BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THUÝ LOAN
H
P
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở
NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN TÂM THẦN ĐỒNG THÁP NĂM 2021
U
H
LUẬN VĂN
THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 87.20.80.2
HÀ NỘI, 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THUÝ LOAN
H
P
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở
NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN TÂM THẦN ĐỒNG THÁP NĂM 2021
U
LUẬN VĂN
H
THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 87.20.80.2
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.BS. LÊ THÀNH TÀI
HÀ NỘI, NĂM 2021
LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 2 năm học tập lớp thạc sĩ Quản lý bệnh viện, khóa 12 tại Đồng Tháp, tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội đã tận tình giảng dạy,
hướng dẫn, giúp đỡ tơi hồn thành chương trình học tập.
Đặc biệt là Thầy PGS.TS.BS Lê Thành Tài, và Thầy ThS. Lưu Quốc Toản. 2
H
P
Người Thầy kính mến đã hết lịng giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu giúp
tôi xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương, chia sẽ thông tin và tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tơi hồn thành tốt luận văn này.
Lãnh đạo Tỉnh Ủy Đồng Tháp, Lãnh đạo Bệnh Viện Tâm Thần Đồng Tháp, Sở Y
tế Đồng Tháp, Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp và các đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp
U
đỡ và tham gia nghiên cứu. Các đồng nghiệp ở tại Bệnh viện Tâm Thần tỉnh Đồng Tháp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi an tâm học tập.
Các anh em, bạn bè lớp thạc sỹ Quản lý Bệnh viện đã cùng nhau học tập, chia sẻ
H
kinh nghiệm với tôi trong hơn 2 năm qua.
Để đền đáp sự quan tâm, giúp đỡ của Quý Thầy Cô, của quý Lãnh đạo địa phương,
tôi xin hứa sẽ cố gắng nhiều hơn nữa, để hoàn thiện bản thân trong việc thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đồng tháp ngày 05 tháng 12 năm 2021
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ...................................................................................................................... I
DANH MỤC BẢNG.................................................................................................... III
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................ IV
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ............................................................................................ I
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................................. 1
H
P
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ………………………………………………………….3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................... 4
1.1.
Một số khái niệm............................................................................................... 4
1.2.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị tâm thần phân liệt.................. 12
1.3.
Một số nghiên cứu có liên quan ...................................................................... 15
1.4.
Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu ................................................................... 18
1.5.
Khung lý thuyết nghiên cứu ............................................................................ 20
U
H
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 21
2.1.
Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 21
2.2.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................... 22
2.3.
Thiết kế nghiên cứu ......................................................................................... 22
2.4.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu................................................................. 22
2.5.
Phương pháp thu thập số liệu .......................................................................... 23
2.6.
Các biến số, chỉ số nghiên cứu ........................................................................ 26
2.7.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu .......................................................... 27
2.8.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu ............................................................................. 29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................... 31
ii
3.1.
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..................................................... 31
3.2.
Thực trạng tuân thủ điều trị của NB TTPL ..................................................... 36
3.3.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị của NB TTPL .............................. 40
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ........................................................................................... 49
4.1.
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..................................................... 49
4.2.
Thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh TTPL ............................................ 53
4.3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của NB TTPL ............................. 58
4.4.
Các hạn chế, sai sót trong nghiên cứu.............................................................66
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 64
H
P
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................................ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 77
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 79
H
U
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1. Phân bố một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ......................... 31
Bảng 3. 2. Thời gian mắc bệnh TTPL ............................................................................ 32
Bảng 3. 3. Tỷ lệ ĐTNC có biến chứng của bệnh TTPL ................................................ 32
Bảng 3. 4. Thay đổi lối sống của NB TTPL .................................................................. 33
Bảng 3. 5. Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TTPL .................................................... 34
H
P
Bảng 3. 6. Quan điểm về tuân thủ điều trị của BN TTPL.............................................. 34
Bảng 3. 7. Tuân thủ sử dụng thuốc của bn TTPL .......................................................... 37
Bảng 3. 8. Kết quả điều trị bệnh TTPL của NB ............................................................. 39
Bảng 3. 9. Liên quan giữa tuân thủ điều trị và giới tính của người bệnh ...................... 40
U
Bảng 3. 10. Liên quan giữa tuân thủ điều trị và nhóm tuổi của người bệnh.................. 41
Bảng 3. 11. Liên quan giữa tuân thủ điều trị và kinh tế của người bệnh ....................... 42
Bảng 3. 12. Liên quan giữa tuân thủ điều trị và thời gian mắc bệnh của người bệnh ... 42
H
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ Tuân thủ điều trị người bệnh TTPL……...…………………….35
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ tuân thủ điều trị thuốc hướng thần………..…………………...36
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATK
An thần kinh
BYT
Bộ Y tế
BS
Bác sĩ
BVTTĐT
Bệnh viện tâm thần Đồng Tháp
CLT
Chống loạn thần
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
ECT
Sốc điện
NVYT
Nhân viên y tế
PVS
Phỏng vấn sâu
PHCN
Phục hồi chức năng
TDTT
Thể dục thể thao
TLN
Thảo luận nhóm
TTPL
Tâm thần phân liệt
TTBYT
Trang thiết bị y tế
TTĐT
Tuân thủ điều trị
WHO
Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
H
P
U
H
i
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh TTPL là bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh 0,3 1,5 % dân số. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay trên thế giới có khoảng 45
triệu người mắc TTPL và mỗi năm khoảng 1 triệu người tự sát vì TTPL. Hiện chưa có
nghiên cứu về thực trạng TTĐT của người bệnh TTPL và các yếu tố ảnh hưởng tại Việt
Nam. Vì vậy, chúng tôi triển khai nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số
yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh TTPL điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần Đồng
Tháp năm 2021” với 2 mục tiêu sau:
H
P
1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh Tâm thần phân liệt điều trị ngoại trú
tại bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp, năm 2021
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị ở người bệnh Tâm thần phân
liệt điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp, năm 2021
Thiết kế nghiên cứu mơ tả cắt ngang có phân tích kết hợp định lượng và định tính.
U
Định lượng sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc với 220 người bệnh TTPL để đánh giá tình trạng
TTĐT của người bệnh. Định tính thực hiện PVS 5 đối tượng và TLN 4 cuộc là đại diện
lãnh đạo Bệnh viện.
