dịch tương tự ở Anh năm 1959 và đặt tên là bệnh TCM. Nhiễm Enterovirus 71
được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1969 tại California, Hoa Kỳ; sau đó, bệnh

H
P

liên tục được ghi nhận ở các quốc gia như Australia (1972), Thụy Điển (1973),
Nhật Bản (1975), Bun-ga-ry (1978), Hung-ga-ry (1979), Pháp (1985). Đến năm
1997, bệnh được phát hiện ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia; năm 2000, bệnh
được phát hiện ở Đài Loan, Trung Quốc [40, 41].

Đến nay bệnh ghi nhận ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung chủ yếu


U

tại các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. WHO nhận định, bệnh TCM đang
thật sự đe dọa tính mạng và sức khỏe trẻ em ở các nước Châu Á [41]. Việt Nam
ghi nhận ca mắc TCM đầu tiên vào năm 2003, đến năm 2012 có sự gia tăng bất

H

thường của bệnh TCM ở khu vực các tỉnh phía Nam với số ca mắc tăng 6 lần, số
tử vong gấp 6-24 lần so với giai đoạn 2008-2011, tỷ lệ chết/mắc là 0,2% [5, 17].
1.1.2. Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng: [17]
Bệnh TCM là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành
dịch do vi rút đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là
Coxsackie vi rút A16 và Enterovirus 71 (EV71). Biểu hiện chính là tổn thương da,
niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lịng
bàn tay, lịng bàn chân, mơng, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm
như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu khơng
được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do
EV 71.


5

- Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt,
phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.
- Bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương.
- Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ
tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
- Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc

biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học
tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây
truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.

H
P

U

Hình 1.1: Một vài hình ảnh về bệnh tay chân miệng
1.2. Đặc điểm chung của bệnh tay chân miệng:

H

1.2.1. Tác nhân gây bệnh:

Bệnh TCM gây ra do nhóm vi-rút đường ruột; các vi-rút có khả năng gây
bệnh TCM, trong nhóm này gồm vi-rút Coxsackies, Echo và các vi-rút đường ruột
khác. Các vi-rút đường ruột týp 71 (EV71) và CA16; CA16 là một tác nhân gây
bệnh thường xuyên gặp phải trong các trường hợp TCM và biểu hiện lâm sàng
thường nhẹ và có thể hồn toàn hồi phục, trường hợp tử vong của nhiễm trùng
CA16 là rất hiếm. Vi-rút EV71có thể gây ra biến chứng nặng và dẫn đến tử vong;
các vi-rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ. Vi-rút có thể tồn tại nhiều ngày ở
điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 40C. Tia cực tím, nhiệt độ cao, các
chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có
thể diệt vi-rút [17, 34].


6


1.2.2. Nguồn truyền, thời kỳ ủ bệnh và phương thức lây truyền:
Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa: thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ
hoặc người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt
hằng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi-rút từ phân hoặc dịch nốt
phòng, vết loét hoặc dịch tiết đường hơ hấp, nước bọt. Ngồi ra, bệnh cũng có thể
lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người - người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt
nước bọt, một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao
gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh,
thiếu hoặc khơng có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày [17, 34].
Tại nước ta, bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương

H
P

trên cả nước. Vi-rút có khả năng đào thải qua phân từ 2 - 4 tuần, giai đoạn lây
mạnh nhất là tuần đầu tiên mắc bệnh, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm. Virút cũng tồn tại nhân lên ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng
trong vịng 2 tuần. Vi-rút cũng có nhiều trong dịch tiết các nốt phỏng nước, vết
loét của bệnh nhân [17].

U

Người bệnh hay người lành mang vi-rút không triệu chứng là ổ chứa tác
nhân gây bệnh. Vi-rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5-7 ngày.

