BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TẠ MINH KHUÊ
H
P
THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG VẮC XIN VIÊM GAN B SƠ SINH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN, NĂM 2020
U
H
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
Hà Nội – 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TẠ MINH KHUÊ
H
P
THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG VẮC XIN VIÊM GAN B SƠ SINH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN, NĂM 2020
U
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
H
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN: TS. LÊ THỊ KIM ÁNH
Hà Nội – 2020
i
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y tế cơng cộng, Ban,
Phịng Quản lý đào tạo sau đại học của trường Đại học Y tế cơng cộng cũng như
tồn thể Q Thầy Cơ đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập, rèn luyện và tu dưỡng tại trường.
Với lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
TS. Lê Thị Kim Ánh – Giảng viên trường Đại học Y tế công cộng đã dành nhiều
cơng sức, tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên em trong suốt q trình
nghiên cứu, hồn thành luận văn.
H
P
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Viện Vệ sinh dịch tễ
Trung ương, Lãnh đạo Văn phịng Chương trình Tiêm chủng Quốc gia và các đồng
nghiệp đang cơng tác tại Văn phịng Chương trình Tiêm chủng Quốc gia, Trung tâm
Kiếm sốt bệnh tật tỉnh Nghệ An, Trung tâm y tế thành phố Vinh đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
U
Và cuối cùng, con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình đã dành cho
con mọi điều tốt đẹp nhất, luôn là chỗ dựa vững chắc cho con trong những lúc khó
khăn. Cảm ơn bạn bè và tập thể lớp Thạc sĩ Y tế cơng cộng khóa 22 đã ln bên
H
cạnh, giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập.
Hà Nội, ngày
tháng 12 năm 2020
Tác giả
ii
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 4
1.1.
Một số khái niệm và tổng quan về bệnh Viêm gan B ............................................. 4
1.2.
Vắc xin viêm gan B và tiêm chủng vắc xin VGB liều sơ sinh ................................ 8
1.3.
Tình hình tiêm chủng vắc xin VGB và VGBSS trên thế giới và Việt Nam.......... 14
1.4.
Một số yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin VGBSS trên thế giới và tại Việt Nam. 19
1.5.
Khung lý thuyết ..................................................................................................... 26
1.6.
Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu .......................................................................... 29
CHƢƠNG 2.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 32
2.1.
Đối tượng nghiên cứu............................................................................................ 32
2.2.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 33
2.3.
Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................... 33
2.4.
Cỡ mẫu .................................................................................................................. 34
2.5.
Phương pháp chọn mẫu ......................................................................................... 34
2.6.
Phương pháp thu thập số liệu ................................................................................ 35
2.7.
Các biến số nghiên cứu ......................................................................................... 36
2.8.
Các tiêu chuẩn đánh giá ........................................................................................ 37
2.9.
Phương pháp phân tích số liệu .............................................................................. 38
2.10.
H
P
U
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu......................................................................... 39
CHƢƠNG 3.
H
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 40
3.1.
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ........................................................... 40
3.2.
Thực trạng tiêm vắc xin vắc xin VGBSS của trẻ .................................................. 54
3.3.
Một số yếu tố liên quan đến tiêm phòng vắc xin VGBSS của trẻ ......................... 69
CHƢƠNG 4.
BÀN LUẬN ........................................................................................ 80
4.1.
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 80
4.2.
Thực trạng tiêm chủng vắc xin Viêm gan B sơ sinh ............................................. 86
4.3.
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng tiêm vắc xin VGBSS của trẻ ................... 88
4.4.
Điểm mạnh của nghiên cứu................................................................................... 94
4.5.
Một số hạn chế của nghiên cứu: ............................................................................ 94
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 96
KHUYẾN NGHỊ .............................................................................................................. 97
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
Bộ Y tế
CBYT
Cán bộ y tế
DPT - VGB – Hib
Vắc xin phối hợp “5 trong 1” bao gồm độc tố vi khuẩn
bạch hầu, uốn ván, vi khuẩn ho gà bất hoạt, kháng
nguyên vi rút viêm gan B và kháng nguyên vi khuẩn
Haemophilus influenzae týp b
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
GAVI
Global Alliance for Vaccines & Immunisation - Liên
minh Toàn cầu về Vắc xin và Tiêm chủng
HbsAg
Hepatitis B surface antigen - Kháng nguyên bề mặt của
vi rút viêm gan B
HBV
Hepatitis B virus - Vi rút Viêm gan B
NĐ – CP
Nghị định – chính phủ
NVYT
Nhân viên y tế
QĐ – BYT
Quyết định – Bộ y tế
TCMR
Tiêm chủng mở rộng
TCQG
TP
TT – BYT
TTKSBT
H
P
U
H
Tiêm chủng Quốc gia
Thành phố
Thông tư – Bộ Y tế
Trung tâm Kiểm sốt bệnh tật
TTYTDP
Trung tâm Y tế dự phịng
VABIOTECH
Cơng ty MTV Vắc xin và Sinh phẩm y tế
VGB
VGBSS
WHO
Viêm gan B
Viêm gan B sơ sinh
Tổ chức Y tế thế giới
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Lịch tiêm chủng vắc xin Viêm gan B trong chương trình Tiêm chủng mở
rộng…...……………………………………………………………………………10
Bảng 1.2. Tình hình triển khai tiêm VGB tại Việt Nam ...........................................16
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung của trẻ tham gia nghiên cứu (n=310) ..................40
Bảng 3.2 Một số đặc điểm chung của bà mẹ tham gia nghiên cứu ...........................42
Bảng 3.3. Kiến thức chung về bệnh Viêm gan B của bà mẹ ....................................44
Bảng 3.4. Kiến thức của bà mẹ về tiêm vắc xinVGBSS ...........................................46