H
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh không TTĐT tỷ lệ là 30%, tỷ lệ số
người bệnh TTĐT là 70%, không TTĐT sử dụng thuốc hướng thần tỷ lệ 13%, tuân thủ
sử dụng thuốc tỷ lệ 87%. Nguyên nhân dẫn đến là do quên uống thuốc vì dùng thuốc lâu
dài mỗi ngày. Các yếu tố ảnh hưởng TTĐT gồm 3 nhóm là: (1) Các yếu tố thuộc về
người bệnh, (2) Yếu tố quản lý TTĐT và (3) Yếu tố môi trường bệnh viện với bộ công
cụ phù hợp.
Chúng tôi khuyến nghị cần (1) Tăng cường giám sát và xây dựng giám sát phát
thuốc và bộ công cụ phù hợp đánh giá TTĐT; (2) Tăng cường giáo dục và PHCN cho
người bệnh TTPL; (3) Tăng cường công tác giám sát quản lý, điều trị cho người bệnh
TTPL; và (4) Xây dựng cơ chế đào tạo và tập huấn định kỳ cho NVYT.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm thần phân liệt là một rối loạn loạn thần nặng có khuynh hướng mạn tính, căn
ngun hiện nay chưa rõ ràng, được đặc trưng bởi các triệu chứng như rối loạn về tư duy
và tri giác, cảm xúc khơng phù hợp hoặc cùng mịn. Các triệu chứng tâm thần quan trọng
bao gồm tư duy bị bộc lộ, hoang tưởng bị chi phối, ảo giác, thính giác. Ý thức có thể xãy
ra trong diễn tiến bệnh. Diễn tiến bệnh có thể là liên tục, từng đợt và có sự thiếu sót tăng
dần hoặc ổn định hoặc có thể có nhiều đợt thun giảm hồn tồn hoặc khơng hồn toàn.
Theo Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, tỷ lệ hiện mắc tâm thần phân liệt khoảng 0,3–0,7% ( 1).
Trong chiến lược điều trị tâm thần phân liệt, phương pháp chủ yếu là sử dụng
H
P
thuốc chống loạn thần và phục hồi chức năng bằng cách kết hợp các liệu pháp tâm lý và
hỗ trợ xã hội (2) (4). Tại Việt Nam, số người bị rối loạn tâm thần đang có chiều hướng
tăng cao, nhất là giới trẻ do phải đối mặt với nhiều áp lực trong cuộc sống như công việc,
học tập, kinh tế... Bên cạnh đó, tác động những mặt trái của xã hội như game, chất kích
thích cũng làm gia tăng các rối loạn tâm thần. Nếu không được điều trị bệnh tâm thần có
U
thể ảnh hưởng nghiêm trọng về mọi mặt của cuộc sống, trong đó tâm thần phân liệt gây
ra những biến chứng nguy hiểm cho cá nhân người bệnh và mọi người xung quanh, người
bệnh có thể bạo hành, hành hung người khác. Trầm trọng hơn có ý định tự tử hay ý nghĩ
H
tự sát. (6). Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 70% số bệnh nhân thuyên giảm khi được
điều trị bằng thuốc chống loạn thần. Trong điều trị tâm thần phân liệt bệnh nhân đáp ứng
tuân thủ điều trị là một trong các mấu chốt khẳng định hiệu quả điều trị. Trong đó, tuân
thủ điều trị là một trong những điều kiện căn bản đảm bảo sự đáp ứng điều trị (7). Người
bệnh Tâm thần phân liệt phải được theo dõi, chăm sóc, dùng thuốc hầu như suốt đời, để
thực hiện được và đúng trên người bệnh Tâm thần phân liệt là một quá trình rất khó thực
hiện (6). Đa số các tác giả đồng ý với ba nhóm yếu tố chính liên quan đến tuân thủ điều
trị, đó là: các yếu tố về người bệnh, yếu tố quản lý tuân thủ điều trị, các yếu tố môi trường
bệnh viện (8).
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu Nguyễn Văn Siêm 2007, tỷ lệ người bệnh
2
TTPL chiếm 0,47% dân số (11) Bệnh TTPL là một bệnh của tuổi trẻ, đa số trường
hợp phát bệnh ở lứa tuổi từ 15 - 35 chiếm tỷ lệ 49 - 65% (11) Tỷ lệ mới mắc trong một
năm 0,29 - 0,56%; xác suất mắc bệnh 1,26 - 1,44%; tỷ lệ nguời bệnh nữ/nam là như
nhau. Tỷ lệ độc thân ở người nam là 40,58%, tỷ lệ mãn tính và hay tái phát là 88 – 94 %;
tỷ lệ thuyên giảm là 33 %. Chính vì vậy nhằm tìm hiểu về sự tuân thủ điều trị và một số
yếu tố ảnh hưởng tuân thủ điều trị ở người bệnh Tâm thần phân liệt trên địa bàn tỉnh
Đồng Tháp. Từ những lý do nêu trên để giúp cho việc đánh giá tuân thủ điều trị, chúng
tôi chọn Bệnh viện Tâm Thần Đồng Tháp thực hiện đề tài “ Thực trạng tuân thủ điều trị
và một số yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh tâm thần phân liệt điều trị ngoại trú tại Bệnh
H
P
viện Tâm Thần Đồng Tháp, năm 2021”.
H
U
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh Tâm thần phân liệt điều trị ngoại trú
tại bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp, năm 2021
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị ở người bệnh Tâm thần phân
liệt điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp, năm 2021
H
P
H
U
4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Một số khái niệm
1.1.1. Tâm thần phân liệt
Khái niệm
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một nhóm bệnh lý tâm thần nặng có tính chất tiến triển từ
từ với những rối loạn đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm xúc, dẫn đến những rối loạn
cơ bản về tâm lý và nhân cách theo kiểu phân liệt, tức là làm cho bệnh nhân dần dần tách
ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới nội tâm, làm cho tình cảm của họ khơ
lạnh dần, khả năng làm việc ngày một sút kém và có những hành vi dị kỳ, khó hiểu(1).
