BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN TUẤN ĐỨC
H
P
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH DỰ PHÕNG BỆNH SỐT XUẤT
HUYẾT DENGUE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƢỜI DÂN
XÃ TÂN LẬP, ĐAN PHƢỢNG, HÀ NỘI NĂM 2022
U
H
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN TUẤN ĐỨC
H
P
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH DỰ PHÕNG BỆNH SỐT XUẤT
HUYẾT DENGUE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƢỜI DÂN
XÃ TÂN LẬP, ĐAN PHƢỢNG, HÀ NỘI NĂM 2022
U
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
H
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ NHỊ HÀ
HÀ NỘI, 2022
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................ iv
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU....................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .......................................................................................3
Chƣơng 1 ....................................................................................................................4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................................4
H
P
1.1. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue ..............................................................4
1.2. Dự phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ...............................................................10
1.3. Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ......22
1.4. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành dự phịng bệnh sốt xuất
huyết dengue ..............................................................................................................24
1.5. Giới thiệu tóm tắt địa bàn nghiên cứu ................................................................28
U
1.6. Khung lý thuyết ..................................................................................................30
Chƣơng 2 ..................................................................................................................31
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................31
H
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu.........................................................................................31
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................31
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................31
2.4. Cỡ mẫu và phƣơng pháp chọn mẫu....................................................................31
2.5. Phƣơng pháp thu thập số liệu .............................................................................33
2.6. Các biến số và chủ đề nghiên cứu ......................................................................34
2.7. Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá ...................................................................34
2.8. Phƣơng pháp phân tích số liệu ...........................................................................41
2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .........................................................................42
Chƣơng 3 ..................................................................................................................43
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................................................43
ii
3.1. Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu .............................................................43
3.2. Kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng bệnh SXHD của ĐTNC ...................46
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng bệnh sốt
SXHD của ĐTNC .....................................................................................................53
Chƣơng 4 ..................................................................................................................67
BÀN LUẬN ..............................................................................................................67
4.1. Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng bệnh SXHD của ngƣời dân tại xã
Tân Lập, huyện Đan Phƣợng, Hà Nội năm 2022 ......................................................67
4.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng bệnh
SXHD của ngƣời dân xã Tân Lập, huyện Đan Phƣợng, TP Hà Nội năm 2022 .......72
H
P
4.3. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số .........................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
KHUYẾN NGHỊ ......................................................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................81
Phụ lục 1: PHIẾU PHỎNG VẤN .............................................................................89
U
Phụ lục 2: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU......................................................................101
H
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTV:
Cộng tác viên
DCCN:
Dụng cụ chứa nƣớc
ĐTV:
Điều tra viên
ĐTNC:
Đối tƣợng nghiên cứu
SXHD:
Sốt xuất huyết Dengue
WHO:
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
H
P
H
U
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng chấm điểm phần kiến thức về dự phòng bệnh SXHD .....................34
Bảng 2.2. Bảng chấm điểm phần thái độ về dự phòng SXHD .................................38
Bảng 2.3. Bảng chấm điểm phần thực hành về dự phòng bệnh SXHD ....................39
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu (N=411) ...............................43
Bảng 3.2. Tiền sử gia đình mắc SXHD .....................................................................44
Bảng 3.3. Tiếp cận thông tin truyền thông ................................................................45
Bảng 3.4. Kiến thức đúng của đối tƣợng về dự phòng bệnh SXHD (N=411) ..........46
Bảng 3.5. Kiến thức của đối tƣợng về biện pháp phòng chống muỗi và tiêu diệt bọ
gậy muỗi vằn (N=411) .............................................................................................46
Bảng 3.6. Bảng mô tả thực hành của ĐTNC về dự phòng bệnh SXHD (N=411) ....49
H
P
Bảng 3.7. Thực hành vệ sinh nhà cửa phòng bệnh SXHD (N=411).........................51
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức về dự phòng bệnh
sốt SXHD của ngƣời dân ..........................................................................................53
Bảng 3.9. Mối liên quan các yếu tố gia đình và kiến thức về dự phòng bệnh sốt
SXHD của ĐTNC .....................................................................................................55
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thơng và kiến thức về dự
phịng bệnh sốt SXHD của ĐTNC ............................................................................56
U
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân, gia đình và thái độ về dự
phòng bệnh sốt SXHD của ĐTNC ............................................................................56
H
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và thái độ về dự phòng bệnh sốt
SXHD của ĐTNC .....................................................................................................58
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và thái độ về dự
phòng bệnh sốt SXHD của ĐTNC ............................................................................60
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về dự phòng bệnh sốt SXHD
của ĐTNC .................................................................................................................60
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và thực hành dự phòng bệnh
sốt SXHD của ĐTNC ................................................................................................61
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và thực hành dự phòng bệnh sốt
SXHD của ĐTNC .....................................................................................................63
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và thực hành dự
phòng bệnh sốt SXHD của ĐTNC ............................................................................65
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng bệnh sốt
SXHD của ĐTNC .....................................................................................................66
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 1.1. Biểu đồ số ca mắc, tử vong do SXHD giai đoạn 1980-2020 tại Việt Nam ..9
Biểu đồ 1.2. Số mắc SXHD nhập viện và số ca tử vong theo tuần năm 2020 so với năm
2019 ...........................................................................................................................10
Biểu đồ 3.1. Giới tính của đối tƣợng nghiên cứu (N=411) ...........................................43
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ ngƣời dân có kiến thức đạt về dự phịng bệnh SXHD (N=411) .48
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ ngƣời dân có thái độ đúng về dự phịng bệnh SXHD theo các
nhóm thái độ (N=411) ...............................................................................................48
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ ngƣời dân có thái độ tích cực về dự phịng bệnh SXHD (N=411)
...................................................................................................................................49
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ ngƣời dân có thực hành đạt về dự phịng bệnh SXHD (N=411) 52
H
P
Hình 1.1. Con đƣờng lây bệnh của muỗi Aedes aegypti .............................................7
H
U
vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh dịch do nhiễm vi rút
Dengue cấp tính lƣu hành ở Việt Nam với số ca mắc hàng năm lên tới hàng chục
ngàn đến hơn hai trăm ngàn ca mắc (năm 2019 ghi nhận 231.308 ca). Theo thống kê
trong 10 năm trên địa bàn huyện Đan Phƣợng có số mắc SXHD nằm trong nhóm
cao của thành phố Hà Nội. Năm 2020, toàn thành phố đã ghi nhận 6.787 ca mắc
trong đó có 108 ca tại huyện Đan Phƣợng. Xã Tân Lập nằm phía nam huyện Đan
Phƣợng, dân số 22.000 ngƣời, có sự di cƣ biến động, điều kiện vệ sinh mơi trƣờng
cịn nhiều hạn chế; đồng thời tiếp giáp với các quận, huyện trọng điểm có tỷ lệ mắc
SXHD cao của thành phố. Trong năm 2020, xã Tân Lập có 25 ca mắc sốt xuất huyết
H
P
(chiếm 23,1% so với tổng cả huyện 108 ca) và 3 ổ dịch (chiếm 9,7% so với tổng cả
huyện 31 ổ dịch) cao nhất trên tồn huyện. Để phịng chống SXHD hiệu quả, kiến
thức, thái độ, thực hành đúng về bệnh là vô cùng quan trọng và là mấu chốt giúp
giảm tỷ lệ mắc bệnh. Nghiên cứu thực hiện từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022 tại
xã Tân Lập, huyện Đan Phƣợng, thành phố Hà Nội nhằm mô tả kiến thức, thái độ,
U
thực hành về dự phòng bệnh SXHD và một số yếu tố liên quan của ngƣời dân đang
sinh sống trên địa bàn xã.