H

Vi-rút có trong dịch tiết mụn nước từ 1-2 mụn và có thể tồn tại trong phân tới hơn
1 tháng. Enterovirus có thể lây truyền ngay từ khi phơi nhiễm với vi-rút trong thời
kỳ ủ bệnh, khả năng lây truyền cao nhất là từ 5-7 ngày sau khi phát bệnh [4, 15].
Điều đáng lưu ý nhiều trẻ mắc bệnh đôi khi không phát hiện yếu tố dịch tễ tiếp xúc

với người bệnh, chứng tỏ trẻ bị lây từ người nhà, người chăm sóc [4]. Do đó, Cục
Y tế dự phịng khuyến cáo các bà mẹ và người chăm sóc trẻ chú ý rửa tay sạch
thường xuyên cho trẻ và người chăm sóc trẻ, vệ sinh đồ chơi, dụng cụ trước khi
cho trẻ chơi để phịng ngừa dịch bệnh xảy ra.
1.2.3. Tính cảm nhiễm và miễn dịch:
Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi-rút gây bệnh nhưng không phải tất
cả những người nhiễm vi-rút đều có biểu hiện bệnh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa


7

tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi. Người lớn ít
bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước
đây [17].
Sau khi mắc bệnh, trẻ em có thể có miễn dịch đặc hiệu với chủng vi-rút đã
bị nhiễm, nhưng khơng có miễn dịch với những chủng vi-rút khác. Trẻ sơ sinh có
kháng thể do mẹ truyền và giảm nhanh sau khi sinh khoảng một tháng. Miễn dịch
tạo ra từ những lần phơi nhiễm trước riêng biệt với mỗi loại vi-rút, nhưng có thể bị
nhiễm với chủng loại vi-rút khác.
Hiện nay chưa có vắc-xin phịng bệnh, nhìn chung trẻ mắc bệnh TCM điển
hình ở thể nhẹ và tự khỏi, thời gian tự khỏi thường là dưới 10 ngày. Ngoài ra hầu

H
P

hết người đến tuổi trưởng thành có miễn dịch bền vững và khơng mắc bệnh trở lại
[17].
1.3. Biến chứng:

Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng


U

não, liệt dây thần kinh sọ não, bại liệt, co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi
kèm với suy hô hấp, tuần hồn. Các biến chứng tim mạch, hơ hấp; viêm cơ tim,
phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch [16].

H

1.4. Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng:
Bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa và hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh,
nên việc mỗi người phải tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh ăn uống, vệ sinh
cá nhân, vệ sinh nơi sinh hoạt là việc rất cần thiết [17]. Các biện pháp có tác dụng
là thường xuyên rửa tay cho bản thân và cho trẻ, đặc biệt là trước khi chế biến thức
ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẳm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau mỗi lần thay
tã, quần áo và làm vệ sinh cho trẻ.
Tại Việt Nam, đáp ứng với tình hình dịch bệnh TCM, đặc biệt trong năm
2011 - 2012, Chính phủ, Bộ Y tế và các ban ngành đã ban hành công điện, các văn
bản hướng dẫn, chỉ đạo về giám sát, phòng và điều trị bệnh TCM. Các hoạt động
kiểm tra, giám sát, báo cáo tình hình dịch bệnh, tăng cường các chiến dịch truyền


8

thông cấp phát Cloramin B, đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường, phát hiện và
điều trị sớm đã được tiến hành đồng thời trên phạm vi cả nước. Để kiểm sốt hiệu
quả, cơng tác thơng tin TTGDSK thay đổi hành vi, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi
trường, đặc biệt lại các vùng bệnh lưu hành cần tiếp tục tăng cường [15].
Những biện pháp chung sau đây thường được khuyến cáo:
- Rửa tay sạch sẽ, nhất là sau khi đi vệ sinh, thay tả lót, hoặc dọn dẹp các

đồ chơi, vật dụng, sàn nền nhà nơi trẻ chơi đùa, các chất thải, dịch tiết của trẻ;
- Che miệng khi ho, hắt hơi;
- Thường xuyên vệ sinh đồ chơi của trẻ;

H
P

- Cho nghỉ tại nhà với những trẻ có biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện lt
miệng, nổi nốt phịng ờ lịng bàn tay, chân và mơng.

Trong tất cả các khuyến cáo trên thì việc rửa tay bằng xà phịng thường
xuyên được “xem như là liều “vắc – xin” hiệu quả được các chuyên gia của WHO
cũng như Cục Y tế Dự phịng, Bộ Y tế khuyến nghị [17].