Bảng 3.5. Thái độ của bà mẹ đối với tiêm phịng vắc xin VGBSS (n=294) .............49
Bảng 3.6.Tiếp cận thơng tin về bệnh Viêm gan B và tiêm vắc xinVGBSS..............51
Bảng 3.7. Tiếp nhận thông tin của bà mẹ về các trường hợp phản ứng/tai biến sau
tiêm chủng .................................................................................................................53
H
P
Bảng 3.8 Thực trạng phiếu tiêm/sổ tiêm chủng vắc xin VGBSS .............................54
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa các yếu tố của bà mẹ và người thân với tình trạng
tiêm vắc xin VGBSS của trẻ .....................................................................................70
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về bệnh VGB, tiêm vắc xin
VGBSS với tình trạng tiêm vắc xin VGBSS của trẻ .................................................74
U
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa thái độ về tiêm vắc xin VGBSS của mẹ với tình
trạng tiêm vắc xin VGBSS của trẻ ............................................................................75
H
Bảng 3.13. Mối liên quan thông tin của bà mẹ về tiêm VXVGBSS với tình trạng
tiêm vắc xin VGBSS của trẻ .....................................................................................76
Bảng 3.14. Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin VGBSS
...................................................................................................................................78
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Tỷ lệ tiêm vắc xin VGB sơ sinh trong 24 giờ đầu sau sinh giai đoạn
(2003-2018) ...............................................................................................................17
Biểu đồ 2. Phân bố nơi sinh của trẻ tham gia nghiên cứu (n=310) ...........................41
Biểu đồ 3. Kiến thức của bà mẹ về đường lây truyền VGBSS (n=245) ...................45
Biểu đồ 4. Đánh giá kiến thức chung của đối tượng phỏng vấn về bệnh VGB
(n=310) ......................................................................................................................45
Biểu đồ 5. Đánh giá kiến thức của bà mẹ về vắc xin VGB (n=294) ........................48
Biểu đồ 6. Đánh giá kiến thức chung của đối tượng về vắc xin VGBSS (n=310) ...48
Biểu đồ 7. Lo lắng của bà mẹ nếu tiêm vắc xin VGBSS cho con (n=294)...............49
Biểu đồ 8. Tỷ lệ bà mẹ có thái độ tích cực về việc tiêm vắc xin VGBSS cho con ...51
Biểu đồ 9. Thực trạng tiêm vắc xin VGBSS của trẻ (n=310) ...................................54
Biểu đồ 10. Phân bố nơi tiêm vắc xinVGBSS của trẻ (n = 226) ..............................55
Biểu đồ 11. Lý do trẻ không tiêm vắc xin VGBSS (n=84) .......................................55
H
P
H
U
vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Viêm gan B (VGB) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây nhiễm
cao. WHO đã khẳng định tiêm chủng vắc xin VGB là biện pháp phòng bệnh hiệu
quả nhất (1). Tiêm vắc xin Viêm gan B sơ sinh (VGBSS) trong 24h đầu sau sinh là
biện pháp phòng bệnh tốt nhất cho trẻ em, phòng lây truyền VGB từ mẹ sang con.
Thành phố Vinh là trung tâm văn hóa kinh tế chính trị của tỉnh, dịch vụ y tế được
cung cấp khá đầy đủ nhưng tỷ lệ tiêm vắc xin VGBSS thấp. Đây cũng là câu hỏi đặt
ra cho các nhà quản lý Y tế, ngành tiêm chủng mở rộng cần làm rõ.
Để đưa ra các khuyến nghị và các biện pháp nâng cao tỷ lệ tiêm chủng vắc xin
H
P
VGBSS tại các thành phố lớn nói chung và TP. Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng,
chúng tơi đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng tiêm chủng vắc
xin Viêm Gan B sơ sinh và một số yếu tố liên quan tại thành phố Vinh, tỉnh
nghệ An, năm 2020” với hai mục tiêu chính là mô tả thực trạng tiêm chủng vắc xin
viêm gan B sơ sinh tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An và phân tích một số yếu tố
liên quan đến thực trạng tiêm chủng vắc xin viêm gan B sơ sinh tại thành phố này.
U
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2019 đến tháng 12/2020 bằng nghiên
cứu cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (phỏng
H
vấn 310 bà mẹ của 310 trẻ 2 – 3 – 4 tháng tuổi) và định tính (phỏng vấn sâu bà mẹ
và cán bộ y tế) để thu thập thông tin.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm chủng vắc xin VGBSS trong vòng
24h sau sinh tại TP.Vinh là 74,8%. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng là bệnh VGB là
49,4%, có 8,2% bà mẹ có kiến thức đúng về 3 đường lây truyền của bệnh VGB.
54,2% bà mẹ có kiến thức đúng về vắc xin VGBSS. Hầu hết các bà mẹ tham gia
nghiên cứu đều có thái độ tích cực trong việc tiêm chủng vắc xin VGBSS cho con
(96,9%). Các yếu tố cản trở chính tác động đến việc không tiêm vắc xin VGBSS
của bà mẹ là lo lắng về phẩn ứng sau tiêm chủng (39,8%) hay chất lượng vắc xin
(12,9%). Nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan đến thực trạng tiêm chủng vắc xin
VGBSS tại địa phương như những trẻ sinh thiếu tháng có khả năng được tiêm vắc
xin VGBSS chỉ bằng 0,09 lần so với trẻ sinh đủ tháng (KTC 95%: 0,04-0,15),
vii
những trẻ có cân nặng <2500g có khả năng được tiêm vắc xin VGBSS chỉ bằng
0,29 lần so với trẻ cân nặng ≥2500g (KTC 95%: 0,08-0,99), trẻ sinh thường có khả
năng được tiêm vắc xin VGBSS cao hơn 1,79 lần so với nhóm trẻ sinh mổ (KTC
95%: 1,08-2,97). Nghiên cứu định tính cũng cho thấy chính sách hỗ trợ, cách thức
triển khai, quy trình tư vấn cũng có ảnh hưởng đến thực trạng tiêm chủng vắc xin
VGBSS.
Để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng vắc xin VGBSS tại TP.Vinh tỉnh Nghệ An, Bộ Y
tế nói chung các ban ngành liên quan tại TP. Vinh cần tăng cường công tác đào tạo,
tập huấn nhằm nâng cao và cập nhật kiến thức cho CBYT từ đó làm cơng tác tun
truyền, tư vấn đến các bà mẹ trong quá trình khám thai. Đẩy mạnh hoạt động truyền
H
P
thông trong cộng đồng về bệnh VGB cũng như là tầm quan trọng của việc tiêm
chủng vắc xin VGBSS.
H
U
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan B (VGB) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây nhiễm
cao. Tác nhân gây bệnh là vi rút VGB lây qua nhiều con đường khác nhau, chủ yếu
là đường máu, đường tình dục và đường từ mẹ sang con và là nguyên nhân hàng
đầu gây ra các bệnh như viêm gan cấp tính, viêm gan mãn tính, xơ gan và tử vong
do ung thư gan. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới có gần 30% dân
số (khoảng 2 tỷ người) nhiễm vi rút VGB, trong đó khoảng 350 triệu người mang vi
rút mãn tính và ¾ sống tại châu Á, 70 - 90% là trẻ em. Mỗi năm có khoảng một
triệu người chết vì xơ gan và ung thư gan (1).
