Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại phường quảng an, quận tây hồ, hà nội năm 2017

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 125 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM QUỲNH ANH

H
P

THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH
CHO TRẺ DƯỚI 5 TUỔI CỦA BÀ MẸ VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI PHƯỜNG QUẢNG AN,

U

QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI NĂM 2017

H

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM QUỲNH ANH

H
P



THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH
CHO TRẺ DƯỚI 5 TUỔI CỦA BÀ MẸ VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI PHƯỜNG QUẢNG AN,

U

QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI NĂM 2017

H

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

TS. Nguyễn Thị Hoài Thu

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu “Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi
của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội
năm 2017” đã được học viên cân nhắc lựa chọn, tiến hành phát triển và hồn thiện
làm luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Y tế cơng cộng định hướng ứng dụng.
Trong q trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ, động viên từ phía nhà trường, thầy cơ, gia đình và bạn bè.
Trước hết, tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ
Nguyễn Thị Hoài Thu, trường Đại học Y Hà Nội, người đã ln tâm huyết, tận tình
hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tơi


H
P

ngay từ những bước đầu hình thành ý tưởng, nội dung nghiên cứu cho đến khi hồn
thành luận văn.

Tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo trường Đại
học Y Tế Công Cộng đã tạo điều kiện, nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến
thức, kinh nghiệm quý báu cho học viên trong suốt q trình học tập chương trình

U

Thạc sĩ Y tế cơng cộng. Tơi xin gửi lời cảm ơn tới Phịng Quản lý Đào tạo sau đại
học, Phịng Cơng tác chính trị - Quản lý sinh viên, Trung tâm Thông tin Thư viện và
các Khoa - Phòng liên quan của trường đã tạo điều kiện giúp đỡ học viên trong suốt

H

quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo, người dân tại Phường Quảng
An và các thành viên trong nhóm điều tra viên tại Phường Quảng An đã tạo điều
kiện và nhiệt tình giúp đỡ tơi trong q trình thu thập số liệu phục vụ cho đề tài luận
văn.

Tôi cũng muốn bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô, anh, chị đồng
nghiệp thuộc Bộ môn Quản lý Dược và các Bộ môn thuộc Viện Đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ quản lý ngành y tế - Trường Đại học Y tế công cộng đã luôn chia sẻ, động
viên, tạo điều kiện để tơi có thể hồn thành chương trình học tập và thực hiện luận
văn tốt nghiệp.



Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc và tấm lịng ân tình tới những
người thân trong gia đình và bạn bè đã hết sức tạo điều kiện, luôn ở bên cạnh động
viên, ủng hộ tôi trong suốt q trình học tập và hồn thành luận văn.

Hà Nội, 11/2017

Phạm Quỳnh Anh

H
P

H

U


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG.......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ .................................................................................... iii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ........................................................................................ iv
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................ 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..................................................................... 4
1.1. Khái niệm về thuốc .......................................................................................... 4

H

P

1.2. Sơ lược về thuốc kháng sinh ............................................................................ 4
1.3. Vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh an toàn, hợp lý ........................................... 6
1.4. Một số yếu tố liên quan đến sử dụng kháng sinh ............................................ 7
1.5. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ................................................................ 9
1.6. Tình hình kháng kháng sinh........................................................................... 11

U

1.7. Một số nghiên cứu về thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ ............. 15
1.8. Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu......................................................... 17
1.9. Khung lý thuyết ............................................................................................. 19

H

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 21
2.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 21
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................. 21
2.3. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................................... 21
2.4. Cỡ mẫu định lượng ........................................................................................ 21
2.5. Phương pháp chọn mẫu ................................................................................. 22
2.6. Phương pháp thu thập số liệu......................................................................... 24
2.7. Các biến số nghiên cứu .................................................................................. 25
2.8. Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá ........................................... 26
2.9. Phương pháp phân tích số liệu ....................................................................... 28
2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ................................................................... 28


2.11. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục ............................. 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 31
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ..................................................... 31
3.2. Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ .................................. 33
3.3. Một số yếu tố liên quan đến thực hành SDKS cho trẻ của các bà mẹ ........... 41
3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng tới thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các
bà mẹ ..................................................................................................................... 50
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ........................................................................................ 56
4.1. Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu .................................................. 56
4.2. Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ ...................... 57

H
P

4.3. Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5
tuổi của bà mẹ ....................................................................................................... 63
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 67
5.1. Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ ................ 67
5.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5

U

tuổi của bà mẹ ....................................................................................................... 67
KHUYẾN NGHỊ ....................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 69

H

PHỤ LỤC .................................................................................................................. 77
Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu định lượng ............................................................ 77
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn định lượng........................................................ 83

Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu bà mẹ ........................................................ 92
Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu người bán tại các nhà thuốc ...................... 94
Phụ lục 5: Thang đo kiến thức và thực hành ........................................................ 96
Phụ lục 6: Trang thông tin cho đối tượng nghiên cứu .......................................... 98
Phụ lục 7: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu ...................................................... 100


i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BYT

Bộ Y tế

CSYT

Cơ sở y tế

ĐTNC

Đối tượng nghiên cứu

ĐTV

Điều tra viên

HGĐ

Hộ gia đình


HSD

Hạn sử dụng

KKS

Kháng kháng sinh

PTTH

Phổ thơng trung học

H
P

PVS

Phỏng vấn sâu

SDKS

Sử dụng kháng sinh

TĐHV

Trình độ học vấn
Trung học cơ sở

THCS

TTYT

U

WHO

H

Trung tâm y tế

Tổ chức Y tế thế giới


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3. 1. Thông tin chung về bà mẹ có SDKS cho trẻ ............................................31
Bảng 3. 2. Thơng tin chung của trẻ ốm được điều trị bằng kháng sinh....................32
Bảng 3. 3. Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ............................35
Bảng 3. 4. Số ngày sử dụng kháng sinh cho trẻ ........................................................38
Bảng 3. 5. Loại nước bà mẹ sử dụng cho kháng sinh đường uống ...........................39
Bảng 3. 6. Địa điểm bà mẹ mua thuốc kháng sinh cho trẻ .......................................39
Bảng 3. 7. Nội dung bà mẹ đã yêu cầu người bán thuốc tư vấn ...............................40
Bảng 3. 8. Thực hành của bà mẹ về kiểm tra hạn sử dụng thuốc .............................40

