BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ PHÚC
H
P
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT
BỆNH TẬT TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2022
U
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II –TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
H
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
Hà Nội –2022
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ PHÚC
H
P
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT
BỆNH TẬT TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2022
U
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II –TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
H
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ BẢO CHÂU
Hà Nội –2022
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, trường
Đại Học Y tế Công cộng đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong q trình học tập và hồn
thành luận văn này.
Xin gửi lời tri ân sâu sắt tới quý thầy, quý cơ đã tận tình giảng dạy lớp Chun
khoa 2 Tổ chức Quản lý y tế Khóa 7, năm học 2020-2022.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn, TS. Lê Bảo Châu đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
H
P
Xin cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk, cùng các
anh chị trong khoa HIV/AIDS, Khoa Truyền thơng Giáo dục sức khỏe, Phịng Kế hoạch
nghiệp vụ của trung tâm đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình
thực hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, những người luôn
U
ủng hộ, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tơi hồn thành luận văn này.
Trân trọng.
H
Học viên
LÊ PHÚC
i
MỤC LỤC
Đặt vấn đề .................................................................................................................1
Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................3
Chương 1: tổng quan tài liệu ....................................................................................4
1.1. Giới thiệu về điều trị Methadone và tuân thủ điều trị Methadone .....................4
1.2. Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone trên thế giới và Việt Nam ................11
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng
Methadone...............................................................................................................16
1.4. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu ..........................................................................23
H
P
1.5. Khung lý thuyết ...............................................................................................25
Chương 2: phương pháp nghiên cứu ......................................................................26
2.1.
Đối tượng nghiên cứu .............................................................................26
2.2.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..........................................................26
2.3.
Thiết kế nghiên cứu ................................................................................27
2.4.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu .....................................27
2.5.
Phương pháp thu thập số liệu .................................................................29
2.6.
Biến số nghiên cứu .................................................................................31
2.7.
Tiêu chuẩn đánh giá ................................................................................32
2.8.
Phương pháp phân tích số liệu ................................................................33
2.9.
Đạo đức trong nghiên cứu ......................................................................34
U
H
Chương 3: kết quả ...................................................................................................35
3.1.
Thông tin chung về người bệnh MMT tham gia nghiên cứu..................35
3.2.
Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone .................................................38
3.3.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thay thế nghiện CDTP bằng
Methadone...............................................................................................................41
Chương 4: bàn luận .................................................................................................53
ii
4.1. Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh đang được quản lý điều trị thay thế
nghiện CDTP bằng methadone tại tỉnh Đắk Lắk ....................................................53
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thay thế nghiện CDTP bằng
methadone ...............................................................................................................56
4.3. Hạn chế nghiên cứu .........................................................................................60
Kết luận ...................................................................................................................61
Tài liệu tham khảo ..................................................................................................63
Phụ lục 1: Bảng biến số nghiên cứu .......................................................................70
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn định lượng ..................................................................78
H
P
Phụ lục 3: Thu thập thông tin từ bệnh án ................................................................86
Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ y tế ...................................................87
Phụ lục 5: Hướng dẫn thảo luận nhóm người bệnh tuân thủ điều trị......................89
Phụ lục 6: Hướng dẫn thảo luận nhóm người bệnh khơng tn thủ điều trị ..........91
H
U
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS
Acquired Immune Deficiency Syndrome (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người)
ARV
Antiretroviral (Thuốc kháng retrovirus)
ATS
Amphetamin Type Stimulants (Ma túy tổng hợp dạng
Amphetamine)
CDC
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật
CBYT
Cán bộ y tế
NB
Người bệnh
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
CDTP
Chất dạng thuốc phiện
HIV/AIDS
Human
U
H
P
Immunodeficiency
Virus/
Acquired
Immune
DeficiencySyndrome (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải ở người)
MMT
H
Methadone Maintenance Therapy (Điều trị thay thế bằng
Methadone)
NCMT
Nghiện chích ma túy
TCMT
Tiêm chích ma túy
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổthơng
CSĐT
Cơ sở điều trị
CSCPT
Cơ sở cấp phát thuốc
iv
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
UNAIDS
United Nations Program on HIV/AIDS (Chương trình Phối
hợp của Liên hợp quốc về Phòng, chống AIDS)
UNODC
United Nations Office on Drugs and Crime (Cơ quan Liên Hiệp
Quốc về Phòng chống Ma tuý và Tội phạm)
H
P
H
U
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (N=185) ..............................35
Bảng 3. 2. Thông tin hành vi nguy cơ trong khi tham gia điều trị của đối tượng
nghiên cứu (N = 185) ................................................................................................37
Bảng 3. 3. Phân bổ tỷ lệ tuân thủ điều trị Methadone (N = 185) ..............................38
Bảng 3. 4. Tỷ lệ tuân thủ điều trị MMT (N = 185) ...................................................39
Bảng 3. 5. Phân bổ tỷ lệ người bệnh gặp khó khăn khi lấy thuốc Methadone do chịu
ảnh hưởng của dịch COVID-19 (N = 185) ...............................................................40
Bảng 3. 6. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và tuân thủ điều trị Methadone
H
P
(N = 185) ...................................................................................................................41
Bảng 3. 7. Thông tin một số yếu tố gia đình, xã hội (N = 185) ................................43
Bảng 3. 8. Thông tin yếu tố môi trường xã hội (N = 185) ........................................45
Bảng 3. 9. Mối liên quan giữa một số yếu tố môi trường xã hội và tuân thủ điều trị
Methadone (N = 185) ................................................................................................48
U
Bảng 3. 10. Thông tin một số yếu tố cung cấp dịch vụ (N=185) ..............................50
Bảng 3. 11. Mối liên quan giữa một số yếu tố cung cấp dịch vụ và tuân thủ điều trị
H
Methadone (N = 185) ................................................................................................51
vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone và một số yếu tố ảnh hưởng
của người bệnh điều trị tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk năm 2022”
được tiến hành từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2022, trong đó thời gian thu thập số
liệu từ tháng 6-7/2022 tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk nhằm tìm hiểu
về thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng của người bệnh điều trị
Methadone tại cơ sở điều trị thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk. Đây
là nghiên cứu cắt ngang kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính;
trong đó, nghiên cứu định lượng sử dụng theo bộ câu hỏi phỏng vấn và nghiên cứu
định tính theo nội dung hướng dẫn được xây dựng sẵn.
