BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
----------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
H
P
TÊN ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CHẤT KÍCH THÍCH
DẠNG AMPHETAMINE VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC HÀNH
VI TÌNH DỤC KHƠNG AN TỒN CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM
U
TẠI HÀ NỘI
H
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
----------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
TÊN ĐỀ TÀI
H
P
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CHẤT KÍCH THÍCH DẠNG
AMPHETAMINE VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC HÀNH VI
TÌNH DỤC KHƠNG AN TỒN CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM TẠI
HÀ NỘI
U
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
H
Mã số: 60.72.03.01
Hướng dẫn khoa học:
TS. Hồ Thị Hiền
HÀ NỘI, 2013
LỜI CẢM ƠN
Với lịng kính trọng, tơi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình,
đã là người hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi và là chỗ dựa vững chắc để tơi có thể
hồn thành q trình học tập của mình.
Tơi xin bảy tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS. Hồ Thị Hiền,
người đã đồng ý cho tôi sử dụng một phần bộ số liệu thứ cấp và đã tận tình hướng dẫn,
truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm q báu trong suốt q trình làm luận
văn. Khóa luận này khơng thể hồn thành nếu khơng có sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ.
Tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng tồn thể các thầy giáo, cơ giáo
H
P
trường Đại học Y tế Công cộng đã trang bị kiến thức cho tơi trong q trình học tập,
xây dựng đề cương nghiên cứu và giám sát phân tích số liệu tại trường để tơi có thể
hồn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Tổ chức Sức khỏe
Gia đình Quốc tế 360, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, cùng với những góp ý, hướng dẫn
U
tơi trong suốt q trình làm luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
H
Hà Nội, ngày 30 tháng 07 năm 2013
DANH MỤC VIẾT TẮT
ATS
Chất kích thích dạng Amphetamine (Amphetamine-Type
Stimulants)
BCS
Bao cao su
BKT
Bơm kim tiêm
HIV
Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
IBBS
Điều tra lồng ghép hành vi kết hợp chỉ số sinh học
MDĐP
Mại dâm đường phố
MDNH
Mại dâm nhà hàng
MSM
Nam quan hệ tình dục đồng giới
PNMD
Phụ nữ mại dâm
QHTD
Quan hệ tình dục
QHTDTT
Quan hệ tình dục tập thể
STIs
Các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
UNODC
Cơ quan Phịng, chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
H
U
H
P
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................................... 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 3
H
P
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................................... 4
1.1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu ............................................................ 4
1.1.1. Chất kích thích dạng Amphetamine ....................................................................... 4
1.1.2. Những ảnh hưởng của việc sử dụng ATS ............................................................. 4
1.1.3. Định nghĩa và phân loại phụ nữ mại dâm ............................................................. 5
U
1.2. Tình hình mại dâm tại Việt Nam .............................................................................. 5
1.3. Tổng quan các nghiên cứu về ATS trong nhóm PNMD ......................................... 6
1.3.1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD ....................................................... 6
H
1.3.1.1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD trên thế giới ................................. 6
1.3.1.2. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD tại Việt Nam ................................. 8
1.3.2.
Một số yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS ........................................... 10
1.3.2.1. Một số yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS trên thế giới ......................... 10
1.3.2.2. Một số yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS tại Việt Nam ......................... 11
1.3.3. Mối liên quan giữa việc sử dụng ATS và các hành vi tình dục khơng an tồn
trong nhóm PNMD trên thế giới. .................................................................................... 12
1.3.3.1. Hành vi sử dụng Bao cao su không thường xuyên............................................. 12
1.3.3.2. Hành vi Quan hệ tình dục tập thể ...................................................................... 14
1.3.4. Mối liên quan giữa sử dụng ATS và các hành vi tình dục có nguy cơ lây
nhiễm HIV trong các nghiên cứu tại Việt Nam.............................................................. 15
1.3.4.1. Hành vi sử dụng Bao cao su không thường xuyên............................................. 15
1.3.4.2. Hành vi Quan hệ tình dục tập thể trong nhóm PNMD tại Việt Nam ................. 16
1.4. Khung lý thuyết ........................................................................................................ 18
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 20
2.1. Giới thiệu về một phần bộ số liệu thứ cấp ............................................................. 20
2.2. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................... 22
H
P
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu .......................................................................... 22
2.4. Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu ....................................................................... 23
2.5. Các biến số nghiên cứu ............................................................................................ 20
2.6. Các khái niệm, thước đo tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu ......................... 20
U
2.7. Phương pháp phân tích số liệu ................................................................................ 21
2.8. Đạo đức nghiên cứu.................................................................................................. 21
H
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ................................................................................................. 25
3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng tham gia nghiên cứu ............................. 25
3.2. Thực trạng sử dụng các chất kích thích dạng Amphetamine .............................. 26
