BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐẶNG VĂN THẠCH
H
P
THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC
PHẪU THUẬT TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN
U
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
H
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐẶNG VĂN THẠCH
H
P
THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC
PHẪU THUẬT TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN
U
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
H
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GVHD: PGS.TS TẠ VĂN TRẦM
HÀ NỘI - 2018
I
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt q trình học tập và hồn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn. Với lịng kính
trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Y tế Công cộng
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tơi trong q trình học tập và hoàn thành luận
văn.
Đặc biệt, Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS BS Tạ Văn Trầm và
Ths Nguyễn Thị Nga đã hướng dẫn khoa học, luôn tận tâm bồi dưỡng kiến thức,
phương pháp nghiên cứu, năng lực tư duy và trực tiếp giúp đỡ học viên hoàn thành
H
P
luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cơ trong hội đồng đã cho tơi những đóng
góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn.
Xin cảm ơn lãnh đạo Bệnh viện, phòng Điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa
Trung tâm Tiền Giang đã tạo điều kiện tơi hồn thành luận văn này.
U
Các anh/chị trong khoa Ngoại Tổng quát - Bệnh viện Đa khoa Trung tâm
Tiền Giang đã nhiệt tình giúp đỡ cũng như tạo điều kiện tôi trong quá trình thu thập
số liệu.
H
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, các anh chị em trong lớp Thạc sĩ Y tế cộng
khóa 20 đã động viên, giúp đỡ tơi trong những lúc tơi gặp khó khăn.
Học viên
II
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.................................................................................................... I
MỤC LỤC ........................................................................................................ II
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT............................................................... V
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... VI
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 ....................................................................................................... 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................................................. 4
1.1. Giới thiệu về lo âu....................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm về lo âu .............................................................................. 4
H
P
1.1.2. Phân loại lo âu ..................................................................................... 5
1.1.3. Các triệu chứng của lo âu .................................................................... 7
1.1.4. Hậu quả của lo âu ................................................................................ 7
1.1.5. Các phương thức trị liệu lo âu ............................................................. 8
1.2. Khái niệm stress, trầm cảm........................................................................ 8
U
1.2.1. Khái niệm stress: ................................................................................. 8
1.2.2. Khái niệm trầm cảm ............................................................................ 8
1.3. Đại cương về phẫu thuật tiêu hóa .............................................................. 9
H
1.4. Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá lo âu trầm cảm .................................. 10
1.5. Một số nghiên cứu về lo âu trên thế giới và tại Việt Nam ....................... 13
1.6. Một số yếu tố liên quan đến lo âu bệnh nhân .......................................... 17
1.7. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu ............................................................. 21
1.8. Khung lý thuyết ........................................................................................ 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 24
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................. 24
2.3. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................. 24
2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu .................................................................................. 24
2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu ............................................... 25
2.5.1. Công cụ thu thập số liệu .................................................................... 25
III
2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu ............................................................ 26
2.5.3. Điều tra viên...................................................................................... 26
2.5.4.Quy trình giám sát .............................................................................. 26
2.6. Quản lý và phân tích số liệu
27
2.6.1. Quản lý số liệu .................................................................................. 27
2.6.2. Phân tích số liệu: ............................................................................... 27
2.7. Các biến số nghiên cứu ............................................................................. 27
2.8.Các tiêu chí đánh giá lo âu bệnh nhân ...................................................... 28
2.9. Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................ 29
2.10. Đạo đức trong nghiên cứu ...................................................................... 29
H
P
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
30
3.1. Thực trạng lo âu bệnh nhân..................................................................... 30
3.2. Lo âu với các yếu tố liên quan. ................................................................. 38
3.2.2. Mối liên quan giữa lo âu liên quan vai trị vị trí trong gia đình .......... 41
3.2.3. Mối liên quan giữa lo âu với yếu tố lâm sàng .................................... 42
U
3.2.4. Mối liên quan giữa lo âu với môi trường điều trị ............................... 44
3.2.5. Mối liên quan giữa lo âu với công tác chuẩn bị trước phẫu thuật ....... 45
3.3.6. Phân tích hồi quy logistic dự đốn yếu tố liên quan đến lo âu của bệnh
H
nhân trước phẫu thuật tiêu hóa........................................................................... 46
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN ................................................................................ 51