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu cắt ngang, phƣơng pháp định
H
lƣợng kết hợp quan sát. Cỡ mẫu là 411 ngƣời dân là đại điện cho 411 hộ gia đình.
Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc phỏng vấn bằng phiếu điều tra đƣợc thiết kế sẵn, điều
tra viên kết hợp quan sát thực hành đúng về vệ sinh nhà cửa, khơng có bọ gậy/lăng
quăng ở dụng cụ chứa nƣớc trong hộ gia đình tại hộ gia đình bằng bảng kiểm. Số
liệu đƣợc nhập bằng phần mềm Microsoft Excel, sau đó đƣợc quản lý và phân tích
bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong số 411 ngƣời dân tham gia nghiên cứu, có
70,3% ngƣời dân có kiến thức chung đạt về dụng phịng bệnh SXHD và 82,7%
ngƣời dân có thái độ tích cự về dự phịng bệnh SXHD. Tỷ lệ ngƣời dân thực hành
chung đạt về dự phòng bệnh SXHD là 46,2%. Một số yếu tố liên quan đến kiến
thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh SXHD đƣợc xác định: Yếu tố cá nhân:
nhóm tuổi (OR lần lƣợt là 3,31 và 2,56; p<0,05), trình độ học vấn (OR=2,89;
vii
p<0,001), nghề nghiệp (OR lần lƣợt là: 7,40 và 3,5; p<0,001 và p<0,05), yếu tố bản
thân có tiền sử mắc bệnh hoặc gia đình có thành viên từng mắc bệnh (OR lần lƣợt
là: 7,40 và 3,5; p<0,001 và p<0,05); yếu tố tiếp cận thông tin truyền thông
(OR=1,71; p<0,05); yếu tố tham gia chƣơng trình vận động diệt loăng quăng, vệ
sinh môi trƣờng (OR= 1,71, p<0,05); yếu tố kiến thức và thái độ có liên quan đến
thực hành về phịng bệnh SXHD của ngƣời dân (OR lần lƣợt 1,97 và 1,85; p<0,05).
Nghiên cứu khuyến nghị đối với chính quyền địa phƣơng và ngành y tế xã Tân
Lập nên tăng cƣờng truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức của ngƣời dân về dự
phịng bệnh SXHD với các hình thức khác nhau: tuyên truyền tại nhà, tổ chức tuyên
truyền lồng ghép trong các buổi sinh hoạt cộng đồng nhƣ họp Hội Cựu chiến binh,
H
P
Hội Ngƣời cao tuổi, Hội nơng dân,…. Khuyến khích ngƣời dân thực hiện phun
thuốc diệt muỗi, dùng hƣơng xua muỗi, dùng vợt điện, đậy kín DCCN, lật úp, loại
bỏ DCCN không sử dụng.
H
U
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính
do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn (1). Từ năm 2014, Tổ chức Y tế thế
giới nhận định rằng SXHD là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phổ biến nhất lây
qua trung gian truyền bệnh. SXHD trở thành vấn đề y tế công cộng rất quan trọng
tại hơn 128 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với khoảng 3,9 tỷ ngƣời ở trong
vùng nguy cơ. Ƣớc tính, có khoảng 50-100 triệu ngƣời mắc SXHD mỗi năm, trong
đó có khoảng 500.000 ngƣời bị SXHD nặng phải nhập viện và trong số này có 2,5%
bị tử vong. Vùng Đơng Nam Á-Tây Thái Bình Dƣơng đã trở thành khu vực có
SXHD lƣu hành cao nhất thế giới với hơn 75% tổng số ca mắc và tử vong của toàn
H
P
thế giới (2-5). Tại Việt Nam SXHD đƣợc coi là bệnh dịch lƣu hành tại nhiều địa
phƣơng, nhất là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng
ven biển miền Trung (1). Hiện nay, Việt Nam là một trong 5 nƣớc có gánh nặng
bệnh tật do SXHD cao nhất ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng. Trong những năm
trở lại đây, mỗi năm Việt Nam có hàng chục ngàn đến hơn trăm ngàn ca mắc SXHD
U
(1, 6-8). Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân đã tăng từ 120 trong năm 2009 (tƣơng đƣơng
với 105.370 ca) lên 240 tính đến tháng 10 năm 2019 (231.308 ca) (9).
Để phòng chống SXHD hiệu quả, kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) đúng
H
về bệnh là vô cùng quan trọng và là mấu chốt giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh. Tại Việt
Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống
SXHD của ngƣời dân ở một số địa phƣơng nhƣ Đồng Tháp, Vĩnh Long, Gia Lai,
Sóc Trăng, Hà Nội, Hải Phịng, Huế... Các nghiên cứu này đều cho thấy kiến thức,
thái độ và đặc biệt là thực hành của ngƣời dân về phòng chống SXHD còn hạn chế
(2, 3, 10-14). Một số yếu tố liên quan đến thực hành của ngƣời dân về phịng chống
SXHD đƣợc xác định gồm có: yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học
vấn…) và yếu tố tiếp cận thông tin và yếu tố về chƣơng trình phịng chống SXHD
(14-16) (17) (18).
Theo thống kê trong 10 năm trên địa bàn huyện Đan Phƣợng có số mắc
SXHD nằm trong nhóm cao của thành phố Hà Nội, đặc biệt ở một số xã nhƣ Hồng
Hà, Tân Lập, Thọ An, Đan Phƣợng, Hạ Mỗ. Trong các năm đỉnh dịch sốt xuất
2
huyết: năm 2015 là 125 ca trên tổng số 15.412, năm 2017 là 383 trên tổng số 37.665
ca. Năm 2020, toàn thành phố đã ghi nhận 6.787 ca mắc trong đó có 108 ca tại
huyện Đan Phƣợng (19, 20).
