Tải bản đầy đủ (.pdf) (126 trang)

Thực trạng hoạt động phòng khám bác sĩ gia đình lồng ghép tại trạm y tế xã dục tú, huyện đông anh, hà nội năm 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 126 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỊNG KHÁM

H
P

BÁC SĨ GIA ĐÌNH LỒNG GHÉP TẠI TRẠM Y TẾ
XÃ DỤC TÚ, HUYỆN ĐÔNG ANH,
HÀ NỘI NĂM 2016

U

H

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THANH TÂM
NGUYỄN THỊ THANH TÂM

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỊNG KHÁM



H
P

BÁC SĨ GIA ĐÌNH LỒNG GHÉP TẠI TRẠM Y TẾ
XÃ DỤC TÚ, HUYỆN ĐÔNG ANH,
HÀ NỘI NĂM 2016

U

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

H

PGS.TS Đỗ Mai Hoa

Hà Nội - 2017


i
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau
Đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy,
giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ
Mai Hoa, Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ,
dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi trong suốt q trình thực hiện
luận văn.


H
P

Tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Trung tâm Y tế huyện
Đông Anh, Trạm Y tế xã Dục Tú và các thành viên nhóm nghiên cứu đã giúp tơi
thực hiện q trình nghiên cứu.

Tơi xin gửi tấm lịng ân tình tới gia đình, người thân, bạn bè của tơi là nguồn
động viên lớn giúp tơi hồn thành luận văn.

U

Xin chân thành cảm ơn!

H


ii

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 4
1.1. Y tế cơ sở với chăm sóc sức khỏe ban đầu ........................................................ 4
1.2. Mơ hình Bác sĩ gia đình .................................................................................... 8
1.3. Khung lý thuyết: ............................................................................................. 21
1.4. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu .................................................................... 22

H
P


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 24
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................... 24
2.2. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................ 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 24
2.4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ........................................................... 30

U

2.5. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ...................................................................... 31
2.6. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số ........................ 31

H

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 32
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ....................................................... 32
3.2. Kết quả hoạt động Phòng khám BSGĐ tại Trạm Y tế xã Dục Tú năm 2016: ... 36
3.3. Thực trạng nguồn lực mơ hình BSGĐ tại trạm Y tế xã Dục Tú ....................... 44
3.4. Quan điểm của các bên liên quan về việc triển khai mơ hình phịng khám
BSGĐ lồng ghép tại Trạm Y tế xã Dục Tú. ........................................................... 52
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN .................................................................................... 56
4.1. Thực trạng sử dụng dịch vụ Y tế của đối tượng nghiên cứu ............................ 59


iii
4.2. Thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai mơ hình phịng khám bác sĩ gia đình
tại trạm Y tế xã Dục Tú năm 2016 ......................................................................... 60
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 63
1. Kết quả triển khai Phịng khám bác sĩ gia đình lồng ghép tại Trạm Y tế xã Dục
Tú năm 2016: ........................................................................................................ 63

2. Thuận lợi và khó khăn khi triển khai Phịng khám bác sĩ gia đình lồng ghép với
trạm Y tế xã Dục Tú .............................................................................................. 63
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................... 65

H
P

PHỤ LỤC.............................................................................................................. 70
Phụ lục 1 : Bộ câu hỏi về tình hình sử dụng dịch vụ Y tế của người dân ................ 70
Phụ lục 2: Bảng kiểm điều tra thực trạng nhân lực, cơ sở vật chất, Trang thiết bị tại
Trung tâm Y tế Huyện ........................................................................................... 79
Phụ lục 3: Danh mục thuốc tại TYT xã Dục Tú ..................................................... 90

U

Phụ lục 5 : Hướng dẫn PVS giám đốc TTYT Đông Anh...................................... 104
Phụ lục 6: Hướng dẫn phỏng vấn sâu Trưởng phòng Y tế Huyện......................... 106

H

Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu Trưởng phòng KHNV - TTYT .................. 108
Phụ lục 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu Trạm trưởng Trạm Y tế xã Dục ................. 109


iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BSGĐ

:


Bác sĩ gia đình

YHGĐ:

:

Y học gia đình

BHYT

:

Bảo hiểm Y tế

TYT

:

Trạm Y tế

CBYT

:

Cán bộ Y tế

CSSK

:


Chăm sóc sức khỏe

CSSKBĐ

:

Chăm sóc sức khỏe ban đầu

HGĐ

:

Hộ gia đình

GDSK

:

Giáo dục sức khỏe

QLSK

:

Quản lý sức khỏe

KCB

:


Khám chữa bệnh

KHHGĐ

:

Kế hoạch hóa gia đình

PKĐKKV

:

Phịng khám đa khoa khu vực

SDD

:

Suy dinh dưỡng

VSPD

: Vệ sinh phòng dịch

SPSS

:

U


H
P

Statistical Package for Social Sciences

H

Phần mềm thống kê

UBND:

:

Ủy ban nhân dân


v
DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Mơ hình chung tổ chức bộ máy Y tế Việt Nam ........................................ 4
Hình 1.2: Sơ đồ khung lý thuyết về triển khai mơ hình Bác sĩ gia đình .................. 21
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức mơ hình BSGĐ tại TYT xã Dục Tú ................................. 36

H
P

H

U



vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biều đồ 3.1: Tỉ lệ thẻ BHYT phân bố theo loại hình bảo hiểm Y tế (N= 184.) ....... 34
Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ nơi đăng kí bảo hiểm Y tế của đối tượng nghiên cứu ................. 35
Biểu đồ 3.3: Tổng số hộ gia đình tham gia mơ hình phịng khám BSGĐ qua các
năm (2012-2016) ................................................................................................... 37
Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ sử dụng các dịch vụ Y tế tại Trạm Y tế ...................................... 39
Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ hài lòng của người dân đối với Dịch vụ Y tế tại Trạm Y tế xã Dục