3.2.1. Tỷ lệ đã từng sử dụng các chất kích thích dạng Amphetamine.......................... 26
3.2.2. Sử dụng ATS trong 90 ngày qua .......................................................................... 26
3.2.3. Cách thức sử dụng ATS ........................................................................................ 27
3.2.4. Địa điểm sử dụng ATS .......................................................................................... 28
3.2.5. Chất sử dụng kèm với ATS ................................................................................... 28
3.2.6. Sử dụng ATS theo nhóm....................................................................................... 29
3.2.7. Thời điểm sử dụng ATS ........................................................................................ 30
3.2.8. Sử dụng ATS với khách hàng............................................................................... 30
3.2.9. Sử dụng ATS và hành nghề mại dâm .................................................................. 31
3.3. Các yếu tố liên quan tới việc sử dụng ATS ............................................................ 31
3.3.1. Các yếu tố liên quan tới việc sử dụng hồng phiến............................................... 31
3.3.2. Các yếu tố liên quan tới việc sử dụng thuốc lắc .................................................. 35
3.3.3. Các yếu tố liên quan tới việc sử dụng đá ............................................................. 39
3.4. Mối liên quan với các hành vi tình dục nguy cơ cao lây nhiễm HIV .................. 43
3.4.1. Sử dụng bao cao su không thường xuyên khi QHTD với khách lạ trong 90
ngày trước nghiên cứu ..................................................................................................... 43
H
P
3.4.2. Sử dụng BCS không thường xuyên khi QHTD với khách quen trong 90 ngày
trước nghiên cứu .............................................................................................................. 46
3.4.3. Hành vi QHTDTT trong nhóm PNMD ................................................................ 49
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN .............................................................................................. 54
U
4.1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD ....................................................... 54
4.2. Các yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS ...................................................... 57
H
4.3. Mối liên quan giữa hành vi sử dụng ATS và các hành vi tình dục có nguy cơ
lây nhiễm HIV ................................................................................................................. 59
4.3.1. Hành vi sử dụng BCS không thường xuyên khi QHTD với khách hàng trong
90 ngày qua ....................................................................................................................... 59
4.3.2. Hành vi quan hệ tình dục tập thể ......................................................................... 61
4.3.3. Hạn chế của nghiên cứu....................................................................................... 62
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 64
5.1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD ....................................................... 64
5.2. Các yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS ...................................................... 64
5.3. Mối liên quan với các hành vi QHTD có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS ............ 65
KHUYẾN NGHỊ.............................................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 67
PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 72
Phụ lục 1: Các biến số trong nghiên cứu ...................................................................... 72
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn ................................................................................... 77
Phụ lục 3: Phiếu cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu .............................................. 86
Phụ lục 4: Trang thông tin dành cho người tham gia nghiên cứu.............................. 87
H
P
Phụ lục 5: Phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu ...................................................... 88
H
U
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Thông tin nhân khẩu học .................................................................................. 25
Bảng 3.2: Hành vi sử dụng ATS ....................................................................................... 26
Bảng 3.3: Sử dụng các loại ATS ....................................................................................... 26
Bảng 3.4: Sử dụng ATS trong 90 ngày trước nghiên cứu................................................. 27
Bảng 3.5: Hình thức sử dụng ATS .................................................................................... 28
Bảng 3.6: Địa điểm sử dụng ATS ..................................................................................... 28
Bảng 3.7: Chất sử dụng kèm với ATS .............................................................................. 29
Bảng 3.8: Hành vi sử dụng ATS theo nhóm ..................................................................... 29
H
P
Bảng 3.9: Thời điểm thường sử dụng ATS ....................................................................... 30
Bảng 3.10: Sử dụng ATS với khách ................................................................................. 31
Bảng 3.11: Sử dụng ATS và hành nghề mại dâm ............................................................. 31
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và hành vi sử dụng hồng phiến ........ 33
Bảng 3.13: Mơ hình hồi quy logistic xác định các yếu tố liên quan tới việc sử dụng
U
hồng phiến ......................................................................................................................... 35
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và hành vi sử dụng thuốc lắc ........... 37
Bảng 3.15: Mơ hình hồi quy logistic xác định các yếu tố liên quan tới việc sử dụng
H
thuốc lắc ............................................................................................................................ 39
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và hành vi sử dụng đá ...................... 41