H
P
Đến nay, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị căn bệnh này song chi phí
điều trị cao, rào cản trong quá trình cung ứng thuốc kháng vi rút và nguy cơ bệnh tái
phát cao khiến cho tình trạng nhiễm vi rút VGB còn phổ biến, WHO đã khẳng định
tiêm chủng vắc xin VGB là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất (1). Để giảm tỷ lệ
mắc bệnh VGB, tại những Quốc gia lưu hành VGB cao việc tiêm vắc xin VGB mũi
1 trong vòng 24 giờ đầu sau sinh được khuyến cáo là một trong những chiến lược
U
quan trọng. Hiệu quả bảo vệ của vắc xin VGB mũi 1 trong việc phòng lây truyền từ
mẹ sang con trên 90,5% khi tiêm trong 24 giờ đầu sau sinh và hiệu quả này trong
H
việc phòng lây nhiễm chu sinh giảm dần nếu tiêm muộn sau khi sinh (2).
Tại Việt Nam, lịch tiêm chủng vắc xin VGB được đưa vào từ năm 2002, tiêm
vắc xin Viêm gan B sơ sinh (VGBSS) trong vòng 24 giờ đầu được triển khai từ năm
2005 trong chương trình TCMR (3). Hiện nay, chỉ tiêu tiêm chủng vắc xin VGBSS
trong vòng 24 giờ của Bộ Y tế yêu cầu phải đạt trên 75% trên quy mô tuyến tỉnh
(4). Với sự nỗ lực của ngành y tế, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin VGBSS trong vòng 24
giờ của cả nước đang tăng dần với 69,8% (2015), 68% (2016), 74,4% (2018) so với
các năm trước đây 24,8% (2008) 21,4% (2010) hay 56% (2013).(5-10).
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, khơng chỉ có diện tích lớn
nhất Việt Nam có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển mà còn
là một trong những đầu tàu kinh tế lớn của vùng Bắc Trung Bộ. Với điều kiện kinh
tế phát triển nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được quan tâm,
2
nhưng hiện tại tỷ lệ tiêm chủng vắc xin VGBSS trong vòng 24 giờ của Nghệ An lại
rất thấp: năm 2016 (48,6%), năm 2017 (62,6%), năm 2018 49,3%, tính đến hết
tháng 7/2019, toàn tỉnh chỉ đạt 32,8% (theo yêu cầu tỷ lệ tiêm chủng mũi VGBSS
trong 7 tháng phải đạt 43,8%).(8, 9, 11).
Thành phố Vinh là trung tâm văn hóa kinh tế chính trị của tỉnh, dịch vụ y tế
được cung cấp khá đầy đủ nhưng tỷ lệ tiêm vắc xin VGBSS cũng khá thấp năm
2017 (56,6%), 2018 (24,7%), và chỉ đạt 25,8% theo báo cáo số liệu TCMR 7 tháng
năm 2019. Vậy tại sao tỷ lệ tiêm vắc xin VGBSS tại tỉnh Nghệ An nói chung và TP.
Vinh nói riêng lại thấp như vậy? Đây cũng là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý Y
tế, ngành tiêm chủng mở rộng cần làm rõ.
H
P
Trước đây đã có các nghiên cứu về thực trạng tiêm vắc xin Viêm gan B sơ
sinh và các yếu tố liên quan nhưng chỉ tập trung tìm hiểu tại các vùng miền núi khó
khăn như Quỳnh Nhai (Sơn La), Yên Dũng (Bắc Giang) hay Lương Sơn (Hịa Bình)
mà chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về thực trạng tiêm vắc xin Viêm gan B sơ sinh
tại một thành phố lớn. Ở một thành phố lớn đi cùng là dân cư đông, di biến động
U
lớn, việc quản lý đối tượng là khó khăn, ngồi ra hiện nay một số lượng không nhỏ
người dân đang tham gia trào lưu “anti-vắc xin” không đồng ý cho con đi tiêm
chủng đã làm các nhà quản lý khó khăn trong việc nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đạt
H
mục tiêu bảo vệ thành quả tiêm chủng trong suốt 35 năm vừa qua.
Vậy việc tìm ra giải pháp để nâng cao cao tỷ lệ tiêm chủng vắc xin VGBSS
cho trẻ nhằm đạt được mục tiêu đề ra là hết sức cần thiết, là cơ sở khoa học để xây
dựng các chương trình can thiệp, tun truyền tiêm phịng vắc xin VGBSS. Vì vậy,
đề tài nghiên cứu “Thực trạng tiêm chủng vắc xin Viêm gan B sơ sinh và các yếu
liên quan tại Thành phố Vinh, Nghệ An năm 2020” được đặt ra.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tiêm chủng vắc xin viêm gan B sơ sinh tại thành phốVinh, tỉnh
Nghệ An năm 2020.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng tiêm chủng vắc xin viêm gan B
sơ sinh tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An năm 2020.
H
P
H
U
4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm và tổng quan về bệnh Viêm gan B
1.1.1. Một số khái niệm
Thời kỳ sơ sinh: Từ khi đẻ đến hết 28 ngày sau đẻ.(12)
Trẻ sơ sinh đủ tháng: là trẻ được sinh trong khoảng từ 37 đến 42 tuần. (12)
Tiêm chủng: Là biện pháp sử dụng vắc xin để tạo miễn dịch chủ động cho con
người nhằm phòng một số bệnh truyền nhiễm phổ biến.(13)
Vắc xin: Là chế phẩm có chứa kháng nguyên (có thể là các vi rút hoặc vi
khuẩn sống, giảm độc lực, hay bị bất hoạt) dùng để kích thích cơ thể tạo miễn dịch,
H
P
đặc hiệu chủ động, nhằm chống lại tác nhân gây bệnh.(13)
Vắc xin VGB: Là những chế phẩm có tính kháng ngun, được sử dụng với
mục đích tạo ra miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm.
Vắc xin VGB là kháng nguyên bề mặt HbsAg được tách chiết từ huyết tương
người có HbsAg dương tính hoặc bằng cơng nghệ tái tổ hợp sản xuất trên tế bào
U
nấm men hoặc tế bào động vật. (14, 15)
Tiêm vắc xin phòng bệnh VGB: Để phòng bệnh VGB cho trẻ em, Chương
H
trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) Quốc gia đã triển khai tiêm 4 mũi cho trẻ em
bao gồm mũi VGBSS và 3 mũi tiếp theo vào các tháng tuổi 2,3,4. (15)
Tiêm vắc xin VGBSS: Theo định nghĩa của WHO, tiêm vắc xin VGBSS là
việc đưa vắc xin VGB vào cơ thể trẻ càng sớm càng tốt sau khi sinh, tốt nhất là
trong vòng 24 giờ đầu. Tại Việt Nam,theo quy định của Bộ Y tế tại Thông tư
38/2017/TT-BYT về “Ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng
phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc” vắc xin VGBSS được tiêm cho trẻ
sơ sinh và lịch tiêm là trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh.(16, 17).