H
P

Tú .......................................................................................................................... 39
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh của các hộ gia đình được
quản lý tại Trạm Y tế xã Dục Tú năm 2016 ........................................................... 40
Biểu đồ 3.7. Số lượt khám chữa bệnh tại TYT xã Dục Tú (2012-2016) ................. 41
Biểu đồ 3.8: Số người được Mơ hình Bác sỹ gia đình quản lý so với tổng số dân từ

U

năm 2012 - 2016.................................................................................................... 42

H


vii
DANH MỤC BẢNG


Bảng 2.1: Biến số nghiên cứu ................................................................................ 26
Bảng 3.1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (N=197) ........................................ 32
Bảng 3.2: Thu nhập bình quân của các hộ gia đình tham gia mơ hình BSGĐ......... 33
Bảng 3.3: Tỷ lệ người dân có thẻ BHYT (N= 197) ................................................ 34
Bảng 3.4: Tỷ lệ người dân có ốm/bệnh và sử dụng dịch vụ Y tế trong năm 2016
(N=197)................................................................................................................. 38

H
P

Bảng 3.5: Kết quả hoạt động chính của Phịng khám bác sĩ gia đình tại Trạm Y tế xã
Dục Tú năm 2016: ................................................................................................. 42
Bảng 3.6: Thông tin về đặc điểm cơ sở vật chất trạm Y tế xã Dục Tú .................... 46
Bảng 3.7: Thực trạng trang thiết bị Y tế tại Trạm Y tế xã Dục Tú .......................... 47

H

U


viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trên thế giới, hoạt động bác sĩ gia đình (BSGĐ) được xem là một trong
những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu
theo hướng toàn diện và liên tục, giúp sàng lọc bệnh tật, chuyển tuyến phù hợp, góp
phần giảm tải bệnh viên tuyến trên. Trạm Y tế xã Dục Tú của Huyện Đông Anh của
Thành phố Hà Nội đang triển khai mơ hình phịng khám BSGĐ lồng ghép chức
năng trạm Y tế xã từ năm 2012. Nghiên cứu được tiến hành nhằm mơ tả kết quả
hoạt động Phịng khám BSGĐ tại Trạm Y tế xã Dục Tú trong năm 2016 và phân

tích thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai mơ hình này.

H
P

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mơ tả cắt ngang có phân tích, nghiên cứu
kết hợp định lượng và định tính. Đại diện của 48 hộ gia đình được Trạm Y tế xã
Dục Tú lập hồ sơ quản lý sức khỏe theo nguyên lý y học gia đình và 70 thành viên
trong hộ gia đình có sử dụng dịch vụ tại Trạm Y tế. Tình hình nguồn lực (nhân lực,
cơ sở vật chất, thuốc men...) của trạm phục vụ cho hoạt động này được đánh giá
thông qua phiếu tự điền và bảng kiểm. Các thông tin thu được từ phỏng vấn sâu vào

U

thảo luận nhóm với người dân và các bộ Y tế tại trạm để trao đổi về thuận lợi, khó
khăn trong việc triển khai mơ hình này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mơ hình phịng khám BSGĐ lồng ghép Trạm Y tế

H

xã Dục Tú hoạt động rất hạn chế. Được bắt đầu từ năm 2012, nhưng TYT xã mới
chỉ lập hồ sơ và quản lý được 48 hộ gia đình với 197 người dân trong xã theo mẫu
BSGĐ. Trong số 197 người này, vẫn còn đến 41,02% tự mua thuốc, 35,86% sử
dụng dịch vụ của TYT, 14.14% sử dụng được chuyển gửi sử dụng dịch vụ Y tế tại
cơ sở Y tế (CSYT) khác, 10,61% sử dụng dịch vụ tại CSYT khác không do TYT
giới thiệu trong năm 2016. Các hoạt động YHGĐ chính mà TYT thực hiện cho
nhóm này trong năm 2016 bao gồm 382 lượt khám, tổ chức khám sàng lọc cho 25
người, tổ chức được 4 buổi truyền thông về YHGĐ... Việc triển khai mơ hình
BSGĐ tại xã Dục Tú có thuận lợi là đã nhận được hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật và tài

chính của Trường Đại học Y Hà Nội từ năm 2012, nhưng các hỗ trợ này đã dừng từ
năm 2014. Hiện nay, TYT xã chưa có cơ chế thu phí cho các dịch vụ của Phịng


ix
khám BSGĐ, do đó khơng thu hút và tạo động lực cho cán bộ Y tế, đồng thời chưa
có cơ chế chuyển tuyến phù hợp để đảm bảo cho việc quản lý chăm sóc tồn diện,
thường xun, liên tục... Nghiên cứu cho thấy, để đẩy mạnh hoạt động của phòng
khám BSGĐ lồng ghép với trạm Y tế xã, Bộ Y tế nên sớm ban hành cơ chế tài
chính cho phép TYT xã có được nguồn thu từ việc cung cấp dịch vụ YHGĐ; TTYT
Đông Anh nên giúp TYT xây dựng cơ chế chuyển tuyến nhanh, thuận lợi và có sự
phản hồi. Bên cạnh đó, TYT cần tăng cường truyền thơng về YHGĐ cho các cấp
chính quyền, ban ngành, đồn thể và người dân thấy được ý nghĩa và ủng hộ cho
các hoạt động BSGĐ được mở rộng và duy trì.