Bảng 3.17: Mô hình hồi quy logistic xác định các yếu tố liên quan tới việc sử dụng đá . 43
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và hành vi dùng BCS không thường
xuyên khi QHTD với khách lạ .......................................................................................... 44
Bảng 3.19: Mơ hình hồi quy logistic xác định các yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng
BCS không thường xuyên khi QHTD với khách lạ .......................................................... 46
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với hành vi dùng BCS không thường
xuyên khi QHTD với khách quen ..................................................................................... 47
Bảng3.21: Mơ hình hồi quy logistic xác định các yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng
BCS không thường xuyên khi QHTD với khách quen. .................................................... 49
Bảng 3.22: Hành vi QHTDTT trong nhóm PNMD .......................................................... 50
Bảng 3.23: Mối liên quan hai biến giữa các yếu tố và hành vi QHTDTT ........................ 51
Bảng 3.24: Mơ hình hồi quy logistic xác định các yếu tố liên quan tới hành vi
QHTDTT ........................................................................................................................... 53
H
P
H
U
TĨM TẮT NGHIÊN CỨU
Các chất kích thích dạng Amphetamine (ATS) được sử dụng phổ biến tại Việt
Nam và đang có xu hướng tiếp tục gia tăng. Nghiên cứu này sử dụng một phần số
liệu định lượng từ một nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính về hành
vi sử dụng các chất kích thích dạng Amphetamine (ATS) trong nhóm phụ nữ mại dâm
(PNMD) tại Hà Nội. Mục tiêu: (1) Tìm hiểu thực trạng sử dụng ATS; (2) Xác định các
yếu tố ảnh hưởng tới hành vi sửu dụng ATS; (3) Xác định mối liên quan của hành vi sử
dụng ATS tới hành vi tình dục có nguy cơ cao lây nhiễm HIV/STIs trong nhóm PNMD
tại Hà Nội. Phương pháp: 249 PNMD từ 18 – 45 tuổi, được tuyển chọn thông qua
phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn. Kiểm định khi bình phương được sử dụng để
đo lường mối liên quan đơi biến, mơ hình hồi quy logistic được sử dụng để kiểm soát
H
P
nhiễu. Kết quả: Tỷ lệ PNMD đã từng sử dụng ATS là 54,2%. Ma túy đá là loại ma túy
được sử dụng nhiều nhất (47%). Tỷ lệ PNMD đã từng sử dụng ATS với khách hàng là
55% với đá, 41,8% với thuốc lắc. Tổng thu nhập hàng tháng, hành vi sử dụng heroin,
đã từng được chị em và khách hàng rủ sử dụng ATS và tính dễ tiếp cận với ATS là
những yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới hành vi sử dụng ATS. Hành vi
sử dụng thuốc lắc và tuổi là những yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa tới hành vi sử
dụng bao cao su (BCS) khơng thường xun khi quan hệ tình dục (QHTD) với khách
lạ. Hành vi sử dụng đá và tình trạng hơn nhân là những yếu tố có mối liên quan có ý
nghĩa thống kê với hành vi sử dụng BCS không thường xuyên khi QHTD với khách
quen. Hành vi đã từng sử dụng đá và heroin là những yếu tố có mối liên quan với hành
vi quan hệ tình dục tập thể. Kết luận: ATS được sử dụng phổ biến trong nhóm PNMD
tham gia vào nghiên cứu, đá được nhiều PNMD sử dụng nhất. Hành vi sử dụng ATS có
mối liên quan chặt chẽ tới các yếu tố đã từng sử dụng heroin, sự lôi kéo của chị em
cùng hành nghề, khách hàng và tính dễ tiếp cận ATS. Thuốc lắc có mối liên quan tới
hành vi sử dụng BCS khơng thường xun với khách lạ, đá có mối liên quan tới hành
vi sử dụng BCS không thường xuyên khi QHTD với khách quen và hành vi quan hệ
tình dục tập thể (QHTDTT). Khuyến nghị: Cần tăng cường các chương trình can thiệp
phịng ngừa sử dụng ATS cho nhóm PNMD tại Hà Nội, tập trung vào nhóm đã từng sử
dụng heroin. Các chương trình can thiệp về HIV trong nhóm PNMD cần chú trọng vào
hành vi QHTDTT khơng an tồntrong nhóm PNMD có sử dụng ma túy đá.
H
U
H
P
H
U
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các chất kích thích dạng amphetamine (ATS) là nhóm thuốc tác động lên hệ
thần kinh gồm các loại hồng phiến
(methamphetamine dạng viên), đá
(methamphetamine dạng tinh thể) và thuốc lắc (Estacy, MDMA). Báo cáo của Cơ quan
Phòng, chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) cho thấy số người sử dụng
ATS đã tăng lên gấp 3 lần kể từ năm 1998 tới năm 2010 và tính đến năm 2012 ATS đã
trở thành loại ma túy có số người sử dụng cao thứ 2 trên toàn thế giới, chỉ đứng sau
loại cần sa (cannabis). Ước tính số người sử dụng ATS năm 2012 lên tới 52,5 triệu
người, con số này nhiều hơn cả tổng số người sử dụng cocaine (13 triệu) và heroin (16
H
P
triệu) cộng lại [45].
Đông Nam Á là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ATS, chiếm hơn 30% số người
sử dụng ATS trên toàn thế giới, kể từ cuối năm 1990, việc sản xuất, vận chuyển và sử
dụng ATS đã gia tăng một cách đáng kể trong khu vực, và đã trở thành là khu vực có
số lượng cơ sở sản xuất và dự trữ ATS nhiều nhất trên toàn thế giới [44].
U
Tại Việt Nam, năm 2010, ATS là loại ma túy có số người sử dụng cao thứ 2, chỉ
đứng sau heroin [41]. Từ năm 2007 tới năm 2011, số người sử dụng ATS có chiều
hướng gia tăng trong khi số người sử dụng heroin lại có chiều hướng giảm xuống [42].
H
Theo điều tra của UNODC năm 2010 tại Việt Nam trên 3 thành phố Hà Nơi, Đà Nẵng
và Hồ Chí Minh, hành vi sử dụng ATS tập trung ở một số nhóm nguy cơ cao và chủ
yếu ở các thành phố lớn, các loại ATS được sử dụng phổ biến tại Việt Nam là thuốc
lắc, đá và hồng phiến [43].
Hà Nội là thành phố lớn, nơi có số lượng người sử dụng hồng phiến cao nhất cả
nước, tuy nhiên số người sử dụng thuốc lắc và đá tại đây còn cao hơn rất nhiều. Theo
báo cáo UNODC năm 2010, hành vi sử dụng đá trong các nhóm nguy cơ cao tại Hà
Nội dao động từ 70% cho đến 97% đặc biệt đối với nhóm nam quan hệ tình dục đồng
giới (MSM) và nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD) [43]. Sử dụng ATS có mối liên quan
với hành vi sử dụng bao cao su (BCS) khơng thường xun, và tăng số lượng bạn tình.
Vì vậy, sử dụng ATS làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua
2
đường tình dục (STIs) bao gồm cả HIV trong nhóm PNMD [33]. Một số ít nghiên cứu
gần đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Hà Nội ngày càng tăng
[10, 11]. Tuy đã có rất nhiều chương trình can thiệp nhằm giảm tỷ lệ nhiễm HIV, song
các chương trình can thiệp đa số chỉ tập trung vào loại ma túy heroin, chưa có chương
trình can thiệp nào về việc sử dụng ATS nói chung và ở nhóm PNMD nói riêng [35].