5
1.1.2. Tổng quan về bệnh Viêm gan B
1.1.2.1. Bệnh VGB và các đặc điểm về bệnh VGB
VGB là bệnh gây ra bởi vi rút làm tổn thương ở gan, lúc đầu là viêm gan cấp,
sau chuyển thành viêm gan mãn tính rồi dẫn đến biến chứng nặng nề như xơ gan,
ung thư gan.(1) Tỷ lệ người lớn nhiễm vi rút VGB khỏi hoàn toàn là 90%, nhưng
90% trẻ em nhiễm vi rút VGB trong thời kỳ sơ sinh trở thành người mang trùng
mãn tính. Trẻ mang vi rút nhiều năm có thể lây truyền sang người khác.(13)
Phân loại vùng dịch tễ của bệnh VGB dựa vào tỷ lệ HBsAg dương tính – tức
là xét nghiệm có kháng ngun bề mặt của vi rút Viêm gan B. Trên tồn cầu VGB
H
P
có ba vùng dịch tễ chính: (18)
Vùng dịch lưu hành cao: Tỷ lệ HBsAg (+) từ 5% đến ≥ 8% như Châu Phi,
cận Saharan, khu vực Tây Thái Bình Dương (trừ Australia và New Zealand),
trong đó tỷ lệ này trên 15% ở một số quốc gia.
Vùng dịch lưu hành trung bình: Tỷ lệ HBsAg (+) từ 2% – 4,99% như ở một
U
số nước phía đơng Địa Trung Hải và châu Âu.
Vùng dịch lưu hành thấp: Tỷ lệ HBsAg (+) < 2% ở một số nước như
Australia, Châu Mỹ và Tây Âu.
H
Việt Nam nằm trong khu vực lưu hành dịch cao. Theo các nghiên cứu tỷ lệ
nhiễm vi rút VGB ở nhóm người khỏe mạnh là từ 10-25%.
Nghiên cứu của Đậu Quốc Trấn và cộng sự thực hiện trên 3.997 công nhân
trong độ tuổi lao động từ 18-59 tuổi đang làm việc tại Cơng ty Tân cảng Sài Gịn
cho thấy tỷ lệ mang kháng nguyên bề mặt vi rút VGB (HBsAg) mãn chiếm 9,1%,
thuộc nhóm có tỷ lệ cao ( > 8%). Tỷ lệ mang HBV ở nữ chiếm 6,7% và của nam
giới chiếm 10,5%.(19)
Tỷ lệ tỷ lệ mang HBsAg (+) ở nhóm phụ nữ có thai khá cao từ 12-17%.
Nghiên cứu của Chu Thị Thu Hà và cộng sự tiến hành trên 1.300 phụ nữ có thai tại
Hà Nội năm 2005 cho kết quả tỷ lệ mang dấu ấn HBsAg ở phụ nữ có thai tại Hà Nội
6
là 12,5%, lứa tuổi <25 có tỷ lệ cao nhất (19,7%), 25-29 tuổi là 11,1%, 30-34 tuổi là
7,7% và >35 tuổi là 9,7% (20).
Năm 2013, Nguyễn Trần Hiển và cộng sự đã thực hiện đánh giá huyết thanh
trong 6,949 trẻ em Việt Nam về cho thấy tỷ lệ trẻ em HBsAg dương tính là 2,7%.
Trong đó, trẻ sinh trong thời gian chưa triển khai vắc xin VGBSSs trong 24 giờ từ
năm 2000–2003 có tỷ lệ nhiễm 3,64% cao hơn so với nhóm trẻ sinh sau khi triển
khai vắc xin VGBSS từ năm 2007–2008 (1,64%). Nhóm trẻ đã tiêm đủ 3 mũi vắc
xin VGB bao gồm liều sơ sinh có tỷ lệ HBsAg(+) thấp nhất là 1,75% so với nhóm
trẻ tiêm đủ 3 mũi VGB khơng có liều sơ sinh là 2,98%), tỷ lệ HBsAg(+) cao nhất ở
nhóm trẻ chưa hồn thành lịch tiêm chủng VGBSS.(21)
H
P
Điều này cho thấy hiệu quả to lớn của tiêm vắc xin VGBSS trong vòng 24 giờ
đầu đối với giảm tỷ lệ nhiễm vi rút VGB ở trẻ em.
1.1.2.2. Đường lây truyền
Vi rút VGB có trong máu và các dịch cơ thể khác của cơ thể người mang trùng
U
và lây truyền theo 3 đường chính: Từ mẹ sang con khi sinh, qua đường máu và qua
quan hệ tình dục khơng an tồn. Khả năng lây truyền của bệnh VGB cao gấp 50 –
100 lần so với vi rút HIV.(22, 23)
H
Lây từ mẹ sang con: Vi rút VGB có thể lây từ mẹ sang con trong lúc sinh do
xây xước trong quá trình chuyển dạ. Đây là con đường lây truyền phổ biến
nhất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Ngồi ra, nhiều phụ
nữ mang thai khơng biết mình bị VGB do không phát hiện được triệu chứng
và không được xét nghiệm. Tùy thuộc vào tình trạng nhiễm vi rút VGB của
mẹ mà nguy cơ lây nhiễm từ mẹ sang con khi sinh dao động từ 10 – 90%.
Lây qua đường máu: Vi rút VGB có thể lây qua tiếp xúc trực tiếp với máu
nhiễm vi rút, cụ thể như sau:
+ Tiếp xúc trực tiếp với các vết thương, xây xước.
+ Dùng chung dao cạo hoặc bằng bàn chải đánh răng đã có nhiễm máu.
+ Sử dụng chung bơm kim tiêm, dụng cụ y tế, xăm.
7
+ Tiêm truyền khơng an tồn hoặc do bị kim đâm.
+ Truyền máu khơng an tồn.
Lây qua quan hệ tình dục: Vi rút VGB có thể lây qua quan hệ tình dục khơng
an tồn.