H
P

H

U


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trạm Y tế xã có một vai trị quan trọng trong hệ thống Y tế, đây là nơi thực
hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và là cơ sở Y tế gần nhất với người dân. Lợi
thế lớn nhất của trạm Y tế xã là sự quen thuộc của các bác sĩ ở địa phương có thể
có với bệnh nhân của họ, có thể ảnh hưởng đến việc điều trị và chi phí chữa trị phù
hợp cho trong từng đối tượng bệnh nhân ở địa phương. Hiện nay, đất nước đổi mới,

nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, cơ chế thị trường đã tác động gây khơng ít
biến đổi trong việc khám - chữa bệnh cho nhân dân. Nhu cầu khám chữa bệnh lớn,
đòi hỏi chất lượng cao, người dân đã tìm đến các bệnh viện tuyến Thành phố và
Trung ương ngay cả khi chỉ mắc những chứng bệnh thơng thường, đã gây tình trạng

H
P

q tải bệnh viện. Đây là vấn đề xã hội mà ngành Y tế Việt Nam đang nỗ lực tìm
các giải pháp để mang lại sự cân bằng trong cung cấp dịch vụ khám- chữa bệnh.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy cứ 100 trường hợp ốm, có khoảng 70 đến
80% mắc các chứng/bệnh thơng thường, có thể chữa khỏi ngay tại nhà và cộng
đồng, có khoảng 10 đến 20% người đến ốm đến trạm Y tế cơ sở khám - chữa bệnh

U

[15, 22]. Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở Y tế hiện vẫn chưa được
người dân tin tưởng nên khi ốm đau dù nhẹ thông thường vẫn đến các bệnh viện và
cơ sở Y tế chuyên khoa tuyến trên để khám bệnh, chữa bệnh gây lãng phí thời gian,

H

tiền của, gây áp lực qúa tải đối với các bệnh viện tuyến trên [26]. Do vậy việc
thường xuyên, liên tục chăm sóc sức khỏe tồn diện cho các hộ gia đình để phịng
bệnh tại cộng đồng là hết sức cần thiết.

Mơ hình bác sĩ gia đình (BSGĐ) được hình thành từ những năm 70, đang
phát triển và nhân rộng ở nhiều nước trên thế giới ở thế kỷ XX. Năm 1960, Y học
gia đình ra đời ở Mỹ, Anh và một số nước, đã đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc
sức khỏe của cộng đồng với sự chuyển đổi mơ hình bệnh tật trên tồn cầu. Từ kinh

nghiệm của các nước trên thế giới nếu phát triển mơ hình BSGĐ sẽ góp phần nâng
cao chất lượng chăm sóc ban đầu theo hướng tồn diện và liên tục, giúp sàng lọc
bệnh tật, chuyển tuyến phù hợp, góp phần giảm tải bệnh viên tuyến trên.
Tại Việt Nam, từ tháng 3/2000 Bộ Y tế chính thức cơng nhận chun ngành
Y học gia đình và cho phép đào tạo chuyên khoa cấp I YHGĐ. Tháng 3/2013, Bộ Y


2
tế đã phê duyệt Đề án “Xây dựng và phát triển mơ hình phịng khám bác sĩ gia đình
tại Việt Nam giai đoạn 2013-2020”, Đề án được triển khai thí điểm tại một số tỉnh,
thành phố như Hà Nội, Thừa Thiên Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phịng, Cần Thơ,
Thái Ngun… với các mơ hình khác nhau như: Trung tâm BSGĐ, phòng khám
BSGĐ, phòng khám BSGĐ tư nhân, Trạm Y tế có hoạt động bác sĩ gia đình. Tháng
4/2016, Bộ Y tế quyết định phê duyệt: “Kế hoạch nhân rộng và phát triển mơ hình
phịng khám bác sĩ gia đình tại Việt Nam, giai đoạn 2016-2020”. [35]. Hiện nay,
Chính phủ, Bộ Y tế vẫn xác định BSGĐ là một trong những giải pháp quan trọng
nhằm tăng cường chăm sóc sức khoẻ người dân theo hướng chủ động, tích cực và
liên tục. Bộ Y tế đang tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn để triển khai nhân

H
P

rộng và phát triển mơ hình Phịng khám bác sĩ gia đình rộng rãi trên toàn quốc.
Tại Hà Nội, tháng 10/2016 UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Thông
báo số 384/TB-UBND về kết luận của tập thể lãnh đạo UBND Thành phố chỉ đạo
ngành Y tế thủ đơ tiếp tục rà sốt, hồn thiện, xây dựng và phát triển mơ hình phịng
khám BSGĐ trên địa bàn toàn Thành phố[1].

U


Trạm Y tế xã Dục Tú – Trung tâm Y tế Huyện Đông Anh được chọn là một
trong những trạm Y tế xã triển khai thí điểm mơ hình phịng khám bác sĩ gia đình
lồng ghép Trạm Y tế xã, của Bộ Y tế. Năm 2012, dưới sự chỉ đạo của Sở Y tế Hà

H

Nội, Trung tâm Y tế Huyện Đông Anh, sự hỗ trợ về trang thiết bị máy móc, chun
mơn kỹ thuật của Trường Đại học Y Hà Nội và toàn bộ kinh phí khám sàng lọc, xét
nghiệm cho 34 hộ gia đình, lập hồ sơ quản lý sức khỏe hộ gia đình cho 144 người.
Từ đó cho đến nay, mơ hình chưa được đánh giá lại. Do vậy, chúng tôi tiến hành
đánh giá “Thực trạng hoạt động phòng khám Bác sĩ gia đình lồng ghép tại Trạm
Y tế xã Dục Tú - Huyện Đông Anh - Hà Nội năm 2016” để mô tả các hoạt động
đã được triển khai trong 1 năm qua, từ đó rút kinh nghiệm, và đề xuất các biện pháp
tăng cường hoạt động và xây dựng phương án cải thiện mơ hình


3
Mục tiêu nghiên cứu

1. Mô tả kết quả hoạt động Phịng khám bác sĩ gia đình tại Trạm Y tế xã Dục
Tú năm 2016;
2. Phân tích thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai mơ hình phịng khám
bác sĩ gia đình tại trạm Y tế xã Dục Tú năm 2016.