Những dẫn chứng trên cho thấy, việc mô tả thực trạng sử dụng ATS và xác định
mối liên quan giữa việc sử dụng ATS và các hành vi tình dục nguy cơ cao lây nhiễm
HIV ở PNMD tại Hà Nội là hết sức cần thiết. Ngoài ra, ATS là loại chất gây nghiện
hướng thần, do vậy sẽ có những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng ATS khác với loại
H
P
ma túy khác chủ yếu là heroin. Tìm hiểu thực trạng sử dụng và mối liên quan giữa sử
dụng ATS và các hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV sẽ phần nào giúp cho các nhà
lãnh đạo, hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định chính xác, phù hợp nhằm
giảm thiểu tác hại mà loại ma túy này gây ra đối với cộng đồng nói chung và PNMD
nói riêng. Nghiên cứu “Thực trạng sử dụng các chất kích thích dạng Amphetamine và
U
mối liên quan với các hành vi tình dục khơng an toàn của phụ nữ mại dâm tại Hà Nội
năm 2012” được thực hiện nhằm mô tả thực trạng, xác định các yếu tố liên quan tới
việc sử dụng ATS và mối liên quan giữa việc sử dụng ATS tới các hành vi nguy cơ cao
H
lây nhiễm HIV/AIDS.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.
Mô tả thực trạng sử dụng các chất kích thích dạng Amphetamine của phụ nữ mại
dâm khu vực nội thành Hà Nội năm 2012.
2.
Xác định các yếu tố liên quan tới việc sử dụng chất kích thích dạng
Amphetamine của phụ nữ mại dâm.
3.
Xác định mối liên quan giữa sử dụng các chất kích thích dạng Amphetamine và
các hành vi tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm phụ nữ mại dâm.
H
P
H
U
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu
1.1.1. Chất kích thích dạng Amphetamine
UNODC đã định nghĩa ATS là một nhóm thuốc kích thích tác động tới hệ thống
thần kinh trung ương bao gồm amphetamine, methamphetamine, methcathinone, và
‘ecstasy’ ( MDMA và các dẫn suất của nó) [44].
Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu về 3 loại ATS phổ biến tại Việt Nam đó
là thuốc lắc (ecstasy), đá (methamphetamine dạng tinh thể) và hồng phiến
H
P
(methamphetamine dạng viên), theo điều tra của UNODC tại Việt Nam năm 2010 [43].
1.1.2. Những ảnh hưởng của việc sử dụng ATS
ATS là nhóm chất kích thích tác động đến hệ thống thần kinh trung ương, gây
giải phóng một lượng lớn dẫn truyền thần kinh làm tăng nhịp tim và huyết áp, tạo ra
cảm giác vui vẻ, sự tự tin, tăng năng lượng và sự tỉnh táo, giảm cảm giác thèm ăn và
U
tăng ham muốn tình dục. Người sử dụng ATS có thể thấy mất ngủ, nói nhiều hơn,
nghiến răng, tăng nhiệt độ cơ thể, có các hành vi mất kiểm sốt. Nếu sử dụng ATS lâu
dài có thể dẫn đến những triệu chứng như răng bị hư hỏng, giảm cân, tổn thương da,
H
đột quỵ và nhồi máu cơ tim, cũng như là những ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần
(hoang tưởng, ảo giác, lo âu và kích thích), các triệu chứng về hành vi (hung hăng, bạo
lực, cơ lập).
Ngồi ra, việc sử dụng ATS lâu dài có thể dẫn tới việc giảm lượng dopamine
làm cho người sử dụng ATS thèm sử dụng ATS để tăng lượng dopamine khi hết tác
dụng của thuốc. Việc giảm các dẫn truyền thần kinh đột ngột làm cho người sử dụng có
triệu chứng buồn bã, trầm cảm, do vậy liều bổ sung ATS thường được sử dụng để làm
giảm bớt các cảm xúc tiêu cực, chu kỳ này có thể dẫn đến việc nghiện ATS [14].
Hơn thế nữa, do tính chất kích thích, đặc biệt là tính chất kích thích tình dục,
cho nên người sử dụng kh kiểm sốt hành vi QHTD an tồn, tăng số lượng bạn tình,
5
làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hành vi sử dụng ATS và nguy cơ lây nhiễm
HIV/STIs, đặc biệt ở các nhóm nguy cơ cao trong cộng đồng [22, 33, 37, 38].
1.1.3. Định nghĩa và phân loại phụ nữ mại dâm
Theo báo cáo điều tra kết hợp hành vi và chỉ số sinh học (IBBS) 2006, phụ nữ
mại dâm (PNMD) là nữ giới có quan hệ tình dục bằng đường âm đạo hoặc đường hậu
mơn với nam giới với mục đích lấy tiền hoặc hiện vật [9].
Trong nghiên cứu này, phụ nữ mại dâm sẽ được phân loại thành hai nhóm chính
căn cứ theo đặc điểm và tính chất cơng việc, gồm: mại dâm đường phố (MDĐP) – nơi
H
P
gặp khách hàng chủ yếu trên các đường phố, công viên và mại dâm nhà hàng (MDNH)
– nơi gặp khách chủ yếu trong các tụ điểm như quán karaoke, các điểm massage. Hai
nhóm trên có sự khác nhau cơ bản về nơi làm việc và kinh tế, MDĐP đa phần lớn tuổi
hơn, bị coi là kém hấp dẫn hơn và có thu nhập thấp hơn so với nhóm MDNH [10].
U
1.2. Tình hình mại dâm tại Việt Nam
Theo báo cáo Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình phịng, chống
mại dâm giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2010
H
cả nước ước tính có gần 31.000 PNMD. Tuy nhiên, con số này trên thực tế còn cao hơn
rất nhiều do tính chất di biến động và trá hình của hoạt động mại dâm tại Việt Nam.
Ngồi ra, báo cáo trên cũng cho biết xu hướng tập trung cao của PNMD tại một số
thành phố sầm uất đông dân cư và các khu du lịch như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phịng, Quảng Ninh, Cần Thơ…[1, 2].