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ............................................. 51
4.2. Tình trạng lo âu bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Đa
khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018. ......................................................... 51
4.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu bệnh nhân trước phẫu
thuật tiêu hóa ....................................................................................................... 54
4.3.1. Mối liên quan giữa tình trạng lo âu với các yếu tố đặc điểm cá nhân . 54
4.3.2. Mối liên quan giữa tình trạng lo âu với các yếu tố vai trị vị trí trong
gia đình. ............................................................................................................ 56
4.3.3. Mối liên quan giữa tình trạng lo âu với các yếu tố lâm sàng. ............... 56
4.3.4. Mối liên quan giữa tình trạng lo âu với các yếu tố môi trường điều trị. 57
IV
4.3.5. Mối liên quan giữa tình trạng lo âu với các yếu tố công tác chuẩn bị
trước phẫu thuật. ............................................................................................... 58
4.4. Hạn chế nghiên cứu .................................................................................. 59
KẾT LUẬN...................................................................................................... 61
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................. 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 63
PHỤ LỤC 1: CÁC BIẾN SỐ .......................................................................... 68
PHỤ LỤC 2: ĐỒNG Ý THAM GIA PHỎNG VẤN ...................................... 72
PHỤ LỤC 3 A: PHIẾU THU THẬP HỒ SƠ BỆNH ÁN............................... 74
PHỤ LỤC 3B: PHIẾU THU THẬP BỘ CÂU HỎI PHÁT VẤN .................. 76
H
P
PHỤ LỤC 4: BẢNG TƯ VẤN BỆNH NHÂN TRƯỚC PHẪU THUẬT .... 81
H
U
V
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
BN
Bệnh nhân
ĐTV
Điều tra viên
GSV
HADS
Giám sát viên
Hospital Anxiety and Depression Scale
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
H
P
H
U
VI
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý ......................... 6
Bảng 2.1. Điểm về các mức độ lo âu theo HADS-A của Zigmond và Snaith…....28
Bảng 3.1. Phân bố đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ........................... 30
Bảng 3.2. Phân bố các yếu tố liên quan vai trị vị trí trong gia đình ................... 31
Bảng 3.3. Phân bố đặc điểm bệnh tật theo các yếu tố lâm sàng .......................... 32
Bảng 3.4. Phân bố đặc điểm bệnh tật theo các yếu tố môi trường điều trị .......... 35
Bảng 3.5. Phân bố theo các yếu tố chuẩn bị trước mổ ........................................ 36
Bảng 3.6. Phân bố lo âu với đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..............38
H
P
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa lo âu với yếu tố cá nhân. ..................................... 39
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa lo âu liên quan vai trị vị trí trong gia đình .......... 41
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa lo âu với yếu tố lâm sàng .................................... 42
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa lo âu với môi trường điều trị ............................. 44
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa lo âu với công tác chuẩn bị trước phẫu thuật ..... 45
U
Bảng 3.12. Hệ số phóng đại phương sai VIF ..................................................... 47
Bảng 3.13. Mơ hình hồi quy logistic dự đốn yếu tố liên quan đến lo âu bệnh
nhân .................................................................................................................. 48
H
VII
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khung lý thuyết trình bày trong đề tài .............................................. 23
Biểu đồ 3.1: Thời gian chờ đợi phẫu thuật...........................................................34
Biểu đồ 3.2: Cơ quan phẫu thuật.......................................................................... 34
Biểu đồ 3.3: Mức độ lo âu của bệnh nhân trước mổ theo thang điểm HADS-A 37
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ lo âu chung của bệnh nhân..................................................... 37
H
P
H
U
VIII
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Lo âu ở bệnh nhân (BN) trước phẫu thuật hiện nay là một vấn đề mà nhiều
bệnh viện chú trọng tập trung nghiên cứu, đặc biệt ở những bệnh nhân trước phẫu
thuật tiêu hóa nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ điều trị, chăm sóc. Nghiên cứu cắt
ngang trên 192 BN với mục tiêu mô tả thực trạng lo âu của BN trước phẫu thuật
tiêu hóa và xác định một số yếu tố có liên quan tại khoa Ngoại Tổng quát Bệnh viện
Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ HADS-A
của Zigmond và Snaith đã được chuẩn hoá tại Việt Nam. Số liệu được xử lý và phân
tích bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 18.0.
H
P
Nghiên cứu 192 bệnh nhân về tình trạng lo âu trước phẫu thuật tiêu hóa
chúng tơi ghi nhận có nguy cơ lo âu cao hơn (34,9%), bệnh nhân khơng lo âu
(65,1%).
Khi phân tích hồi quy đa biến về các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu
bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa chúng tôi cũng nhận các yếu tố thật sự liên
quan đến tình trạng lo âu của BN đa số từ nhóm yếu tố bệnh tật bao gồm: cơ quan
U
phẫu thuật dạ dày, ruột (OR = 3,57, p = 0,004), phẫu thuật lần đầu tiên (OR = 4,59,
p = 0,05), thời gian chờ đợi phẫu thuật trên 7 ngày (OR = 3,42, p = 0,008), nhận
được thông tin về cuộc phẫu thuật (OR = 2,55, p = 0,01), và được giải thích trước
H
phẫu thuật (OR = 2,68, p = 0,017).
Từ kết quả này cho thấy nhóm yếu tố bệnh tật chi phối rất lớn đến lo âu.
Những yếu tố này đa số đều xuất phát từ khi BN nhập viện đến trước khi phẫu thuật
và có thể thay đổi được khi chúng ta thực hiện tốt công tác chuẩn bị BN trước phẫu
thuật.
Khuyến nghị: Bệnh viện cần đào tạo liên tục cho nhân viên y tế về kỹ năng:
tư vấn, giải thích, động viên người bệnh trước phẫu thuật, tăng cường các khóa đào
tạo cho bác sỹ về điều trị lo âu trên BN trước phẫu thuật. Phòng Điều dưỡng xây
dựng quy trình hướng dẫn bệnh nhân trước phẫu thuật cần chuẩn bị gì một cách cụ
thể, ngắn gọn dễ hiểu, cho bệnh nhân xem trước một ngày phẫu thuật. Bác sĩ, Điều
dưỡng cần nhiều thời gian, quan tâm hơn nữa về công tác tư vấn bệnh nhân trước
phẫu thuật, hướng dẫn cụ thể các đối tượng bệnh nhân: giới nữ, bệnh nhân phẫu
IX
thuật cơ quan dạ dày, ruột, bệnh nhân chưa phẫu thuật lần nào, bệnh nhân có thời
gian chờ đợi phẫu thuật từ lúc từ nhập viện đến khi được phẫu thuật từ 7 ngày trở
lên.