U

1.4. Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới và ở Việt Nam:
1.4.1. Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới:

H

Cập nhật tình hình bệnh TCM của WHO tại một số quốc gia có báo cáo
thường xuyên như sau [40]:

Khu vực Bắc bán cầu (Trung Quốc khơng cập nhật) tính đến 30/6/2015 đã
có 984.699 trường hợp mắc bệnh TCM đã được báo cáo, giảm 71% so với cùng kỳ
năm 2014 (n=1.688.640), trong đó có 28 trường hợp tử vong trong năm 2015 [40].
So cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2014 bệnh TCM vẫn tiếp tục gia tăng theo chu kỳ từ
tháng 3 đến tháng 6 hàng năm, tuy số ca mắc 6 tháng 2015 thấp hơn so với cùng
kỳ năm 2012 và năm 2014 nhưng vẫn nằm trong ngưỡng cao và cao hơn năm

2013.
Tại Nhật Bản tính đến tháng 8/2015 đã có 216.971 trường hợp mắc bệnh
TCM, số trường hợp mắc hàng tuần của bệnh TCM đã vượt qua con số trung bình


9

trong những năm trước. Vi rút thường xuyên nhất được phát hiện là vi rút
Coxsackie A16 và A6 [40]. Trong đó năm 2015 số ca mắc tăng cao hơn nhiều so
với những năm 2012, 2013, 2014 và bệnh chưa có dấu hiệu dừng lại, tiếp tục tăng
trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm, chu kỳ mắc bệnh 3 đến 4 năm.
Tương tự tại Singapore và Hồng Kông, trong năm 2015 số nhập viện hàng tuần
cũng tăng cao hơn cùng kỳ các năm 2011, 2012 và năm 2014 tại đây xu hướng
mắc bệnh khá phức tạp, tăng giảm bất thường qua các tháng trong năm, bệnh
thường tăng ngay từ những tuần đầu của mỗi năm và kéo dài ca mắc đến hết tuần
52 bệnh luôn nằm ở mức trên 200 ca [40].
1.4.2. Tình hình bệnh tay chân miệng ở Việt Nam:

H
P

Tại Việt Nam, bệnh TCM được ghi nhận từ năm 2003 ở Thành phố Hồ
Chí Minh. Bệnh TCM chính thức được đưa vào hệ thống báo cáo thường quy của
Bộ Y tế từ năm 2011. Từ năm 2012 đến nay bệnh luôn diễn biến phức tạp, số ca
mắc luôn ở mức cao. Trong năm 2011-2014, số ca mắc dao động từ 47.989 đến
81.797 trường hợp, số ca tử vong từ 8 đến 145 ca. Số ca mắc bệnh khơng có dấu

U

hiệu thun giảm vẫn cịn nằm ở mức cao, tuy nhiên số trường hợp tử vong giảm

đáng kể qua các năm [8].

H

Năm
2013
2014
2015

Số ca mắc
Tử vong
78.141
21
79.845
9
59.280
5
(Nguồn: WPRO 2013, 2014, 2015)

Bảng 1.1. Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 2013 – 2015
1.4.3. Tình hình bệnh tay chân miệng tại tỉnh Đồng Tháp:
Tại tỉnh Đồng Tháp, là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ, một trong
những điểm nóng về tình hình bệnh TCM của khu vực. Năm 2012 có 6.188 ca
mắc, 7 ca tử vong; năm 2013 có 3.848 ca mắc, 5 ca tử vong; năm 2014 có 4.525 ca
mắc, 1 ca tử vong; năm 2015 có 4.009 ca mắc, 1 ca tử vong. Tính đến ngày
31/12/2017 tồn Tỉnh có 6.710 ca, nhận định bệnh cịn diễn biến phức tạp và
khơng có dấu hiệu dừng lại [24-27, 29].