PNMD tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang có xu hướng trẻ hóa,
tuổi hành nghề lần đầu đều giảm dần trong cả hai nhóm MDĐP và MDNH. Trong khi
đó, kết quả điều tra hai vịng của IBBS năm 2006 và 2009 đã cho thấy một sự gia tăng
đáng kể về số khách trung bình trong 1 tuần trước cuộc điều tra của cả phụ nữ MDĐP
và MDNH tại Hà Nội (tăng từ 5,63 lên 7,0 khách/tuần đối với MDĐP; và từ 5,23 lên
6
6,8 khách/tuần đối với MDNH). Trong nhóm PNMD, hành vi chính liên quan tới
nhiễm HIV bao gồm tiêm chích ma túy và sử dụng BCS không thường xuyên. Hành vi
sử dụng BCS khơng thường xun có xu hướng gia tăng tại Hà Nội. Nếu như tỷ lệ sử
dụng BCS không thường xuyên trong nhóm PNMD tại Hà Nội năm 2006 chỉ là 28,3%,
thì năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên 68,7%. Tỷ lệ sử dụng ma túy trong nhóm PNMD tại
Việt Nam cao, dao động trong khoảng 27-46% PNMD được điều tra báo cáo có sử
dụng ma túy. Các phát hiện này cho thấy sự cần thiết của việc mở rộng chương trình
giảm tác hại trong nhóm PNMD có sử dụng ma túy [7].
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Việt Nam được ước tính ở mức
H
P
2% đến 29%, MDNH thường có tỷ lệ hiện nhiễm HIV thấp hơn MDĐP [7] . Tỷ lệ hiện
nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Hà Nội năm 2009 có xu hướng tăng lên so với năm
2006, lần lượt là 19,7% đối với MDĐP và 17,7% đối với MDNH, cao nhất trong 11
tỉnh/thành phố được điều tra [10, 11]. Số liệu trên đã phần nào phản ánh mức độ nhạy
cảm và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của nhóm đối tượng PNMD tại Hà Nội.
U
1.3. Tổng quan các nghiên cứu về ATS trong nhóm PNMD
1.3.1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD
H
1.3.1.1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD trên thế giới
Hầu hết các nghiên cứu về ATS trên thế giới tập trung ở nhóm MSM. Một vài
nghiên cứu trong nhóm PNMD cho thấy tỷ lệ đã từng sử dụng ATS khá cao, tỷ lệ sử
dụng trong một nghiên cứu sử dụng bộ số liệu từ một nghiên cứu thuần tập tại Canada
do Shannon và cộng sự tiến hành trên 255 MDĐP trên 14 tuổi có sử dụng ma túy năm
2011, cho kết quả có tới 78 đối tượng (chiếm 32%) báo cáo có sử dụng đá [38]. Tại
Phnom Penh năm 2012, nghiên cứu thuần tập tiến hành trong một năm ở nhóm PNMD
trẻ tuổi (15 đến 29 tuổi), có hành vi trao đổi tình dục để lấy tiền hoặc hiện vật trong 3
tháng trước cuộc điều tra. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông
qua các nhân viên tiếp cận cộng đồng, các cuộc họp của nghiên cứu sức khỏe phụ nữ,
7
hoặc được giới thiệu bởi các phụ nữ đã từng tham gia vào nghiên cứu. Kết quả cho
thấy tỷ lệ đã từng sử dụng ATS là 42,5%. Tỷ lệ sử dụng trong nhóm MDĐP (35,6%)
cao hơn trong nhóm MDNH (17,7%) hoặc các chị em đón khách tại nhiều tụ điểm khác
nhau (14,8%). Loại ATS được sử dụng phổ biến là hồng phiến (40,6%), tiếp theo đến
ma túy đá (23,1%) [16]. Tuy nhiên, trong báo cáo của UNODC năm 2012 lại cho thấy
trong những năm gần đây ma túy đá được sử dụng phổ biến nhất hiện nay [45].
Cách sử dụng ATS khác nhau theo từng vùng miền, hồng phiến và đá chủ yếu
được sử dụng qua đường hút hoặc tiêm, số ít sử dụng qua đường uống [26, 37]. Về thời
điểm sử dụng ATS, 76% PNMD đã từng sử dụng ATS trong nhóm nghiên cứu tại
H
P
Canada báo cáo họ thường sử dụng ATS trước khi đi tiếp khách [38]. Tuy nhiên trong
nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu 33 PNMD tại Phnom Penh của Maher và cộng sự
năm 2011, thời điểm sử dụng ATS đa dạng hơn, một số chị em cho biết họ thường sử
dụng ATS trước khi đi tiếp khách để có thể tính táo hơn, khơng bị buồn ngủ, có thể tiếp
được nhiều khách hơn, một số khác lại cho biết họ thường sử dụng thuốc lắc trong khi
U
tiếp khách để có thể trở nên quyến rũ, thân thiện hơn với khách hàng. Rượu/bia là chất
thường được sử dụng kèm với ATS, đặc biệt đối với thuốc lắc tại các qn bar/vũ
trường/karaoke nơi có nhạc sơi động [12, 27, 29]. Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng
H
cho thấy vệc sử dụng ATS rất phổ biến trong nhóm khách mua dâm, có sự trao đổi về
ma túy và tình dục giữa PNMD và khách hàng của họ [29].