H
P

Bảng 3. 9. Thực hành của bà mẹ sau 3 ngày SDKS cho trẻ .....................................41

Bảng 3. 10. Kiến thức của bà mẹ về SDKS cho trẻ ...................................................41
Bảng 3. 11. Mối liên quan giữa thực hành SDKS với kiến thức SDKS của bà mẹ ...44
Bảng 3. 12. Mối liên quan giữa thực hành SDKS với nghề nghiệp của bà mẹ.........45
Bảng 3. 13. Mối liên quan giữa thực hành SDKS với trình độ học vấn của bà mẹ ..45

U

Bảng 3. 14. Mối liên quan giữa thực hành SDKS với số lượng con trong gia đình .46
Bảng 3. 15. Mối liên quan giữa thực hành SDKS với giới tính của trẻ ....................47
Bảng 3. 16. Mối liên quan giữa thực hành SDKS với nhóm tuổi của trẻ .................47

H

Bảng 3. 17. Một số yếu tố liên quan đến thực hành của bà mẹ trong mơ hình hồi quy
logistic đa biến ..........................................................................................................48


iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3. 1. Một số bệnh của trẻ đã được SDKS trong vòng 4 tuần trước khi điều
tra ..............................................................................................................................33
Biểu đồ 3. 2. Tỷ lệ bà mẹ có thực hành đạt về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5
tuổi .............................................................................................................................34
Biểu đồ 3. 3. Các loại kháng sinh bà mẹ cho trẻ sử dụng theo đơn của bác sĩ ........37
Biểu đồ 3. 4. Các loại kháng sinh bà mẹ cho trẻ sử dụng không theo đơn của bác sĩ
...................................................................................................................................38
Biểu đồ 3. 5. Phân nhóm kiến thức về SDKS của bà mẹ ...........................................44

H

P

H

U


iv

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Thuốc kháng sinh cho đến nay đã được ghi nhận là một trong những loại
thuốc thành công nhất trong lịch sử y học vì những lợi ích vô cùng to lớn đối với
con người trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong và các biến chứng nhiễm khuẩn [57].
Tuy nhiên, hiện nay các chủng vi khuẩn gây bệnh đang ngày càng trở nên kháng lại
các thuốc kháng sinh. Một trong số những lý do chính dẫn đến việc gia tăng các vi
khuẩn kháng kháng sinh (KKS) là việc không tuân thủ điều trị và việc sử dụng
kháng sinh (SDKS) không theo đơn thuốc của bác sĩ [58]. Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) cảnh báo rằng việc mua và SDKS khơng có đơn thuốc dẫn đến việc lạm
dụng thuốc, và hậu quả dẫn đến tình trạng các loại vi khuẩn trở nên KKS [68].

H
P

Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức cho người dân về SDKS hợp lý là
điều rất quan trọng, đặc biệt cần nâng cao nhận thức của người dân về việc SDKS
theo đơn và việc tuân thủ điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Trong đó đối tượng trẻ
em dưới 5 tuổi là đối tượng cần đặc biệt chú trọng bởi trẻ còn nhỏ tuổi, sức đề
kháng cịn yếu và ít có khả năng tự chăm sóc bản thân nên việc SDKS địi hỏi phải

U


rất thận trọng, đặc biệt là từ phía cha mẹ và gia đình.

Chúng tơi tiến hành nghiên cứu “Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho
trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại Phường Quảng An, Quận

H

Tây Hồ, Hà Nội năm 2017”.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu
định tính được tiến hành tại Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội từ tháng
2/2017 đến tháng 7/2017 với 02 mục tiêu: 1) Mô tả thực hành sử dụng thuốc kháng
sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội
năm 2017; 2) Xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc kháng
sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội
năm 2017.
Nghiên cứu định lượng: tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là 521 bà mẹ
có con dưới 5 tuổi (mẹ của 690 trẻ dưới 5 tuổi) trong đó có 187 bà mẹ có SDKS cho
con khi trẻ bị ốm trong vòng 4 tuần trước thời điểm điều tra. Nghiên cứu định tính:


v

phỏng vấn sâu 08 bà mẹ có con dưới 5 tuổi (4 bà mẹ có thực hành SDKS đạt và 4
bà mẹ có thực hành SDKS khơng đạt) và 3 người bán thuốc tại một số hiệu thuốc
trên địa bàn phường.
Nghiên cứu cho thấy kết quả về thực hành SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi như sau:
thực hành đạt về SDKS an toàn, hợp lý cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ ở mức
trung bình (52,9%). Tỷ lệ bà mẹ SDKS cho trẻ không theo đơn của bác sĩ là 26,2%.

Tỷ lệ bà mẹ tự quyết định thời gian SDKS cho con là 38%. Có 24,6% bà mẹ SDKS
cho con dưới 5 ngày cho đợt điều trị gần đây nhất. Tỷ lệ bà mẹ tự quyết định liều
lượng SDKS cho con là 26,7%. Loại kháng sinh được sử dụng phổ biến không theo
đơn của bác sĩ là Amoxycilin chiếm 46,9%; Cefuroxime chiếm 18,4%; Cefixime

H
P

chiếm 16,3%. Hầu hết các bà mẹ đã kiểm tra hạn sử dụng của thuốc trước khi cho
trẻ uống.

Về mối liên quan tới thực hành SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ: nghiên
cứu tìm ra có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi của trẻ và kiến thức
SDKS của bà mẹ với thực hành SDKS của bà mẹ. Một số yếu tố ảnh hưởng đó là:

U

sự tiếp cận thơng tin về kháng sinh của bà mẹ; kinh nghiệm SDKS từ những lần ốm
trước; tác động của gia đình, người thân; và việc bán thuốc theo đơn của nhà thuốc.
Từ đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cần có giải pháp truyền thông tăng

H

cường, cập nhật kiến thức về SDKS an tồn, hợp lý cho bà mẹ. Bên cạnh đó, cần có
những biện pháp chặt chẽ trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện bán thuốc
theo đơn tại các nhà thuốc.