H
P
H
U
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay với những thành tựu của y học trong việc chẩn đoán, điều trị đã
giúp phát hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân. Bệnh tật làm thay
đổi tâm lý bệnh nhân, sự biến đổi tâm lý đó càng rõ rệt vì họ phải trải qua một thử
thách lớn, ví dụ như cuộc phẫu thuật [2]. Diễn biến tâm lý của bệnh nhân tác động
hai chiều tới sự thành công của cuộc phẫu thuật. Tâm lý ổn định, an tâm và tin
tưởng vào điều trị có thể giúp họ phục hồi nhanh hơn, ngược lại bệnh nhân quá lo
âu, nghi ngờ kết quả điều trị, làm ảnh hưởng xấu đến quá trình điều trị mà đặc biệt
là quá trình gây mê hồi sức [10].
Thực tế, trong y văn thế giới đã có nhiều báo cáo nghiên cứu về tâm trạng,
H
P
trạng thái tâm lý lo âu của bệnh nhân trước mổ bằng những phương tiện thu nhận số
liệu khác nhau qua các dạng câu hỏi. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Ali và
cộng sự (2014) lo âu trước phẫu thuật cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phục hồi gây
mê và kiểm soát đau sau phẫu thuật [23]. Lo âu quá mức và liên tục của bệnh nhân
có thể ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý, chất lượng cuộc sống, công việc và có thể
U
kéo dài tình trạng bệnh lý [43]. Một nghiên cứu tại Ethiopia (2014) cho thấy có
70,3% bệnh nhân lo âu trước phẫu thuật, các yếu tố liên quan đến sự lo âu là độc
thân hoặc ly hôn, thời gian phẫu thuật và thu nhập. Yếu tố liên quan đến việc làm
H
giảm lo âu trước phẫu thuật của bệnh nhân là sự cung cấp thông tin liên quan đến
cuộc phẫu thuật của người chăm sóc sức khỏe [49].
Những năm gần đây, ở nước ta đã có một số nghiên cứu tiến hành đánh giá
tâm lý lo âu bệnh nhân trước phẫu thuật. Nghiên cứu của Thái Hoàng Đệ (2011)
đánh giá tâm lý 163 bệnh nhân trước và sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa
huyện An Phú tỉnh An Giang [4]; Nghiên cứu Trần Văn Dũng (2011) khảo sát tâm
lý lo âu bệnh nhân trước phẫu thuật tại khoa Ngoại Tổng quát tại Bệnh viện Đa
khoa Ba Tri tỉnh Bến Tre[7]; Huỳnh Lê Phương (2013) “Khảo sát mức độ lo âu trước
mổ bệnh nhân khoa Ngoại Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy” [15]; Võ Thị Yến Nhi
(2017) “Khảo sát các yếu tố liên quan đến sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật
tiêu hóa tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang” [14].
2
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang trong năm 2016 tổng số bệnh
nhân phẫu thuật 7.187 (trong đó phẫu thuật tiêu hóa 2.752 bệnh nhân, chiếm 36%).
Năm 2017, tổng số bệnh nhân phẫu thuật là 7.611 bệnh nhân tăng gần 6%, trong đó
phẫu thuật tiêu hóa tỷ lệ 51% trong năm 2017. Do là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh,
nên số lượng bệnh nhân phẫu thuật tương đối nhiều, trung bình 20 bệnh nhân phẫu
thuật/ngày (bao gồm phẫu thuật: ngoại thần kinh, chấn thương, ung bướu, tai mũi
họng, ngoại tiêu hóa), trong đó phẫu thuật tiêu hóa theo chương trình trung bình 4
bệnh nhân/ngày [9]. Như vậy có thể thấy, phẫu thuật tiêu hóa chủ yếu số ca phẫu
thuật của bệnh viện và có xu hướng tăng lên theo thời gian các năm gần đây. Tuy
nhiên, chưa có nghiên cứu nào trước đây xác định thực trạng lo âu của bệnh nhân và
H
P
các yếu tố liên quan đến lo âu trước phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Đa khoa
Trung tâm Tiền Giang.
Vậy thực trạng lo âu của bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Đa
khoa Trung tâm Tiền Giang như thế nào? Có hay khơng mối liên quan giữa lo âu
trước phẫu thuật với đặc điểm cá nhân, đặc điểm gia đình xã hội, đặc điểm bệnh
U
viện? Từ đó có hướng can thiệp phù hợp giúp bệnh nhân giảm lo âu trước phẫu
thuật tác động tích cực đến sự phục hồi sớm sau phẫu thuật.
H
3
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mô tả thực trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa
Ngoại Tổng quát Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018.
2.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân
trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Tổng quát Bệnh viện Đa khoa Trung tâm
Tiền Giang năm 2018.
H
P
H
U
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về lo âu
1.1.1. Khái niệm về lo âu
Lo âu được biết đến rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại, người Hy Lạp cổ dùng từ
“melancholia” (sự u sầu) để mô tả lo âu. Người La Mã thuộc thời Cicero dùng từ
“anxietas” để biểu lộ sự sợ hãi, e ngại...Tiếng Pháp sử dụng từ “angoisse” (sự buồn
rầu, đau khổ, phiền não, sự lo sợ) chỉ sự lo âu, còn trong tiếng Anh dùng từ
“anxiety” chỉ sự lo âu [30]. Thuật ngữ “lo âu” đó được sử dụng từ lâu trong lịch sử
phát triển của ngành tâm thần và y học, người đầu tiên sử dụng cụm từ này là
H
P
Kerkgard (Đan Mạch), vào năm 1844 [34].