H
P

H

U



4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Y tế cơ sở với chăm sóc sức khỏe ban đầu
Ở Việt Nam, hệ thống tổ chức Y tế được chia thành 4 tuyến, bao gồm tuyến
trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã, trong tuyến xã có trạm Y tế xã và
Y tế thôn bản. Y tế cơ sở được xác định bao gồm Y tế tuyến huyện và tuyến xã [16,
17, 23, 28].

H
P

U

H

Hình 1.1: Mơ hình chung tổ chức bộ máy Y tế Việt Nam
Bộ Y tế đã xác định trạm Y tế xã, phường, thị trấn (gọi chung là trạm Y tế cơ
sở) là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống Y tế nhà
nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật CSSKBĐ cho nhân dân tại cộng
đồng trong đó có cơng tác khám chữa bệnh cho nhân dân [20, 23].
Thực hiện “xã hội hóa” cơng tác Y tế và “đa dạng hóa” các loại hình dịch vụ
CSSK. Nhà nước cho phép Bộ Y tế đưa ra nhiều mơ hình cung ứng dịch vụ Y tế
khác nhau: thu một phần viện phí (1989), bảo hiểm Y tế (1992); dịch vụ Y tế Nhà


5
nước bao cấp không mất tiền cho người nghèo và đối tượng chính sách, dịch vụ Y
tế tư nhân ra đời (1993) được công nhận và phát triển rộng rãi cả bề rộng lẫn chiều

sâu, chủ yếu phục vụ công tác khám chữa bệnh và cung ứng thuốc. Người dân có
quyền lựa chọn cơ sở dịch vụ Y tế nào mà họ muốn [19].
Do nhiều loại hình dịch vụ Y tế khác nhau được cung cấp trong CSSKBĐ ở
tuyến xã các hoạt động của trạm Y tế xã chủ yếu tập trung thực hiện các chương
trình Y tế quốc gia và làm cơng tác Y tế dự phịng trong khi đó hoạt động khám chữa bệnh thơng thường cho nhân dân bị sao nhãng và giảm sút nhiều, khơng có
biện pháp hiệu quả để thu hút nhân dân đến khám - chữa bệnh tại trạm Y tế [3].
Nhiều cơng trình nghiên cứu về Y tế công cộng ở Hà Nội và các địa phương

H
P

khác trong cả nước cho thấy trung bình chỉ có khoảng 10,0% - 20,0% người ốm đến
trạm Y tế cơ sở khám - chữa bệnh [2, 3, 18].

Thực trạng trên cho thấy nhu cầu khám - chữa bệnh của nhân dân tại cộng
đồng ngày càng cao (cả về số lượng và chất lượng) trong khi hoạt động khám - chữa
bệnh của trạm Y tế cơ sở chưa đáp ứng và chưa theo kịp được nhu cầu và yêu cầu

U

thực tế đề ra.

1.1.1. Chức năng nhiệm vụ của Trạm Y tế xã[26]
1.1.1.1. Chức năng

H

Trạm Y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Trạm Y tế xã) có chức
năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trên
địa bàn xã.


Trạm Y tế xã có trụ sở riêng, có con dấu để giao dịch và phục vụ công tác
chuyên môn nghiệp vụ.
1.1.1.2. Nhiệm vụ
* Thực hiện các hoạt động chun mơn, kỹ thuật:
- Về Y tế dự phịng:
- Về khám bệnh, chữa bệnh; kết hợp, ứng dụng y học cổ truyền trong phịng
bệnh và chữa bệnh:
- Về chăm sóc sức khỏe sinh sản:
- Về cung ứng thuốc thiết yếu:


6
- Về quản lý sức khỏe cộng đồng:
- Về truyền thông, giáo dục sức khoẻ:
* Hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên Y tế
thôn, bản:
* Phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện công tác dân số kế hoạch hóa gia đình; thực hiện cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình theo phân
tuyến kỹ thuật và theo quy định của pháp luật;
* Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch
vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân
* Thường trực Ban Chăm sóc sức khỏe cấp xã về cơng tác bảo vệ, chăm sóc

H
P

và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn:

* Thực hiện kết hợp quân - dân y theo tình hình thực tế ở địa phương.
* Chịu trách nhiệm quản lý nhân lực, tài chính, tài sản của đơn vị theo phân

cơng, phân cấp và theo quy định của pháp luật.

* Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật.

U

* Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.

1.1.2. Thực trạng hoạt động công tác khám bệnh, chữa bệnh tại Trạm Y tế xã

H

Theo kết quả một nghiên cứu khảo sát thực trạng hoạt động KCB của một số
trạm Y tế xã ở 4 tỉnh thuộc dự án nâng cao nâng cao năng lực ở một số tỉnh
thành vào tháng 9/2012. Toàn bộ các TYT đều thực hiện công tác khám chữa bệnh,
tuy nhiên công việc này được thực hiện rất khác nhau tại các TYT phụ thuộc cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị Y tế và đặc biệt phụ thuộc vào nhân lực của từng TYT. Có
những trạm hầu như khơng có người bệnh đến, trung bình chỉ có 1-3 người/ngày,
trong khi có những TYT ở Kiên Giang đã khám chữa bệnh cho 100-200 lượt
người/ngày. Một số TYT không đủ điều kiện khám chữa bệnh BHYT nên người
dân sẽ phải đi xa hơn để KCB. Việc thực hiện chức năng điều trị sẽ giúp cho người
dân tăng cường khả năng tiếp cận DVYT. Tuy nhiên trên thực tế, hiện tượng người
dân vượt tuyến điều trị và bỏ qua tuyến xã là tình trạng phổ biến. Lý do lớn nhất là
người dân không tin tưởng vào chất lượng điều trị của TYT. Mặc dù nhiều TYT