H
P
Chẩn đốn Tâm thần phân liệt
Bệnh nhân nhập viện cần được thăm khám đầy đủ cả về cơ thể và tâm thần để đáp ứng
các yêu cầu sau:
Tìm hiểu diễn biến của bệnh thông qua bệnh nhân và người nhà, yếu tố tái phát bệnh,
những điều trị trước đây và việc bệnh nhân có tn thủ điều trị tốt hay khơng. Tiến hành
U
các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết như xét nghiệm máu, xét nghiệm chức năng gan
thận, điện tim, điện não, test tâm lý (nếu có thể) để đánh giá tình trạng cơ thể người bệnh.
Cần lưu ý nếu bệnh nhân có ý tưởng hoặc hành vi tự sát trong tiền sử và hiện tại.
H
Khai thác tiền sử lạm dụng rượu, ma túy của bản thân.
Khi bệnh nhân kích động hoặc chống đối, phủ định tiếp xúc ... thì có thể cố định.
và cách ly người bệnh tạm thời, sau đó tiến hành hỏi bệnh ngay khi có thể.
Hiện nay trên thế giới có hai Bảng phân loại chính dùng để chẩn đoán các rối loạn tâm thần
là Bảng phân lọai bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG)
và Sổ tay thống kê và phân loại các rối loạn Tâm thần phiên bản lần thứ V (DSM-5) của Hội
Tâm thần học Hoa Kỳ(6, 8,14)
Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh TTPL
Bệnh TTPL là một bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, theo
ước tính của WHO, bệnh TTPL ảnh hưởng đến khoảng 24 triệu ngƣời trên toàn thế
5
giới, tỷ lệ bệnh chiếm từ 0,3 - 1,5% dân số (18).
Theo nghiên cứu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) 1998 với quy mô lớn, đa
quốc gia, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần tại một số nước trên thế giới (27):
Tỷ lệ mắc bệnh tâm thần tại một số nước trên thế giới (%).
Các nước
TTPL
Động kinh
Trầm cảm
Mỹ
Anh
Trung Quốc
Hàn Quốc
Việt Nam
0,6 – 1,1
0,68 - 1,3
0,42 - 0,47
0,31 - 0,54
0,47
0,3 - 0,5
0,46 - 0,62
0,3 - 0,5
,26 - 0,47
0,33
3-5
2,8 - 4,2
2,3 - 4,5
3,1 - 5,3
2,8
H
P
Điều trị Tâm thần phân liệt
Bệnh chậm phát
triển tâm thần
0,5 - 0,7
0,42 - 0,61
0,38 - 0,57
0,38 - 0,57
0,63
Điều trị TTPL chủ yếu bằng phương pháp hoá dược trị liệu kết hợp các liệu pháp can
thiệp tâm lý xã hội như sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng trong xử lý stress, liệu pháp
nhóm, liệu pháp nhận thức (1, 2, 6, 8)
U
Nguyên tắc điều trị
TTPL điều trị triệu chứng là chủ yếu, cần phát hiện và can thiệp sớm, điều trị tích
cực sẽ đem lại hiệu quả cao(2).
H
Hóa dược liệu pháp có vai trị quan trọng, đặc biệt với các triệu chứng dương tính.
Cần phối hợp nhiều liệu pháp điều trị: thuốc, sốc điện, tâm lý, lao động và phục hồi chức
năng tái thích ứng xã hội, đặc biệt đối với các triệu chứng âm tính (2, 11).
Đơn trị liệu, khi đáp ứng kém hoặc không có đáp ứng thì sử dụng đa trị liệu phối
hợp 2 loại an thần kinh khác nhau, hạn chế phối hợp từ 3 loại an thần kinh trở lên(8).
Theo dõi chặt chẽ quá trình sử dụng thuốc để phát hiện và điều trị kịp thời các tác
dụng phụ của thuốc an thần kinh(12).
Giáo dục cộng đồng, thay đổi thái độ đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt (tránh
mặc cảm, kì thị, người bệnh). Phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, gia đình và cộng đồng
trong việc chăm sóc người bệnh(12).
6
Phát hiện và giải quyết kịp thời các yếu tố thúc đẩy bệnh tái phát (13).
Điều trị duy trì sau cơn loạn thần đầu tiên, quản lý, theo dõi phòng tái phát
(14).(13).
1.1.2. Khái niệm Tuân thủ điều trị
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa tuân thủ điều trị (adherence) là “mức độ
hành vi của người bệnh trong việc thực hiện đúng các khuyến cáo đồng ý điều trị (7, 9).
Morisky cũng đưa ra định nghĩa về TTĐT là: “Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân
đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng
H
P
với khuyến cáo của nhân viên y tế” (10).
Adherence và Compliance được sử dụng cùng nghĩa nhưng khác nhau.
Compliance nghĩa trải rộng là hành vi của bệnh nhân ứng với lời khuyên của bác sĩ.
Compliance ngụ ý vâng lời bác sĩ.
Trong khi đó Adherence có nghĩa bác sĩ và bệnh nhân hợp tác với nhau nhằm cải
U
thiện sức khỏe bằng hòa nhập giữa lựa chọn y khoa của bác sĩ và lối sống của người
bệnh, là đánh giá và ưu ái trong chăm sóc điều trị.
Có nhiều loại khơng tn thủ nhưng đa số khơng thể tranh cãi được và có sự trùng
H
lập. Nghĩa đầu tiên ở đây bác sĩ kê toa nhưng bệnh nhân chưa bao giờ thỏa mãn hoặc
thuốc không được uống. loại không tuân thủ thường gặp này gọi là tuân thủ khơng hồn
thành. Loại thứ hai là khơng thường xun, bệnh nhân quyết định ngưng dùng thuốc
ngay sau khi bắt đầu mà khơng có khuyến cáo của bác sĩ. Loại không tuân thủ này hiếm
khi cố ý và xãy ra khi bác sĩ và người bệnh không thông tin về kế hoạch điều trị.
Không tuân thủ không chủ ý gia tăng do khả năng tài chánh giới hạn từ quyết định
theo đuổi khuyến cáo điều trị (ví dụ: khó khăn mua thuốc, giá cả, bệnh nhân hiểu chưa
kỹ, không nhớ liều lượng)
Loại không tuân thủ thứ ba được gọi là không phù hợp bao gồm thuốc không được
dùng theo toa như bỏ liều, uống thuốc không đúng thời gian và liều lượng, hoặc uống
liều cao hơn trong toa.