Vào những năm đầu tiên của thế kỷ XVIII, nghiên cứu về lo âu chủ yếu
được tiếp cận từ góc độ y - sinh học. Các nhà khoa học Lazarus R.S và Laurier. R
cho rằng lo âu được nẩy sinh từ sự tương tác trong một hệ thống sinh học - xã hội tâm lý. Trong bảng phân loại các rối loạn tâm lý và bệnh tâm thần của Hiệp hội tâm
U
thần Mỹ, khái niệm rối loạn lo âu bắt đầu được sử dụng chính thức [54].
Theo Antonio C. Fonseca và S. Perrin (2001), định nghĩa về “lo âu như là
một sự phản ứng về mặt cảm xúc xuất phát từ việc cảm giác mơ hồ một mối nguy
H
hiểm có thực hoặc tưởng tượng nào đó đối với bản thân” [29].
Theo tác giả N. Bouras (2007), lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa
không được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột, còn sợ là
đáp ứng với một đe dọa được biết rõ ràng từ bên ngồi hay khơng có nguồn gốc
xung đột. Cả hai đều là đáp trả lại các kích thích bất lợi của mơi trường nhằm gia
tăng tính tích cực của hành vi, chẳng hạn sợ hãi con rắn được tìm thấy ở nhiều
người được cho là có ích nó giúp họ tránh những tổn thương mà người khơng có
cảm giác sợ này có thể gặp phải do không lường trước được nguy hiểm (như bị rắn
cắn) [28].
Như vậy, những nghiên cứu ở nước ngoài từ trước tới nay cho thấy thuật ngữ
lo âu được sử dụng rộng rãi trong khoa học xã hội, trong y-sinh học nhằm mô tả các
trạng thái nguyên nhân sức khỏe và các bệnh liên quan đến tinh thần.
5
Tại Việt Nam, có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu, nổi bật lên là các định
nghĩa:
Theo từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện (2001), “Lo âu là việc đón chờ và
suy nghĩ về một điều gì đó có thể để mà khơng chắc có thể đối phó được là lo. Nếu
sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Trong nhiều trường hợp, đặc
biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể
không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi” [19].
Theo tác giả Đinh Đăng Hòe (2011), lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên
(bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên,
xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới [8].
H
P
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thống nhất sử dụng cách hiểu về lo âu theo
tác giả Trần Đình Xiêm năm 1995 như sau:
Lo âu là một trạng thái căng thẳng cảm xúc lan tỏa, hết sức khó chịu nhưng
thường mơ hồ, bâng quơ kèm theo nhiều triệu chứng cơ thể như cảm giác trống
rỗng ở thượng vị, siết chặt ở ngực, hồi hộp vã mồ hôi, đau đầu, run, khô miệng
U
đau cơ, kèm sự bứt rứt bất an đứng ngồi không yên. Lo âu là một hiện tượng
phản ứng cảm xúc tự nhiên tất yếu của con người trước những khó khăn, thử
thách đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm ra các giải pháp để vượt
H
qua, vươn tới, tồn tại [16, 22].
1.1.2. Phân loại lo âu
Theo Nguyễn Kim Việt năm 2009 [21] bộ môn Tâm thần học, đại học Y Hà
Nội thì lo âu được phân 2 loại: lo âu bình thường và lo âu bệnh lý (rối loạn lo âu).
1.1.2.1. Lo âu bình thường
Lo âu là một phần của cuộc sống hàng ngày, mỗi chúng ta ai cũng có lo âu,
khởi đầu lo âu là tự nhiên, bình thường và thậm chí cịn có lợi. Lo âu là một hiện
tượng cảm xúc tất yếu của con người trước những khó khăn, thử thách của tự nhiên
và xã hội. Lo âu là tín hiệu cảnh báo của cơ thể trước những mối đe dọa đột ngột,
trực tiếp. Lo âu cần thiết cho mỗi cá thể để tồn tại và thích nghi. Lo âu bình thường
có chủ đề, nội dung rõ ràng như: bệnh tật, công việc, học tập...Lo âu diễn biến nhất
thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý của chủ thể, hết tác động
6
thì lo âu cũng khơng cịn và thường khơng có hoặc có rất ít triệu chứng cơ thể.
1.1.2.2. Lo âu bệnh lý
Lo âu trở thành lo âu bệnh lý khi xuất hiện khơng có liên quan tới một đe dọa
nào, mức độ lo âu không cân xứng với bất cứ một đe dọa nào và có thể tồn tại kéo
dài. Khi mà mức độ lo âu ngày tăng dần đến gây trở ngại rõ rệt các hoạt động
thường ngày lúc đó được coi là lo âu bệnh lý.
Lo âu bệnh lý có 2 mức độ: Lo âu tính cách (nhân cách lo âu) và rối loạn lo
âu.
Lo âu tính cách: Một số người có nhân cách lo âu, thường được mơ tả như lo
âu “bẩm sinh”. Họ lo buồn vì những nguyên cứ nhỏ, căng thẳng bởi những sức ép
H
P
thậm chí nhỏ nhất và thấy sợ hãi vì năng lực của họ. Họ được nhận ra như: thường
dễ xúc động, dễ sợ hãi, cẩn thận quá mức và trải nghiệm lo âu nhiều hơn người
cùng tuổi trong các tình huống tương ứng.