1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc kháng sinh từ khi được phát hiện ra vào năm 1928 đã mang lại những
lợi ích vơ cùng to lớn cho con người, làm giảm tỷ lệ tử vong và các biến chứng
nhiễm khuẩn [57]. Cho đến nay, kháng sinh được ghi nhận là một trong những loại
thuốc thành công nhất trong lịch sử y học. Tuy nhiên, hiện nay nhiều chủng vi
khuẩn gây bệnh đã trở nên ngày càng kháng thuốc kháng sinh. Tình trạng KKS
đang trở thành một vấn đề mang tính tồn cầu. Các kháng sinh “thế hệ một” gần
như không được lựa chọn trong nhiều trường hợp. Các kháng sinh thế hệ mới đắt
tiền, thậm chí cả một số kháng sinh thuộc nhóm “lựa chọn cuối cùng” cũng đang
mất dần hiệu lực [15]. Bằng chứng mới đây nhất là sự lây lan của chủng vi khuẩn

H
P

kháng Carbapenem (là một loại kháng sinh thuộc nhóm beta-lactam) ở một số quốc
gia Châu Âu và Châu Á [69].

Một trong số những lý do chính dẫn đến việc gia tăng các vi khuẩn KKS là
việc không tuân thủ điều trị và việc SDKS không theo đơn thuốc của bác sĩ [58].
Việc tự điều trị và SDKS không theo đơn thuốc của bác sĩ có những nguy cơ tiềm

U

tàng như: sự khơng chính xác trong việc tự chẩn đốn, lựa chọn hướng điều trị
khơng đúng, khơng biết về những phản ứng và chống chỉ định của các biệt dược,
không biết được các tên gọi khác nhau của các hoạt chất để có sự lựa chọn đúng đắn

H

trong việc sử dụng thuốc, không nhận biết được các phản ứng có hại của thuốc, sử

dụng thuốc thiếu hoặc quá liều lượng, lạm dụng hoặc phụ thuộc vào việc SDKS,…
[67].

Trong cộng đồng, việc tự ý mua và sử dụng thuốc của người dân là một hiện
tượng khá phổ biến. Theo kết quả nghiên cứu của Georgia Mitsi và cộng sự (2004)
tại Hy Lạp cho thấy 74,6% người trưởng thành SDKS mà không cần đơn, 22,7%
cha mẹ sử dụng kháng sinh cho con cái họ mà khơng có đơn thuốc [41]. Tại Việt
Nam, nghiên cứu của Mattias Larsson (2003) cho thấy tại huyện Ba Vì 75% trẻ em
thường được điều trị bằng các loại kháng sinh như Ampicillin, Penicillin hoặc
Amoxicillin. Trong đó, trước khi sử dụng có tới 67% cha mẹ chỉ tham khảo ý kiến
của người bán thuốc, 22% đưa con đến khám bác sĩ và 11% tự quyết định việc
SDKS cho con [48].


2

Việc nâng cao nhận thức cho người dân về SDKS hợp lý là điều rất quan
trọng, đặc biệt cần nâng cao nhận thức của người dân về việc SDKS theo đơn và
việc tuân thủ điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Trong đó đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi
là đối tượng cần đặc biệt chú trọng bởi trẻ cịn nhỏ tuổi, sức đề kháng cịn yếu và ít
có khả năng tự chăm sóc bản thân và vai trị của bà mẹ là rất quan trọng trong việc
tuân thủ điều trị cho trẻ.
Quận Tây Hồ là một quận nội thành Hà Nội, là một trong những trung tâm
dịch vụ - du lịch, trung tâm văn hoá, là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Thủ
đô Hà Nội. Để tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội được phát triển và ổn định, vấn
đề sức khỏe của người dân là vấn đề đang được chính quyền địa phương và người

H
P


dân quan tâm, đặc biệt là các vấn đề sức khỏe của trẻ em. Năm 2016, tổng số lượt
trẻ dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung tâm y tế Quận Tây Hồ là 1.613 lượt,
trong đó chủ yếu mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, viêm phế quản, tiêu
chảy, trong đó số trẻ tại phường Quảng An có số lượt mắc cao [21]. Theo kết quả
phỏng vấn cán bộ y tế, nhiều trường hợp cha mẹ tự điều trị cho trẻ tại nhà bằng

U

kháng sinh trước khi đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế (CSYT). Điều này là một
dấu hiệu đáng báo động đối với tình hình tự ý điều trị và SDKS trên địa bàn.
Chính vì vậy, chúng tơi tiến hành nghiên cứu “Thực hành sử dụng thuốc

H

kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại Phường
Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội năm 2017”. Trong khuôn khổ nghiên cứu này,
chúng tơi tập trung tìm hiểu thực hành SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ và
những yếu tố liên quan đến việc SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ. Từ đó có
thể đưa ra những khuyến nghị tới cộng đồng, lãnh đạo địa phương để xây dựng kế
hoạch truyền thông - giáo dục sức khỏe phù hợp với người dân.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại
Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội năm 2017.
2. Xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho
trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội năm
2017.


H
P

H

U


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về thuốc
Theo Luật Dược, thuốc là chất hỗn hợp của các chất dùng cho người nhằm
mục đích phịng bệnh, chữa bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm
thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin y tế, trừ thực phẩm chức năng
[18].
Thuốc có nhiều nguồn gốc khác nhau từ thực vật như: Morphin lấy từ nhựa
quả cây thuốc phiện, Quinin từ vỏ thân cây quinquina, Atropin từ cà độc dược. Từ
động vật như: Insulin từ tuỵ, progesteron từ tuyến sinh dục, huyết tương bào khô,

H
P

các vắc xin, các huyết thanh và globulin miễn dịch, các vitamin A, D từ dầu gan cá
thu, v.v. Từ khoáng vật như: Kaolin, Iode, Mangne Sulfat, v.v. Từ các thuốc tổng
hợp: Sulfamid, Procain, Cloroquin, v.v [1].