7
Tỷ lệ này thay đổi tùy theo các nghiên cứu khác nhau, từ 10% đến 92%. Ở các
nước phát triển là 50%. Gần 1/2 không tuân thủ là không chủ ý.
Tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở bệnh nhân cấp tính so với bệnh nhân bị bệnh mạn tính.
Các nghiên cứu cho thấy chỉ có 50% bệnh mạn tính tn thủ điều trị.
Hậu quả của không tuân thủ là lãng phí điều trị, bệnh nặng thêm, giảm khả năng
hoạt động, giảm chất lượng cuộc sống, tăng nhân lực chăm sóc tại nhà, tăng nhập viện
Nghiên cứu khía cạnh cho thấy tuân thủ kém có thể dẫn đến hậu quả nặng nề. Một nghiên
cứu cho thấy nguy cơ đái tháo đường, tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, suy tim, rối
loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn cảm xúc, nhập viện tăng gấp 2 lần so với dân số chung,
H
P
kém tuân thủ trong COPD sẽ phải nhập viện cấp cứu… Không tuân thủ có thể dẫn đến
hậu quả tiêu cực khơng chỉ đối với bệnh nhân mà còn đối với bác sĩ
Tuân thủ điều trị được hiểu bắt đầu từ khi tiến hành điều trị thông qua thực hiện
đầy đủ chế độ được kê toa, chế độ ăn uống và thay đổi lối sống theo khuyến cáo của
NVYT. Định nghĩa nhấn mạnh việc người bệnh nên được tích cực tham gia cùng với
U
nhân viên y tế (NVYT) trong việc chăm sóc sức khỏe của chính họ. Từ đó, NVYT có
thể tối ưu hóa việc sử dụng thuốc trên từng cá thể và đồng thời giúp cải thiện tính tuân
thủ, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm chi phí cho người bệnh. Điều này đặc biệt có ý
H
nghĩa trên những người bệnh mắc các bệnh mạn tính và có lộ trình điều trị kéo dài như
bệnh Tâm thần phân liệt, suy giáp, đái tháo đường và tăng huyết áp (10).
Tuân thủ hay tôn trọng điều trị là một yếu tố quyết định thành công điều trị. Thất
bại trong tuân thủ là một vấn đề trầm trọng không chỉ ảnh hưởng tới bệnh nhân mà cịn
tới hệ thống chăm sóc sức khỏe. Trị liệu mà không tuân thủ sẽ dẫn tới bệnh nặng hơn, tử
vong và chi phí chăm sóc cao.
1.1.3. Các thang đo đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc
Một số công cụ trước đây chủ yếu là cho phép kinh nghiệm chủ quan của bệnh
nhân khi điều trị bằng thuốc chống loạn thần để định lượng. (Barbeŕa và cộng sự, 2006).
Các cơng trình sau này tập trung hơn vào tác động của liệu pháp dược lý đối với chất
8
lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa điều này (tức là trải nghiệm chủ quan của bệnh
nhân) và thái độ và sự tuân thủ của họ đối với thuốc. Trong số các công cụ khác nhau
được phát triển qua 40 năm qua như sau:
1. Thang đo rối loạn cảm xúc thần kinh; NDS (Van Putten và tháng 5, 1978)
2. Chỉ số phản hồi Dysphoric; DRI (Singh và Kay, 1979)
3. Kiểm kê Thái độ Thuốc; DAI (Hogan và cộng sự 1983; Awad, 1993)
4. Bảng câu hỏi tuân thủ thuốc; MAQ (Morisky và cộng sự, 1986)
5. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của thuốc; ROMI (Weiden và cộng sự, 1994)
6. Tình trạng sức khỏe chủ quan theo quy mô tự áp dụng Điều trị an thần kinh; SWN
H
P
(Naber và cộng sự, Năm 1995; 2001)
7. Thang đánh giá bác sĩ lâm sàng; CRS (Kemp và cộng sự, 1996, 1998)
8. Thang Đánh giá Tuân thủ Thuốc; MARS (Thompson và cộng sự, 2000)
9. Thái độ đối với điều trị an thần kinh; ANT (Kampman và cộng sự, 2000)
10. Đánh giá cá nhân về quá trình chuyển đổi trong điều trị; PETiT (Voruganti và
U
Awad, 2002)
11. Đánh giá ngắn gọn về ảnh hưởng của thuốc; BEMIB (Dolder và cộng sự, 2004)
12. Thang đánh giá tính tuân thủ ngắn gọn; BARS (Byerly và cộng sự 2008)
H
Trong số các cơng cụ hiện có sẵn, những cơng cụ sau đây được coi là một trong
những cơng cụ hữu ích nhất /thích hợp cho mục đích cụ thể là đánh giá sự tuân thủ của
bệnh nhân đối với thuốc, và được mô tả chi tiết hơn bên dưới.
Ngày nay trên thế giới nhiều tác giả sử dụng bảng phỏng vấn với 2 thang đo là
Morisky và Hill Bone tìm hiểu mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh. Thang
đo Morisky vẫn đang là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi nhất để đo
lường sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân, nghiên cứu năm 2012 tại Brazil, trên 937 bệnh
nhân tâm thần phân liệt sử dụng thang đo Morisky, kết quả nghiên cứu cho thấy tuân thủ
dùng thuốc của bệnh nhân ở mức trung bình là 46% (19). Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ
năm 2010 trên 94 người bệnh từ 65 tuổi trở đi, được thực hiện ngồi cộng đồng để tìm
hiểu mức độ tn thủ sử dụng thuốc bằng thang đo HillBone, kết quả nghiên cứu cho
9
thấy có 54% người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc đạt mức trung bình. Và củng tại Hoa Kỳ
tìm hiểu trên 239 người bệnh tâm thần phân liệt áp dụng thang đo Morisky, kết quả tuân
thủ dùng thuốc của người bệnh là khá cao 70% (19, 20). Trong nghiên cứu nhiều cách
đánh giá chưa đồng nhất, tuy vậy thang đo Morisky lại là phương pháp được lựa chọn
nhiều nhất, được vận dụng trong hơn 63% các trường hợp (19, 20).