H
P
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị Methadone là
82,2% (152 người bệnh). Tỷ lệ người bệnh không tuân thủ điều trị là 17,8% (33 người
bệnh). Lý do chủ yếu của việc không tuân thủ điều trị là bận công việc: 62,1%; quên:
34,5%; không có phương tiện: 17,2%; khơng ai nhắc nhở: 13,8%, muộn giờ: 6,9%,
thay đổi nơi ở: 6,9%, kinh tế khó khăn: 3,5%, có vấn đề về sức khỏe: 3,5%. Các yếu
U
tố ảnh hưởng đến thực trạng tuân thủ điều trị Methadone gồm: Yếu tố cá nhân: Tình
trạng khơng sống cùng vợ/chồng; Yếu tố từ môi trường: Bị kỳ thị/phân biệt đối xử
H
trong 1 tháng qua; Yếu tố ảnh hưởng từ dịch COVID-19: Cảm thấy gặp khó khăn khi
uống thuốc trong dịch COVID-19. Nghiên cứu khơng tìm được các yếu tố từ gia đình,
yếu tố từ dịch vụ điều trị Methadone, yếu tố gia đình có mối liên quan đến thực trạng
tn thủ điều trị Methadone. Tuy nhiên, số liệu định tính lại thể hiện đây là những
yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tuân thủ điều trị.
Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị bao gồm với cơ sở điều trị cần thay đổi quy
trình trong điều trị Methadone; Duy trì tập huấn cho CBYT nhằm nâng cao việc hỗ
trợ tâm lý, tinh thần thái độ phục vụ, giải quyết nhanh gọn các thủ tục hành chính cho
người bệnh; Xem xét triển khai uống thuốc vào khung giờ sớm hơn giờ hành chính;
Với người bệnh: Khi có bất kỳ vấn đề gì khiến việc tuân thủ điều trị Methadone cần
liên hệ với cơ sở điều trị, CBYT để được hỗ trợ trong việc điều trị.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone là
phương pháp điều trị rất hiệu quả, nhằm giảm tái nghiện, hồi phục sức khỏe thể chất,
tinh thần và cải thiện chất lượng cuộc sống, quan hệ gia đình, xã hội, tạo điều kiện để
người nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện
(CDTP) bằng thuốc Methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm sốt, giá thành rẻ,
được sử dụng theo đường uống dưới dạng siro, giúp dự phòng các bệnh lây truyền
qua đường máu như HIV, viêm gan B,C đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức
năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hòa nhập cộng đồng (1).
Hiện nay, công tác điều trị bằng thuốc Methadone đã được triển khai ở một số
H
P
nước trên thế giới cho thấy một số kết quả đáng khích lệ. Tại Trung Quốc, chương
trình điều trị Methadone được triển khai từ năm 2004 và đến năm 2019, có tới hơn
680 cơ sở điều trị Methadone đáp ứng cho khoảng 300.000 người bệnh (2). Nghiên
cứu đánh giá tổng quát giai đoạn 2004 - 2015 của nước này cũng chỉ ra rằng chương
trình Methadone làm giảm tỉ lệ tiêm chích, giảm tỷ lệ các hành vi nguy cơ cao như
U
sử dụng ma túy bất hợp pháp, phạm tội, bạo lực gia đình…trong nhóm người bệnh
sử dụng thuốc Methadone (3). Tại Việt Nam, việc thí điểm điều trị nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đã được triển khai từ năm 2008 tại Hải
H
Phịng và Thành phố Hồ Chí Minh (4). Với sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ, cùng với quyết
tâm mạnh mẽ của Chính phủ, đến tháng 9 năm 2019, toàn bộ 63 tỉnh/thành đã triển
khai điều trị MMT tại 335 cơ sở điều trị MMT và 227 cơ sở cấp phát thuốc với 52.200
người bệnh tham gia và đến 31/12/2020 hơn 52.725 người bệnh điều trị bằng thuốc
Methadone tại 344 cơ sở điều trị người bệnh tham gia (5, 6).