7
được trang bị đầy đủ các trang thiết bị như bàn đẻ, dụng cụ sản khoa... nhưng cả
năm khơng có sản phụ nào đến đẻ, gây lãng phí đầu tư và trang thiết bị mau hỏng

do không được sử dụng thường xuyên. Việc một TYT có vài ba phụ nữ đến sinh đẻ
tại TYT còn nguy hiểm hơn do CBYT không được thực hành thường xuyên nên
kiến thức và kinh nghiệm xử trí mai một dần. Các trang thiết bị ít được dùng nên
phòng ốc, bàn đẻ, dụng cụ... cũng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn các trang thiết
bị được sử dụng thường xun.
Tình trạng người dân ít sử dụng DVYT ở TYT sẽ dẫn đến "vịng xốy suy
giảm chất lượng điều trị". Người dân đến ít dần, y, bác sĩ ít được cọ sát cơng việc,
chun mơn kém dần đi, dân càng ít đến nên kiến thức càng ít được vận dụng, kinh

H
P

nghiệm ít được tích lũy, trang thiết bị Y tế ít dùng, mau han gỉ, nhanh hỏng, nhanh
xuống cấp => dân càng không tin tưởng chất lượng điều trị tuyến xã đẫn đến vượt
tuyến gây quá tải đối với các bệnh viện tuyến trên.

Trung bình các TYT thực hiện KCB cho khoảng 773 lượt người. Có TYT
hầu như khơng có người bệnh đến, trung bình chỉ có 1-3 người/ngày. Theo khảo sát,

U

trung bình các TYT khám BHYT cho 476 bệnh nhân/tháng. Có những TYT khơng
thực hiện khám chữa bệnh BHYT, chủ yếu là chuyển tuyến lên KCB ở các tuyến
trên. Có khoảng 50% người bệnh đi thẳng đến bệnh viện Huyện mà không qua TYT

H

xã. Nguyên nhân chính của tình trạng dân khơng qua TYT đều được các bác sĩ của
bệnh viện và phòng Y tế thống nhất là do "dân chưa thật tin tưởng vào trình độ
chun mơn của các y sĩ đang cơng tác tại các trạm Y tế xã do không được đào tạo

và cập nhật những kiến thức thường xuyên"[11].
Tâm lý người bệnh ai cũng muốn được đến cơ sở Y tế tốt hơn để điều trị, vì
thế chuyện vượt tuyến, trái tuyến dẫn đến quá tải cho tuyến trên ngày càng trở nên
phức tạp. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, hiện tượng tâm lý "Người bệnh không
tin vào Y tế cơ sở" khá phổ biến. Mặc dù khám chữa bệnh ở trạm Y tế gần và thuận
lợi nhưng TYT xã không phải là ưu tiên lựa chọn hàng đầu của người dân. Vì dân
khơng đặt nhiều niềm tin vào cơng tác điều trị của TYT cho nên thực trạng hoạt
động KCB ở tuyến cơ sở khó đẩy mạnh được [13].


8
1.1.3. Nhu cầu khám bệnh- chữa bệnh và sử dụng dịch vụ Y tế của người dân tại
cộng đồng
Việc nghiên cứu về mơ hình bệnh tật và nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa
bệnh của người dân đã cho những kết quả khác nhau theo từng vùng miền, việc
người dân tự điều trị mà khơng cần đến chăm sóc Y tế vẫn là phổ biến.
Theo một nghiên cứu tại Thanh Miện, Hải Dương năm 2004, tỷ lệ người ốm
trong 4 tuần trước điều tra là 30/9%, trong đó lựa chọn khám tại Trạm Y tế xã là
42,9%, lý do không sử dụng dịch vụ Y tế tại Trạm Y tế là do ốm nhẹ (37,5%), do đi
xa là (14,6%). Đa số người sử dụng dịch vụ KCB tại TYT hài lịng về chun mơn
(83.3%), thái độ phục vụ (91,7%), mức độ có sẵn của thuốc là (75%). Người ốm có

H
P

thẻ BHYT đến khám chữa bệnh tại TYT cao hơn 2.71 lần người ốm khơng có thẻ
BHYT [31].

Nghiên cứu Mơ hình bệnh tật và việc lựa chọn dịch vụ tại Trạm Y tế xã của
nhân dân tại hai xã Tam Hưng và Tân Ước tại Huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây của

Khương Văn Duy và cộng sự năm 2005. Phương pháp nghiên cứu cắt ngang với

U

đối tượng nghiên cứu là vợ của chủ hộ gia đình tại hai xã, cho kết quả nghiên cứu là
Trong 764 hộ gia đình tham gia nghiên cứu có 30.2% hộ gia đình có người bị ốm,
mơ hình bệnh tật cấp tính trong ở hai xã nghiên cứu trong 4 tuần có tỷ lệ mắc cao

H

nhất chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp (ho và sốt), sốt đơn thuần, cảm
cúm, bệnh về tai mũi họng, viêm phế quản, tiêu chảy, tai biến mạch máu não, viêm
phổi cấp và tai nạn. Trong tổng số người ốm có 24,2% lựa chọn việc khám chữa
bệnh tại Trạm Y tế xã, việc mua thuốc và tự điều trị chiếm 61,5%. Lý do họ không
đến trạm Y tế xã khám là do bệnh nhẹ (51.7%), trạm Y tế q xa, khơng có thời
gian (23.8%), khơng tin tay nghề trạm Y tế, thiếu thuốc và trang thiết bị 17% và đặc
biệt có 2.5% số bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cho rằng thái độ phục vụ của
cán bộ Y tế xã là chưa tốt [4].
1.2. Mơ hình Bác sĩ gia đình
1.2.1. Khái niệm và nguyên tắc Y học gia đình
Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là chăm sóc thiết yếu cho mỗi cá
nhân, mỗi thành viên trong xã hội. Thực hiện tốt CSSKBĐ ngay tại gia đình và