Thang đánh giá mức độ tuân thủ (MARS) đã được phát triển bởi Thompson và
cộng sự. vào năm 2000 đã xác định một số khuyết điểm trong DAI để trở thành một và
một biện pháp tự báo cáo như một thước đo về sự tuân thủ. Thang đo MARS, kết hợp
với DAI và MAQ (Morisky và cộng sự 1986) nhưng họ tun bố có giá trị và tiện ích
H
P
lâm sàng cao hơn. Họ kết luận rằng đó là một thước đo hợp lệ và đáng tin cậy để tuân
thủ các lọai thuốc điều trị thần kinh. Bệnh nhân nên được yêu cầu trả lời các câu hỏi
trong bảng câu hỏi bằng cách khoanh trịn câu trả lời mơ tả tốt nhất hành vi hoặc thái độ
của họ đối với thuốc của họ trong tuần qua (1,2,9,16). Mặc dù sử dụng công cụ ở Nigeria,
nó đã được xuất bản rất ít tính chất đo lường tâm lý ở Nigeria. (21,24) Vì vậy, mục đích
U
của nghiên cứu này nhằm xác định tính hợp lệ và độ tin cậy của MARS trong số bệnh
nhân ngoại trú bị tâm thần phân liệt tại phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Tâm thần
kinh Aro Bang Abeokuta Ogun (31).
H
Ngoài 2 phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng thuốc theo Morisky và HillBone,
các phương pháp đo lường TTĐT phức tạp hơn trên người bệnh uống thuốc theo ngày
và TTĐT tính theo tỷ lệ số ngày người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc với tổng số ngày mà
người bệnh tham gia vào nghiên cứu. Ưu điểm của phương pháp này cho kết quả chính
xác nhưng mặc khác lại khó thực hiện. Mặc khác những đánh giá về tuân thủ dùng thuốc
của các nghiên cứu này chỉ đánh giá ở mức độ hỏi người bệnh có sử dụng đầy đủ thuốc
hàng ngày không mà chưa sử dụng những thang đo đánh giá mức độ tuân thủ sâu hơn
(20).
1.1.4. Các Phương pháp cải thiện tuân thủ điều trị:
Hiệu quả tuân thủ điều trị phụ thuộc cả 2 yếu tố, đó là phương pháp tuân thủ dùng
thuốc và sự tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân, bác sĩ và nhân viên y tế đều đóng
10
vai trò dẫn đến cải thiện tuân thủ. Một phương pháp đơn giản không thể cải thiện tuân
thủ điều trị, cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau mới có thể thực hiện cải thiện sự
tuân thủ dùng thuốc của người bệnh(24).
Dưới đây là hệ thống lý thuyết tiếp cận có thể thiết lập trong việc cải thiện tuân
thủ:
Ø Bất cứ khi nào có thể phải xem người bệnh là cộng sự tham gia kế hoạch
điều trị
Ø Đơn giản việc dùng thuốc
Ø Giải thích các thơng tin chủ yếu khi kê toa/pha chế thuốc.
H
P
Ø Nhấm mạnh các thông tin chủ yếu về thuốc (thuốc gì, tại sao dùng, dùng
khi nào, và dùng bao lâu).
Ø Thông tin các tác dụng phụ thường gặp và những gì người bệnh nên biết
(Người bệnh thường quá lo lắng và dẫn tới không tuân thủ liên quan tới
tác dụng phụ).
U
Ø Qui định lịch trình hoặc thời gian dùng thuốc, hộp thuốc hoặc những
phương tiện chứa thuốc đặc biệt.
Ø Hướng dẫn người bệnh nhằm kết hợp chế độ dùng thuốc hàng ngày (chủ
H
yếu trong các chế độ dùng thuốc phức tạp có các yếu tố khó khăn không
chủ ý trong tuân thủ như người cao tuổi)
Đánh giá tuân thủ điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau phụ thuộc vào
người bệnh và tính chất đặc trưng của thuốc. Bác sĩ hay dược sĩ nên liệt kê hiệu quả giúp
tuân thủ điều trị
Một trong các lý do chính khiến người bệnh khơng tn thủ là qn uống thuốc.
Có tới 49,6% người bệnh qn khơng chủ ý (28).
Khơng tuân thủ còn xãy ra khi bệnh nhân sợ tác dụng phụ của thuốc. Vì vậy thơng
báo rõ ràng là rất quan trọng nhằm cải thiện tuân thủ với thuốc gì, tại sao có tác dụng
phụ, khi nào xãy ra, biểu hiện thế nào và kéo dài bao lâu. Bác sĩ có thể viết ngắn gọn
nhưng đầy đủ các thơng tin trên hộp thuốc, nhất là đối với người cao tuổi.
11
Sự phức tạp của thuốc có thể tạo ra các tác dụng tuân thủ tiêu cực, khi thay đổi
thuốc có thể giảm tần suất sử dụng, giảm số lượng thuốc khác nhau, dùng kết hợp nhiều
loại thuốc đòi hỏi người bệnh hợp tác quá trình điều trị.