Thuốc là phương tiện đặc biệt, có tác dụng phòng bệnh và chữa bệnh, nhưng

với liều lượng cao vượt mức chịu đựng của cơ thể thì thuốc trở nên độc. Nếu không

U

được quản lý chặt chẽ và không sử dụng chính xác về mọi mặt, thì sẽ gây tác hại lớn
đến sức khỏe và tính mạng con người [1].
1.2. Sơ lược về thuốc kháng sinh
1.2.1. Khái niệm

H

Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán
tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát
triển hoặc diệt được vi sinh vật [22].
1.2.2. Lịch sử về kháng sinh

Kháng sinh lần đầu tiên được phát hiện bởi một sinh viên y khoa người Pháp
- Ernest Duchesne vào năm 1896. Cho đến năm 1928, kháng sinh mới được tái phát
hiện bởi một bác sĩ người Scotland - Alexander Fleming, ông phát hiện một chủng
nấm mốc Penicillium trên khuôn đất làm tê liệt nhiều loại vi khuẩn gây bệnh [57].
Năm 1935, Gerhard Domagk phát hiện ra Sulfonamide lần đầu tiên, giúp chống lại
bệnh nhiễm trùng liên cầu một cách hiệu quả [28].


5

Năm 1943, Penicilin được các công ty Dược đưa vào sản xuất hàng loạt. Khi
đó, Penicilin đã được phổ biến rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ hai, như một
phép màu về y tế, nhanh chóng chế ngự kẻ giết người lớn nhất trong chiến tranh nhiễm khuẩn vết thương [57].
Từ năm 1944, một số lượng lớn các nghiên cứu được thực hiện bởi các công

ty Dược phẩm, mang lại nhiều loại thuốc hữu ích [28]. Ngày nay với sự phát triển
của khoa học công nghệ, nhiều thuốc kháng sinh mới được đưa vào nghiên cứu và
ứng dụng, giúp con người chống lại các bệnh nhiễm khuẩn một cách hiệu quả. Cho
đến thập niên 70, nhiều loại thuốc kháng sinh mới được phát triển. Tuy nhiên, loại
kháng sinh mới cuối cùng được phát triển là vào những năm cuối của thập niên 80

H
P

[69].
1.2.3. Phân loại kháng sinh

Nếu căn cứ vào cấu trúc hoá học của kháng sinh kết hợp với cơ chế tác dụng
của kháng sinh thì có thể chia kháng sinh thành 12 nhóm [1, 3, 4, 16]:
Nhóm Beta-lactam: gồm có các kháng sinh trong phân nhóm Penicilin, phân

U

nhóm Cefalosporin, phân nhóm Carbapenem, phân nhóm Monobactam và các chất
ức chế beta-lactamese.

Nhóm Aminoglycosid (Aminosid): Streptomicin, Kanamicin, Neomicin,

H

Panomomicin, Gentamicin,…
Nhóm

Macrolid:


Erythromycin,

Oleandomycin,

Roxithromycin,

Clarithromycin, Dirithromycin, Azithromycin, Spiramycin,…
Nhóm Lincosamid: Lincomycin, Clindamycin.
Nhóm Phenicol: Cloramphenicol, Thiamphenicol.
Nhóm

Cyclin:

Chlortetracyclin,

Oxytetracyclin,

Demeclocyclin,

Methacyclin, Doxycyclin, Minocyclin.
Nhóm Peptid: gồm 3 phân nhóm: Glycopeptid, Polypetid, Lipopeptid.
Nhóm Quinolon: Acid Nalidixic, Cinoxacin, Enoxacin, Ciprofloxacin,
Ofloxacin, Pefloxacin, Levofloxacin, Sparfloxacin, Moxifloxacin, Trovafloxacin.
Nhóm Tetraciclin: Tetraciclin, Oxytetraciclin, Doxycilin, Micociclin.
Nhóm 5-nitro-imidazol: Metronidazol, Tinidazol, Ornidazol, Secnidazol.


6

Nhóm Oxazolidinon: Vancomycin.

Nhóm Co-trimoxazol: Là dạng thuốc phối hợp giữa Sulfamethoxazol với
Trimethoprim.
1.3. Vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh an toàn, hợp lý
1.3.1. Định nghĩa sử dụng thuốc hợp lý
Hội nghị Nairobi, Kenya năm 1985 đã định nghĩa về sử dụng thuốc hợp lý
như sau:
“Sử dụng thuốc hợp lý là việc đảm bảo cho người bệnh nhận được các thuốc
thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể, trong thời
gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho mỗi người cũng như cho cộng đồng của

H
P

họ”.

1.3.2. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý

Sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý cần tuân theo các nguyên tắc sau [3,
4, 8, 22]:
-

Đi khám bệnh và dùng kháng sinh theo đơn, hướng dẫn của bác sĩ. Đặc biệt,

U

khi cho trẻ em dùng kháng sinh phải chú ý sự chỉ dẫn của bác sĩ và tuân thủ
theo đúng sự chỉ dẫn đó.
-

Chỉ dùng kháng sinh cho nhiễm khuẩn, không dùng cho nhiễm virus, dùng


H

càng sớm càng tốt.
-

Dùng kháng sinh phải: đúng liều, đúng lúc, đủ thời gian.
 Đúng liều: Dùng đủ liều để đạt nồng độ đủ và ổn định, không dùng liều
tăng dần. Khi dùng kháng sinh cho trẻ em phải nhớ chú ý liều theo tuổi
hoặc cân nặng.

 Đúng lúc: trước bữa ăn, trong bữa ăn, sau bữa ăn, thời gian tùy từng loại
thuốc và phải tuân theo hướng dẫn sử dụng.
 Đủ thời gian: Dùng đủ thời gian trên cơ thể nhiễm khuẩn, nói chung các
nhiễm khuẩn cấp dùng kháng sinh từ 5-7 ngày, các nhiễm khuẩn đặc biệt
thì dùng lâu hơn.
-

Nên mua kháng sinh ở những cơ sở hợp pháp như: hiệu thuốc quốc doanh,
hiệu thuốc có đăng ký, nhà thuốc có đăng ký.