Xã Tân Lập nằm phía nam huyện Đan Phƣợng, dân số 22.000 ngƣời, có sự di
cƣ biến động, điều kiện vệ sinh mơi trƣờng cịn nhiều hạn chế; đồng thời tiếp giáp với
các quận, huyện trọng điểm có tỷ lệ mắc SXHD cao của thành phố. Trên địa bàn
huyện hiện nay, có 4 trạm cấp nƣớc sạch, tuy nhiên, chƣa đủ cung cấp cho các hộ gia
đình. Chính vì thế, các hộ gia đình chƣa có điều kiện sử dụng nƣớc sạch vẫn cịn sử
dụng dụng cụ chứa nƣớc với dung tích lớn và khơng có sự thau rửa, đậy nắp. Đây có
thể là nguyên nhân xuất hiện các ổ bọ gậy mới. Ngoài ra, trên địa bàn xã Tân Lập,
H
P
huyện Đan Phƣợng có nhiều ao hồ tù đọng chứa nƣớc, đó cũng là một trong những
điều kiện thuận lợi để muỗi sinh sơi phát triển. Với tốc độ đơ thị hóa nhanh, lao động
từ các nơi đổ về xã lớn, dẫn tới tình hình dân số tăng nhanh và điều kiện sống bị ảnh
hƣởng. Việc dân cƣ dần tăng nhanh kéo theo các ảnh hƣởng của môi trƣờng nhƣ:
rác thải, ôi nhiễm, ẩm thấp và cũng là yếu tố thuận lợi giúp muỗi sinh sôi nảy nở và
U
phát triển. Năm 2020, xã Tân Lập có 25 ca mắc sốt xuất huyết (chiếm 23,1% so với
tổng cả huyện 108 ca) và 3 ổ dịch (chiếm 9,7% so với tổng cả huyện 31 ổ dịch) cao
nhất trên toàn huyện (19, 20). Mặc dù hằng năm, các chƣơng trình phịng chống
H
SXHD tại xã Tân Lập đều đƣợc chính quyền và ngành y tế triển khai, tuy nhiên tỷ lệ
ngƣời dân mắc bệnh vẫn ở mức cao. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ, thực
hành dự phòng bệnh SXHD của ngƣời dân ở Tân Lập nhƣ thế nào? Những yếu tố
nào liên quan đến thực hành dự phòng bệnh SXHD của ngƣời dân xã Tân Lập? Với
những lý do trên, đề cƣơng nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng
bệnh sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan của người dân xã Tân Lập,
Đan Phượng, Hà Nội năm 2022”.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng bệnh sốt xuất huyết
Dengue của ngƣời dân tại xã Tân Lập, huyện Đan Phƣợng, thành phố Hà Nội năm
2022.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành dự
phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của ngƣời dân tại xã Tân Lập, huyện Đan
Phƣợng, thành phố Hà Nội năm 2022.
H
P
H
U
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue
1.1.1. Khái niệm và lịch sử bệnh sốt xuất huyết dengue
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm,
lây truyền qua vết đốt của muỗi vằn mang virut gây bệnh (giống muỗi Aedes
aegypti). Vi rút Dengue có 4 tuýp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN4. Loại bệnh này thƣờng bùng phát mạnh vào mùa mƣa thành dịch bệnh và tập
trung chủ yếu tại những khu vực có điều kiện vệ sinh khơng đảm bảo, nhiều nƣớc
đọng ao tù. Với những môi trƣờng vệ sinh khơng đảm bảo chính là điều kiện thuận
H
P
lợi cho sự phát triển, sinh sôi nảy nở mạnh của muỗi. Bệnh gặp ở cả trẻ em và ngƣời
lớn, đặc điểm của sốt SXHD là sốt, xuất huyết và thoát huyết tƣơng, có thể dẫn đến
sốc giảm thể tích tuần hồn, rối loạn đơng máu, suy tạng, nếu khơng đƣợc chẩn
đốn sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong (1).
Một số ghi chép mô tả vụ dịch giống nhƣ SXHD vào năm 1635 ở vùng Tây
U
Ấn Độ thuộc Pháp, là những khu vực có khí hậu nhiệt đới và ơn đới. Trƣớc đó tại
Trung Quốc cũng từng ghi nhận có một căn bệnh tƣơng tự SXHD vào đầu năm 992
sau Công Nguyên. Bệnh SXHD ngày nay đã từng đƣợc tác giả mô tả lại bằng căn
H
bệnh đƣợc gọi là sốt gãy xƣơng ở Philadelphia vào năm 1780. Những vụ dịch này
đa số là SXHD thể nhẹ, cũng có trƣờng hợp mắc SXHD thể nặng. Năm 1953 một
vụ SXHD xảy ra ở Philippines, đến năm 1958 một vụ dịch nữa xảy ra tƣơng tự ở
Thái Lan. Ngay sau đó đã có nhiều vụ dịch SXHD xảy ra ở các nƣớc Đông Nam Á
với tử lệ tử vong cao, bao gồm cả Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanma, Sri Lanka,
Thái Lan và các nƣớc thuộc khu vực Tây Thái Bình Dƣơng nhƣ Singapore,
Malaysia, New Caledonia, Palau, Philippines, Tahiti và Việt Nam. Qua vài thập kỷ,
tỷ lệ mắc và sự phân bố về mặt địa lý của SXHD tăng rõ rệt, và hiện nay, ở một số
nƣớc Đông Nam Á, các vụ dịch hầu nhƣ năm nào cũng xảy ra (21).
1.1.2. Hậu quả của bệnh sốt xuất huyết dengue
5
SXHD có thể dẫn đến suy tim và làm rối loạn hệ thống tuần hồn do tình
trạng xuất huyết liên tục trong cơ thể. Lúc này, tim không đủ sức bơm máu, dịch
huyết tƣơng xuất huyết liên tục sẽ khiến màng tim bị tràn dịch, gây ứ đọng. Điều
này khiến tim và hệ thống tuần hoàn bị ảnh hƣởng nghiêm trọng; gây suy giảm, rối
loạn chức năng tim mạch và có thể khiến tim bị phù nề, xuất huyết cơ tim (22). Một
số trƣờng hợp dẫn đến tình trạng suy thận cấp do thận phải làm việc hết công xuất
để bài tiết qua nƣớc tiểu (22).