9
cộng đồng có ý nghĩa to lớn về nhân văn, kinh tế, văn hóa và xã hội [32]. CSSKBĐ
cịn là nội dung cơ bản của Y học gia đình.
Y học gia đình (YHGĐ) được coi là một dịch vụ cung cấp kỹ thuật chăm sóc
sức khỏe đầy đủ, tồn diện, liên tục và bền vững cho cá nhân và gia đình, khơng
phân biệt tuổi, giới, hay bệnh tật, trong sự lồng ghép giữa sinh học, y học lâm sàng

và các khoa học hành vi [5]. Y học gia đình làm giảm tối đa tỉ lệ mắc, chết các
bệnh, tai nạn, thương tích, tăng cường sức khỏe cho cá nhân và gia đình.
YHGĐ khơng đơn thuần là bệnh viện hay phịng khám ngồi chờ người dân
tới để phục vụ. YHGĐ chủ động mang dịch vụ CSSK tới tận gia đình, từng cá nhân
với chất lượng cao và giá thành hợp lý. Thầy thuốc YHGĐ là thầy thuốc của mọi

H
P

nhà, có thể được coi như một đối tác rất tin cậy và đồng cảm sâu sắc, cung cấp cả
dịch vụ Y tế và dịch vụ phi Y tế [35].

Với cách hiểu và cách tiếp cận như trên, YHGĐ đòi hỏi 6 nguyên tắc quan
trọng là: Chăm sóc tồn diện; Chăm sóc liên tục; Chăm sóc phối hợp; Quan tâm tới
phịng bệnh; Hướng gia đình; Hướng cộng đồng.

U

- Chăm sóc tồn diện: Bệnh nhân cần được săn sóc về sinh học và cả tâm
lý, xã hội. Người bác sĩ gia đình phải xem xét, cân nhắc các yếu tố này khi chẩn
đoán hay lập ra kế hoạch điều trị cho bệnh nhân. Điều này khơng có nghĩa là người

H

bác sĩ gia đình có thể làm được tất cả, mà cần có sự phối hợp của các bác sĩ chuyên
khoa.

- Chăm sóc liên tục: Đặc tính liên tục mang ý nghĩa quan trọng trong chăm
sóc sức khoẻ. Sự liên tục trong chăm sóc sức khoẻ giúp người thầy thuốc phát hiện
bệnh tật của các thành viên trong gia đình, số lần mắc bệnh thơng qua các lần khám

sức khoẻ thơng thường. Chính sự liên tục này tạo nên niềm tin tưởng của gia đình
và làm phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa bệnh nhân và thầy thuốc. Trong điều trị,
nếu bệnh nhân không tin tưởng thầy thuốc thì cơ may điều trị khỏi bệnh rất hạn chế.
Tính liên tục có lẽ là yếu tố quan trọng nhất của Y học gia đình. Các bác sĩ gia đình
đều cam kết chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân và gia đình của họ bất kỳ lúc nào kể cả ngoài giờ và những ngày nghỉ.


10
- Chăm sóc phối hợp: Bác sĩ gia đình là người điều phối việc chăm sóc cho
từng bệnh nhân. Họ tìm ra những nhân viên Y tế hay các nguồn lực cung cấp dịch
vụ Y tế thích hợp khác, cần thiết hỗ trợ trong việc chăm sóc tồn diện cho bệnh
nhân.
- Quan tâm tới phòng bệnh: Sự phòng ngừa bệnh tật gồm nhiều khía cạnh
như tìm ra các yếu tố nguy cơ, các yếu tố giúp làm chậm lại hậu quả của các bệnh
mãn tính, động viên bệnh nhân thực hiện lối sống lành mạnh. Sự phịng ngừa khơng
phải chỉ là nói với thân chủ của mình: khơng hút thuốc lá, tập thể dục, ăn uống hợp
lý…mà còn phải nhận ra các yếu tố, các dấu hiệu nguy cơ như tiền sử bệnh tật trong
gia đình và sàng lọc để chọn ra các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh trong giai đoạn

H
P

sớm của bệnh.

- Hướng gia đình: Bác sĩ gia đình ln coi bệnh nhân là thành viên của hệ
thống gia đình, nhận ra ảnh hưởng của bệnh tật lên gia đình và ngược lại. Một gia
đình được hiểu một cách rộng gồm các thành viên mà người bệnh mong đợi sự trợ
giúp, hỗ trợ của họ kể cả trong quá khứ lẫn tương lai.

U


- Hướng cộng đồng: Các khía cạnh của tính như nghề nghiệp, văn hố, mơi
trường… đều có thể làm ảnh hưởng đến việc săn sóc bệnh nhân. Sự hiểu biết tỷ lệ
mắc bệnh, hay các vấn đề sức khoẻ, loại bệnh nào hay gặp nhất trong cộng đồng

H

dân cư sẽ giúp bác sĩ gia đình chẩn đốn chính xác bệnh tật và ra các quyết định về
giáo dục cùng các dịch vụ săn sóc thích hợp. Như vậy, cộng đồng chẳng những
được xem như một cơng cụ giúp chẩn đốn bệnh mà cịn là nguồn lực để trị liệu có
hiệu quả.