7

-

Khi mua kháng sinh phải yêu cầu người bán ghi rõ tên và hàm lượng thuốc
trên từng bao gói riêng biệt.

-


Cách dùng:
 Không nên dùng nhiều loại kháng sinh phối hợp, trừ khi thầy thuốc có
yêu cầu cụ thể với một số bệnh.
 Khi cần phải uống nhiều loại thuốc thì phải pha riêng từng loại, khơng
nên trộn chung.
 Đối với kháng sinh đường uống, loại nước sử dụng là nước đun sôi để
nguội.

-

Trong khi SDKS, nếu thấy hiện tượng khó chịu, buồn nơn, mẩn ngứa phải

H
P

ngừng thuốc ngay và đến khám lại tại các CSYT.
-

Nếu dùng kháng sinh 2 – 3 ngày mà khơng có hiện tượng đỡ bệnh phải báo
lại cho cán bộ y tế xem xét, không tự ý thay thuốc khác.

1.4. Một số yếu tố liên quan đến sử dụng kháng sinh

Một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra một số yếu tố liên

U

quan đến việc tự điều trị bằng kháng sinh và thực hành SDKS của người dân trong
cộng đồng.


Yếu tố về tuổi được một số nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan đến việc

H

tự điều trị bằng kháng sinh của người dân trong cộng đồng. Kết quả nghiên cứu của
Rositsa Dimova và cộng sự (2014) tại Bulgaria cho thấy việc tự điều trị bằng kháng
sinh khá là phổ biến ở những người dưới 20 tuổi, 56% người dưới 20 tuổi tự điều trị
bằng kháng sinh (OR: 6,104; 95% CI: 3,445-10,816; Р < 0,001) [59]. Kết quả
nghiên cứu của Abobakr Abasaeed và cộng sự (2009) tiến hành tại cộng đồng ở Các
tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cho thấy phương thức SDKS bị ảnh hưởng đáng
kể bởi tuổi của đối tượng nghiên cứu (p = 0,014) [25].
Một số yếu tố như trình độ học vấn (TĐHV), nghề nghiệp cũng được một số
nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan đến việc SDKS. Nghiên cứu của Đặng Thị
Minh Hằng (2002) về kiến thức và thực hành SDKS của cá bà mẹ có con dưới 5
tuổi tại một số xã thuộc huyện Gia Lâm – Hà Nội chỉ ra TĐHV, nghề nghiệp và
điều kiện kinh tế là yếu tố ảnh hưởng tới thực hành SDKS [9]. Nghiên cứu của


8

Nguyễn Thị Quỳnh Trang tại xã Đơng Kết, huyện Khối Châu, tỉnh Hưng Yên
(2013) cho thấy: những bà mẹ có TĐHV từ cấp 3 trở lên có kiến thức, thực hành
SDKS tốt hơn những bà mẹ có TĐHV từ cấp 2 trở xuống (p <0,05); những bà mẹ
có thực hành SDKS tốt là những bà mẹ là cán bộ viên chức (p <0,05) [12]. Nghiên
cứu của Dana A Darwish và cộng sự (2012) về SDKS trong cộng đồng người Iraq ở
Jordan chỉ ra rằng hững người có TĐHV thường tin tưởng sự tư vấn của bác sĩ và sẽ
không SDKS nếu khơng có đơn thuốc hơn là những người có TĐHV thấp [35].
Nhận thức, kiến thức về kháng sinh và SDKS có sự liên quan mật thiết đối
với thực hành SDKS và việc tự sử dụng thuốc của người dân. Nghiên cứu của

Larissa Grigoryan và cộng sự tại Châu Âu cho thấy tỷ lệ những người tự SDKS có

H
P

kiến thức sai về hiệu quả của kháng sinh đối với vi khuẩn và vi rút cao hơn một chút
so với những người không tự sử dụng thuốc, mặc dù sự khác biệt khơng có ý nghĩa
thống kê. Sự khơng ý thức được vấn đề kháng kháng sinh cao hơn đáng kể trong số
những người tự SDKS so với những người không tự sử dụng thuốc (60% so với
47%, p<0,001) [46]. Nghiên cứu của Đặng Thị Minh Hằng (2002) tại một số xã

U

thuộc huyện Gia Lâm – Hà Nội cũng chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức và
thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn [9]. Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Quỳnh Trang tại xã Đống Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

H

(2013) cũng chỉ ra rằng bà mẹ có kiến thức SDKS đạt thì có thực hành SDKS đạt
cao hơn những bà mẹ có kiến thức khơng đạt (p <0,05) [12].
Bên cạnh đó, tính sẵn có của thuốc kháng sinh cũng là một yếu tố ảnh hưởng
đến việc tự điều trị của người bệnh. Người bệnh có thể tiếp cận thuốc kháng sinh
một cách dễ dàng hoặc mua được trực tiếp từ những nhà thuốc. Nghiên cứu của
Larissa Grigoryan và cộng sự tại Châu Âu cho thấy những người tiếp cận được
thuốc kháng sinh một cách dễ dàng hoặc đôi khi tiếp cận được thuốc kháng sinh từ
các nhà thuốc có nguy cơ cao hơn về việc tự sử dụng thuốc, trong khi những người
trả lời "khơng biết" có nguy cơ thấp hơn [46].
Ngoài ra, một lý do phổ biến của việc tự điều trị là vì bệnh nhẹ [46]. Loại
bệnh và mức độ của bệnh cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc SDKS. Nghiên

cứu của Larissa Grigoryan và cộng sự tại Châu Âu cho thấy những người tự SDKS


9

có nhận thức sai về việc SDKS cho những bệnh nhẹ nhiều hơn so với những người
không SDKS (21% so với 7%, p<0,001) [46].
1.5. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh
1.5.1. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới
Nghiên cứu của Shadi Chamany và cộng sự tại Mỹ (2005) về kiến thức, thái
độ và thực hành của 1031 bác sĩ đối với việc kê đơn cho các bệnh nhiễm khuẩn
đường hô hấp trên cho thấy: 56% số bác sĩ được hỏi kê đơn có kháng sinh cho bệnh
viêm phế quản và 43% kê đơn kháng sinh cho những trường hợp cảm lạnh thông
thường [32].
Trong cộng đồng, việc SDKS không theo đơn của bác sĩ mà tự ý mua thuốc