Tình trạng sốc do mất máu cũng gặp đối với bệnh nhân mắc SXHD với các
triệu chứng nhƣ chảy máu cam, chảy máu chân răng ở giai đoạn nặng. Nặng hơn
nữa sẽ dẫn đến tình trạng xuất huyết nội tạng với biểu hiện nôn ra máu, đi tiểu ra
H
P
máu... Đối với bệnh nhân xuất huyết nặng, biến chứng tiểu cầu giảm là tình trạng rất
nguy hiểm. Bởi nếu tiểu cầu bị giảm mà bệnh nhân khơng đƣợc truyền kịp thời có
thể dẫn đến xuất huyết não, dễ tử vong. Ngoài ra, khi bị xuất huyết trong cơ thể,
dịch huyết tƣơng có thể ứ đọng trong màng não qua các thành mạch gây phù não,
phù não cấp và các hội chứng thần kinh nguy hiểm khác dẫn đến hôn mê. Đây là
U
dạng biến chứng nặng nhất của bệnh xuất hiện hôn mê thứ phát sau sốc, sau xuất
huyết phủ tạng ồ ạt, sau suy gan thận cấp, … trong trƣờng hợp này là hội chứng não
cấp thứ phát, đƣợc coi là biến chứng (22, 23).
H
Bệnh SXHD ở phụ nữ mang thai có thể gây sảy thai hoặc đẻ non, thai chết
lƣu. Thai phụ rất có thể bị tiền sản giật, làm tổn thƣơng đến chức năng gan, thận,
chảy máu kéo dài khi chuyển dạ. Do đó nếu phụ nữ mang thai có các triệu chứng
nghi sốt xuất huyết cần nhanh chóng đến các cơ sở y tế để đƣợc khám, chẩn đoán và
điều trị kịp thời (23).
Bệnh SXHD còn gây những gánh nặng về kinh tế, theo nghiên cứu của Bộ Y
tế tại một số bệnh viện thuộc khu vực miền Nam, trung bình mỗi ngƣời bệnh sốt
xuất huyết dengue phải nghỉ từ 7-14 ngày để điều trị bệnh, ngƣời thân phải nghỉ
việc từ 7-9 ngày để chăm sóc ngƣời bệnh. Chi phí cho một ngƣời bệnh sốt xuất
huyết dengue giao động từ 40,7 USD đến 126,2 USD (nghĩa là từ 900.000 đến
2.700.000 đồng) tùy theo độ nặng và tuổi của ngƣời bệnh, các chi phí bao gồm các
chi phí trực tiếp cho y tế nhƣ khám, xét nghiệm, điều trị và chi phí gián tiếp nhƣ
6
nhƣ mua vật dụng, đi lại, ăn uống, chi cho ngƣời chăm sóc, chi phí bị mất do nghỉ
việc và các khoản chi phí khác. Bên cạnh đó cịn có các khoản chi phí của Chính
phủ để duy trì hoạt động của hệ thống khám chữa bệnh chƣa đƣợc tính đến (24).
1.1.3. Vi rút gây bệnh và véc tơ truyền bệnh
a. Vi rút gây bệnh sốt xuất huyết
Bệnh SXHD thƣờng gây ra bới vi rút Dengue hay còn gọi là SXHD. Vi rút
gây bệnh sốt xuất huyết Dengue có 4 loại tƣơng ứng với 4 tuýp huyết thanh là
DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ ngƣời bệnh sang ngƣời lành do
muỗi Aedes aegypti đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh
chủ yếu. SXHD đƣợc lan truyền tới các vùng đô thị, thành phố và truyền từ ngƣời
H
P
sang ngƣời bởi Aedes aegypti và Aedes albopictus. Các nghiên cứu cũng cho rằng
Aedes polynesiesis cũng là véc tơ phụ truyền SXHD (25, 26).
Ngƣời bệnh là ổ chứa và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh SXHD
trong chu trình “ngƣời - muỗi Aedes aegypti” ở khu vực thành thị, nông thôn và
hiện nay lan rộng ra nhiều khu vực ở miền núi. Ngoài ngƣời bệnh, ngƣời mang vi
U
rút Dengue khơng triệu chứng cũng có vai trị truyền bệnh quan trọng.
b. Véc tơ truyền bệnh
Tại Việt Nam, muỗi Aedes aegypti truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue xâm
H
nhập vào cảng Sài Gịn (Thành phố Hồ Chí Minh) và Hải phịng vào những năm
đầu thế kỷ 20 (27), cho đến nay véc tơ chủ yếu truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue
vẫn là muỗi Aedes aegypti (28, 29).
Aedes aegypti là loài muỗi truyền bệnh nguy hiểm nhất, chúng là véc tơ
truyền bệnh SXHD, chikungunya và một số bênh khác. Aedes aegypti gây bệnh
SXHD cho ngƣời lành sau khi đốt hút máu ngƣời bệnh sốt xuất huyết hoặc
ngƣời bệnh mang vi rút Dengue nhƣng không biểu hiện triệu chứng (Ngƣời lành
mang bệnh), rồi sau đó đốt ngƣời khỏe mạnh sẽ đƣa vi rút vào cơ thể ngƣời khỏe
mạnh qua vết đốt đó.
7
Hình 1.1. Con đƣờng lây bệnh của muỗi Aedes aegypti
H
P
Muỗi Aedes aegypti sống trong nhà, gần khu vực có nhiều ngƣời, nơi có ánh
sáng yếu, chỗ tối trong nhà. Một số nơi trú ngụ, đậu lại ƣa thích của chúng là mặt
dƣới của đồ gỗ, quần áo treo, rèm treo cửa trong phòng ngủ, nhà vệ sinh, phòng tắm
và bếp, tủ, hốc, gậm giƣờng, sau rèm. Muỗi Aedes aegypti phát tán xa và rộng do
khơng có sẵn chỗ đậu và nơi sinh sản, làm cho muỗi cái phải bay xa hơn tìm dụng
cụ chứa nƣớc để đẻ trứng, đây cũng là nguyên nhân làm lan truyền bệnh SXHD trên
U
phạm vi rộng lớn hơn (30, 31).
Sau khi nở đƣợc 48 giờ muỗi Aedes aegypti cái đã trƣởng thành, chúng có
H
thể hút máu ngay sau đó và giao phối cũng nhƣ tiếp tục hút máu trong các chu kỳ
sinh thực tiếp theo. Sau khi đốt, muỗi Aedes aegypti thƣờng đậu nghỉ tiêu máu ở
những nơi tối, trên quần áo có hơi ngƣời, màu sẫm, đồng thời đậu cả ở gầm giƣờng,
trên tƣờng, cạnh và sau tủ, ban ngày muỗi thƣờng thay đổi vị trí đậu nghỉ liên tục
(32, 33).