Tuân thủ điều trị là một yếu tố rất quan trọng để giúp người bệnh mau chóng
trở lại cuộc sống bình thường. Việc điều trị phải được thực hiện đúng chỉ định, quy
trình, liều lượng để đảm bảo an toàn và hiệu quả tối đa cho người bệnh. Tuy nhiên,
tuân thủ điều trị Methadone đòi hỏi người bệnh phải kiên trì trên nguyên tắc tự
nguyện, kết hợp với giáo dục, hỗ trợ về tâm lý xã hội, các dịch vụ chăm sóc và điều
trị y tế khác khi có chỉ định (7).
2
Năm 2021, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn ra rất phức tạp, dịch
COVID-19 đã và đang có những tác động to lớn đến mọi mặt đời sống xã hội trên thế
giới cũng như Việt Nam. Việt Nam đến nay đã trải qua 4 làn sóng dịch COVID-19
và dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến chương trình phịng, chống HIV/AIDS
nói chung cũng như cơng tác điều trị cho người bệnh bằng thuốc Methadone nói riêng.
Cụ thể, người bệnh điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone bị đưa vào khu
cách ly, điều trị tại nhà hoặc thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16 của Chính phủ gặp
rất nhiều khó khăn để tiếp cận dịch vụ một cách liên tục. Bộ Y tế đã ban hành Quyết
định số 842/QĐ-BYT, ngày 29 tháng 01 năm 2021 phê duyệt hướng dẫn triển khai
thí điểm cấp phát thuốc Methadonenhiều ngày cho người bệnh điều trị nghiện các
H
P
CDTP nhằm tiếp tục duy trì chương trình điều trị Methadone kết hợp với đáp ứng dự
phòng sự lây lan của COVID-19 (8).
Đắk Lắk bắt đầu triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone từ năm 2015 với 1 cơ sở điều trị đặt tại Trung tâm KSBT tỉnh và 2 cơ sở
cấp phát thuốc tại huyện Huyện Ea Hleo và Huyện Ea Kar. Theo nghiên cứu của tác
U
giả Nguyễn Thị Anh Vân tại Đắk Lắk vào năm 2018, tỷ lệ tuân thủ điều trị của người
bệnh còn khá thấp (63,5%), với các lý do như bận công việc, quên uống thuốc, hay
khó khăn về đi lại (9).
H
Việc đánh giá kết quả việc tuân thủ điều trị trong bối cảnh dịch COVID-19, đưa
ra các giải pháp tăng cường việc tuân thủ điều trị, kết hợp với đáp ứng dự phòng
COVID-19 là công việc cần thiết để làm cơ sở xây dựng các chính sách, hoàn thiện
về cơng tác quản lý hỗ trợ hiệu quả bền vững cho chương trình MMT tại tỉnh Đắk
Lắk. Với yêu cầu đó, nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone và một
số yếu tố ảnh hưởng của người bệnh tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk
Lắk năm 2022” được thực hiện.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị Methadone của người bệnh tại cơ sở điều trị
thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk năm 2022.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị Methadone của người
bệnh tại cơ sở điều trị thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk năm 2022.
H
P
H
U
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về điều trị Methadone và tuân thủ điều trị Methadone
1.1.1. Một số khái niệm
Chất ma túy: Theo Luật phòng, chống ma túy ban hành ngày 30 tháng 3 năm
2021, “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh
mục chất ma túy do Chính phủ ban hành” (10).
Chất gây nghiện: Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ
gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng (10).
Nghiện ma túy: Theo tổ chức Y tế Thế giới, nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc
H
P
về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai, khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp
lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và tình trạng lệ thuộc này
làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma
túy để có được những hiệu ứng về mặt tâm thần của ma túy và thốt khỏi sự khó chịu,
vật vã do thiếu ma túy (11).
U
Người nghiện ma túy: Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý, thuốc
gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này (10, 12).
H
Các chất dạng thuốc phiện (CDTP): Các CDTP như thuốc phiện, Morphin,
Heroin là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); thời gian tác dụng
nhanh nên người bệnh nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ thần kinh
trung ương; thời gian bán hủy ngắn do đó phải sử dụng nhiều lần trong ngày và nếu
không sử dụng lại sẽ bị hội chứng cai. Vì vậy, người nghiện CDTP (đặc biệt Heroin)
ln dao động giữa tình trạng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và tình trạng thiếu
thuốc (hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là nguồn gốc dẫn họ đến những hành vi
nguy hại cho bản thân và những người khác (12).
Hội chứng cai: Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc
giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng
của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng (12).
5
Quá liều: Quá liều là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả
năng dung nạp của cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng
nếu không được cấp cứu kịp thời (12).
Methadone: Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự
như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương
và khơng gây khối cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ)
nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để khơng xuất hiện hội chứng cai.
Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài.
Methadone được hấp thu hoàn toàn và nhanh chóng qua đường uống (Methadone
được hấp thu khoảng 90% qua đường uống). Tác dụng khoảng 30 phút sau khi uống
H
P
và đạt nồng độ tối đa trong máu sau khoảng 3-4 giờ. Thời gian đạt nồng độ ổn định
trong máu khoảng 3-5 ngày sau mỗi lần thay đổi liều điều trị. Methadone liên kết với
albumine, protein huyết tương khác và các mơ (đặc biệt là phổi, gan, thận). Do vậy,
Methadone có hiệu quả tích lũy và tốc độ thải trừ chậm (tỷ lệ gắn kết protein huyết
tương từ 60-90%). Methadone đi qua hàng rào rau thai và bài tiết qua sữa. Thời gian
U
bán hủy trung bình 24 giờ. Đặc tính dược động học của Methadone thay đổi theo từng
người nghiện. Methadone chuyển hóa chủ yếu ở gan thơng qua men cytochrome
P450, chất chuyển hóa của Methadone khơng có tác dụng. Methadone thải trừ chủ
H
yếu qua nước tiểu, ngoài ra còn qua phân, mồ hôi và nước bọt (12).