1.1.5. Phương pháp đánh giá tuân thủ :
Trong hơn bốn thập kỷ, rất nhiều nghiên cứu về cách đo lường và định lượng đúng
việc tn thủ thuốc đã được tiến hành nhưng khơng có nghiên cứu nào có thể được coi
là tiêu chuẩn vàng. Các công cụ khác nhau đã được thiết kế và xác nhận cho các điều
kiện khác nhau, trong các trường hợp khác nhau. Nói chung, các phép đo về tuân thủ
thuốc được WHO phân loại là các phép đo chủ quan và khách quan
H
P
Các phép đo chủ quan liên quan đến những phép đo yêu cầu đánh giá của nhà
cung cấp hoặc bệnh nhân về hành vi dùng thuốc của họ. Tự báo cáo và đánh giá chun
mơn chăm sóc sức khỏe là những công cụ phổ biến nhất được sử dụng để đánh giá mức
độ tuân thủ thuốc
Có nhiều phương pháp đánh giá tuân thủ: trực tiếp và gián tiếp(24)
U
Phương pháp quan sát điều trị trực tiếp: đo nồng độ thuốc và các chất chuyển hóa
của nó trong máu và nước tiểu, hoặc đo các chỉ số sinh học được dùng bổ sung trong
công thức của thuốc. Đây là phương pháp chính xác nhất nhưng đắt tiền, hơn nữa sự đa
H
dạng trong chuyển hóa có thể cho cảm giác sai về tuân thủ (24)
Phương pháp gián tiếp gồm các bản câu hỏi bệnh nhân tự đánh giá, số lượng viên
thuốc, tỷ lệ toa viết lại, đánh giá của bệnh nhân về đáp ứng lâm sàng, nhật ký của bệnh
nhân(24)
Mỗi phương pháp có điểm lợi và bất lợi, khơng phương pháp nào đánh giá tốt
nhất. Đơn giản nhất là phương pháp tự đánh giá (24)
Đối với người bệnh tâm thần phân liệt cần được chăm sóc thăm khám định kỳ cho
người bệnh hàng tháng, người bệnh cần phải gặp cán bộ chuyên khoa ít nhất một lần để
điều chỉnh lượng thuốc tâm thần của người bệnh, ngay cả khi người bệnh rất tốt. Cần
yêu cầu người bệnh hoặc gia đình đưa người bệnh tới gặp thầy thuốc chuyên khoa ngay
khi có biểu hiện tái phát như: mất ngủ, rối loạn hành vi, hoang tưởng, ảo giác hoặc có
12
các tác dụng phụ của thuốc như rối loạn vận động động do thuốc, chảy nước dãi, run…
Đánh giá tuân thủ ở trẻ em có thể cần sự giúp đỡ của thầy cô giáo và nhân viên y
tế trường học
Đếm số lượng viên thuốc còn lại trong vĩ hay trong lọ thuốc là phương pháp là
phương pháp đo lường tuân thủ phổ biến. Tuy nhiên có nhiều bất lợi như bệnh nhân loại
bỏ thuốc trước khi tái khám đánh giá tn thủ. Ngồi ra phương pháp này khơng cung
cấp thơng tin về thời gian, liều lượng thuốc hàng ngày cũng như bỏ thuốc
Tỷ lệ viết lại đơn thuốc là phương pháp đánh giá chính xác trong hệ thống theo
dõi nhà thuốc (kiểm tra toa và số lượng thuốc bán, doanh số,…)
H
P
Theo dõi điện tử: ghi mã trên dán tem hộp hay lọ thuốc, có thể theo dõi tn thủ
nhưng khơng chính xác. Bệnh nhân có thể nhiều chai hộp mà khơng dùng.
Mục đích là để phát triển cơng cụ đáng tin cậy và hợp lệ để đánh giá tuân thủ
thuốc hành vi ở bệnh nhân loạn thần (31). Tổng điểm từ 0 (khả năng tuân thủ thuốc thấp)
đến 10 (khả năng tuân thủ thuốc cao)(31). Điều này cho thấy sự hiểu biết rằng sự tuân
U
thủ là một biến số liên tục và một cá nhân có thể đưa ra quyết định ở bất kỳ đâu giữa lúc
tuân thủ và hoàn tồn khơng tn thủ.(31)
1.2.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị người bệnh tâm thần phân
liệt
H
Các yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ điều trị ở bệnh nhân tâm thần phân
liệt là thiếu cái nhìn sâu sắc, thái độ đối với bệnh tật của họ và thuốc, kinh nghiệm
trong quá khứ với bệnh tật và cách điều trị, lạm dụng chất kích thích, phản ứng có hại
của thuốc và thiếu hỗ trợ xã hội (7,9,10). Tuy nhiên, các yếu tố xã hội học của bệnh
nhân không phải là yếu tố dự báo nhất quán về tuân thủ kém
Không tuân thủ là hiện tượng hành vi phổ biến ở tất cả bệnh nhân dùng thuốc. Sự
phức tạp của tuân thủ là kết quả của tương tác các mức độ yếu tố gồm cách nhìn nhận và
phụ thuộc, đặc trưng bệnh, hoàn cảnh xã hội, cơ hội và các tiện ích chăm sóc sức khỏe.
Rào cản sử dụng hiệu quả thuốc bao gồm thông tin giữa bác sĩ và bệnh nhân, sự
hiểu biết không phù hợp về thuốc và cách dùng không thuyết phục sự cần thiết điều trị,
13
lo sợ tác dụng phụ, dùng thuốc dài ngày, chế độ điều trị phức tạp đòi hỏi nhiều loại thuốc
và liều lượng thay đổi, giá cả và cơ hội “gặp rào cản”
Không tuân thủ khác nhau ở từng bệnh nhân, từ các khuyến cáo của bác sĩ, từ các
bệnh lý khác nhau. Cũng khác nhau ở từng nhóm tuổi
Trẻ em tuân thủ phụ thuộc vào người chăm sóc, người già tỷ lệ tuân thủ 38% đến
57%, trung bình 45%
Nguyên nhân chủ yếu của không tuân thủ là bất đồng giữa bác sĩ và bệnh nhân
dẫn đến giảm sự hài lòng 40%-60% bệnh nhân cho thấy không hiểu hết kỳ vọng của bác
sĩ sau 10-80 phút tiếp xúc. Trên 60% bệnh nhân hỏi lại ngay sau khi bác sĩ thăm khám
H
P
khi không hiểu phương hướng kê toa điều trị.
Số 77% bệnh nhân cho thấy tỷ lệ mức độ tuân thủ cao khi thuốc được thiết kế sử
dụng mục đích khỏi bệnh và chỉ có 63% bệnh nhân tuân thủ khi trị liệu với mục đích
phịng ngừa bệnh. Khi phải dùng thuốc trong thời gian dài với mục đích phịng ngừa
hoặc chữa khỏi bệnh, tỷ lệ tuân thủ giảm thảm hại chỉ còn 50%.