1.2.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Y học gia đình
YHGĐ mang dịch vụ CSSK tới từng cá nhân và từng gia đình cho nên mang
ý nghĩa rất lớn về y học cũng như xã hội.
Về y học, YHGĐ cung cấp dịch vụ CSSK gần dân nhất nên rất sát với nhu
cầu về CSSK của từng người dân và gia đình. Trước hết YHGĐ cung cấp các dịch
vụ về truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) như cung cấp các kiến thức về
chính sách Y tế của nhà nước/ địa phương, kiến thức về vệ sinh cá nhân và cộng
đồng, kiến thức về dự phòng các bệnh hay gặp tại cộng đồng, kiến thức về phòng


11
chống các bệnh, dịch, tai nạn thương tích... YHGĐ cịn cung cấp cho người dân kiến
thức về phát hịện sớm các bệnh, tật, xử lý sớm về ban đầu các bệnh, tật hay các cấp
cứu tại nhà và cộng đồng. Chính vì vậy mọi người dân và gia đình ln đạt được tình
trạng sức khỏe tốt nhất có thể có, giảm được nhiều số lượng cũng như tỉ lệ mắc, chết
của bệnh, tật hay tai nạn, thương tích ngay tại gia đình và cộng đồng. YHGĐ giúp
người dân tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình [41].
Người cung cấp dịch vụ YHGĐ (như bác sĩ, hộ sinh, điều dưỡng...) phát hiện

sớm các nguy cơ có hại cho sức khỏe của người dân tại gia đình và cộng đồng (như
nước chưa hợp vệ sinh, thực phẩm có hại cho sức khỏe, thói quen, hành vi không tốt
cho sức khỏe...) rồi bàn bạc với từng gia đình và cộng đồng giải quyết, loại trừ các yếu

H
P

tố nguy cơ. Người cung cấp dịch vụ YHGĐ còn trực tiếp thực hiện khám phát hiện
sớm bệnh, tật cũng như trực tiếp điều trị sớm các bệnh, tật, các cấp cứu tại gia đình và
cộng đồng (trong khả năng cho phép). Do vậy giảm được nhiều số lượng cũng như tỉ lệ
các bệnh tật và cấp cứu không phải nhập viện hay chuyển tuyến trên [40].
Bác sĩ chuyên khoa YHGĐ tham gia hay trực tiếp quản lý sức khỏe cho mọi

U

cá nhân, hộ gia đình và tồn cộng đồng, do vậy cần có kiến thức và kĩ năng lồng
ghép, xă hội hóa hoạt động YHGĐ. Trước hết, bác sĩ cùng người dân xác định vấn
đề sức khỏe ưu tiên của cộng đồng, tìm giải pháp và nguồn lực hợp lý giải quyết các

H

vấn đề ưu tiên đó và thực hiện quản lý được sức khỏe của mọi người dân trong
phạm vi phụ trách [39].

Về mặt xã hội, Y học gia đình giúp tiết kiệm được nhiều cơng sức và tiền của
của cá nhân và gia đình và xã hội vì được dự phịng tại ngay hộ gia đình nên nhiều
bệnh tật không phát sinh. Việc phát hiện sớm và điều trị sớm là giảm gánh nặng chi
phí so với bệnh ở giai đoạn muộn. Ngồi ra, hình thức chăm sóc giúp mang lại hạnh
phúc và nguồn vui lớn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng vì có sức khỏe tốt hơn và
giảm chi phí lớn. [12].

1.2.3. Khái niệm và vai trị của Bác sĩ gia đình
Theo tổ chức Y tế Thế giới, Bác sĩ gia đình (BSGĐ) là Bác sĩ đa khoa thực
hành có chức năng cơ bản là cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trực tiếp và liên
tục cho các thành viên trong các hộ gia đình được quản lý, chịu trách nhiệm cung


12
cấp tồn bộ các chăm sóc Y tế và hỗ trợ các thành viên của hộ gia đình được sử
dụng các dịch vụ Y tế và các nguồn lực xã hội khác [21].
Bác sĩ gia đình là làm việc tại tuyến Y tế ban đầu, là người tiếp xúc đầu tiên
với cộng đồng, đóng vai trị là cầu nối với các dịch vụ Y tế chuyên sâu hơn. BSGĐ
không chỉ chăm sóc, chữa trị cho người ốm mà cịn có nhiệm vụ nâng cao, bảo vệ
sức khỏe của người dân trong khu vực mình quản lý. BSGĐ chăm sóc cho các cá
nhân khơng chỉ dựa trên tình trạng bệnh mà cịn cần lưu ý tới các yếu tố gia đình và
cộng đồng và văn hóa của cá nhân đó [25, 31].
Các thuộc tính của Bác sĩ gia đình :
- Đa khoa và quan tâm đến những vấn đề Y tế nổi cộm tại cộng đồng mình

H
P

phục vụ.

- Liên tục với ý nghĩa liên tục của vòng đời và liên tục từ trước khi đến khám
bệnh, đến khám chữa bệnh, gửi đến các chuyên khoa khác hay đến bệnh viện và sau
khi ra viện.

- Tồn diện khơng chỉ tập trung vào một bệnh mà cịn quan tâm đến vấn đề của

U


tồn cơ thể.

- Điều phối dịch vụ của các chuyên khoa cần thiết cho bệnh nhân.
- Hợp tác với các thành viên khác trong đội ngũ nhân viên Y tế phục vụ chăm
sóc ban đầu.

H

- Định hướng gia đình: chuẩn đốn, trị liệu có quan tâm đến các yếu tố gia đình.
- Định hướng cộng đồng: chẩn đốn trị liệu có quan tâm đến các yếu tố cộng
đồng.

Nguyên tắc hoạt động của Bác sĩ gia đình:
- Lấy người bệnh là trung tâm.
- Bác sĩ gia đình là nhà lâm sàng làm việc có hiệu quả.
- Hoạt động dựa trên cộng đồng.
- Bác sĩ gia đình là nguồn lực cho một cộng đồng dân cư được xác định.
Vai trò của Bác sĩ gia đình:
Người cung ứng: Cung ứng chăm sóc nhiều mặt và lồng ghép, liên tục và
toàn diện cho cá nhân như một phần chăm sóc cộng đồng và gia đình, duy trì mối


13
quan hệ tin cậy và lâu dài với người bệnh trên cơ sở cung ứng chăm sóc có chất
lượng, tồn diện và liên tục.
Người ra quyết định: Ra quyết định trên cơ sở phán đoán khoa học về điều
tra, về trị liệu, về sử dụng dịch vụ kỹ thuật Y tế cũng như trên cơ sở quan tâm đến
mong muốn của bệnh nhân, giá trị đạo đức, hiệu quả và chất lượng chăm sóc cao.
Người truyền đạt: Vận động lối sống lành mạnh qua việc vận động và giải

thích hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực của cá nhân và nhóm trong việc tự bảo vệ
và nâng cao sức khỏe của họ.
Người lãnh đạo cộng đồng: Có được lịng tin của nhân dân trong cộng đồng
họ phục vụ, đáp ứng được mong muốn của sức khỏe cộng đồng, tư vấn cho các

H
P

nhóm, thiết kế các hoạt động cho cộng đồng.