Lo âu bệnh lý là lo âu không phù hợp với hồn cảnh, khơng có chủ đề rõ
ràng, mang tính chất vơ lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài. Mức độ lo âu thường
U
gây trở ngại rõ rệt đến các hoạt động của cá nhân, đồng thời lo âu lặp đi lặp lại với
nhiều triệu chứng cơ thể như: mạch nhanh, chóng mặt, khơ miệng, vã mồ hơi, lạnh
tay chân, run rẩy, bất an.
H
Sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý chính là mức độ khó
khăn trong việc kiểm sốt hoặc loại bỏ lo âu.
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý
Lo âu bình thường
Lo âu không làm ảnh hưởng đến
công việc, hoạt động hàng ngày.
Lo âu bệnh lý
Lo âu gây mất ổn định các hoạt
động, ảnh hưởng đến nghề nghiệp,
cuộc sống xã hội.
Lo âu có thể kiểm sốt được.
Lo âu khơng thể kiểm sốt được.
Lo âu gây khó chịu đơi chút, khơng
Lo âu hết sức khó chịu, bồn chồn,
nặng nề.
căng thẳng.
7
Lo âu giới hạn trong một số tình
Lo âu trong mọi tình huống bất kỳ,
huống có thật, hồn cảnh đặc trưng,
ln có xu hướng chờ đợi những kết
cụ thể.
cục xấu.
Lo âu chỉ tồn tại trong một thời
điểm nhất định.
Lo âu kéo dài ngày này qua ngày
khác trong khoảng thời gian ít nhất 6
tháng.
1.1.3. Các triệu chứng của lo âu:
Theo tác giả Nguyễn Kim Việt (2009) các triệu chứng lo âu được biểu hiện
như sau [21]:
H
P
Các triệu chứng kích thích hệ thần kinh thực vật: Hồi hộp hoặc tim đập mạnh
hoặc tăng nhịp tim, vã mồ hôi, run rẩy, khô miệng (không do thuốc hoặc mất nước).
Các triệu chứng liên quan đến vùng ngực và bụng: khó thở, cảm giác nghẹn
đau hoặc khó chịu vùng ngực, buồn nơn hoặc khó chịu vùng bụng (ví dụ cảm giác
sơi bụng).
U
Các triệu chứng liên quan đến trạng thái tâm thần: Cảm giác chóng mặt,
đứng khơng vững, ngất hoặc chống váng, có cảm giác khơng thật về các đồ vật (tri
giác sai thực tại) hoặc cảm giác cơ thể ở rất xa hoặc “không thực sự ở tại đây” (giải
H
thể nhân cách). Luôn lo lắng, sợ hãi đến những vấn đề của tương lai.
Các triệu chứng tồn thân: Có cơn nóng bừng hoặc ớn lạnh, tê cóng hoặc
cảm giác kim châm.
1.1.4. Hậu quả của lo âu:
Theo tác giả Nguyễn Kim Việt (2009) lo âu là một trong các tâm lý có tính
phổ biến cao, nếu diễn ra thường xuyên có thể dẫn đến rối loạn lo âu, bệnh thường
kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống,
rối loạn dạng cơ thể. Chính vì thế nó đem lại gánh nặng đáng kể cho cá nhân, gia
đình, xã hội [21].
Lo âu ảnh hưởng đến các chức năng sống bình thường của bệnh nhân. Có thể
mất rất nhiều thời gian hoặc mắc kẹt trong một mơ hình suy nghĩ và hành vi lặp đi
lặp lại như đếm hoặc rửa tay chỉ để giảm lo âu, căng thẳng [21].
8
Hầu hết bệnh nhân lo âu luôn cẩn thận với những nơi lạ mà họ đến hoặc
những tình huống mà họ cảm thấy nguy hiểm đe dọa. Chính điều này làm hạn chế
giao tiếp hàng ngày, cũng có thể bệnh nhân sẽ tự cơ lập chính mình [21].
Bệnh nhân lo âu thường cảm thấy khơng thoải mái với những tình huống
nhất định. Điều này duy trì thói quen, đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của
môi trường. Lo âu có nhiều loại nhưng hầu hết tất cả đều nằm trong một phổ các
triệu chứng cảm xúc có tác động đáng kể đến sức khỏe và tình cảm. Các triệu chứng
cảm xúc thường xuyên có mặt hoặc trở thành một phần tính cách của những bệnh
nhân rối loạn lo âu [21].
1.1.5. Các phương thức trị liệu lo âu
H
P
Hiện nay, trên thế giới phổ biến hai phương thức trị liệu lo âu đó là trị liệu
bằng thuốc và trị liệu bằng tâm lý [10].
Trị liệu bằng thuốc: Biện pháp dùng thuốc đang được các bác sĩ chuyên
khoa thần kinh sử dụng để điều trị về rối loạn lo âu. Sử dụng thuốc là cách thức để
giảm lo âu, giảm các biểu hiện của cơ thể giúp cho bệnh nhân có thể tham gia vào
U
các hoạt động hàng ngày.
Trị liệu bằng tâm lý: Trong tâm lý học thì mơ hình hành vi-nhận thức được
cho là hiệu quả đối với các thân chủ có lo âu. Liệu pháp nhận thức hành vi với hai
H
kỹ thuật chủ yếu là tái cấu trúc nhận thức và phơi nhiễm giúp thân chủ có thể nhận
biết được khi nào cơ thể mình lo âu, có những suy nghĩ hợp lý và cách thức đương
đầu với lo âu.