U
1.2.1. Yếu tố cá nhân người bệnh
Tuổi và giới tính của người bệnh có mối liên quan tới sự quan tâm sử dụng thuốc
H
điều trị và từ đó ảnh hưởng một phần tới việc TTĐT của người bệnh (21, 22). Ở những
người lớn tuổi mức độ quan tâm và tuân thủ trong điều trị tốt hơn ở những người trẻ
tuổi(20), và nữ giới có mức độ tuân thủ tốt hơn ở nam giới(22). Học vấn và điều kiện
kinh tế cá nhân cũng có tác động tới TTĐT. Người bệnh có trình độ học vấn cao hơn thì
khả năng nhận thức và hiểu biết về bệnh tốt hơn (22, 23). Người bệnh có thu nhập cá
nhân cao thì người bệnh khơng cịn phải lo lắng q nhiều về kinh tế, phải kiếm sống
hàng ngày, khi họ có điều kiện tốt lúc đó họ sẽ chú trọng đến chăm sóc sức khỏe nhiều
hơn, đây đều được xem là một trong các yếu tố dẫn đến sự TTĐT tốt của người bệnh(24)
Nhận thức của người bệnh về bệnh, trong đó thiếu hiểu biết về bệnh có ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả điều trị bệnh. Một số trường hợp người bệnh uống
thuốc thấy khơng có triệu chứng và cho là khỏi bệnh, do đó cần phải thay đổi nhận thức,
14
thái độ của để người bệnh họ tiếp tục tuân thủ trong điều trị (24). Nhìn chung, khi sự
hiểu biết được cải thiện thì họ ln tn thủ nghiêm ngặt về chế độ ăn, xét nghiệm định
kỳ theo hướng dẫn, chế độ luyện tập đều đặn (24).
Trong những năm gần đây đã có nhiều sự quan tâm hơn của các tổ chức và đồn
thể về các bệnh mạn tính. Các nghiên cứu cho thấy sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè có
ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả điều trị(25). Gia đình và bạn bè có vai trị trong việc
nhắc nhở và hỗ trợ người bệnh thói quen tự quản lý, cung cấp chế độ ăn thích hợp, chia
sẻ thông tin liên quan, bày tỏ cảm xúc, đưa người bệnh tới bệnh viện và tương tác với
NVYT, theo dõi chế độ ăn và các hoạt động thể chất. Tuy nhiên cũng có một số nghiên
H
P
cứu chưa cho thấy vai trò của yếu tố này đối với hiệu quả quản lý người bệnh mắc bệnh
không lây (17, 26).
1.2.2. Yếu tố môi trường bệnh viện
Đối với các nước phát triển như Mỹ và các nước Châu Âu, người dân có điều kiện
kinh tế, phương tiện di chuyển thuận lợi, tiếp cận sớm với các dịch vụ y tế, hệ thống y
U
tế toàn diện nên người bệnh chỉ cần tới Trạm Y tế khám chữa bệnh gần nhất mà không
phải di chuyển xa (25, 27). Ở các nước đang phát triển và có thu nhập thấp, thì khoảng
H
cách là yếu tố đóng vai trị quan trọng trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế,
yếu tố này góp phần trì hỗn việc điều trị, tăng thêm các kinh phí ngồi điều trị. Trong
một nghiên cứu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, thiếu nguồn tài chính cho
vấn đề di chuyển, cung cấp các dịch vụ y tế, xét nghiệm, thuốc. Bên cạnh đó yếu tố về
khoảng cách, hệ thống giao thông kém cũng được báo cáo có ảnh hưởng tiêu cực đến
quyết định tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe(20, 24).
Đặc điểm dân số học và các yếu tố về văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu
quan tâm. Vì các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến nhận thức của người bệnh và thực
hành tự quản lý của người bệnh. Dù vậy vẫn chưa có nghiên cứu nào kết luận chính xác
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này(24).
15
1.2.3. Yếu tố Quản lý tuân thủ điều trị và Mơi trường bệnh viện
Có nhiều nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của NVYT trong quản lý người bệnh
mắc bệnh TTPL. NVYT có vai trị trong việc kiểm sốt, tư vấn, cung cấp thông tin, cung
cấp các dịch vụ điều trị, phát hiện các biến chứng. Mối quan hệ giữa người bệnh và
NVYT. Nhân viên y tế với thái độ niềm nở, nhã nhặn trong giao tiếp, tận tình hướng dẫn,
khi người bệnh đến tái khám người bệnh được cán bộ y tế tư vấn đầy đủ về bệnh và được
nhắc nhở TTĐT giúp cho người bệnh cảm thấy thoải mái, an tâm cho những lần điều trị
tiếp theo(24, 28).
Điều kiện tiếp cận dịch vụ: Cơ sở, vật chất khang trang, sạch sẽ, thoáng mát, đầy
H
P
đủ tiện nghi, trang thiết bị, tạo cảm giác thoải mái cho người bệnh khi đến điều trị góp
phần tạo được sự tin tưởng, và tự tin khi đến tái khám, bên cạnh đó thủ tục hành chính
và thời gian của mỗi đợt khám bệnh nhanh hay lâu cũng góp phần quyết định sự TTĐT
của người bệnh(24).
Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho thấy sự hỗ trợ của NVYT đối với quản
U
lý điều trị người bệnh mắc bệnh TTPL có những thời điểm cho đầy đủ. Nghiên cứu của
Nagelkerk năm 2006 cho thấy thiếu các nguồn cung cấp như trang thiết bị, thuốc, xét
nghiệm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chính là rào cản trong quản lý người bệnh
H
điều trị ngoại trú. Đặc biệt yếu tố về thời gian và kinh tế có ảnh hưởng đến sự hỗ trợ của
NVYT đối với người bệnh bệnh TTPL (17, 29). Đôi khi NVYT tư vấn cho người bệnh
những lời khuyên chung chung, chưa cung cấp đầy đủ thông tin điều trị, thông tin liên
lạc giữa NVYT chưa đảm bảo, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý người bệnh.
NVYT cũng đóng vai trị quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người bệnh và
củng cố niềm tin vào hiệu quả điều trị cho người bệnh(28).
1.3.