1.1.2.3. Các biện pháp phịng bệnh VGB
Để phịng bệnh VGB, có 3 nhóm giải pháp chính:(24)
Phòng bệnh chủ động: Tiêm vắc xin VGB là biện pháp phòng bệnh chủ động
và hiệu quả nhất đặc biệt là trẻ em. Ngoài ra, trẻ sinh ra từ các bà mẹ nhiễm
vi rút VGB cũng cần tiêm thêm kháng huyết thanh VGB trong vịng 12 giờ
H
P
sau sinh.
Phịng khơng đặc hiệu:
+ Sàng lọc máu và chế phẩm máu.
+ Không dùng chung kim tiêm và các dụng cụ xuyên chích qua da khác.
+ Quan hệ tình dục an tồn.
U
+ Tránh tiếp xúc với máu và các dịch tiết của bệnh nhân nhiễm HBV.
+ Thực hiện phòng ngừa chuẩn giống các bệnh lây truyền qua đường máu.
H
Phòng lây truyền từ mẹ sang sang con:
+ Nếu mẹ mang thai có HBsAg (+): Tiêm vắc xin VGB liều sau sinh cho trẻ
theo chương trình TCMR và phối hợp với tiêm kháng thể kháng HBV cho trẻ. Nên
tiêm cùng thời điểm nhưng ở hai vị trí khác nhau. Sau đó tiêm đầy đủ các liều vắc
xin VGB cho trẻ theo quy định của chương trình TCMR.
+ Nếu mẹ mang thai có HBV – AND > 106 copies/ml (200.000 IU/mL):
Dùng thuốc kháng vi rút từ 3 tháng cuối thai kỳ. Xét nghiệm lại HBV – AND sau
sinh 3 tháng để quyết định ngừng thuốc hoặc tiếp tục điều trị nếu mẹ đủ tiêu chuẩn
điều trị. Theo dõi sát người mẹ để phát hiện viêm gan bùng phát.
8
1.2. Vắc xin viêm gan B và tiêm chủng vắc xin VGB liều sơ sinh
1.2.1. Vắc xin viêm gan B
Vi rút VGB được phát hiện vào năm 1965 bởi tiến sĩ Baruch Blumberg. Vắc
xin VGB được đưa vào sử dụng lần đầu năm 1981 tại Mỹ và việc tiêm phòng vắc
xin VGB thường xuyên cho mọi trẻ sơ sinh trên thế giới bắt đầu từ năm 1992. Vắc
xin này đã góp phần phịng ngừa hơn 95% các trường hợp lây nhiễm. Thế hệ vắc
xin đầu tiên được điều chế từ huyết tương người và hiện tại được sản xuất thông qua
tái tổ hợp DNA bằng kỹ thuật di truyền sử dụng kháng nguyên HBsAg tổng hợp từ
nấm men hoặc tế bào đông vật, không sử dụng vật liệu di truyền nên không lây
nhiễm cho người sử dụng.(25)
H
P
Vắc xin VGB ở dạng đơn liều hoặc phối hợp. Đối với trẻ em sử dụng vắc xin
ở dạng đơn giá dùng để tiêm liều sơ sinh. Vắc xin VGB còn được phối hợp với các
loại vắc xin khác dưới dạng phối hợp như vắc xin 5 trong 1 (DPT – VGB – Hib)
hoặc 6 trong 1 (DPT – VGB – IPV – Hib). (22)
U
Vắc xin VGB sử dụng trong Chương trình TCMR là vắc xin đơn giá, do công
ty Vắc xin và sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) Việt Nam sản xuất và phân phối.
1.2.2. Tiêm chủng vắc xin VGBSS
H
1.2.2.1. Sự cần thiết của tiêm vắc xin VGBSS
Theo khuyến cáo của WHO, ở các nước lưu hành VGB cao thì việc ưu tiên
tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu sau sinh là vấn đề quan trọng
cần được ưu tiên. Trẻ sơ sinh có nguy cơ lây nhiễm khi sinh lên tới 90% nếu mẹ bị
nhiễm VGB. Nếu trẻ sơ sinh bị lây nhiễm vi rút VGB từ mẹ sẽ có nguy cơ trở thành
bệnh mãn tính tới 90% và khoảng 25% trong đó sẽ có nguy cơ bị xơ gan và ung thư
gan.(22)
Đến nay, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị căn bệnh này song chi phí
điều trị cao, rào cản trong q trình cung ứng thuốc kháng vi rút và nguy cơ bệnh tái
phát cao khiến cho tình trạng nhiễm vi rút VGB cịn phổ biến ở nhiều quốc gia. Vì
vậy, tiêm chủng là biện pháp dự phòng hiệu quả nhất. Việc tiêm vắc xin thực hiện
9
càng sớm hiệu quả càng cao, với mũi tiêm trong 24 giờ có khả năng phịng được 85
– 90% các trường hợp từ mẹ sang con. Hiệu quả phòng ngừa sẽ giảm dần theo từng
ngày từ 50 – 57% và đạt ở mức thấp dưới 50% nếu tiêm liều sơ sinh sau 7 ngày.
Tiêm vắc xin VGB sớm không chỉ có hiệu quả tốt trong phịng lây truyền từ mẹ
sang con trong khi sinh mà còn giúp trẻ sơ sinh sớm được bảo vệ phòng lây truyền
ngang vi rút VGB từ các thành viên khác trong gia đình, người chăm sóc trẻ hoặc từ
những trẻ khác qua tiếp xúc với vết xước, chảy máu. Bởi vậy, trẻ rất cần được tiêm
vắc xin VGB trong 24 giờ đầu sau sinh.(22)
Nếu ta không triển khai được việc tiêm vắc xin VGB trong vịng 24 giờ sau
sinh thì hàng năm ước tính ở Việt nam có thêm khoảng 54.600 trẻ nhiễm vi rút
H
P
VGB mãn tính. Đây sẽ là nguồn lây nhiễm trong cộng đồng và khoảng 20-30% số
trẻ này (tương đương 11.000-16.000 trẻ) sẽ tiến triển thành xơ gan và ung thư gan
sau đó. Chi phí điều trị rất tốn kém từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng, trong
khi đó giá thành chi cho 1 liều vắc xin dao động từ một vài trăm ngàn đồng.(21)
Hiện tại ở Việt Nam, tiêm vắc xin VGBSS nằm trong Chương trình tiêm chủng mở
U
rộng và được cung cấp miễn phí cho trẻ em dưới 1 tuổi trên cả nước.(3)
1.2.2.2. Khuyến cáo của WHO về tiêm chủng vắc xin VGB
H
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo trẻ em cần được tiêm chủng vắc xin VGB
trong vịng 24 giờ đầu sau sinh và tiếp tục hồn thành các mũi tiêm tiếp theo căn cứ
lịch của Chương trình Tiêm chủng mở rộng, cụ thể như sau:
3 liều vắc xin VGB: 1 (liều sơ sinh); 2 và 3 tiêm cùng với vắc xin bạch hầu-
ho gà-uốn ván
4 liều vắc xin VGB: 1 (liều sơ sinh); 2,3,4 tiêm cùng với vắc xin bạch hầu-ho
gà-uốn ván trong tiêm chủng thường xuyên.