Tác dụng không mong muốn của Methadone: các tác dụng không mong muốn
phổ biến của Methadone bao gồm táo bón, khơ miệng và tăng tiết mồ hôi. Các triệu
chứng: rối loạn giấc ngủ, buồn nôn, nôn, giãn mạch và gây ngứa, rối loạn kinh nguyệt
ở phụ nữ, chứng vú to ở đàn ông, rối loạn chức năng tình dục, giữ nước, tăng cân ít
gặp hơn và có thể khơng liên quan đến Methadone. Hầu hết những người nghiện
CDTP có ít tác dụng khơng mong muốn, tuy nhiên triệu chứng táo bón, rối loạn chức
năng tình dục, tăng tiết mồ hơi, có thể vẫn tồn tại trong quá trình điều trị (12).
1.1.2. Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone
Khái niệm: là một điều trị lâu dài, có kiểm sốt, giá thành rẻ, được sử dụng theo
đường uống nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm
6
gan B, viêm gan C đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao
động và tái hoà nhập cộng đồng.
Mục đích của Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone: Việc
điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu
sau: Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B, C do
sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP và hoạt
động tội phạm và giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP
đồng thời cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống
lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội (12).
* Chỉ định điều trị bằng thuốc Methadone
H
P
Thuốc Methadone được chỉ định trong các trường hợp sau:
- Điều trị từ đau vừa đến đau nặng, các cơn đau mãn tính.
- Điều trị các triệu chứng của hội chứng cai khi cắt cơn giải độc nghiện các chất
dạng thuốc phiện (như là Heroin và Morphine).
U
- Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện.
* Chống chỉ định điều trị bằng thuốc Methadone
H
- Dị ứng với Methadone và các tá dược của thuốc.
- Các bệnh gan nặng, bệnh gan mất bù.
- Suy hơ hấp nặng, hen cấp tính, chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ, viêm loét
đại tràng, co thắt đường tiết niệu và đường mật.
- Các rối loạn tâm thần nặng mà chưa được điều trị ổn định: tâm thần phân liệt,
rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm có ý tưởng và hành vi tự sát.
- Đang điều trị bằng thuốc đồng vận, đối vận, hoặc vừa đồng vận vừa đối vận với
CDTP (LAAM, naltrexone, buprenorphine).
Thận trọng khi chỉ định cho các đối tượng sau:
+ Người bệnh nghiện nhiều loại ma túy.
7
+ Người bệnh nghiện rượu.
+ Người bệnh sử dụng đồng thời các thuốc gây tương tác thuốc.
+ Người bệnh có tiền sử sử dụng Naltrexone.
+ Người bệnh tâm thần đang sử dụng các thuốc hướng thần.
+ Người bệnh bị các bệnh mãn tính, hen phế quản, suy thượng thận, suy giáp, phì
đại tuyến tiền liệt, đái tháo đường.
Nguyên tắc chung điều trị bằng Methadone: Người bệnh phải tự nguyện tham
gia điều trị; Liều Methadone phải phù hợp với từng người bệnh dựa trên nguyên tắc
bắt đầu với liều thấp, tăng từ từ và duy trì ở liều đạt hiệu quả; Điều trị bằng thuốc
H
P
Methadone là điều trị duy trì lâu dài, thời gian điều trị phụ thuộc vào từng người bệnh
nhưng không dưới 1 năm; Điều trị bằng thuốc Methadone cần phải kết hợp với tư
vấn, hỗ trợ về tâm lý xã hội, các dịch vụ chăm sóc và điều trị y tế khác khi có chỉ định
để điều trị đạt hiệu quả cao; Người đứng đầu cơ sở điều trị chỉ cung cấp thông tin về
người bệnh cho các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu hoặc cho người khác khi
U
được sự đồng ý của người bệnh (12).
Tư vấn điều trị: Tư vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội đóng vai trị quan trọng trong
H
điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm mục đích tăng cường
ý thức trách nhiệm, tuân thủ điều trị, dự phòng tái nghiện, hướng tới lối sống lành
mạnh và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng. Tư vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội bao gồm: tư
vấn cá nhân; tư vấn và giáo dục nhóm; tư vấn cho gia đình và nhóm hỗ trợ đồng đẳng
trước, trong và sau quá trình điều trị (12).