H
P

tại các hiệu thuốc để điều trị là tình trạng xảy ra phổ biến ở vùng nông thôn. Nghiên
cứu cắt ngang của Eystathios Skliros và cộng sự (2010) về tự điều trị với kháng sinh
trên 1139 đối tượng tại cộng đồng nông thôn ở Hy Lạp cho thấy: 77,9% đối tượng
có sử dụng kháng sinh; 44,6% đối tượng SDKS khơng đơn ít nhất một lần trong 12
tháng qua; và 76,2% sử dụng thuốc không cần đơn là từ các hiệu thuốc trong cộng

U

đồng. Các kháng sinh được tự sử dụng thường xuyên nhất là Amoxicillin (18,3%),
Cefaclor (9,7%), Cefuroxim (7,9%), Cefprozil (4,7%), và Ciprofloxacin (2,3%).
Các lý do thường gặp nhất cho việc SDKS khơng có đơn là sốt (41,2%), cảm lạnh


H

thơng thường (32%) và đau họng (20,6%) [39].
Theo nghiên cứu của Rie Nakajima và cộng sự tại Mơng Cổ (2010) tìm hiểu
việc tự SDKS của người dân trong cộng đồng cho thấy: trong 619 khách hàng mua
thuốc có 48% khách hàng mua ít nhất 1 loại kháng sinh, và chỉ có 42% có đơn
kháng sinh điều này cho thấy rằng kháng sinh có thể dễ dàng mua được mà khơng
cần đơn của bác sĩ. Trong số 67% khách hàng mua thuốc được cung cấp thông tin
về liều lượng và thời gian sử dụng thuốc thì chỉ có 9% được cung cấp các thông tin
liên quan đến ảnh hưởng bất lợi do thuốc gây ra. Nghiên cứu phỏng vấn các bác sĩ
và cho thấy thực tế là có một số thuốc kháng sinh đã trở nên kém hiệu quả lâm sàng
giữa năm 2001 và 2006. Và sau đó nghiên cứu cũng đã đưa ra khuyến cáo là cần có
một cơ quan pháp lý để thúc đẩy việc thực thi của pháp luật về các quy định về


10

thuốc ở Mông Cổ, để nâng cao nhận thức về sự nguy hiểm của KKS đối với người
dân và các chiến dịch nâng cao kiến thức cho người dân là cần thiết [58].
1.5.2. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh tại Việt Nam
Hiện nay, bệnh nhiễm khuẩn ở Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ lớn nên kháng sinh
vẫn là loại thuốc được sử dụng phổ biến. Do đó thuốc kháng sinh chiếm phần lớn
thị phần. Theo thống kê của Bộ y tế (BYT), giá trị nhập khẩu thuốc hàng năm
khoảng 350-400 triệu đô la Mỹ, sản xuất trong nước khoảng 200 triệu đơ la Mỹ
trong đó tỷ lệ kháng sinh chiếm 30-40% [13]. Theo báo cáo của Cục Quản lý Khám
Chữa bệnh năm 2009, chi phí cho kháng sinh chiếm trên 30% tổng chi phí của bệnh
viện cho thuốc và hố chất. Một phần lớn kinh phí được chi cho Cephalosporins thế

H

P

hệ 3 (Ceftriaxone, Cefoperazone), Quinolones (Levofloxacine) và Carbapenem
(Imipenem) [15].

Năm 2002, Okumura J và cộng sự tiến hành nghiên cứu về việc sử dụng
thuốc và tự điều trị tại một số vùng nông thôn ở Việt Nam. Trong số 138/505 bà mẹ
có con dưới 5 tuổi được hỏi cho biết họ có dự trữ thuốc để sử dụng cho những lần

U

ốm trong tương lai. Tổng cộng có 96 loại kháng sinh được dự trữ trong 76 hộ gia
đình, những kháng sinh này được dự trữ để điều trị ho và tiêu chảy. Các bà mẹ sử
dụng kháng sinh như thuốc trị bách bệnh [53].

H

Nghiên cứu của Mattias Larsson năm 2003 về việc SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi
của những người chăm sóc trẻ ở Ba Vì, Hà Nội cho thấy: 75% trẻ em có dấu hiệu
nhiễm khuẩn đường hơ hấp cấp và được điều trị bằng kháng sinh. Về việc quyết
định loại kháng sinh nào được sử dụng: 67% hỏi người bán thuốc, 11% quyết định
tự mua, và chỉ 22% điều trị theo đơn của bác sĩ. 80% thuốc kháng sinh được người
dân mua tại hiệu thuốc tư nhân, 18% kháng sinh được mua hoặc lĩnh tại trạm y tế xã
và 2% kháng sinh được mua tại hiệu thuốc bệnh viện. Thuốc kháng sinh hay được
sử dụng là Ampicilline (74%), Penicilline (12%), Amoxillin (11%), Erythromycin
(5%) và Tetracylin (4%). Ampicillin được dùng trung bình trong 3,3 ngày và
Penicillin 2,6 ngày [48].
Theo nghiên cứu của Ma Thanh Quế tại Bệnh viện đa khoa Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang cho thấy việc SDKS trong bệnh viện 6 tháng đầu năm 2007 đã không



11

tương xứng với mơ hình bệnh tật. Tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh ở bệnh nhân nội
trú là 67,3% và bệnh nhân ngoại trú là 69,4%. Đây là mức khá cao, vì mơ hình bệnh
tật cho thấy: nếu bệnh nhiễm trùng có tỷ lệ cao nhất là 50,4%, thì khi so sánh tỷ lệ
SDKS đã vượt quá khá xa nhu cầu thực tế. Như vậy có thể nói rằng việc SDKS là
chưa thật hợp lý. Tuy nhiên để có kết quả chính xác hơn về việc SDKS hợp lý hay
chưa cũng cần phải có thời gian để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề này [11].
Năm 2007, xu hướng SDKS đã thay đổi, Cephalosporins đường uống được
dùng phổ biến đối với các bệnh có triệu chứng nặng. Các kháng sinh thường dùng
là: Ampicillin hoặc Amoxillin (49%), Cephalosporin thế hệ 1 - đường uống (27%),
Co-trimoxazol (11%), Macrolid (3%), loại khác (2%) [51].