Chu kỳ vịng đời của muỗi trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn hình thành trứng:
2-5 ngày; giai đoạn từ trứng thành lăng quăng (LQ): 1-2 ngày; giai đoạn từ lăng
quăng thành nhộng (quăng): 3-4 ngày, giai đoạn từ nhộng thành muỗi trƣởng thành:
1-2 ngày. Từ khi hút máu đến khi đẻ trứng khoảng 2 đến 5 ngày, muỗi Aedes
aegypti cái sinh sản 4 lần trong đời, có thể đậu trên các thành dụng cụ chứa nƣớc
hoặc đậu ngay mặt nƣớc đẻ và một lần đẻ trung bình 58 đến 78 trứng nhiều nhất là
163 và ít nhất 16 trứng. Tỉ lệ sống sót từ trứng đến muỗi trƣởng thành trung bình là
8
59,7% (6, 34). Nếu nhiệt độ khoảng 20C và độ ẩm là 80% thì từ lúc trứng cho đến
khi thành muỗi trƣởng thành mất từ 12 đến 17 ngày (27).
1.1.4. Thực trạng sốt xuất huyết dengue
a. Thực trạng sốt xuất huyết dengue trên thế giới
Trên thế giới, dịch SXHD xảy ra chủ yếu xảy ra ở các vùng bán nhiệt đới, ôn
đới và bùng phát mạnh vào những tháng nắng nóng. Những khu vực nhƣ Đơng
Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dƣơng chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất của dịch
SXHD. Các nƣớc có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao phải kể đến Việt Nam, Thái
Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Lào và Campuchia với số ca nhận
lên đến 2 triệu ngƣời mắc SXHD và đang ngày càng gia tăng mạnh (35-37).
H
P
Các quốc gia thành viên trong 3 khu vực của WHO thƣờng xuyên báo cáo số
trƣờng hợp mắc hàng năm của dịch SXHD. Số trƣờng hợp đƣợc báo cáo tăng từ 2,2
triệu năm 2010 lên 3,2 triệu năm 2015. Mặc dù gánh nặng toàn cầu về dịch bệnh là
không chắc chắn, nhƣng việc bắt đầu các hoạt động để ghi lại tất cả số ca mắc sốt
xuất huyết phần nào giải thích cho sự gia tăng mạnh về số ca mắc bệnh đƣợc báo
U
cáo trong những năm gần đây (38, 39).
Vào năm 2015, Delhi, Ấn Độ, đã ghi nhận đợt bùng phát tồi tệ nhất kể từ
năm 2006 với hơn 15.000 trƣờng hợp. Đảo Hawaii, Hoa Kỳ, đã bị ảnh hƣởng bởi
H
đợt bùng phát với 181 trƣờng hợp đƣợc báo cáo vào năm 2015 và đang tiếp tục lây
truyền vào năm 2016. Các quốc đảo ở Thái Bình Dƣơng là Fiji, Tonga và Polynesia
thuộc Pháp đã tiếp tục ghi nhận các trƣờng hợp mắc bệnh (37). Trong vụ dịch
SXHD năm 2015, ghi nhận 2.118.639 trƣờng hợp mắc, chủ yếu tại Nam Mỹ
(74,3%), có 1.076 tử vong. Số mắc và tử vong tại Brazil cao nhất khu vực với
1.534.932 trƣờng hợp mắc, trong đó 811 trƣờng hợp tử vong. Các nƣớc ghi nhận số
tử vong cao: Cộng hoà Dominica là 89, Columbia là 61, Peru là 51 (36, 37).
Theo báo cáo ngày 13/8/2020 của WHO, nhiều quốc gia trong khu vực và
trên thế giới vẫn tiếp tục ghi nhận số mắc và tử vong cao: Malaysia 66.199 mắc,
109 tử vong; Phi-líp-pin 55.160 mắc, 200 tử vong. Singapore 21.834 mắc, tăng cao
hơn cùng kỳ 2019 và gđ 5 năm trƣớc; Lào 4.155 mắc, 9 tử vong; Campuchia 4.450
mắc, 5 tử vong. Riêng khu vực châu Mỹ La Tinh, đã ghi nhận tổng số 1.992.477
9
mắc, 725 tử vong. Trong đó cao nhất tại Brazil (1.330.245/465), Paraway
(220.234/73), Bolivia (83.533/19), Argentina (79.775/25), Colombia (67.560/36 tử
vong), Mexico (55.048/28) (40).
b. Thực trạng sốt xuất huyết dengue tại Việt Nam
Tại Việt nam SXHD là dịch bệnh lan truyền phần lớn ở các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long, ven biển miền trung và đồng bằng Bắc bộ. Ở miền Nam và miền
trung sẽ xuất hiện bệnh quanh năm do đặc điểm địa lý và khí hậu, với miền Bắc và
Tây Nguyên sẽ xuất hiện bệnh thƣờng vào tháng 4 đến tháng 11 do khơng khí nóng
và mƣa nhiều.
H
P
U
H
Biểu đồ 1.1. Biểu đồ số ca mắc, tử vong do SXHD giai đoạn 1980-2020 tại Việt Nam
(Nguồn: Cục Y tế dự phòng năm 2020)
Những năm gần đây, số ca mắc và tử vong SXHD tại Việt Nam đang có xu
hƣớng tăng lên dần. Năm 2010, đã xảy ra nhiều vụ dịch, ghi nhận 128.710 trƣờng
hợp mắc và tử vong 109 trƣờng hợp (41). Trong tháng 10/2020 (tính từ 19/9/202018/10/2020) cả nƣớc ghi nhận 19.365 trƣờng hợp mắc sốt xuất huyết, trong đó có 6
trƣờng hợp tử vong. So với cùng kỳ năm trƣớc, số trƣờng hợp mắc sốt xuất huyết
giảm 54,7% (số trƣờng hợp mắc sốt xuất huyết trong tháng 10/2019 là 42.779
trƣờng hợp, trong đó có 3 trƣờng hợp tử vong). Các địa phƣơng có số ca mắc sốt
xuất huyết cao là: Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú n, Khánh Hịa, Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội (42).
10
H
P
Biểu đồ 1.2. Số mắc SXHD nhập viện và số ca tử vong theo tuần năm 2020 so với
năm 2019
(Nguồn: Cục Y tế dự phòng năm 2020)
Tại Hà Nội trong khn khổ của dự án phịng chống SXHD quốc gia, kết
quả cho thấy, từ năm 2006-2011, Hà Nội ghi nhận 30.665 trƣờng hợp mắc và 4 ca
U
tử vong, trong đó ghi nhận một vụ dịch lớn vào năm 2009 với 16.090 ca. Số ca mắc
trung bình/năm là 5.110 và tỷ lệ chết trên mắc là 0,013%. Số mắc tập trung yếu ở
H
khu vực nội thành chiếm 77,2% tổng số ca mắc. Số mắc ghi nhận ở tất cả các tháng
và đạt đỉnh vào tháng 9, 10 và 11. Các ca bệnh chủ yếu trên 15 tuổi chiếm 88,05%
và phân bố đều ở cả hai giới. Thể lâm sàng nhẹ chiếm 78,7%, thể lâm sàng nặng có
sốc chiếm tỷ lệ rất ít. Ghi nhận sự lƣu hành của cả 4 típ vi rút, tuy nhiên vi rút
dengue típ 1 và 2 có xu hƣớng trội hơn (43).