1.2. Khái niệm stress, trầm cảm
1.2.1. Khái niệm stress:
Stress xuất hiện khi cá nhân nhận thấy rằng, họ không thể ứng phó được với
những yêu cầu cuộc sống hằng ngày hoặc cơ thể khỏe mạnh của họ không được
đảm bảo [48].
1.2.2. Khái niệm trầm cảm:
Trầm cảm là một rối loạn thuộc nhóm rối loạn khí sắc thể hiện sự ức chế của
cảm xúc, tư duy và vận động [20], [22]. Theo ICD-10, một giai đoạn trầm cảm điển
hình gồm các triệu chứng chính như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm
9
năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, cùng với các triệu chứng phổ
biến khác như giảm sút sự tập trung và chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tin,
những ý tưởng bị tội và khơng xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan, ý
tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng [46].
Trầm cảm là một rối loạn thuộc nhóm rối loạn khí sắc thể hiện sự ức chế của
cảm xúc, tư duy và vận động [20], [22]. Theo ICD-10 một giai đoạn trầm cảm điển
hình gồm các triệu chứng chính như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm
năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, cùng với các triệu chứng phổ
biến khác như giảm sút sự tập trung và chú ý, giảm sút tính tự trọng và lịng tin,
những ý tưởng bị tội và khơng xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan, ý
H
P
tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng [46].
Để chẩn đốn xác định trầm cảm cần phải có tối thiểu 2 trong các triệu
chứng chính cộng thêm 2 trong số các triệu chứng phổ biến khác. Phải có ít nhất 2
tuần để làm chẩn đốn và cũng có thể cần thời gian ngắn hơn nếu các triệu chứng
nặng bất thường và khởi phát nhanh [46].
U
Phân biệt các mức độ trầm cảm nhẹ, vừa và nặng dựa vào một sự cân nhắc
lâm sàng phức tạp. Năng suất của các hoạt động xã hội nghề nghiệp là yếu tố chỉ
điểm cho việc xác định các mức độ nặng, nhẹ, vừa của trầm cảm [46].
H
1.3. Đại cương về phẫu thuật tiêu hóa
Phẫu thuật tiêu hóa là phẫu thuật các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa, gồm có:
Phẫu thuật thực quản.
Phẫu thuật dạ dày.
Phẫu thuật tá tràng.
Phẫu thuật ruột non.
Phẫu thuật đại tràng.
Phẫu thuật ruột thừa.
Phẫu thuật gan.
Phẫu thuật mật và đường mật.
Phẫu thuật tụy.
Phẫu thuật trực tràng.
10
Phẫu thuật trĩ, rị hậu mơn.
Phẫu thuật thốt vị bẹn.
Hiện nay, phẫu thuật tiêu hóa bao gồm phẫu thuật hở và phẫu thuật nội soi.
Phẫu thuật hở: Bác sĩ tập trung vào nơi bị tổn thương để bóc tách, thực hiện
các động tác trực tiếp trên cơ thể người bệnh. Thời gian phẫu thuật lâu, thời gian
nằm viện lâu, đau nhiều, vết mổ lớn, có thể mất máu nhiều, phục hồi chậm [5].
Phẫu thuật nội soi: Các thao tác cắt hoặc đốt được thực hiện qua các bộ
phận điều chỉnh trên các dụng cụ cầm tay trong khi nhìn qua màn hình. Đối với
bệnh nhân, mổ nội soi giúp phục hồi nhanh sau phẫu thuật, thời gian nằm viện ngắn,
ít đau và ít để lại sẹo, đường mổ nhỏ và ngắn dưới 5 mm, khơng mất máu nhiều, ít
H
P
bị biến chứng, phục hồi nhanh, đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ… [5].
1.4. Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá lo âu trầm cảm
1.4.1. Các loại thang đo đánh giá lo âu trầm cảm trong bệnh viện
Trên thế giới, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về lo âu - trầm cảm - stress ở
nhiều lĩnh vực khác nhau và một số bộ công cụ đã được ứng dụng giúp hỗ trợ chẩn
U
đoán như: “thang đánh giá tâm thần” (PRS: Psychiatric Rate Scale) của Wittenbort
khởi thảo năm 1951 - 1955. Vào những năm 1960, người ta thấy xuất hiện những
thang đánh giá dùng đặc biệt cho việc nghiên cứu những trường hợp rối loạn trầm
H
cảm (Pichot P, 1973; Montgomery S.A, 1979; Baldwin R.C, 1995) “thang nghiên
cứu tác dụng của thuốc Imipramin”, do Lehmann xây dựng năm 1958 [36]; “thang
những hiện tượng trầm cảm” của Grin Ker xây dựng năm 1961, nhằm thống kê
những triệu chứng trầm cảm; và một số thang đánh giá rối loạn trầm cảm khác cũng
ra đời, như “thang lượng hoá các phản ứng trầm cảm” của Cutler và Kurland, 1961;
“thang đánh giá trạng thái trầm cảm” của Wechsles năm 1963; thang đánh giá
stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) [37], bộ câu hỏi đánh
giá lo âu trầm cảm của Hamilton (1960), bộ câu hỏi đánh giá lo âu trầm cảm Beck
(BDI), thang đánh giá trầm cảm Zung SDS (Zung WW, 1965) [53].
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cứu về lo âu còn chưa nhiều và chủ yếu sử
dụng bộ câu hỏi đánh giá các mức độ rối loạn tâm lý ở bệnh nhân, trong đó các trắc
nghiệm của Beck và Zung, thường được sử dụng đặc trưng trên các bệnh nhân rối
11
loạn tâm thần:
Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self Rating Anxiety Scale): do W.W.