1.1.3. Tuân thủ điều trị Methadone
Một số tài liệu của Bộ Y tế có đưa ra định nghĩa về tuân thủ điều trị, tuy nhiên,
tùy vào mục đích của tài liệu mà khái niệm được nêu ra rộng hẹp khác nhau. Trong
Quyết định 3140/QĐ-BYT ban hành ngày 30 tháng 08 năm 2010 có nêu: Tuân thủ
điều trị là người bệnh phải uống thuốc Methadone hàng ngày dưới sự giám sát của
CBYT để đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn (12). Tài liệu tập huấn tư vấn viên
điều trị Methadone lại nêu ra khái niệm tuân thủ điều trị rộng hơn, bao gồm cả việc
8
tuân thủ các quy định về chuyên môn khác: Tuân thủ điều trị là việc hàng ngày đến
khám và điều trị Methadone để được uống thuốc đúng liều, đúng giờ mỗi ngày trong
suốt quá trình MMT. Đến đúng lịch hẹn để bác sĩ khám, tư vấn, xét nghiệm và một
số lịch hẹn khác (13).
Tuân thủ điều trị Methadone là yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo người bệnh
cai nghiện được ma túy và đóng góp vào thành cơng của chương trình điều trị
Methadone. Theo hướng dẫn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
Methadone của Bộ Y tế người bệnh hàng ngày phải đến cơ sở điều trị Methadone
uống thuốc với sự giám sát của cán bộ y tế để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
Cục Phịng, chống HIV/AIDS đã ban hành cơng văn số 362/AIDS-DP ngày 13 tháng
H
P
5 năm 2021 về việc thực hiện cấp phát thuốc Methadone trong trường hợp người bệnh
bị cách ly hoặc cơ sở bị phong tỏa, cách ly do dịch COVID-19.
Không tuân thủ: Nghĩa là bỏ điều trị khi người bệnh không đến cơ sở điều trị
uống Methadone đều đặn hàng ngày hoặc không nhận thuốc Methadone được cấp về
nhà. Người bệnh bỏ điều trị được phân theo các mức độ và xử trí như sau:
U
- Bỏ uống 1-3 ngày: không thay đổi liều Methadone đang điều trị.
- Bỏ uống 4-5 ngày: cho 1/2 liều người bệnh vẫn uống trước khi dừng điều
trị.
H
- Bỏ uống > 5 ngày liên tục (bỏ từ 6 - đến 30 ngày liên tục): khởi liều
Methadone lại từ đầu khi người bệnh quay lại uống thuốc.
- Bỏ hẳn điều trị Methadone: người bệnh khơng uống thuốc > 30 ngày nên
ra khỏi chương trình điều trị Methadone. Người bệnh phải làm thủ tục như người
bệnh mới khi muốn quay lại điều trị.
9
Trong nghiên cứu của chúng tôi, người bệnh không tuân thủ điều trị methadone
là người bệnh không đến uống thuốc tại cơ sở, hoặc không nhận thuốc Methadone
được cấp về nhà và/hoặc tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị thơng qua
kết quả xét nghiệm nước tiểu được lưu trong hồ sơ bệnh án.
* Theo dõi tuân thủ điều trị
Người bệnh phải uống thuốc Methadone hàng ngày dưới sự giám sát của cán bộ
y tế để đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn.
Các biện pháp hỗ trợ tuân thủ điều trị bao gồm:
- Tư vấn cho người bệnh và gia đình.
H
P
- Hướng dẫn người bệnh và gia đình biết cách xử trí các tác dụng không mong
muốn và các diễn biến bất thường trong quá trình điều trị.
- Phối hợp với gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên và giúp đỡ
người bệnh tuân thủ điều trị.
U
* Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc Methadone
Không uống thuốc Methadone hàng ngày sẽ làm cho nồng độ huyết tương của
H
Methadone không được duy trì, tác động dung nạp chéo với heroin giảm, làm giảm
khả năng của điều trị duy trì bằng Methadone đối với giảm tác động phê của đồng sự
dụng heroin, đồng nghĩa với việc xuất hiện hội chứng cai, thèm nhớ heroin, nguy cơ
tái sử dụng heroin và tái nghiện cao.
1.1.4. Các chính sách liên quan đến điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc
phiện bằng Methadone
Đến nay Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn điều
trị thay thế các CDTP bằng Methadone; để các địa phương có căn cứ thực hiện, tạo
điều kiện thuận lợi để công tác điều trị thay thế các CDTP bằng Methedone đạt kết
quả cao. Chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone được chính
thức triển khai từ tháng 4/2008. Ngay sau đó tháng 10/2008, Bộ Y tế đã ra quyết định
10
số 4230/QĐ-BYT về việc ban hành tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp dược phẩm tham
gia sản xuất thuốc Methadone tại Việt Nam (14). Ngày 30/8/2010 Bộ Y tế ban hành
Quyết định số 3140/QĐ-BYT về việc hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng Methadone (15).
Ngày 15/11/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2012/NĐ-CP về điều
trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế(16). Ngay sau khi Chính
phủ ban hành Nghị định số 96/2012/NĐ-CP, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số
12/2013/TT-BYT ngày 12/04/2013 về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định
96(17). Cũng theo nội dung của 2 văn bản này, trong giai đoạn tiếp theo, chương trình
Methadone có thể được nhân rộng với tốc độ nhanh hơn, cứ mỗi quận huyện có trên
H
P
250 người nghiện chích ma túy thì UBND tỉnh/thành phố phải thành lập cơ sở điều
trị Methadone. Liên quan đến cơ sở điều trị này thì vào ngày 15/10/2013, Bộ Y tế đã
có cơng văn số 6544/BYT-KH-TC về việc hướng dẫn thực hiện khung giá dịch vụ
điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện tại các cơ sở điều trị nghiện CDTP quy định
tại Nghị định số 96/2012/NĐ-CP. Sở Y tế các tỉnh thành phố cần căn cứ theo công
U
văn này để xác định khung giá chi tiết của từng dịch vụ khi thực hiện xã hội hóa
chương trình Methadone tại địa phương (18).