10


1600

1550

1426

1400
1200
1000
800

654

607

600
396
400

463
349

324

290

334
182


200

135

0

H
P

Biều đồ 1.1.Tình hình số ca mắc bệnh tay chân miệng tại các huyện, thị,
thành phố tỉnh Đồng Tháp đến tuần 52, ngày 31/12/2017

U

1.5. Thực trạng kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng bệnh tay
chân miệng:

Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Quốc Tuyên (2016) kiến thức chung đạt

H

rất thấp, chỉ có 20,4%; trong đó: bà mẹ chưa có kiến thức về tác nhân gây bệnh
TCM chiếm rất cao 67,8%; 45,2% bà mẹ không biết đường lây truyền bệnh; các
biến chứng của bệnh TCM như viêm não, màng não, bại liệt, viêm cơ tim còn rất
nhiều; bà mẹ khơng biết khi khơng rửa tay bằng xà phịng sau khi thay quần áo, tả
lót cho trẻ, khơng vệ sinh nhà bằng dung dịch sát khuẩn, không vệ sinh đồ chơi
cho trẻ thường xuyên là nguy cơ mắc bệnh TCM chiếm rất cao, trên 80,0%; bà mẹ
báo ngay cơ sở y tế gần nhất, báo với nhà trường, cách ly trẻ khi trẻ mắc bệnh
TCM chưa đạt được 16,0%. Về thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ đạt rất
thấp, chỉ có 19,6%: trong đó, bà mẹ khơng rửa tay bằng xà phòng thường xuyên

trước khi chế biến thực phẩm cho trẻ, sau khi đi vệ sinh, trước khi cho trẻ bú, trẻ
ăn, sau khi thay quần áo, tả lót cho trẻ chiếm trên 81,9%.


11

Nghiên cứu của tác giả Đặng Quang Ảnh (2013): bà mẹ có kiến thức về
biểu hiện của bệnh TCM, triệu chứng nguy hiểm của bệnh còn rất thấp; biến
chứng của bệnh được bà mẹ biết đến rất ít như bại liệt, phù phổi, cơ tim chưa được
25,0%. Thực hành chung về phòng bệnh TCM chưa đạt chiếm đến 70,3%.
Nghiên cứu của tác giả Mai Văn Phước (2015): Kiến thức của bà mẹ về
triệu chứng bệnh TCM, đường lây truyền bệnh TCM, xử trí phân đạt rất thấp.
Thực hành của bà mẹ về rửa tay cho trẻ chỉ đạt 15,6; lau nhà 1 ngày/lần chỉ đạt
29,8%.
Thực tế kiến thức, thực hành phịng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5
tuổi tại xã Tân Kiều cũng như của huyện Tháp Mười thời gian qua được đánh giá

H
P

là chưa được tốt. Cụ thể là số ca mắc bệnh luôn tăng cao theo từng năm, đặc biệt
năm 2017 tăng rất đến đến 105% so với số ca mắc năm 2016.

Tại huyện chưa có nghiên cứu cụ thể nào về kiến thức, thực hành phòng
bệnh TCM của bà mẹ. Nhưng từ kết quả thực hiện chương trình các năm qua cho
thấy rằng: Bà mẹ chưa thật sự quan tâm đến phòng bệnh TCM; kiến thức của bà

U

mẹ về bệnh TCM còn hạn chế; thực hành của bà mẹ thì chưa được thực hiện tốt:

vệ sinh cá nhân của bà mẹ và vệ sinh cho trẻ, rửa tay cho trẻ không thường xuyên
và thực hành về rửa tay chưa đúng và đầy đủ các bước, đây là điểm cần quan tâm

H

của cơng tác phịng bệnh TCM vì “rửa tay được xem như vắc xin phịng bệnh
TCM. Khơng biết cách phịng bệnh, phịng bệnh khơng hiệu quả nên số ca mắc
bệnh TCM ln tăng cao, đó là thực trạng cần được đưa ra biện pháp khắc phục
trong thời gian sớm nhất tại địa phương.
1.6. Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay
chân miệng:
* Nghiên cứu về kiến thức phòng bệnh TCM cho trẻ:
Một nghiên cứu cắt ngang của Su Ching Yang và cộng sự trên 690 phụ
huynh và 104 giáo viên của 10 trường mẫu giáo ở Miền Bắc Đài Loan về kiến
thức và thái độ của họ đối với sự lây nhiễm EV71 từ 1/6/2008 đến 31/7/2008 [34];
kết quả khảo sát cho thấy, 76,0% giáo viên dưới 30 tuổi và 56,7% có trình độ học