Một số nghiên cứu có liên quan
Theo nghiên cứu của Gopalan M.R, Vidhu Kumar K (2016), nghiên cứu tại Bộ
môn Tâm thần Trường Cao đẳng Y tế T D, Alleppey, một bệnh viện dạy chăm sóc bậc
đại học. Những bệnh nhân đến khám tại khoa Ngoại trú được đánh giá với các yếu tố sau
dụng cụ, Thang đo triệu chứng tích cực và tiêu cực, Thang đánh giá tác dụng phụ của
16
Udvalg Klinske Undersogelser, Thang đo đa chiều về nhận thức hỗ trợ xã hội, Thang đo
để đánh giá Mức độ không nhận thức về Rối loạn Tâm thần (SUMD), Sự tuân thủ được
đánh giá bằng cách sử dụng các tiêu chí tuân thủ đầy đủ được xác định là những người
bỏ sót thuốc dưới 20%, tuân thủ một phần những người bỏ lỡ 20% đến 80% thuốc và
không tuân thủ những người bỏ lỡ hơn 80% các loại thuốc ghi nhận mối quan hệ giữa
các triệu chứng tích cực và sự tuân thủ cho thấy những người có các triệu chứng dương
tính phù hợp hơn (P <0,001) so với những người có điểm triệu chứng tích cực thấp. Có
thể là những người có các triệu chứng tích cực hơn có thể dùng thuốc để giảm các triệu
chứng so với cho những người có điểm số triệu chứng tích cực thấp. So sánh các triệu
H
P
chứng tiêu cực với tuân thủ cho thấy những người có mức tiêu cực trung bình các triệu
chứng có tỷ lệ tuân thủ nhiều hơn so với những người có điểm triệu chứng âm tính thấp
(P <0,05) các triệu chứng tiêu cực được tìm thấy có cả tốt và xấu mối quan hệ với sự
tuân thủ hỗ trợ xã hội hơn nữa phân tích cho thấy những người có mức tiêu cực trung
bình các triệu chứng có nhiều hỗ trợ xã hội hơn so với những người với điểm triệu chứng
U
âm tính thấp (P <0,001).
Bên cạnh đó, Bệnh nhân sống một mình thường có tỷ lệ tn thủ thấp hơn, trong
khi bệnh nhân sống trong môi trường hỗ trợ nơi họ có những người chăm sóc họ có nhiều
H
khả năng tn thủ. (33) Một gia đình q tình cảm, địi hỏi cao hoặc những người quan
trọng khác khơng chia sẻ với bệnh nhân thái độ tích cực đối với điều trị là phổ biến các
ví dụ về vấn đề này (34). Phân tích sự tuân thủ với sự hỗ trợ xã hội từ có ý nghĩa khác
(Bảng 5) cho thấy khơng có thống kê các mối quan hệ quan trọng mà phát hiện này rất
quan trọng bởi vì ở phía tây có thể có một người khơng phải là một người bạn hoặc thành
viên gia đình, những người sẽ ở đó để giúp bệnh nhân. Nhưng trong nghiên cứu của
chúng tơi, một người như vậy hồn tồn khơng có ảnh hưởng trong cuộc sống của bệnh
nhân làm nổi bật tầm quan trọng của gia đình trong nền tảng văn hóa xã hội của chúng
ta. Phân tích tn thủ sự hỗ trợ xã hội từ gia đình cho thấy rằng những người có sự hỗ
trợ xã hội cao từ gia đình tn thủ nhiều hơn những người có hỗ trợ xã hội (P <0,001).
Phân tích sự tuân thủ với hỗ trợ xã hội từ bạn bè cho thấy khơng các mối quan hệ có ý
17
nghĩa thống kê. Phân tích sự tuân thủ với tổng số hỗ trợ xã hội cho thấy rằng những
người có hỗ trợ xã hội cao hơn có thể tuân thủ nhiều hơn những người có mức hỗ trợ xã
hội thấp (P <0,001) (14).
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu trên 71 bệnh nhân mắc bệnh tâm thần rối loạn cảm
xúc lưỡng cực hiện giai đoạn trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai từ 01/2011 đến 11/2017 đã ghi nhận Nhóm bệnh nhân có tiền sử
gia đình mắc các bệnh tâm thần nội sinh chiếm một tỷ lệ đáng kể (rối loạn cảm xúc lưỡng
cực: 11,7%, tâm thần phân liệt 7%). Bệnh thường khởi phát ở người trẻ dưới 25 tuổi
(40,8%), giai đoạn đầu tiên chủ yếu là giai đoạn trầm cảm (54,9%). Số bệnh nhân có từ
H
P
3 giai đoạn trầm cảm chiếm 38,1%; thời gian kéo dài các giai đoạn trầm cảm dưới 6
tháng: 80%. Bệnh cảnh lâm sàng phần lớn là trầm cảm khơng điển hình: cịn phản ứng
cảm xúc: 63,4%, nhạy cảm với sự từ chối: 57,7%. Các triệu chứng trầm cảm hỗn hợp
cũng xuất hiện trong nhóm nghiên cứu: nói nhiều 22,5% (gặp nhiều hơn trong rối loạn
cảm xúc lưỡng cực II). Các triệu chứng của lo âu, loạn thần >25%, có ý tưởng tự sát và
U
toan tự sát 43,7%, cơn tức giận dễ bị kích thích 39,4% đều chiếm tỷ lệ cao. Cũng chính
vì vậy, tác giả Lê Thị Thu Hà đã đánh giá hiện trạng điều trị của những bệnh nhân này
Hơn 90% bệnh nhân trong nghiên cứu được sử dụng phác đồ đa trị liệu. Sự phối hợp
H
thuốc an thần kinh với chống trầm cảm chiếm >75%, các thuốc thường dùng nhất là
quetiapin, sertralin và mirtazapin. Thuốc chỉnh khí sắc chỉ mới được chỉ định ở 67,6%,
phổ biến nhất là valproat. Thời gian điều trị trung bình là 21,75±11,02 ngày. Tác dụng
khơng mong muốn thường gặp nhất là tăng cân (77,5%). Sau 12 tháng theo dõi, nghiên
cứu ghi nhận tỷ lệ tái phát/tái diễn cao: biểu hiện bằng giai đoạn trầm cảm 31,59%, tỷ lệ
ít hơn ở hưng cảm nhẹ 2,88% và hưng cảm 4,29%.
Theo Lê Văn Cường (2018), Tại Nam Định khi khảo sát trên 352 người quản lý
và chăm sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt, khi được hỏi về vấn đề hỗ trợ người
bệnh trong vấn đề vệ sinh của người bệnh thì có 6,5% người chăm sóc phải hỗ trợ hồn
tồn cho người bệnh. Người chăm có phải hỗ trợ một phần (13,1%). Nghiên cứu nhận
thấy người chăm sóc người bệnh TTPL điều trị ngoại trú có nhiều thời gian rảnh rỗi và