Thơng tư liên tịch số 25/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 16/7/2014 của Bộ Y tế và
H
Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ khám,
điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế (19). Thông tư số 35/TT-BYT ngày
13/11/2014 của Bộ Y tế quy định mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở xây dựng giá dịch
vụ điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế (20).Thông tư liên tịch số
02/2015/TTLT-BCA_BQP-BYT ngày 22/01/2015 về việc Hướng dẫn công tác quản
lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại
trạm giam, trạm tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trưởng giáo dưỡng
(21). Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3509/2015/QĐ-BYT Hướng dẫn tổ chức thực
hiện điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại cơ sở cấp
phát thuốc Methadone (22). Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định
90/2016/NĐ-CP quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
11
thay thế vào ngày 01/07/2016 thay thế Nghị định số 96/2012/NĐ-CP về điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (23). Trong năm 2017, Bộ Tài
Chính ban hành Thông tư 73/2017/TT-BTC quy định quản lý và sử dụng nguồn ngân
sách nhà nước bảo đảm, hỗ trợ chi phí khám sức khỏe và chi phí điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (24).
Tại Việt Nam ngày 01/4/2020 Thủ tướng chính phủ cơng bố dịch COVID-19
bệnh truyền nhiễm nhóm A trên phạm vi cả nước theo Quyết định 447/QĐ-TTg ngày
01/4/2020 (25). Ngày 29/01/2021, Bộ Y tế đã ban hành công văn số 842/QĐ-BYT
quyết định về việc phê duyệt hướng dẫn triển khai thí điểm cấp phát thuốc methadone
nhiều ngày cho người bệnh điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện (4). Ngày
H
P
13/05/2021, Cục Phòng, chống HIV/AIDS đã ban hành công văn số 362/AIDS-DP
về thực hiện cơng tác phịng chống dịch COVID-19 tại các cơ sở điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngay sau đó, ngày 03/09/2021, Bộ Y tế
đã ban hành công văn số 7301/BYT-AIDS gửi Sở Y tế các tỉnh/thành phố hướng dẫn
cấp phát thuốc Methadone về nhà trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ
U
thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ (26). Cơng văn này làm tiền đề để Bộ Y tế
ban hành quyết định số 569/QĐ-BYT ngày 09 tháng 03 năm 2022 về việc phê duyệt
hướng dẫn triển khai thí điểm cấp thuốc Methadone nhiều ngày cho người bệnh điều
H
trị nghiện các chất dạng thuốc phiện (27).
1.2. Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Trong chương trình điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone,
việc tuân thủ điều trị (TTĐT) lâu dài đối với người bệnh mang tính chất bắt buộc.
Trên thế giới, tuy các nghiên cứu sử dụng các định nghĩa về tuân thủ điều trị khác
nhau, tỷ lệ tuân thủ điều trị có sự khác biệt giữa các khu vực và các quốc gia nhưng
nhìn chung tỷ lệ tuân thủ tuyệt đối trong các nghiên cứu nước ngoài ở mức dưới 75%.
Tại một số nước, tỷ lệ không tuân thủ điều trị được ghi nhận còn tương đối cao.
Tại Trung Quốc, Gu J và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thuần tập trên 158 người
12
bệnh tham gia trương trình điều trị lần đầu tại 03 trong số 09 cơ sở điều trị Methadone
tại Quảng Châu. Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm hiểu những quan niệm sai lầm dẫn
đến bỏ trị và TTĐT kém ở người bệnh tham gia chương trình điều trị nghiện CDTP
lần đầu. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ không TTĐT trong 6 tháng kể từ khi tham gia
chương trình điều trị là 62% (95%CI: 54.2-69.6%) (28). Tại Nepal, Vikas Shama và
cộng sự tiến hành một cuộc điều tra cắt ngang nhằm xác định tỉ lệ TTĐT và các yếu
tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ chương trình điều trị duy trì bằng Methadone trong
số những người NCMT tại hai quận Kathmandu và Latipur vào năm 2015. Trong
nghiên cứu này, 165 người bệnh có độ tuổi từ 20-54 đã được thu nhập thơng tin bắng
phiếu phỏng vấn cấu trúc. Kết quả có 72,2% đối tượng nghiện TTĐT tốt, 18,8%
H
P
TTĐT trung bình và và 9,1% TTĐT kém (29).
Năm 2017, Baharuddin và cộng sự đã tiến hành một đánh giá hồi cứu giai đoạn
từ tháng 1 đến tháng 12 tại 14 phòng khám thuộc tỉnh Kelantan, Malaysia. Qua kết
quả theo dõi 155 người bệnh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, tác
giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ không tuân thủ dẫn đến bỏ trị của người bệnh là 21,9% (13).