Trẻ em và người lớn trên 18 tuổi thuộc nhóm nguy cơ cao cũng cần được tiêm
chủng vắc xin VGB, gồm có:
Những người thường xuyên cần truyền máu hoặc các sản phẩm máu,
bệnh nhân chạy thận nhân tạo, người được ghép tạng.
10
Người bị giam trong nhà tù.
Người tiêm chích ma túy.
Người có người thân hoặc bạn tình bị nhiễm HBV mạn tính.
Những người có nhiều bạn tình.
Nhân viên y tế và những người khác có thể tiếp xúc với máu và các sản
phẩm máu.
Khách du lịch chưa hoàn thành lịch tiêm vắc xin VGB trước khi đi đến
các khu vực lưu hành bệnh cũng cần tiêm chủng phòng bệnh.(1)
1.2.2.3. Lịch tiêm vắc xin VGB cho trẻ em và quy trình tiêm chủng tại Việt Nam
Bảng 1.1. Lịch tiêm chủng vắc xin Viêm gan B trong chƣơng trình Tiêm chủng
mở rộng (26)
Thứ tự
Loại vắc xin có thể sử
Tuổi của trẻ
Lịch tiêm chủng
mũi tiêm
dụng
1
2
3
4
Trẻ sơ sinh
H
P
Mũi sơ sinh, tiêm trong
vòng 24 giờ đầu sau sinh
U
Trẻ đủ 2
Cách mũi số 1 tối thiểu 1
tháng tuổi
tháng
Trẻ đủ 3
Cách mũi số 2 tối thiểu
tháng tuổi
một tháng
Trẻ đủ 4
Cách mũi số 3 tối thiểu
tháng tuổi
một tháng
H
Vắc xin VGB đơn giá
Vắc xin phối hợp có thành
phần Viêm gan B: DPTViêm gan B – Hib
Vắc xin phối hợp có thành
phần Viêm gan B: DPTViêm gan B – Hib
Vắc xin phối hợp có thành
phần Viêm gan B: DPTViêm gan B – Hib
1.2.2.4. Quy trình tiêm chủng tại Việt Nam
Quy trình tiêm chủng được áp dụng chung theo Nghị định 104/2016/NĐ-CP
của Chính phủ Quy định về hoạt động tiêm chủng ban hành ngày 1/7/2016. Việc
tiêm chủng phải được thực hiện đầy đủ các bước sau:
11
Trước khi tiêm chủng: Khám sàng lọc, tư vấn cho đối tượng tiêm chủng. Trường
hợp đối tượng tiêm chủng là trẻ em thì việc tư vấn được thực hiện với cha, mẹ hoặc
người giám hộ của trẻ;
Trong khi tiêm chủng: thực hiện tiêm chủng theo đúng chỉ định, bảo đảm an
toàn;
Sau khi tiêm chủng: Theo dõi người được tiêm chủng ít nhất 30 phút sau
tiêm chủng và hướng dẫn gia đình hoặc đối tượng tiêm chủng để tiếp tục theo
dõi ít nhất 24 giờ sau tiêm chủng.
Khi đang triển khai tiêm chủng mà xảy ra tai biến nặng sau tiêm chủng,
người đứng đầu cơ sở tiêm chủng có trách nhiệm:
H
P
+ Dừng ngay buổi tiêm chủng;
+ Xử trí cấp cứu, chẩn đoán nguyên nhân tai biến nặng sau tiêm chủng,
trường hợp vượt quá khả năng thì phải chuyển người bị tai biến nặng sau tiêm
chủng đến cơ sở khám chữa bệnh gần nhất;
+ Thống kê đầy đủ thông tin liên quan đến trường hợp tai biến nặng theo quy
U
định của Bộ trưởng Bộ Y tế và báo cáo Sở Y tế trong thời hạn 24 giờ kể từ thời
điểm xảy ra tai biến.
H
Trong trường hợp xảy ra tai biến nặng sau tiêm chủng vắc xin ngồi Chương
trình Tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng chống dịch, cơ sở nơi xảy ra tai biến nặng
sau tiêm chủng có trách nhiệm báo cáo Sở Y tế nơi cơ sở đặt trụ sở theo quy định
tại khoản 2 điều này và thực hiện bồi thường theo quy định của pháp luật về dân sự
nếu có lỗi gây ra tai biến nặng sau tiêm chủng.
1.2.2.5. Hướng dẫn triển khai tiêm vắc xin VGBSS tại Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu kiểm soát bệnh viêm gan thông qua tiêm chủng thường
xuyên vắc xin viêm gan B cho trẻ dưới một tuổi và trẻ sơ sinh theo quy định tại
Thông tư 38/2017/TT-BYT ngày 17/10/2017 của Bộ Y tế ban hành danh mục bệnh
truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin và sinh phẩm y tế bắt
buộc, cụ thể như sau (26):
12
Đối tượng tiêm: Trẻ sơ sinh có các dấu hiệu sinh tồn bình thường như ổn
định nhịp thở, mơi hồng, bú tốt.
Thời gian tiêm: Trong vòng 24 giờ đầu sau sinh
Vắc xin: Sử dụng vắc xin VGB đơn giá đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành
Đường tiêm: Tiêm bắp vị trí 1/3 giữa mặt ngoài đùi.
Liều lượng: 01 mũi liều 0,5 ml (10mcg)
Bảo quản vắc xin: Vắc xin phải được bảo quản ở nhiệt độ từ 2-8 oC trong tủ
lạnh riêng hoặc phích vắc xin. Khơng được làm đơng băng vắc xin.
Cơ sở vật chất nhân lực:
+ Có phịng tiêm hoặc bàn tiêm vắc xin riêng, nơi tiêm chủng đảm bảo đủ
H
P
ấm cho trẻ, có dán áp phích quy định về tiêm chủng và “Quy trình tiêm vắc
xin VGBSS” theo quy định của Bộ Y tế.