Từ đầu năm 2021 đến ngày 19/9, cả nƣớc ghi nhận 49.113 trƣờng hợp mắc
sốt xuất huyết, trong đó có 18 trƣờng hợp tử vong tại 9 tỉnh, thành phố phía Nam.
Riêng ở Hà Nội, từ đầu năm 2021 đến ngày 26/9 đã ghi nhận 1.031 ca mắc sốt xuất
huyết, phân bố tại 27/30 quận, huyện, thị xã, chƣa có ca tử vong (44).
1.2. Dự phòng bệnh sốt xuất huyết dengue
1.2.1. Dự phòng véc tơ truyền bệnh SXHD
11
Bệnh SXHD do muỗi gây ra, chính vì thế chủ động phịng ngừa bằng các
phƣơng pháp sử dụng hóa chất, kiểm soát bọ gây và sử dụng động vật ăn bọ gậy là
những cách đơn giản nhất để tiêu diệt bọ gậy trƣớc khi nở thành muỗi. Việc phòng
chống muỗi sẽ đạt đƣợc hiệu quả cao khi can thiệt kịp thời vào các giai đoạn ấu
trùng. Với nhƣợc điểm không di chuyển đƣợc nhƣ muỗi trƣởng thành thì ấu trùng sẽ
dễ đƣợc xử lý và kiểm soát bằng các biện pháp sau đây (30):
a. Giám sát bọ gậy
Giám sát thƣờng xuyên: 1 tháng 1 lần cùng với muỗi trƣởng thành.
Giám sát ổ bọ gậy nguồn: Phƣơng pháp này dựa vào kết quả đếm toàn bộ số
lƣợng bọ gậy Aedes sp trong các chủng loại dụng cụ chứa nƣớc (DCCN) khác nhau
H
P
để xác định nguồn cung cấp muỗi, chủ yếu của từng địa phƣơng theo mùa trong
năm hoặc theo từng giai đoạn để điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyên truyền và
phịng chống véc tơ thích hợp (30).
Theo hƣớng dẫn điều tra véc tơ SXHD của WHO, có 4 chỉ số đƣợc sử dụng
để theo dõi bọ gậy của muỗi: Chỉ số nhà có bọ gậy (House Index - HI) là tỷ lệ phần
U
trăm nhà có bọ gậy. Chỉ số DCCN có bọ gậy (Container Index - CI) là tỷ lệ phần
trăm DCCN có bọ gậy. Chỉ số Breteau (Breteau Index - BI) là số DCCN có bọ gậy
Aedes trong 100 nhà điều tra. Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là số lƣợng bọ gậy
H
trung bình cho 1 hộ gia đình điều tra. Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ
bọ gậy nguồn [54]. Các chỉ số cơn trùng có giá trị giúp chúng ta đánh giá đƣợc nguy
cơ xảy dịch SXHD ở địa phƣơng và can thiệp ổ dịch kịp thời. Bộ Y tế Việt Nam
quy định chỉ số mật độ muỗi (DI) ≥0,5 và chỉ số Breteau ≥30 là vƣợt ngƣỡng nguy
cơ cần can thiệp phun hóa chất diệt (1).
Trong các chỉ số trên, chỉ số nhà có muỗi/bọ gậy (HI) đƣợc sử dụng rộng rãi
để xác định sự hiện diện và phân bố của quần thể Aedes sp ở một vùng nhất định.
Tuy nhiên, chỉ số nhà có muỗi/bọ gậy khơng cho biết đƣợc số DCCN có bọ gậy
trong nhà. Tƣơng tự, chỉ số DCCN có bọ gậy chỉ cung cấp thơng tin tỷ 17 lệ % các
DCCN có bọ gậy. Chính vì vậy, chỉ số BI đã thiết lập đƣợc mối quan hệ giữa
DCCN có bọ gậy và chỉ số nhà. Chỉ số BI và chỉ số nhà có muỗi hay bọ gậy (HI)
12
đƣợc sử dụng rộng rãi để xác định vùng có nguy cơ cao để thực hiện các biện pháp
phòng chống bệnh (45).
b. Sử dụng hóa chất
Biện pháp sử dụng hóa chất diệt hoặc ức chế các giai đoạn của bọ gậy dẫn
đến không thể phát triển thành muỗi trƣờng thành, khiến bọ gậy chết ngay sau quá
trình can thiệp. Sử dụng hóa chất để diệt cơn trùng đã áp dụng từ nhiều năm trở về
trƣớc bằng tiến bộ của khoa học kỹ thuật để biết đƣợc cơ chế tác động của hóa chất
học, phân tích đƣợc các thành phần và tổng hợp đƣợc các phần tử tƣơng tự.
WHO khuyến cáo, việc sử dụng hóa chất diệt, ức chế bọ gậy của muỗi đã
đem lại hiệu quả can thiệp nhanh và ổn định để xử lý ổ dịch SXHD (46). Liệt kê
H
P
danh sách những hóa chất WHO (2016) khuyến cáo: Pyriproxyfen GR (nhóm JH)
nồng độ 0.01mg/L, Pyriproxyfen 2 MR (nhóm JH) nồng độ 2g/40L, Temephos GR
(nhóm OP) nồng độ 1mg/L (46).
Hóa chất tiêu diệt bọ gậy
Temephos là hóa chất đƣợc WHO (2009) đánh giá sử dụng hiệu quả nhằm
U
tiêu diệt bọ gậy trong phòng chống dịch SXHD và đã đƣợc BYT Việt Nam cho
phép sử dụng để diệt côn trùng ở các dụng cụ chứa nƣớc không phải nƣớc ăn uống
và sinh hoạt (47, 48).
H
Hiệu quả diệt bọ gậy tốt và làm các chỉ số véc tơ tại các vùng dịch SXHD
của hóa chất temephos đã đƣợc đánh giá trong 27 nghiên cứu của tác giả George
(2015). Những nghiên cứu của tác giả đã giúp cho việc sử dụng hóa chất có những
kết quả nhất định, tuy nhiên hiệu quả diệt bọ gậy của temephos không bền vững và
cũng dễ bị tác động bởi điều kiện môi trƣờng (49). Trên thị trƣờng hiện nay, các sản
phẩm của temephos đƣợc sử dụng với các tên abate, temmebate, đã đƣợc lƣu hành
rộng rãi trên thị trƣờng trong đó có Việt Nam.