U
Một nghiên cứu khác cùng thời điểm được tác giả Zhou và cộng sự tiến hành lấy số
liệu của 14 phòng điều trị Methadone tại Tây An, Trung Quốc. Mức độ tuân thủ điều
trị được chia thành các mức độ: Tuân thủ tốt: >90% số ngày sử dụng thuốc, Tuân thủ
H
trung bình: 50-90% số ngày uống thuốc, Tuân thủ kém: <50% cho thấy, chỉ có 11,8%
người bệnh Methadone tuân thủ tốt (16).
Năm 2018, tại Iran, tác giả Nabavi và Ahamadipour đã tiến hành nghiên cứu cắt
ngang trên 334 người bệnh điều trị tại tỉnh Kerman, phía đơng nam Iran. Các người
bệnh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn, được
trả lời bằng hình thức phát vấn tự điền. Tình trạng tuân thủ điều trị Methadone được
đánh giá dựa trên thời điểm trong 3 ngày và 30 ngày qua. Kết quả: 71,6% người bệnh
không tuân thủ điều trị, 6,6% rất khơng tn thủ và chỉ có 21,8% người bệnh tuân thủ
điều trị (12). Cùng thời điểm năm 2018, tác giả Bin Yu đã thực hiện một nghiên cứu
cắt ngang với 581 đối tượng tham gia tại Tứ Xuyên, Trung Quốc. Kết quả thu được:
tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị là 79,3% trong vòng 6 tháng (3).
13
Năm 2020, tại Đài Loan, tác giả Enchao tiến hành hồi cứu số liệu về tình trạng
tuân thủ điều trị trong 90 ngày. Các mức độ tuân thủ điều trị được phân loại thành
cao (>90%), trung bình (51 – 90%), và thấp (<=50%). Kết quả nghiên cứu cho thấy,
chỉ có 28,5% người bệnh có tuân thủ điều trị ở mức cao, 40,2% ở mức trung bình và
31,3% ở mức thấp (30).
1.2.2. Tại Việt Nam
Số lượng người bệnh điều trị MMT tại Việt Nam qua các năm
60000
51318 52818 52219 52200 52725
50000
44078
H
P
40000
30000
23160
20000
10000
1735
6931
0
Năm
2009
Năm
2011
U
Năm
2014
Năm
2015
Năm
2016
Năm
2017
Năm
2018
Năm
2019
Năm
2020
Hình 1.1: Số người bệnh điều trị Methadone tại Việt Nam
H
Từ năm 2008, mơ hình điều trị MMT là mơ hình cai nghiện tại cộng đồng đang
được quan tâm và chú trọng nhất được thí điểm tại 2 thành phố lớn là Hải Phịng và
Hồ Chí Minh. Từ 1.735 người bệnh với 6 cơ sở đến năm 2020 đã tăng lên 52.725
người bệnh với 344 cơ sở trên 63 tỉnh/ thành phố (6).
14
Số lượng cơ sở điều trị Methadone tại Việt Nam qua các năm
321
335
344
280
294
Năm
2016
Năm
2017
Năm
2018
Năm
2019
Năm
2020
400
245
300
200
127
100
6
41
0
Năm
2009
Năm
2011
Năm
2014
Năm
2015
Hình 1.2: Số cơ sở điều trị Methadone tại Việt Nam
H
P
Một trong những nghiên cứu nổi bật tại Việt Nam liên quan đến tuân thủ điều
trị Methadone là nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị
nghiện các chất thuốc phiện bằng Methadone dưới sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển
Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), được thực hiện bởi tổ chức FHI 360 trong giai đoạn 20092011. Đây là một nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 965 người bệnh MMT được thực
U
hiện tại Hải Phịng và Tp. Hồ Chí Minh. Người bệnh được theo dõi trong vòng 2 năm
11/2009 – 11/2011. Các chỉ số được đo lường định kỳ theo các thời điểm 3,6,9,12 và
18 tháng. Mức độ tuân thủ điều trị trong nghiên cứu được chia là gián đoạn 1-2 ngày,
H
gián đoạn điều trị 3 – 4 ngày, gián đoạn >= 5 ngày. Tại thời điểm 3 tháng đầu, tỷ lệ
người bệnh MMT bỏ liều trong vòng 1-2 ngày là 11,5%, tuy nhiên tỷ lệ này tăng dần
theo thời gian nghiên cứu – đạt đỉnh với 33,4% giữa tháng 12 đến tháng 18. Trong
giai đoạn cuối nghiên cứu (từ tháng 18 đến tháng 24), tỷ lệ người bệnh bỏ liều trong
khoảng từ 1 – 2 ngày là 27,6%. Tỷ lệ người bệnh gián đoạn điều trị trong vòng 3 – 4
ngày, hay từ 5 ngày trở lên dao động từ 1 đến 3% tại các mốc đo lường (39).
Phạm Thị Bích tại Hải Dương năm 2015 tiến hành nghiên cứu về tuân thủ điều
trị Methadone tại huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương, tỷ lệ tuân thủ điều trị là 78,7%
(31). Cùng năm, Nguyễn Dương Châu Giang tại Đà Nẵng năm 2015 cũng thực hiện
nghiên cứu có 73,4% người bệnh tuân thủ điều trị và trong số những người bệnh
không tuân thủ điều trị, 3,1% bỏ thuốc 4 - 5 ngày liên tiếp và 5,4% bỏ thuốc trên 5
ngày (32).