H
P

1.6. Tình hình kháng kháng sinh

Việc phát hiện và đưa kháng sinh vào sử dụng là một bước ngoặt trong
ngành y học. Trong hơn 60 năm qua, các loại thuốc kháng sinh đã được coi là thần
dược để chưa bệnh nhiễm khuẩn [69]. Tuy nhiên, sự ra đời của các tác nhân kháng
khuẩn vào thực hành lâm sàng được đi kèm bởi các vấn đề kháng kháng sinh. Hiện

U

nay, vi khuẩn đề kháng với kháng sinh đặt ra một vấn đề lớn trong cả bệnh viện và
cộng đồng trên toàn thế giới [47].

Kháng kháng sinh là hiện tượng xảy ra khi vi sinh vật (như vi khuẩn, nấm, vi


H

rút, và ký sinh trùng) biến đổi khi chúng tiếp xúc với thuốc kháng sinh (kháng sinh,
kháng nấm, thuốc kháng vi rút, thuốc chống sốt rét). Theo đó, các loại thuốc kháng
sinh trở nên không hiệu quả và nhiễm trùng tồn tại trong cơ thể, làm tăng nguy cơ
lây lan cho người khác [70].

1.6.1. Tình hình kháng kháng sinh trên thế giới
Tình hình KKS đối với kháng sinh thuộc nhóm Penicilin:
Loại vi khuẩn đầu tiên kháng Penicilin là Staphylococcus aureus. Vi khuẩn
này bình thường khơng gây hại với cơ thể con người, nhưng có thể gây bệnh như
viêm phổi, hoặc gây ra các hội chứng nhiễm độc, khi nhân lên quá nhiều hoặc sản
xuất ra độc tố. Đến năm 1967, một loại vi khuẩn gây bệnh viêm phổi đã kháng lại
penicillin là Streptococus pneumoniae (viêm phổi do liên cầu) và người ta gọi nó là
phế cầu khuẩn (Pneumonicocus) xuất hiện ở Papua New Ghine. Từ năm 1997 –


12

2004, tỷ lệ Streptococus pneumoniae kháng Penicilin ở Singapore là 44% [34]. Năm
2004, tỷ lệ này ở Ấn Độ là 5,6% [73]. Tỷ lệ Streptococus pneumoniae kháng
penicilin tại cộng đồng ở Pakistan năm 2006 là 3% [71]. Từ năm 2001 - 2009, tỷ lệ
kháng penicilin của Streptococus pneumoniae tại Kenya là 24% [64]. Từ năm 2005
- 2010, tỷ lệ này ở trẻ em tại Ả rập Saudi là 13,9% [61]. Từ năm 2001 - 2010, tỷ lệ
này tại Algeria là 23,5% [65]. Năm 2011, tỷ lệ Streptococus pneumoniae kháng
penicilin ở các nước Châu Âu là Áo (1,7%), Thuỵ Điển (3,2%), Hungary (5,8%),
Ireland (6,2%), Italy (6,3%), Latvia (10%) và Romani (61,1%). Đến năm 2013, tỷ lệ
này ở Ghana là 58,1% [69]. Ngoài Staphylococcus aureus kháng lại penicilin, năm
1976, xuất hiện bệnh lậu kháng lại Penicillin ở các quân lính Mỹ đã từng tham


H
P

chiến tại vùng Đông Nam Á. Và năm 1983 thì xuất hiện sự kháng penicillin của vi
khuẩn đường ruột Enterococcus faecium và từ đó vi khuẩn kháng thuốc ngày càng
mạnh [57].

Tình hình KKS đối với kháng sinh thuộc nhóm Cephalosporin:
Hiện nay một số chủng vi khuẩn đã kháng lại Cephalosporin thế hệ 3 như:

U

Escherichia Coli và Klebsiella pneumoniae.

Tỷ lệ Escherichia Coli kháng Cephalosporin thế hệ 3 tại Algeria là 17%
(năm 2003 – 2005), tại bệnh viện ở Iraq là 9,6% (2005), tại Nigeria là 11,4%

H

(2007), tại hệ thống các bệnh viện ở Singapore là 20% (2006 - 2008), tại cộng đồng
ở Ả rập Saudi là 8,1% (2009), tại Mỹ là 14,6% (2009 – 2010), và tại bệnh viện và
bệnh nhân ngoại trú ở Ấn Độ là 56% (2010) [26, 27, 30, 42, 44, 55, 69]. Năm 2011,
tỷ lệ kháng Cephalosporin thế hệ 3 của Escherichia Coli tại một số nước Châu Âu
được thống kê như sau: Bỉ (6%), Đức (8%), Đan Mạch (8,5%), Áo (9,1%), Anh
(9,6%), Tây Ban Nha (12%), Hy Lạp (14,9%), Hungary (15,1%) và Slovakia (31%)
[69]. Năm 2012, tỷ lệ Escherichia Coli kháng Cephalosporin thế hệ 3 tại Congo là
31%, tại Peru là 50%, tại Bangladesh là 59%, tại Nhật Bản là 16,6%, tại Philipines
là 26,7%, tại Hàn Quốc là 28% và tại hệ thống các bệnh viện ở Singapore là 20%
[36, 69]. Năm 2013, tỷ lệ này tại Kenya là 20% [69].