Zung (1971) đề xuất, lấy thông tin trực tiếp từ người bệnh, là một test khách quan,
định lượng hóa và chuẩn hóa, sử dụng nhanh, được Tổ chức Y tế Thế giới thừa
nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu [53]. Test gồm 20 câu hỏi dành cho người
bệnh tự đánh giá, đánh số thứ tự theo cột dọc từ 1 đến 20, cột ngang đánh giá 4 mức
tần suất xuất hiện triệu chứng theo thời gian:
1 điểm: Khơng có hoặc ít thời gian
2 điểm: Đôi khi
3 điểm: Phần lớn thời gian
H
P
4 điểm: Hầu hết hoặc tất cả thời gian
Kết quả được đánh giá theo 2 mức:
T < 50% : Khơng có lo âu bệnh lý
T > 50% : Có lo âu bệnh lý
Thang tự đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory): được
U
A.T. Beck và cộng sự (1961) đề xuất, được gợi ý từ những quan sát lâm sàng bệnh
nhân trầm cảm, nhất là từ liệu pháp tâm thần. Test này được Tổ chức Y tế Thế giới
thừa nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của các phương pháp điều
H
trị, được sử dụng phổ biến tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc gia từ năm 1989.
Thang Đánh giá trầm cảm Beck (BDI) là một chuỗi những câu hỏi được xây dựng
để đánh giá cường độ, mức độ và sự nhận thức về trầm cảm ở những người bệnh có
chẩn đốn rối loạn tâm thần. Test bao gồm 21 câu hỏi, đánh số thứ tự từ 1 đến 21,
mỗi câu có từ 4 đến 6 mục nhỏ, tổng cộng 95 mục nhỏ. Mỗi mục đi sâu vào khảo
sát từng đặc điểm triệu chứng của trầm cảm ở các mức điểm 0, 1, 2, 3. Kết quả
được phân tích theo các mức độ [26]:
< 14 điểm: Khơng có trầm cảm.
14 đến 19 điểm: Trầm cảm nhẹ.
20 đến 29 điểm: Trầm cảm vừa.
≥ 30 điểm: Trầm cảm nặng.
1.4.2. Thang đánh giá lo âu trầm cảm tại bệnh viện (Hospital Anxiety
12
and Depression Scale - HADS)
Thang đo Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) thường được sử
dụng để đánh giá trạng thái lo âu trầm cảm với bệnh nhân bị mắc các bệnh chính
khác. Năm 1983, A.S. Zigmond và R.P. Snaith đã phát triển công cụ này như là
những câu hỏi sàng lọc tại phòng khám ngoại trú y tế [25].
HADS gồm 14 câu hỏi tự báo cáo những triệu chứng của chính người bệnh
trong thời gian tuần kế trước, bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS-A) và 7 câu cho
trầm cảm (HADS-D). Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức độ tương ứng với các
số điểm từ 0 đến 3. Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, từ 11 trở lên chỉ ra sự có
mặt của một rối loạn lo âu hay trầm cảm thực sự, khoảng điểm từ 8 đến 10 được coi
H
P
như một gợi ý có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0 đến 7 điểm là bình
thường [25]. Do phạm vi của đề tài tập trung liên quan đến lo âu, do vậy đề tài chỉ
sử dụng 7 câu hỏi đánh giá lo âu (HADS-A) trong tổng số 14 câu [25].
Đồng thời S. Moorey và các cộng sự (1991) đã xác nhận rằng HADS là một
công cụ hữu ích cho sự đánh giá lo âu, trầm cảm trên bệnh nhân phẫu thuật [44].
U
Theo I. Bjelland và cộng sự (2002), ngưỡng điểm 11 được áp dụng rộng rãi ở
những nghiên cứu về bệnh nhân nội trú để chỉ ra sự có mặt của tình trạng lo âu hay
trầm cảm với độ nhạy trong khoảng 0,7 - 0,95 và độ đặc hiệu 0,83. Bên cạnh đó,
H
thang đo này có ưu điểm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ sử dụng, đánh giá đồng thời hai loại
rối loạn tâm lý lo âu và trầm cảm, bệnh nhân có thể tự đọc và trả lời các câu hỏi
theo hướng dẫn, hoặc trả lời gián tiếp qua phỏng vấn của người nghiên cứu trong
vòng vài phút [27].
Thang đo này được quản lý và phân phối bởi một nhà xuất bản -“ Quỹ quốc
gia về nghiên cứu giáo dục” tại Anh - cung cấp quy mô, biểu đồ ghi điểm số, hướng
dẫn sử dụng với các bản dịch có sẵn cho những ngơn ngữ Ả rập, Nhật Bản, Trung
Quốc, Urdu… và tất cả những ngôn ngữ khác nếu liên hệ với nhà xuất bản. Trước
khi thực hiện đề tài, chúng tôi đã xin phép “Quỹ quốc gia về nghiên cứu giáo dục”
về việc sử dụng bộ câu hỏi HADS. Thang đo này đã được dịch ra tiếng Việt, chuẩn
hóa và được áp dụng trên một số đề tài nghiên cứu trong ngoại khoa tại Việt Nam
gần đây: tác giả Huỳnh Lê Phương (2013) khảo sát mức độ lo âu trước phẫu thuật
13
bệnh nhân Ngoại Thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy [15]. Tác giả Võ Thị Yến Nhi khảo
sát các yếu tố liên quan đến sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật tiêu hóa tại
Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 [14].