12

vấn cao đẳng; tỷ lệ trả lời chính xác ở cả hai nhóm là 89,3% về các triệu chứng đặc
trưng nhiễm EV71; 91,8% về nhóm tuổi dễ bị nhiễm EV71 và 80,6% về mùa lây
nhiễm; tỷ lệ trả lời chính xác các triệu chứng phổ biến xác định nhiễm EV và các
dấu hiệu cảnh báo nhiễm EV nặng ít hơn một phần ba trong cả hai, cụ thể là ở
nhóm phụ huynh 31,9% và ở nhóm giáo viên là 26,0%; khoảng một nửa số phụ
huynh và giáo viên nghĩ rằng có thuốc kháng vi-rút điều trị hiệu quả đối với bệnh
nhiễm EV71; nhóm cha mẹ có kiến thức tốt hơn so với nhóm giáo viên về mùa lây
truyền (tương ứng với 82,3% và 69,2%), các triệu chứng đặc trưng khi nhiễm
EV71 (tương ứng với 90,3% và 82,7%). Nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng
bệnh TCM của cha mẹ trẻ dưới 5 tuổi được thực hiện tại huyện Dingtao, Tứ


H
P

Xuyên, Trung Quốc (2010); đây là đánh giá nghiên cứu sự tác động của bài giảng
giáo dục sức khỏe về bệnh TCM cho cha mẹ của trẻ em dưới 5 tuổi, thông qua sự
hiểu biết của họ về bệnh TCM; kết quả cho thấy, sự khác biệt về kiến thức của
ĐTNC trước và sau khi nhận được bài giáo dục sức khỏe; tỷ lệ phụ huynh có kiến
thức đạt về bệnh TCM trước và sau khi tiếp nhận giáo dục sức khỏe tương ứng là

U

57,7% và 84,3%, điều này đã chứng minh bài giảng sức khỏe là một phương pháp
hữu hiệu trong việc giáo dục truyền thông về bệnh TCM; kết quả cũng cho thấy,
nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho ĐTNC là truyền hình 79,7%, gia đình và

H

bạn bè 59,1%, loa đài 49,6%, truyền thông trực tiếp 49,1%; tuy nhiên, các nguồn
họ thích hơn là truyền hình 64,9%, bác sĩ 43,9%, bài giảng 42,9% và cuốn sách
nhỏ 36,3% [36]. Một nghiên cứu mô tả của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự về
kiến thức phòng chống bệnh TCM và thực hành trong suốt vụ dịch trên 388 người
chăm sóc trẻ ở các Trung tâm chăm sóc trẻ và Trường mẫu giáo được tiến hành tại
thành phố Khon Kaen năm 2010; kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người chăm
sóc có đủ kiến thức để sàng lọc và kiến thức phòng chống bệnh TCM tương ứng là
95,0% và 39,8%; trong phần kiến thức phòng chống bệnh TCM, tỷ lệ đối tượng
biết phải rửa tay cho trẻ với nước sạch trước mỗi bữa ăn chỉ chiếm 3,5% và tỷ lệ
biết sử dụng đúng chất tẩy rửa để làm sạch bàn tay, bàn chân, khử trùng miệng là
43,0% [32]. Nghiên cứu của Li Chao-ying, PEI Xiao-di và cộng sự năm 2010 về
KT-TĐ-TH của phụ huynh học sinh hai Trường Tiểu học ở Cheng du, Trung Quốc



13

về phịng chống bệnh TCM cho thấy điểm trung bình kiến thức của phụ huynh về
bệnh TCM là 41,8%, trong đó có 93,8% cha mẹ cho rằng các báo cáo về TCM trên
phương tiện thông tin đại chúng đã thuyết phục được họ, 92,2% trong số họ tin
rằng những thông tin đó đáng tin cậy và 96,2% trong số họ tin rằng họ có thể tìm
hiểu về bệnh TCM từ những thơng tin đó [42]. Nghiên cứu cắt ngang được thực
hiện trên 116 nhân viên phục vụ tại Trường Đại học UTAR của Malaysia cho thấy
có 60,3% nhân viên biết đúng về bệnh TCM, có 67,0% nữ và 33,0% nam có thái
độ tốt với bệnh TCM [37].
Nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân năm 2012 về “Kiến thức, thái độ,
thực hành phịng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung

H
P

Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội năm 2012”, nghiên cứu người chăm sóc trẻ dưới 3
tuổi tại kết quả nghiên cứu cho thấy 41,5% đối tượng nghiên cứu có kiến thức
phịng chống bệnh TCM đạt [13]. Nghiên cứu mô tả cắt ngang 597 bà mẹ có con
dưới 5 tuổi của Trần Thị Anh Đào, Phạm Thanh Hải và cộng sự về kiến thức, thực
hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con

U

dưới 5 tuổi của tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai năm 2012; nghiên cứu sử
dụng bộ phiếu phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi về kiến thức thực hành phòng
chống bệnh TCM; kết quả nghiên cứu có 43,7% bà mẹ có kiến thức chung đạt về


H

phòng bệnh TCM [3]. Nghiên cứu cắt ngang có phân tích của Phan Trọng Lân, Lê
Thị Thanh Hương và cộng sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan
đến phòng bệnh TCM của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi
huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2013; kết quả cho thấy có 62,8% ĐTNC có kiến thức
chung đạt về phòng, chống bệnh TCM [6]. Nghiên cứu của Đặng Quang Ảnh năm
2013 về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng,
chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh
Khê-Thành phố Đà Nẵng; nghiên cứu tiến hành trên 370 người chăm sóc trẻ dưới
5 tuổi, kết quả chỉ có 17,6% người có kiến thức đúng về phòng chống bệnh TCM
[2]. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm năm 2015 về kiến thức, thực hành và
một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã của huyện Mỹ Tú,
tỉnh Sóc Trăng năm 2015 [8]; kết quả cho thấy kiến thức chung về phòng bệnh


14

TCM của các bà mẹ còn khá thấp; nhiều bà mẹ có hiểu biết sai, cho là: TCM
khơng tái phát ở trẻ (64,0%), đã có vắc-xin phịng TCM (25,0%); có tới 82,4% bà
mẹ không biết tác nhân gây bệnh và 22,8% khơng biết đường lây bệnh TCM; chỉ
có 85,3% bà mẹ biết TCM có thể phịng được; kiến thức về dấu hiệu mắc TCM
của bà mẹ tương đối tốt, 62,5% mẹ biết có dấu hiệu sốt kèm mệt mỏi, 84,6% mẹ
cho là trẻ có nốt bỏng nước ở miệng, lịng bàn tay, chân. Nghiên cứu của Mai Văn
Phước tìm hiểu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ
dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh
Hậu Giang năm 2015”, kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến
thức đạt về phòng bệnh TCM là 79,1% [14].

H

P

* Nghiên cứu về thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ:

Một nghiên cứu mô tả của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự về kiến thức
phòng chống bệnh TCM và thực hành trong suốt vụ dịch trên 388 người chăm sóc
trẻ ở các Trung tâm chăm sóc trẻ và Trường mẫu giáo được tiến hành tại Thành
phố Khon Kaen năm 2010; kết quả nghiên cứu cho thấy, thực hành phịng chống

U

bệnh, chỉ có 3,5% đối tượng biết rửa tay với xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ
sinh; trong thời gian dịch bùng phát, một số người chăm sóc trẻ (23,7%) khơng
giảm hoạt động tiếp xúc gần gũi giữa các trẻ bệnh và khi có trẻ bị bệnh, 19,1%

H

người chăm sóc khơng báo cáo cho cơ quan YTCC biết [32]. Nghiên cứu cắt
ngang được thực hiện trên 250 bà mẹ từ 22-35 tuổi tại vùng Karachi, Pakistan về
KT-TĐ-TH về rửa tay, kết quả cho thấy, chỉ 6,0% bà mẹ rửa tay hàng ngày, trong
đó 72,0% rửa tay khơng đúng quy trình, 40,0% số bà mẹ để móng tay dài và bẩn
[31].
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh
Hương và cộng sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng
bệnh TCM của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi huyện Gia Lâm,
Hà Nội năm 2013; nghiên cứu sử dụng bộ phiếu phỏng vấn người chăm sóc trẻ
chính về KT-TH phịng chống bệnh TCM, đánh giá thực hành phòng bệnh TCM
gồm 16 câu hỏi, ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu; kết quả cho thấy



×