Về tần suất sử dụng trong 90 ngày trước điều tra, một nghiên cứu được thực
hiện trên 98 phụ nữ sử dụng loại chất kích thích dạng methamphetamine ở San Diego
vào năm 2004 cho thấy, tần suất sử dụng methamphetamine trong vòng 30 ngày trước
điều tra khoảng 2 lần/tháng [37]. Tại Úc, nghiên cứu thuần tập được tiến hành trên
1.427 MSM khơng nhiễm HIV, trong đó có 28,4% sử dụng với tần suất ít hơn 1 tháng
1 lần, 23,1% sử dụng với tần suất 1 tháng 1 lần, 7,2% sử dụng với tần suất 1 tuần 1 lần
[34]. Nghiên cứu cắt ngang của Martin và cộng sự trên nhóm thành niên trẻ tuổi tại
Thái Lan vào năm 2001 có cỡ mẫu 1.725 học sinh từ 15-21 tuổi đưa ra kết quả về tỷ lệ
sử dụng methamphetamine ở nam giới là 41,3% và 19% ở nữ giới. Tần suất sử dụng
8
trong 3 tháng trước khi nghiên cứu triển khai rất đa dạng, trong tổng số 500 học sinh
báo cáo đã từng sử dụng methamphetamine, 23,4% không sử dụng, 62,8% sử dụng 10
lần hoặc ít hơn, 13,8% sử dụng nhiều hơn 10 lần trong 3 tháng trước cuộc điều tra [40].
1.3.1.2. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD tại Việt Nam
Tại Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu tìm hiểu về hành vi sử dụng ATS trong
nhóm PNMD được báo cáo. Theo báo cáo kết quả của cuộc điều tra năm 2010 do
UNODC thực hiện trên một số nhóm đối tượng nguy cơ tại ba khu vực lớn gồm Hà
Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, trong tổng số 270 PNMD tham gia cuộc
điều tra, 21,4% báo cáo có sử dụng Methamphetamine, 54,4% sử dụng Ecstasy/thuốc
H
P
lắc, và phổ biến nhất là ma túy đá với tỷ lệ sử dụng ở mức 57,8%. So với PNMD tại Đà
Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, PNMD tại Hà Nội có xu hướng sử dụng hồng phiến
nhiều hơn, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ sử dụng thuốc lắc và
đá tại đây. Tuổi bắt đầu sử dụng ATS của các đối tượng dao động trong khoảng 20-23
tuổi, trong đó, thuốc lắc và hồng phiến có xu hướng được sử dụng sớm hơn đá. Có
U
80% PNMD được điều tra cho biết lần đầu sử dụng ATS của họ là dùng chung với từ
3-4 người bạn (thường là cùng trong nhóm ATS với họ). Đối với thuốc lắc, các đối
tượng cho biết họ thường sử dụng thuốc lắc tại các quán bar, vũ trường với tỷ lệ lên
H
đến 70-90%. Hồng phiến và đá thường được dùng tại các nơi kín đáo hơn như nhà
nghỉ, phịng khách sạn, hay nhà của một đối tượng cùng sử dụng ma túy. Đa phần
PNMD trong cuộc điều tra thường sử dụng ATS trong 90 ngày trước khi nghiên cứu
triển khai với tần suất khoảng một vài lần/tháng (42,1%), một số ít báo cáo thường
dùng ATS một lần/tuần (12,2%) hoặc vài lần/tuần (23,4%). Riêng với ma túy đá, tần
suất sử dụng thường xuyên trong nhóm PNMD là khá cao, tỷ lệ dùng đá vài lần/tuần
lên tới 39,6%, cao nhất trong các nhóm nguy cơ được điều tra. Hồng phiến là loại ATS
được tiêm chích nhiều nhất (5,7%), ngồi ra, một tỷ lệ nhỏ đá cũng được báo cáo sử
dụng bằng đường tiêm chích trong nhóm PNMD Hà Nội (1,8%) [43].
9
Nghiên cứu “Phụ nữ mại dâm sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine tại 3
thành phố của Việt Nam: Thực trạng sử dụng và các hành vi tình dục nguy cơ lây
nhiễm HIV/AIDS” của Hồ Thị Hiền và cộng sự thực hiện trên 37 cuộc phỏng vấn sâu
PNMD cho thấy, giá sử dụng ATS đắt hơn rất nhiều so với giá sử dụng heroin, giá cho
một lần sử dụng ATS dao động từ khoảng 200 nghìn tới 500 nghìn. Đặc biệt với ma
túy đá, giá của ma túy này cho một lần sử dụng có khi lên tới 900 nghìn đến một triệu
đồng. Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu cũng chỉ ra thuốc lắc thường hay được sử dụng
kèm với rượu bia, hồng phiến được sử dụng bằng cách làm nóng chảy qua giấy nhơm
và hít và thường hay sử dụng kèm với heroin với mục đích làm heroin thơm hơn [21].
H
P
Tại Hà Nội, năm 2010, nghiên cứu cắt ngang tìm hiểu thực trạng sử dụng ATS
của tác giả Nguyễn Văn Hòa tiến hành trên 100 đối tượng PNMD có độ tuổi từ 18 – 45
được tuyển chọn theo phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm sốt. Kết quả cho
thấy tỷ lệ PNMD đã từng sử dụng ATS lên tới 69%, phổ biến nhất là ma túy đá với
56% đối tượng sử dụng, tiếp đến là thuốc lắc 51%, và hồng phiến 35%. Trong số
U
những PNMD đã từng sử dụng ATS có 65% sử dụng trong 3 tháng trước cuộc điều tra,
với tần suất sử dụng phổ biến nhất ở một vài lần/tháng. Thuốc lắc được sử dụng chủ
yếu qua đường uống (94%) tại các quán bar/vũ trường, đá, hồng phiến chủ yếu được sử
H
dụng qua đường hút (89%) tại các khách sạn/nhà nghỉ [8].