15
Năm 2018, tác giả Trần Xuân Bách tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 241
người bệnh nhằm đánh giá mức độ tuân thủ điều trị tại tỉnh Tuyên Quang. Tuân thủ
điều trị Methadone được đánh giá bằng các câu hỏi: Số ngày bỏ liều trong vịng 4
ngày qua, liệu có bỏ liều tại cuối tuần gần nhất, hay có thời điểm bỏ liều trong vòng
3 tháng gần nhất. Tuân thủ điều trị được xác định khi người bệnh trả lời “Khơng” cho
cả 3 câu hỏi trên. Kết quả: chỉ có 34,4% người bệnh tuân thủ điều trị (20).
Cùng thời điểm, tác giả Lê Anh Tuấn thực hiện nghiên cứu về tuân thủ điều trị
của 395 người bệnh ở các cơ sở y tế công và tư nhân tại Nam Định (33). Nghiên cứu
sử dụng thang đo VAS để xác định tình trạng tuân thủ điều trị. Kết quả nghiên cứu
cho thấy: có 43,3% đối tượng tham gia báo cáo hoàn toàn tuân thủ điều trị trong thời
H
P
gian nghiên cứu. Một số các yếu tố liên quan có thể kể đến như là thu nhập gia đình,
lịch sử tiêm chích, khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị và chỉ có một đồng đẳng
(27).
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thị Nương về thực trạng và các yếu
tố liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone tại Ninh Bình năm 2018 sử dụng số liệu
U
hồi cứu từ bệnh án của 164 người bệnh đưa ra tỷ lệ tuân thủ điều trị là 64,6% (26).
Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu tác giả Thái Thanh Trúc thu được
khi tiến hành nghiên cứu cắt ngang tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 đến tháng
H
7 năm 2018. Tác giả Thái Thanh Trúc đã tiến hành nghiên cứu trên 450 người bệnh
từ 3 phòng khám tại Quận 6, Quận 8 và Quận Bình Thạnh. Mức độ tuân thủ điều trị
được đánh giá trên hai tiêu chí tương tự như nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Bách
tại Hà Nội năm 2013 (18). Tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị được báo cáo là 61,8%.
Một số yếu tố ảnh hưởng có thể kể đến là tuổi, thời gian sử dụng thuốc, trình độ học
vấn, tình trạng hơn nhân, thời gian đi đến cơ sở điều trị (18).
Tại tỉnh Đắk Lắk, tác giả Nguyễn Thị Anh Vân và các cộng sự đã thực hiện
nghiên cứu tại cơ sở điều trị Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk vào
năm 2018. Tình trạng tn thủ điều trị được tính theo số lần không uống Methadone
trong 30 ngày gần nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều
trị là 63,5% trong tổng số 277 người bệnh tham gia nghiên cứu. Những lý do bỏ liều
16
của người bệnh có thể kể đến 64,4% bận cơng việc, 21,8% quên đi uống thuốc, 5%
khó khăn đi lại, 2% không muốn đến. Các yếu tố liên quan được trình bày gồm các
yếu tố giới, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế, số năm sử dụng ma túy, số
lần tiêm chích ma túy/ngày (21).
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thay thế nghiện các CDTP
bằng Methadone
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học (tuổi,
giới, trình độ học vấn, tình trạng hơn nhân, …), yếu tố hỗ trợ của gia đình và xã hội,
đặc điểm mơi trường và sự cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng đến tình trạng tuân thủ
điều trị của người bệnh. Cụ thể:
H
P
Đặc điểm nhân khẩu học
Độ tuổi: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ở độ tuổi càng cao, người bệnh càng có
xu hướng tuân thủ điều trị tốt hơn. Shen J và cộng sự thực hiện nghiên cứu tại Vân
Nam năm 2016; kết quả thu được cho thấy những người trẻ có tỷ lệ TTĐT kém cao
U
hơn 1,04 lần so với những người có độ tuổi cao hơn (p<0,05) (34). Zhou K cũng đưa
ra kết luận tương tự khi chỉ ra rằng độ tuổi trên 30 là yếu tố bảo vệ đối với tình trạng
TTĐT (p<0,05) (35). Nghiên cứu của tác giả Vikas Sharma lại đưa ra kết quả khác:
H
tỷ lệ TTĐT tốt ở nhóm dưới 30 tuổi cao nhất (73,5%), tiếp đó là nhóm từ 40 trở lên
(72,7%), và nhóm từ 30 – 39, tuy nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa trong
nghiên cứu (29). Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Thái Thanh Trúc cho thấy
mức độ TTĐT tốt ở nhóm người trẻ (OR = 1,08, 95%CI=1,02–1,14). Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).Ngược lại, nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Bách
tại Hà Nội lại cho thấy tuổi cao có liên quan đến việc bỏ liều thấp hơn so với nhóm
tuổi trẻ hơn (OR = 0,94; 95%CI = 0,90–0,99) (36).
Giới: Tình trạng TTĐT ở nữ giới được cho là tốt hơn nam giới theo một số
nghiên cứu. Người bệnh nữ có tỷ lệ tuân thủ điều trị Methadone cao hơn trong nghiên
cứu của Asheushi tại Tazania năm 2013 (37) và của Roux tại Pháp năm 2014 (38).
Nghiên cứu của tác giả Zhou K cũng chỉ ra rằng nữ giới là yếu tố bảo vệ đối với tình