+ Có nơi khám phân loại cho trẻ, tư vấn cho bà mẹ hoặc người nhà của trẻ.
+ Có đủ dụng cụ tiêm chủng, hộp an toàn, hộp thuốc chống sốc, phác đồ
chống sốc tại nơi tiêm.
U
+ Có phân cơng cụ thể cán bộ phụ trách việc tiêm vắc xin VGB cho trẻ sơ
sinh. Tối thiểu có hai cán bộ y tế đã dược tập huấn về tiêm chủng tại mỗi điểm tiêm
H
để có thể luân phiên thực hiện tiêm chủng vắc xin cho trẻ sơ sinh (2,4)
Đảm bảo an toàn tiêm chủng: Thực hiện tư vấn, kiểm tra sức khỏe, chỉ định,
tiêm và theo dõi sau tiêm, hướng dẫn người nhà của trẻ theo dõi phản ứng
sau tiêm theo hướng dẫn trong Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng
7 năm 2016 của Chính phủ quy định về hoạt động tiêm chủng và Thông tư số
34/2018/TT-BYT ngày 16/11/2018 của Bộ Y tế về việc quy định chi tiết
Nghị định 104/2016/NĐ-CP về hoạt động tiêm chủng.(14, 16)
Đối với khám sàng lọc trước tiêm: Thực hiện theo điều 10 TT34/2018/TTBYT ngày 16/11/2018 quy dịnh chi tiết một số điều của Nghị định số
104/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về hoạt động
tiêm chủng. Và Quyết định 2470/QĐ-BYT ngày 14/06/2019 về việc ban
hành hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm chủng đối với trẻ em.(16, 17)
13
Các trường hợp chống chỉ định và hoãn tiêm:
+ Chống chỉ định tiêm đối với các trường hợp:
Trẻ có tiền sử sốc hoặc phản ứng nặng sau tiêm chủng vắc xin lần
trước (có cùng thành phần): sốt cao trên 39°C kèm co giật hoặc dấu
hiệu não/màng não, tím tái, khó thở; Trẻ có tình trạng suy chức năng
các cơ quan (như suy hơ hấp, suy tuần hồn, suy tim, suy thận, suy
gan....)
+ Hoãn tiêm đối với các trường hợp:
Đối với cơ sở tiêm chủng ngồi bệnh viện: Có tình trạng suy chức
H
P
năng các cơ quan (như suy hơ hấp, suy tuần hồn, suy tim, suy thạn,
suy gan, hơn mê,…); Trẻ mắc các bệnh cấp tính, các bệnh nhiễm
trùng; trẻ sốt ≥ 37,5 độ C hoặc hạ thân nhiệt ≤ 35,5 độ C (đo nhiệt độ
tại nách); Trẻ có cân nặng dưới 2000g; trẻ sinh non có tuổi thai < 34
tuần: nếu mẹ có HBsAg (-) tạm hỗn tiêm vắc xin VGB sơ sinh, tiêm
chủng khi trẻ đủ 34 tuần tuổi. Nếu mẹ có HBsAg (+) hoặc mẹ khơng
U
xét nghiệm chuyể khám sang lọc và tiêm chủng tại bệnh viện; mắc các
bệnh bẩm sinh hoặc bệnh mạn tính ở tim, phổi, hệ thống tiêu hóa, tiết
H
niệu, máu, thần kinh, ung thư chưa ổn định.
Đối với cơ sở tiêm chủng tại bệnh viện: Trẻ có chỉ định cấp cứu; Trẻ
mắc các bệnh cấp tính, các bệnh nhiễm trùng; trẻ sốt ≥ 37,5 độ C hoặc
hạ thân nhiệt ≤ 35,5 độ C (đo nhiệt độ tại nách); Trẻ có tuổi thai < 28
tuần. Tiêm chủng vắc xin Viêm gan B khi trẻ đủ 28 tuần tuổi; Trẻ có
cân nặng < 2000 g mà mẹ có HbsAg (-) trường hợp mẹ có HbsAg (+)
hoặc khơng xét nghiệm cho mẹ thì cần tiêm vắc xin VGB cho trẻ; trẻ
mắc các bệnh bẩm sinh có tăng áp lực động mạch phổi ( ≥ 40 mmHg).
Toàn bộ nội dung khám sàng lọc được ghi theo bảng kiểm, lưu tại các điểm
tiêm chủng (17, 27).
14
1.2.2.6. Các phản ứng phụ có thể gặp khi tiêm vắc xin VGBSS
Vắc xin VGB rất an toàn. Các phản ứng sau tiêm nghiêm trọng như sốc phản
vệ được báo cáo 1/1 triệu liều tiêm. Phản ứng nhẹ sau tiêm như đau tại chỗ 3 – 29%,
đỏ hoặc sung 3%, nhức đầu 3% và sốt 1- 6%.(27)
1.3. Tình hình tiêm chủng vắc xin VGB và VGBSS trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Trên thế giới, vắc xin VGB bắt đầu được đưa vào sử dụng đại trà để tiêm
chủng phòng bệnh VGB từ năm 1982. Vắc xin này đem lại hiệu quả 95% trong việc
phòng ngừa bệnh VGB mãn tính và ung thư gan (1). Nhiều nghiên cứu cho thấy,
H
P
hiệu quả của vắc xin lên đến 95% và đã góp phần to lớn vào việc phịng chống VGB
trên bình diện thế giới. Tính đến năm 2018, 177 quốc gia triển khai tiêm chủng vắc
xin VGB trong các chương trình tiêm chủng cho trẻ em và trẻ sơ sinh. Ước tính năm
2008, đã có 69% trẻ em nhận đủ 3 liều vắc xin VGB đúng lịch. Tuy nhiên, tỷ lệ
tiêm chủng vắc xin VGB liều sơ sinh còn ở mức thấp. Năm 2006, chỉ khoảng 27%
U
trẻ sơ sinh trên toàn thế giới được tiêm chủng vắc xin VGB liều sơ sinh. (28)
Tại Đài Loan, chương trình tiêm vắc xin phịng ngừa VGB được triển khai
tồn quốc từ năm 1984. Đài Loan là nước đầu tiên phát động phong trào tiêm phòng
H
VGB cho tất cả trẻ sơ sinh và được đánh giá là một trong những nước thành công
nhất trong việc phòng ngừa bệnh này. Kết quả sau 15 năm triển khai tiêm vắc xin
phịng ngừa VGB trên tồn quốc, tỷ lệ người Đài Loan mang HBsAg (+) giảm từ
9,8% (1984) còn 0,5% (2014). Trong thời gian này, tỷ lệ ung thư gan ở trẻ em giảm
gần 50% (29).