Một nghiên cứ năm 2015 tại Cát Bà, 18 Cộng tác viên y tế và 70 Cộng tác
viên khách sạn thăm hộ gia đình hàng tháng, diệt bọ gậy bằng Abate thả cá, truyền
thơng, tun truyền tại 1000 hộ gia đình sinh thái y tế (Eco-house) và 70 khách sạn
sinh thái y tế (Eco-hotel) và phối hợp đa ngành phòng chống chủ động SXHD. Kết
quả cho thấy, sau 2 năm can thiệp mật độ bọ gậy Aedes aegypti giảm 98,8% tại khu
13
vực hộ gia đình và 99,4% tại khu vực khách sạn, mật độ bọ gậy Aedes albopictus
giảm 85% tại khu vực hộ gia đình và 100% tại khu vực khách sạn. Kiến thức, thái
độ hành vi của ngƣời dân, nhân viên và chủ khách sạn về bệnh SXHD tăng từ 255% so với trƣớc khi can thiệp. Số trƣờng hợp nghi mắc SXHD giảm 96% so với
trƣớc can thiệp (21).
Tuy nhiên, việc sử dụng temephos trong thời gian dài dẫn đến muỗi kháng
với hóa chất này, các tác giả Valle và Marcombe đã có những nghiên cứu của mình
để chứng minh nhực điểm đó (50, 51).
Theo tác giả Lê Trung Kiên (2015-2017), Với 3 lần thử nghiệm lặp lại trên
các lô bọ gậy Aedes aegypti khác nhau cùng thu bắt tại huyện Diên Khánh, hóa chất
H
P
temebate có hiệu lực diệt bọ gậy tốt ngay sau 1 ngày thử nghiệm. Có hoạt chất là
temephos của nhóm phospho hữu cơ, temebate gây độc cho bọ gậy Aedes aegypti
khi tiếp xúc với hóa chất đƣợc thả trong nƣớc dẫn đến bọ gậy Aedes aegypti chết
100% sau 1 ngày can thiệp hóa chất. Đây đƣợc coi là ƣu điểm của các chế phẩm có
hoạt chất temephos do tác động nhanh và làm giảm ngay số lƣợng bọ gậy Aedes
U
aegypti tại những vùng lƣu hành SXHD. Tiếp tục theo dõi tiếp trong 3 tháng, hiệu
lực diệt bọ gậy Aedes aegypti có xu hƣớng giảm dần (51).
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành một đánh giá hiệu quả phòng chống muỗi
H
truyền bệnh SXHD của Bacillus thuringiensis 14 (chế phẩm BACTIVEC của công ty
Labiofam – Cuba) trong cộng đồng dân cƣ tại xã Hoằng Phụ - Hoằng Hóa-Thanh
Hóa từ 1/2015 đến 12/2015. Kết quả cho thấy sau khi thả Bactivec mỗi tháng 1 lần
trong 6 tháng liên tục, mật độ bọ gậy Aedes đã giảm mạnh và duy trì ổn định ở mức
rất thấp, dao động quanh mức 0,01. Chỉ số này giảm so với trƣớc thử nghiệm 32 lần
đối với Aedes aegypti và hơn 300 lần đối với Aedes albopictus trong 6 tháng áp dụng
chế phẩm. Ở giai đoạn theo dõi tiếp theo (từ tháng 7 đến tháng 12/2015), mật độ quần
thể của cả hai loài Aedes aegypti và Aedes albopictus đều bị khống chế ở mức rất
thấp (< 0,06 con/nhà) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các chỉ số này ở
nhóm đối chứng. Kết quả giám sát dịch tễ học cho thấy khơng có trƣờng hợp nghi
mắc SXHD nào đƣợc ghi nhận tại xã Hoằng Phụ trong suốt thời gian thử nghiệm
(52).
14
Hóa chất ức chế bọ gậy: Pyriproxyfen, sumilarv 2MR
Hóa chất ức chế bọ gậy đƣợc sử dụng từ năm 1995 cho đến nay là
Pyriproxyfen, có tác dụng điều hịa sinh trƣởng của côn trùng với tác động ức chế
giai đoạn phát triển từ bọ gậy thành quăng và không thể nở thành muỗi. Sumilarv
2MR (Pyriproxyfen 2% w/w) là chế phẩm mới do Sumitomo Chemical cơng bố
năm 2014 có độ độc nhóm U- khơng có độc tính cấp (do WHO phân loại) đƣợc sử
dụng ức chế hóc mơn sinh non của bọ gậy. Sumilarv 2MR có cấu tạo dạng nhựa đã
đƣợc tẩm hóa chất, đƣợc WHO khuyến cáo sử dụng trong nƣớc uống với liều sử
dụng 2g cho 40L(53).
Theo tổng hợp các đánh giá của WHO (2017), các thử nghiệm đánh giá hiệu
H
P
lực sumilarv 2MR biện pháp diệt bọ gậy bằng hóa chất ức chế hóc mơn sumilarv
2MR và hóa chất temebate diệt bọ gậy đƣợc đánh giá so sánh. Sau 3 tháng theo dõi,
temebate đã giảm hiệu lực và tỷ lệ diệt bọ gậy Aedes < 80%. Do vấn đề liên quan
đến mùi của hóa chất nhóm OP, Temebate khó đƣợc lựa chọn cho can thiệp các ổ
bọ gậy trong nhà. Kết quả thử nghiệm với hóa chất sumilarv 2MR tại các bể cảnh,
U
dụng cụ phế thải chứa nƣớc trƣớc hiên nhà và sumilarv đƣợc thử nghiệm trong các
lọ hoa trên bàn thờ trong nhà cho tỷ lệ ức chế (IE) đạt 89,80% đến 3 tháng trong
điều kiện phịng thí nghiệm. Kết quả đánh giá phù hợp với nghiên cứu của tác giả
H
Mian về sản phẩm sumilarv 2MR (54).
Tác giả Min O (2018) khi đánh giá hiệu quả diệt bọ gậy của miếng nhựa
sumilarv2MR với véc tơ truyền sốt xuất huyết ở trƣờng học ở Hlaing Thar Yar
Township, Yangon, tỷ lệ của dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy giảm mạnh ở trƣờng học
sử dụng hóa chất diệt bọ gậy larvicide (OR: 0,24, 95% CI: 0,12–0,48) trong khi có
giảm một chút ở trƣờng học không sử dụng (OR: 0, 97, 95% CI: 0,55–1,72), Mật độ
dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy cũng cũng giảm đáng kể ở trƣờng học can thiệp (Beta:
-1,50, 95% CI: -1,98-1,04), nhƣng khơng có sự giảm trong mật độ ở trƣờng không
can thiệp (Beta: 0, 19, 95% CI: -0,53–0,14) (55). Tỷ lệ bọ gậy nở thành muỗi giảm
hơn 20% trong dụng cụ chứa nƣớc thu thập từ trƣờng can thiệp trong 6 tháng, trong
khi tỷ lệ hơn 90% ở dụng cụ chứa nƣớc khơng có hóa chất. Thêm vào đó, miếng
15
nhựa SumiLarv 2MR sau 8 tháng thả vẫn có hiệu quả 100% khi thử nghiệm trong
phịng thí nghiệm (55).