Ngoài các nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD,
tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về hành vi sử dụng ATS trên một
số nhóm nguy cơ khác. Năm 2010, một nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu thực
trạng sử dụng ATS trên 5 nhóm nguy cơ (người sử dụng ma túy, MSM, FSW, người sử
dụng ATS (chỉ thực hiện tại Hà Nội), Lái xe, những người đi bar/vũ trường) tại 3 thành
phố lớn của Việt Nam bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh, trên 1.147 đối
tượng tham gia nghiên cứu, sử dụng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát.
Kết quả thuốc lắc và methamphetamine là 2 loại ATS được sử dụng phổ biến (73% và
63%) ở cả 3 thành phố lớn, 2 loại ATS này được sử dụng phổ biến ở tất cả các nhóm
10
đối tượng, nam sử dụng nhiều hơn nữ và sử dụng phổ biến ở thanh niên dưới 40 tuổi
[5].
Đối với nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tại Việt nam, ATS cũng
được sử dụng rất phổ biến, kết quả từ nghiên cứu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
trên 200 MSM (mỗi thành phố100 MSM) với phương pháp hòn tuyết lăn cho thấy, tỷ
lệ sử dụng ATS trong nhóm MSM tại Hà Nội là 81%, Hồ Chí Minh lên tới 97%. Thuốc
lắc được sử dụng phổ biến nhất, tiếp đến ma túy đá, tỷ lệ sử dụng hồng phiến là ít nhất.
Tuy nhiên trong 90 ngày trước khi nghiên cứu triển khai, ma túy đá lại trở thành loại
ma túy được sử dụng phổ biến nhất tại cả 2 thành phố với tần suất sử dụng phổ biến ở
H
P
mức một vài lần/tháng [4].
1.3.2. Một số yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS
1.3.2.1. Một số yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS trên thế giới
Với thực trạng sử dụng ATS đã nêu trên, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã
tiến hành tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng ATS, các yếu tố được đề cập
U
đến bao gồm các yếu tố cá nhân và các yếu tố mơi trường.
Trong nhóm yếu tố cá nhân, lứa tuổi lớn 50 có xu hướng sử dụng ATS ít hơn
H
lứa tuổi trẻ (OR=0,16; 95%CI (0,03 – 0,84), những người độc thân hoặc những người
đã ly thân/ly dị/góa có xu hướng sử dụng ATS nhiều hơn so với những người hiện
đang kết hôn (độc thân, OR = 8,5; 95%CI (1,5 – 4,7); ly thân/ly dị/góa, OR = 11,
95%CI (1,8 – 75) [31]. Ngoài ra, trong một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện năm
2005 trên 1.380 sinh viên được tuyển chọn ngẫu nhiên tại trường đại học Azard, Iran
cho thấy, hành vi sử dụng các loại ma túy khác [OR = 30,7, p<0,001], sử dụng rượu
(OR = 8,9, p<0,001), hút thuốc lá (OR = 30,7, p<0,001) và sống 1 mình (OR = 3,6,
p=0,04) là các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hành vi sử dụng thuốc
lắc [12].
Các yếu tố môi trường được các nghiên cứu đưa ra bao gồm, điều kiện nơi làm
việc, áp lực nhóm, có bạn tình/khách hàng sử dụng ATS. Theo một nghiên cứu trên
11
255 MDĐP tại Canada do Shannon và cộng sự tiến hành năm 2006 tới năm 2008, chỉ
ra đối với PNMD có bạn tình là người sử dụng ATS có khả năng sử dụng ATS cao hơn
gấp 1,79 lần so với những PNMD khơng có bạn tình sử dụng ATS (OR = 1,79, 95%CI
(1,03 -3,14), bán dâm ở các khu công nghiệp (OR=1,62, 95%CI (1,04 – 2,65), và sống
trên đường phố (OR=1,41, 95%CI(1,07 -1,99) [38]. Một nghiên cứu khác về thực trạng
sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine và các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/STI
ở PNMD trẻ tuổi tại Phnom Penh, Campuchia với 33 cuộc phỏng vấn sâu PNMD từ
15 – 29 tuổi, bao gồm cả MDNH và MDĐP, được lựa chọn thông qua những nhân viên
tiếp cận cộng đồng từ nhiều nơi ở Phnompenh đã đưa ra một yếu tố khá quan trọng liên
H
P
quan đến việc sử dụng ATS của PNMD đó chính là yếu tố khách hàng của họ. Những
PNMD này cho biết, họ sử dụng ATS là do khách hàng của họ lôi kéo và khách hàng
cũng là người thường xuyên cung cấp thuốc và khuyến khích PNMD sử dụng ATS khi
QHTD [29]. Tại Thái Lan, nghiên cứu thực hiện trên 48 cuộc phỏng vấn sâu tại thành
phố Chiang Mai và các huyện lân cận vào năm 2003 đã chỉ ra rằng áp lực nhóm và cơ
U
hội tiếp xúc với môi trường nguy cơ cao cũng là lý do dẫn tới việc sử dụng
methamphetamine trong nhóm thanh niên này [39].
1.3.2.2. Một số yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng ATS tại Việt Nam
H
Các nghiên cứu đề cập đến các yếu tố liên quan tới việc sử dụng ATS tại Việt
Nam còn rất hạn chế. Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính của tác giả Nguyễn
Văn Hòa báo cáo năm 2011, lấy số liệu từ nghiên cứu ATS của UNODC trong nhóm
PNMD tại Hà Nội, sử dụng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm sốt, với 100
cuộc phỏng vấn định lượng và 20 cuộc phỏng vấn sâu. Kết quả, có sự khác biệt về tuổi
giữa nhóm sử dụng ATS và nhóm khơng sử dụng ATS (p<0,001), MDĐP có xu hướng
sử dụng ATS nhiều hơn so với MDNH (OR = 5,3; 95%CI ( 1,8 – 15,6); p=0,002), biết
người khác sử dụng ATS (OR = 56; 95%CI (6,9 -456); p<0,001); sử dụng heroin
(OR=4; 95%CI (1,5 – 11,1); p=0,007), và cuối cùng là hành vi đi bar/vũ trường trong
90 ngày qua (OR=5,3; 95CI (2,1 – 13,6); p<0,001) [8].