Do tính tiện lợi cũng như dễ sử dụng của thang đo HADS-A so với các thang
đo khác mà kết quả vẫn đảm bảo, đặc biệt thang đo HADS-A được sử dụng để đánh
giá lo âu - trầm cảm trên bệnh nhân bình thường khơng có bệnh lý tâm thần. Do đó,
chúng tơi sử dụng cơng cụ HADS-A để đánh giá tình trạng lo âu trong nghiên cứu
này.
1.5. Tổng quan nghiên cứu về thực trạng lo âu
Lo âu được phát hiện và nghiên cứu từ rất sớm bởi Hypocrate (460 - 356),
H
P
ông đã đề cập đến sự “lo âu” với ý nghĩa là một bệnh lý. Trong tác phẩm
“Aphorism” ông đã mô tả lại sự sợ hãi như một căn bệnh với các triệu chứng sinh lý
như nôn mửa và tâm lý sợ bóng tối [33]. Charles Darwin (1872) trong tác phẩm
“Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” (The Expression of Emotions in Man
and Animals) đã nói rõ nguồn gốc, bản chất của sợ hãi và lo âu, mô tả như sau: Con
U
người trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với
niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên. Từ đó, tâm lý học và tâm thần học bắt đầu
nghiên cứu về lo âu và mô tả bản chất của nó [31].
H
Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là
học thuyết của Freud (1895) về chứng suy nhược thần kinh. Lần đầu tiên khái niệm
lo âu được tiếp cận và được làm sáng tỏ về mặt bản chất. Từ suy nhược thần kinh
Freud đã tách ra một hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety neurosis).
Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược
thần kinh và được cho là bệnh lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu
theo Freud có liên quan đến những yếu tố sinh học cơ thể, quan điểm về bệnh học
này đã ảnh hưởng trong phần lớn thời gian của thế kỷ XX. Tuy khơng có bằng
chứng khoa học xác đáng, nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất
bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới [50].
Từ những năm đầu của thế kỷ 21, các nghiên cứu về lo âu trên Thế giới đã
nhận được nhiều quan tâm và tiến hành. Chẳng hạn như nghiên cứu của I. Bjelland
14
và cộng sự (2002), trên 747 bệnh nhân điều trị ung thư tinh hoàn tại Bệnh viện
Haukeland, sử dụng bộ câu hỏi HADS-A cho thấy mức độ lo âu trung bình 8,0 ± 7,5
[27]. Năm 2007, tác giả Masood Jawaid đã đo lường lo âu bệnh nhân trước phẫu
thuật thông qua bộ công cụ HADS-A cho thấy mức độ lo âu trung bình cho phẫu
thuật (56%) [40].
Tại Việt Nam, nghiên cứu thực trạng lo âu trước phẫu đã được tiến hành từ
nhiều năm, đa số các tác giả tập trung chủ yếu vấn đề lo âu bệnh nhân trước phẫu
đơn thuần, không sử dụng bộ công cụ nào đánh giá mức độ lo âu bệnh nhân. Một
số nghiên cứu bước đầu chỉ đánh giá tâm lý bệnh nhân chưa đánh giá mức độ lo âu
và các yếu tố liên quan. Năm 2011 tác giả Thái Hoàng Đệ và cộng sự tại huyện An
H
P
Phú, tỉnh An Giang đã nghiên cứu đánh giá tâm lý và các yếu tố liên quan bệnh
nhân trước và sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa huyện An Phú. Với 163 bệnh
nhân tham gia nghiên cứu, cho thấy tâm lý lo lắng trước mổ tỷ lệ rất cao (83,4%),
nữ (74,8%); tuổi 18-30 cao nhất (53,3%), phần lớn sống bằng nghề nông (63,8%),
chủ yếu ở nông thôn (81,6%). Phẫu thuật cấp cứu (79,7%), phẫu thuật lần thứ nhất
U
(90,8%). Trước mổ sợ đau (64,4%); sợ không khỏi tái phát (19,7%). Sau mổ lo về
kinh tế (52,1%); sợ không lành (24,5%). Khi thốt mê khó chịu nhiều nhất là đau
(85,9%). Mong muốn nhiều nhất sau mổ là giảm đau (69,9%). Mổ lần đầu và mổ
H
cấp cứu lo lắng nhiều hơn các lần khác, lo lắng giữa nữ giới và nam giới khơng có
khác biệt đáng kể [4]. Nghiên cứu tác giả Trần Văn Dũng (2013) khảo sát tâm lý
bệnh nhân trước phẫu thuật tại khoa Ngoại tổng hợp tại Bệnh viện Đa khoa Ba Tri
tỉnh Bến Tre. Kết quả thu được tâm lý lo lắng nhất của bệnh nhân trước phẫu thuật
là sợ đau 58%, lo lắng về kinh tế (26%) [6].
Nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Huyền (2015) khảo sát tâm lý người bệnh
lớn tuổi trước và sau phẫu thuật tại khoa Chấn thương chỉnh hình bệnh viện Sài
Gịn-ITO. Qua khảo sát 50 người bệnh, trong đó nữ (72%). Người bệnh lo lắng hồi
hộp trước mổ (46%), về đau (42%), lo cuộc mổ không thành công (34%). Sau mổ
người bệnh lo lắng khơng lành bệnh, có biến chứng (28%) và mong muốn của
người bệnh là được bác sỹ thăm khám từ 2 lần trở lên (70%), mong muốn được gội
đầu massage là (76%). Về vấn đề tâm linh người bệnh muốn được cầu phước, cúng