Người quản lý: làm việc nhịp nhàng với các cá nhân và các tổ chức trong và
ngoài hệ thống Y tế nhằm đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân và cộng đồng, sử dụng
thích hợp các số liệu về sức khỏe.
1.2.4. Mơ hình BSGĐ trên thế giới

U

Mơ hình BSGĐ đã được phát triển và nhân rộng ra nhiều nước ở nhiều khu
vực khác nhau trên thế giới. Năm 1960, Y học gia đình ra đời ở Mỹ, Anh và một số
nước. Năm 1995, có 56 nước đã phát triển và áp dụng chương trình đào tạo Y học

H

gia đình. Hiệp hội Bác sĩ gia đình tồn cầu (WONCA) đã được thành lập năm 1972
và đến nay đã có gần 100 quốc gia thành viên. Hiện nay, mơ hình Bác sĩ gia đình đã
được phát triển rộng rãi khơng chỉ ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,
Australia, Canada mà cả ở các nước đang phát triển như Philippines, Malaysia, đặc
biệt Cu Ba là quốc gia được coi là một hình mẫu về phát triển mơ hình Bác sĩ gia
đình ở các nước đang phát triển [14].
Mỹ là một trong những quốc gia được đánh giá là thành công nhất về phát

triển y học gia đình, đó là một chun khoa bao gồm nhiều lĩnh vực, y học gia đình
được tập trung vào con người và người bệnh chứ không tập trung vào bệnh, nó được
xác định bằng 6 nguyên tắc: liên tục, tồn diện, phối hợp; cộng đồng; phịng bệnh
và gia đình. Sáu nguyên tắc này tạo nên sức mạnh và có tính chất thuyết phục được


14
sử dụng để giúp các thành viên trong gia đình phịng ngừa bệnh tật và điều trị, chăm
sóc bệnh nhân bất kể bệnh gì, giới tính nào hoặc tuổi nào [8, 34].
Có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học về nhu cầu YHGĐ của người dân.
Tại Hoa kỳ, cứ 1000 người thì có 800 người được báo cáo là có triệu chứng của
bệnh, tuy nhiên chỉ có 217 người là đi thăm khám ở các cơ sở Y tế (chiếm 27,1%),
21 người đi khám ở phòng khám ngoại trú thuộc các bệnh viện (2,6%) [36].
Theo một tác giả khác - Ken White nghiên cứu tại Anh và Hoa Kỳ, cho thấy
trong tổng số 250 người bệnh đến thầy thuốc thì có 94% số này được chăm sóc
ngay tại nơi làm việc của họ bởi thầy thuốc chăm sóc sức khỏe ban đầu tức thầy
thuốc gia đình. Số ít cịn lại mới phải vào bệnh viện hay các phòng khám của trung

H
P

tâm Y tế. Dịch vụ BSGĐ và chăm sóc sức khỏe tại nhà đã phát triển rất mạnh ở Mỹ.
Chỉ trong 10 năm số lượng các cơ quan và cơ sở Y tế tham gia CSSK tại nhà của cả
nước đã tăng từ 3.000 lên 8.000 [29, 38]. Một nghiên cứu năm 2001 cho thấy hơn
50% số lượt sử dụng dịch vụ Y tế là tại các phòng khám BSGĐ [6]. Một nghiên cứu
khác trong năm 2008 cho thấy 62% trong số 1,1 tỉ lượt cấp cứu được chuyển đến

U

các cơ sở chăm sóc ban đầu và 25% trong số đó là các cơ sở BSGĐ.

Tại Vương Quốc Anh, các bác sĩ muốn trở thành bác sĩ gia đình phải trải qua
ít nhất 5 năm đào tạo về tất cả các chuyên khoa: nhi khoa, lão khoa, sản phụ khoa,

H

chấn thương - chỉnh hình… Trong quá trình đào tạo, các bác sĩ phải trải qua hàng
loạt các đánh giá để được phép hành nghề độc lập với tư cách bác sĩ gia đình. Loại
hình Phịng khám BSGĐ là dịch vụ Y tế công phổ biến và hiệu quả nhất. Hầu hết
người dân Anh có đăng ký chăm sóc ban đầu với một BSGĐ và 80% số lượt sử
dụng dịch vụ Y tế tại Anh là tại các phòng khám BSGĐ [31]. Theo một nghiên cứu
ở Anh, cứ thêm một BSGĐ để cung cấp dịch vụ CSSKBĐ cho 10.000 dân (tăng
khoảng 20%) sẽ giúp giảm tỉ suất tử vong khoảng 5% đã hiệu chỉnh với các bệnh
mạn tính và đặc trưng về dân số học và kinh tế xã hội khác. Cách tiếp cận của
Phịng khám BSGĐ trong chăm sóc sức khỏe tại Anh cũng đã thay đổi rất nhiều
trong vòng 50 năm qua.
Thông thường, mỗi bác sĩ phụ trách một danh sách từ 1.500 đến 2.000 bệnh
nhân. Các bệnh nhân được đăng ký một bác sĩ gia đình cụ thể sẽ chăm sóc sức khỏe


×