12
Nghiên cứu của Hồ Thị Hiền và cộng sự phân tích 37 phỏng vấn sâu PNMD từ
18-45 tuổi, có QHTD lấy tiền hoặc hiện vật ít nhất 3 lần trong vịng 1 tháng trước cuộc
điều tra hoặc có sử dụng ATS ít nhất một lần trong vịng 6 tháng trước cuộc điều tra.
Những PNMD này được tuyển chọn thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại
3 thành phố lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Nghiên cứu chỉ ra những
lý do dẫn tới việc sử dụng thuốc lắc là do loại ma túy này xuất hiện phổ biến tại các
bữa tiệc, các quán bar/vũ trường giúp PNMD cảm thấy vui hơn khi nhảy hoặc hát,
trong khi việc sử dụng methamphetamine chủ yếu vì mục đích kích thích tình dục, có
thể tiếp khách được nhiều hơn. Một trong những lý do quan trọng khác là việc PNMD
H
P
sử dụng đá để có thể cai heroin, nhiều PNMD tin rằng việc sử dụng đá không gây tác
hại nhiều đến cơ thể mà còn giúp quên đi cảm giác thèm heroin [21].
Một nghiên cứu được thực hiện trên nhóm MSM năm 2011 cũng tại 3 thành phố
lớn Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh. Qua việc phỏng vấn sâu 40 MSM đã và đang sử
dụng ATS, nghiên cứu đã đưa ra những kết quả quan trọng về những ảnh hưởng của
U
văn hóa nhóm đến hành vi sử dụng ATS. Bạn bè trong nhóm là người giới thiệu MSM
bắt đầu dùng ATS; nhóm giúp họ duy trì “cuộc sống có ATS” như hùn tiền mua thuốc,
đi mua thuốc cho các thành viên nhóm, và đặc biệt là có quan hệ tình dục tập thể trong
nhóm [3].
H
1.3.3. Mối liên quan giữa việc sử dụng ATS và các hành vi tình dục khơng an tồn
trong nhóm PNMD trên thế giới
1.3.3.1. Hành vi sử dụng Bao cao su không thường xuyên
Các yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng BCS không thường xuyên được các
nghiên cứu trên thế giới đưa ra bao gồm:
Tuổi là một yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới hành vi sử dụng
BCS không thường xuyên. Những người trẻ tuổi (18-24 tuổi) có xu hướng sử dụng
BCS khơng thường xun hơn so với lứa tuổi cao hơn (25 -29), là nhận định đưa ra bởi
13
nghiên cứu trên 927 MSM được tuyển chọn bằng phương pháp chọn mẫu cụm-thời
gian (VDT) tại Thái Lan vào năm 2006 [20]. Tuy nhiên nghiên cứu khác trên 577
PNMD được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn tại Karama, Ấn
Độ năm 2007 lại cho kết quả, những PNMD trên 35 tuổi có xu hướng sử dụng BCS
không thường xuyên nhiều hơn so với lứa tuổi trẻ hơn (18 -25 tuổi). Những PNMD đã
kết hơn có xu hướng sử dụng BCS không thường xuyên nhiều hơn so với những
PNMD chưa kết hơn. Bên cạnh đó, ở những người có mức thu nhập trung bình cũng là
yếu tố được xác định có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới hành vi không sử dụng
BCS thường xuyên [28].
H
P
Việc thiếu kiến thức về phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục hay
việc chưa bao giờ xét nghiệm HIV là các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
với hành vi sử dụng BCS không thường xuyên được Zhang Hua và cộng sự đưa ra qua
nghiên cứu tiến hành trên 432 PNMD tại Shang Dong Trung Quốc vào năm 2009 [47].
Ngoài ra số lượng khách hàng của PNMD cũng là yếu tố có mối liên quan tới hành vi
U
sử dụng BCS không thường xuyên của họ. Những PNMD tiếp trên 3 khách 1 ngày, có
khả năng sử dụng BCS khơng thường xun cao hơn so với những PNMD tiếp dưới 3
khách hàng trên 1 ngày [28].
H
Một yếu tố quan trọng được nhiều nghiên cứu đưa ra đó là hành vi sử dụng các
chất gây nghiện như rượu và ATS. Việc QHTD sau khi sử dụng rượu, làm mất kiểm
soát hành vi dẫn tới việc không sử dụng BCS khi QHTD [25].
Mối liên quan giữa việc sử dụng ATS và hành vi sử dụng BCS không thường
xuyên được đưa ra bởi các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Lovick và cộng sự
trên nhóm phụ nữ có tiêm chích ma túy tại San Francisco năm 2003 – 2005, nhằm đánh
giá hoạt động tình dục của nhóm phụ nữ có tiêm chích methamphetamine và những
phụ nữ tiêm chích các loại ma túy khác. Kết quả cho thấy, ở những phụ nữ có tiêm
methamphetamine có khả năng QHTD không sử dụng BCS qua đường hậu môn
(OR=2,5, 95%CI (1,4 -4,5)) [26]. Nghiên cứu về hành vi sử dụng methamphetamine
được thực hiện trên 885 người nghiện chích ma túy từ năm 2003 đến năm 2006 tại phía