Tỷ lệ Klebsiella pneumonia kháng Cephalosporin thế hệ 3 trên Thế giới khá
cao. Klebsiella pneumonia được ghi nhận là một tác nhân gây bệnh viêm phổi và


13

nhiễm trùng đường tiết niệu. Từ 2002 – 2007, 31,2% các trường hợp mắc viêm phổi
do Klebsiella pneumoniae tại bệnh viện của Pakistan kháng lại Cephalosporin thế
hệ 3 [45]. Tỷ lệ kháng Cephalosporin thế hệ 3 ở những người lành mang Klebsiella
pneumonia ở Nigeria là 17% (2003 – 2007) [49]. Từ năm 2006 – 2009 tại Mexico,
trong các phân lập lâm sàng cho kết quả 37% Klebsiella pneumoniae kháng
Cephalosporin thế hệ 3 [40]. Năm 2006 - 2008, tỷ lệ này trong hệ thống các bệnh
viện ở Singapore là 32,3% [42]. Từ 2009 – 2010, tỷ lệ kháng Cephalosporin thế hệ
3 của chủng vi khuẩn này tại Mỹ là 23%. Năm 2011, tỷ lệ này tại một số nước Châu
Âu như Pháp, Ý lần lượt là 25,3% và 45,9%. Năm 2012, tỷ lệ Klebsiella
pneumoniae kháng Cephalosporin thế hệ 3 tại các tiểu vương quốc Ả rập là 17,4%,

H
P

tại Trung Quốc là 25,1%, tại Philippines là 30% [69].

Tình hình KKS đối với kháng sinh thuộc nhóm Quinolones:
Một số vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy như Escherichia Coli, Nontyphoidal
Salmonella (NTS) và Shigella đã kháng một số loại kháng sinh thuộc nhóm
Quinolones. Năm 2006 - 2008, Escherichia Coli kháng kháng sinh thuộc nhóm

U

Quinolones tại hệ thống các bệnh viện ở Singapore với tỷ lệ 38,7% [42]. Tỷ lệ

Escherichia Coli kháng Ciprofloxacin tại Ấn Độ năm 2010 là 62%, tại Bangladesh
năm 2011 - 2012 là 89% [36, 55]. Năm 2012, tỷ lệ Escherichia Coli kháng kháng

H

sinh thuộc nhóm Quinolones tại Nhật Bản và Philippines lần lượt là 34,4% và
40,9% [69]. Tỷ lệ Nontyphoidal Salmonella (NTS) kháng Ciprofloxacin tại Ả rập
Saudi là 46% năm 2007 - 2009 [62]. Tỷ lệ Nontyphoidal Salmonella (NTS) kháng
kháng sinh thuộc nhóm Quinolones tại Ý và Anh năm 2011 lần lượt là 11,3% và
17,6%, tại Phần Lan năm 2012 là 20,6% [69]. Đối với trực khuẩn Gram âm
Shigella, tỷ lệ kháng Ciprofloxacin tại Pakistan năm 2002 - 2004 là 3,3%; tại
Ethiopia năm 2005 là 9,2%; tại Sudan năm 2006 - 2007 là 41,3% và tại Ấn Độ năm
2008 - 2010 là 11,2% [38, 43, 50, 71]. Năm 2012, tỷ lệ này ở Thụy Sỹ và Phần Lan
lần lượt là 13,2% và 46,9% [69].
Tình hình vi khuẩn kháng đa thuốc:
Trong số các vi khuẩn kháng thuốc không thể không nhắc tới vi khuẩn gây
bệnh lao. Tình trạng kháng thuốc, kết hợp với các yếu tố khác làm tăng tỷ lệ mắc và


14

tử vong do bệnh lao. Chủng lao kháng thuốc đang nhanh chóng lây lan trên tồn thế
giới. Lao kháng đa thuốc đã được ghi nhận trên 90 nước và vùng lãnh thổ vàước
tính có 424.203 ca mắc lao kháng đa thuốc trên thế giới vào năm 2004 [60]. Tổ
chức Y tế Thế giới cảnh báo sự gia tăng không chỉ của lao kháng đa thuốc mà còn
sự gia tăng của lao siêu kháng thuốc. Tỷ lệ tử vong của các trường hợp mắc lao
kháng đa thuốc là 50% - 80% trong thời gian mắc bệnh ngắn (4 - 16 tuần). Chủng vi
khuẩn lao kháng đa thuốc đã kháng đồng thời ít nhất 2 loại kháng sinh là
Rifampicin (RIF) và Isoniazid (INH) [56, 72]. Tỷ lệ vi khuẩn Mycobacterium
tuberculosis kháng đa thuốc tại Mexico là 17% [31]. Một số yếu tố được xác định là

nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của các trường hợp lao kháng đa thuốc bao gồm

H
P

việc không tuân thủ điều trị, chất lượng thuốc, sử dụng thuốc chống lao phổ biến và
rộng rãi mà không cần đơn của bác sĩ [72].

1.6.2. Tình hình kháng kháng sinh tại Việt Nam

Một số nghiên cứu cho kết quả về tỷ lệ kháng kháng sinh của các tác nhân
gây bệnh thông thường tại Việt Nam. Tác nhân gây bệnh về đường hơ hấp như S.

U

Pneumonae và H. Influenzae có tỷ lệ kháng cao đối với Trimoxazole,
Chloramphenicol, Erythromycin, Sulphonamides và Macrolides [29, 54].
Theo nghiên cứu của Mattias Larsson tại Ba Vì - Hà Nội năm 2003 cho thấy
88%

các

H

chủng

S.

Trimethoprim/Sulfonamide;


Pneumonae
25%

kháng

kháng

Tetracycline;

Chloramphenicol



32%
23%

kháng
kháng

Erythromycin. Đối với các chủng H. Influenzae, có 44% các mẫu kháng
Trimethoprim/Sulfonamide; 32% kháng Tetracycline; 24% kháng Chloramphenicol
và Penicillin V; 18% kháng Ampicillin [48].
Năm 2007, nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Hoa và cộng sự tại Ba Vì trên
818 trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi chỉ ra rằng trong thời gian 4 tuần có 32% trẻ có bệnh
nhiễm trùng đường hơ hấp, 58% đã sử dụng thuốc kháng sinh trong vịng ba tuần
trước đó. Trong số 421 mẫu phân lập Steptococcus pneumonia, 95% mẫu kháng ít
nhất 1 loại kháng sinh (401/421). Steptococcus pneumonia kháng với Cotrimoxazole, Tetracycline, Phenoxymetyl Penicillin, Erythromycin và Ciprofloxacin
lần lượt là 78%; 75%; 75%; 70% và 28%. Tỷ lệ kháng thấp với các kháng sinh như



×