Ở Trung Quốc, nghiên cứu dịch tễ học Viêm gan quốc gia đã kháo sát xác
định rằng tỷ lệ HbsAg là 9,8%. Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện tiêm chủng
HBV cho trẻ sơ sinh lần đầu tiên năm 1992, nhưng các bậc cha mẹ đã phải chi trả
cho vắc xin, vì vậy tỷ lệ tiêm chủng được dự đoán cao hơn trong khu vực đơ thị và
khu vực có lĩnh vực kinh tế xã hội cao. Năm 2002, Trung Quốc tích hợp vắc xin
VGB vào chương trình Tiêm chủng Quốc gia với một khoản phụ phí nhỏ cho phụ
15
huynh. Trong tháng 5/2005, Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu cung cấp miễn phí
tất cả vắc xin tiêm chủng cho trẻ sơ sinh. Trong năm 2009, tỷ lệ mắc VGB điều
chỉnh theo tuổi là 7,2% nhưng quan trọng hơn, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi mắc VGB là
1,0% thể hiện rõ thành cơng của chương trình tiêm chủng.(30)
Tại Italy, vắc xin VGB bắt đầu được triển khai vào năm 1981 để tiêm chủng
cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo và cán bộ y tế. Năm 1983, Italy triển khai chiến
dịch tiêm chủng vắc xin VGB cho đối tượng nguy cơ cao, sau đó ban hành quy định
về việc sử dụng vắc xin này miễn phí cho đối tượng nguy cơ cao. Năm 1991, luật
pháp nước này quy định tiêm chủng bắt buộc đối với đối tượng trẻ sơ sinh và trẻ
dưới 12 tuổi. Đến năm 2004, chiến lược tiêm chủng tiếp tục khuyến khích tiêm
H
P
chủng VGB cho trẻ sơ sinh. Sau 20 năm, tỷ lệ nhiễm vi rút VGB tại Italy đã giảm từ
5,1/100.000 dân vào năm 1991 xuống còn 0,9/100.000 dân vào năm 2010 (31).
Tại Mỹ, năm 1991 chính phủ phát động chương trình tiêm phịng VGB cho trẻ
em sơ sinh trên toàn quốc. Luật sức khỏe nước này quy định tất cả các phụ nữ có
thai phải được xét nghiệm HBsAg và tất cả các bà mẹ có HBsAg (+) cần được tiêm
U
vắc xin VGB trong vòng 12 giờ sau sinh và tiêm globulin miễn dịch kháng vi rút
VGB.(32)
H
Tại Nigeria, một nghiên cứu cắt ngang thực hiện giữa các cặp mẹ - con tại tỉnh
Enugu, cho thấy chỉ có 26,2% trẻ sinh ra từ các cặp mẹ - con đến tiêm chủng tại cơ
sở y tế được tiêm mũi vắc xin VGBSS.(33)
Tuy nhiên, bất cứ chương trình y tế nào, dù có an tồn ở mức độ nào đi nữa,
khi áp dụng cho một quần thể lớn, đều có thể gây ra một số phản ứng khơng mong
muốn. Đã có nghiên cứu cho thấy một số bệnh như: viêm khớp xương, vẩy nến
(psoriasis), suy giảm thị lực, suy cơ bắp hay liệt, triệu chứng cảm lạnh rối loạn gan,
viêm dây thần kinh (neuritis), rối loạn thận, viêm ngoại tâm mạc cấp tính, rối loạn
hệ thống hơ hấp, hội chứng Guillain-Barrésau … được ghi nhận sau khi tiêm vắc
xin phịng VGB(34). Có nghiên cứu cho rằng tiêm vắc xin ngừa VGB có thể liên
quan đến bệnh đa xơ cứng dây thần kinh (35). Căn cứ những nghiên cứu nói trên,
Bộ trưởng Y tế Pháp quyết định ngưng chương trình tiêm phịng cho trẻ em tuổi từ
16
11-12, nhưng cho phép tiếp tục tiêm phòng ở trẻ em sơ sinh có nguy cơ bị nhiễm
cao (như có mẹ bị nhiễm VGB). Một số nhóm cơng dân trên thế giới chống lại
chương trình tiêm vắc xin (anti-vaccine) cũng có nhiều phát biểu và đề nghị ngưng
chương trình tiêm phịng VGB cho trẻ sơ sinh (36).
Trước những thơng tin trên, Viện Y khoa Mỹ thành lập một ủy ban chuyên
môn điều tra và nghiên cứu về hiệu quả và các phản ứng khơng mong muốn của
tiêm vắc xin phịng VGB. Sau nhiều tháng nghiên cứu, họ đi đến kết luận rằng
khơng có mối liên quan nào giữa vắc xin phịng bệnh VGB và các bệnh nói trên.
1.3.2. Tại Việt Nam
H
P
Vắc xin VGB được triển khai trong chương trình TCMR từ năm 1997. Những
năm đầu chỉ triển khai ở những vùng nguy cơ của bệnh. Từ năm 2003, được sự hỗ
trợ của Liên minh toàn cầu về vắc xin và tiêm chủng (GAVI), vắc xin VGB đã được
triển khai trên toàn quốc cho trẻ < 1 tuổi. Từ năm 2006 đến nay tỷ lệ tiêm VGB đủ 3
mũi ở trẻ < 1 tuổi ln đạt trên 90%.(3, 9)
Bảng 1.2. Tình hình triển khai tiêm VGB tại Việt Nam (3)
Số tỉnh trong tồn quốc triển khai
Năm
chƣơng trình tiêm vắc xin VGB
U
H
1997
1998
2
29
2000
42
2003
64
Năm 2003 cùng với tiêm chủng đủ 3 mũi vắc xin VGB trong vắc xin phối hợp
DPT – VGB – Hib (vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu – ho gà – uốn ván –
VGB- Hib) cho trẻ 2 – 3 – 4 tháng tuổi, Việt Nam đã thực hiện tiêm thí điểm tiêm
vắc xin VGBSS trong 24 giờ đầu sau sinh để phòng lây truyền vi rút VGB từ mẹ
sang con. Năm 2006, đã có 58/63 tỉnh thành triển khai tiêm vắc xin VGBSS và có
39 tỉnh đạt tỷ lệ tiêm trên 60% (3). Từ năm 2011 đến 2014, 100% các tỉnh triển khai
tiêm VGBSS, tuy nhiên tỷ lệ tiêm đạt trên 60% khá thấp. Từ năm 2015-2018, tỷ lệ