Một nghiên cứu khác của Shafique (2019) cũng cho thấy hiệu quả của
Sumilarv 2MR và sự chấp thuận của cộng đồng khi sử dụng phòng chống bọ gậy
SXHD tại Campuchia (56). Kết quả hiệu lực ức chế của Sumilarv 2MR với bọ gậy
SXHD đạt trên 3 tháng thử nghiệm và làm giảm các chỉ số bọ gậy phù hợp với
nghiên cứu của tác giả Sai Zaw Min Oo (2018) tại Myanmar trong việc thử nghiệm
diệt bọ gậy tại các DCCN ở trƣờng học (55).
Kết quả nghiên cứu Sumilarv 2MR ở Diên Khánh (57) cũng tƣơng tự các
nghiên cứu của Amorim (2019) ở Braxin với 3 hóa chất diệt bọ gậy trong đó có hóa
H
P
chất Pyriproxyfen có hiệu lực ức chế bọ gậy đến 8 tuần (58).
c. Động vật ăn bọ gậy
Các biện pháp sử dụng hóa chất để diệt bọ gậy gây ô nhiễm môi trƣờng và
không an toàn đối với ngƣời sử dụng, vì thế sử dụng động vật ăn bọ gậy là cách đơn
giản, hiệu quả lâu dài, đã đƣợc áp dụng từ xa xƣa và đã trở thành đối tƣợng nghiên
U
cứu của nhiều nhà khoa học. Các loài động vất sống trong nƣớc có thể tấn cơng
đƣợc bọ gây nhƣ: cá, rùa, rệp nƣớc..., trong đó lồi cá và Mesocyclops đƣợc con
ngƣời sử dụng nhiều để tiêu diệt bọ gậy sống trong lu, chậu, bể, ao, hồ.
H
Một nghiên cứu của Trung tâm Y tế Dự phòng Hà Nội nay là Trung tâm
Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội thực hiện trong năm 2017 với 6 loài cá thƣờng
đƣợc sử dụng diệt bọ gậy: cá có kích thƣớc lớn (cá rơ đồng, cá rơ phi, cá vàng) và
cá có kích thƣớc nhỏ (cá bảy màu, cá kiếm, cá chọi). Kết quả nghiên cứu cho thấy,
cả 2 nhóm cá đều có khả năng ăn bọ gậy. Trong đó, các lồi cá cỡ lớn ăn rất nhiều
bọ gậy (trung bình 2.325 bọ gậy/ngày), các lồi cá cỡ nhỏ ăn trung bình 280 bọ
gậy/ngày. Do ƣu thế về kích thƣớc nên các 3 lồi cá có kích thƣớc lớn ăn đƣợc
nhiều bọ gậy/ngày hơn so với 3 lồi cá có kích thƣớc nhỏ. Tuy nhiên khi đánh giá
theo thể trọng cơ thể thì các lồi cá có kích thƣớc nhỏ cho thấy hiệu suất tƣơng
đƣơng so với các lồi cá có kích thƣớc lớn. Theo trọng lƣợng cơ thể, cá vàng ăn
nhiều nhất với trung bình 301 bọ gậy/gram/ngày; cá rơ đồng ăn bọ gậy ít nhất với
trung bình 65 bọ gậy/gram/ngày. Trong số 3 lồi cá có kích cỡ lớn, cá vàng cho thấy
16
khả năng ăn bọ gậy theo thể trọng tốt nhất và ít nhất là cá rơ đồng; cá chọi ăn bọ gậy
theo thể trọng tốt nhất trong số 3 loài cá cỡ nhỏ và ít nhất là cá kiếm (59).
Để diệt bọ gậy Aedes, một số sinh vật ăn bọ gậy nhƣ cá bảy màu guppy,
Cyclopid copepod, Mesocyclops đã đƣợc áp dụng thử nghiệm mang lại hiệu quả
diệt bọ gậy tốt (60). Tác giả Vũ Sinh Nam (2005, 2012) đã thử nghiệm
Mesocyclops tại miền Trung và miền Nam của Việt Nam cho thấy hiệu quả giảm
mật độ muỗi Aedes tại điểm thử nghiệm. Tại Việt Nam, Mesocyclops đã đƣợc
nghiên cứu từ những năm 1990 và ứng dụng vào trong phòng chống SXHD trong
vòng hơn 25 năm trở lại đây. Phƣơng pháp đã đạt đƣợc nhiều hiệu quả tại cả 3 miền
Bắc, Trung, Nam (61).
H
P
Riêng tại các tỉnh phía Nam, mãi tới năm 2001, mơ hình nghiên cứu sử dụng
Mesocyclops làm tác nhân sinh học diệt BG muỗi truyền bệnh SXH mới đƣợc thực
hiện. Năm 2005-2010, dự án "Giảm nguy cơ SXH tại thực địa dự án cung cấp nƣớc
sạch nông thôn khu vực đồng bằng sông Cửu Long" do AUSaiD (Cơ quan Phát
triển Quốc tế Ơxtrâylia) tài trợ chính, cùng sự hợp tác của AFAP (tổ chức Australia
U
vì các dân tộc Châu Á và Thái Bình Dƣơng), QIMR (viện nghiên cứu y học
Queensland), và trƣờng Đại học Công nghệ Queensland (QUT); phối hợp với các
cơ quan thực hiện ở Việt Nam: Cục Y tế dự phịng và Mơi trƣờng, Viện Pasteur Tp.
H
Hồ Chí Minh, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ƣơng, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Long
An, Vĩnh Long và Bến Tre sẽ đảm bảo chỉ sử dụng nguồn Mesocyclops sẵn có tại
địa phƣơng để tiêu diệt BG.
Một nghiên cứu vào năm 2013-2014 của tác giả Trƣơng Đình Định tại thành
phố Đồng Hới với biện pháp nhân thả Mesocyclops trong phòng chống bệnh sốt
xuất huyết đã đạt hiệu quả cao. Các loại dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy Aedes
aegypti cao nhƣ: bể xây 17,6%, chân chạn - lọ hoa - vật phế thải 15,0%, chumphuy-vại-thùng 14,3%. Sự tồn tại của Mesocyclops sau nhân thả đều đạt trên 90%
trong các dụng cụ chứa nƣớc. Mật độ bọ gậy trung bình ở dụng cụ chứa nƣớc giảm
từ 19,8 xuống còn 5,34. Từ tháng 9/2013 đến tháng 7/2014 tại thành phố Đồng Hới
không ghi nhận bệnh nhân sốt xuất huyết nào. Các chỉ số BI và CI đều nằm trong
ngƣỡng trung bình cho phép (62).