Tải bản đầy đủ (.pdf) (141 trang)

Lịch Sử Văn Hóa Vùng Đất Trung Chính (Nông Cống, Thanh Hóa).Pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.89 MB, 141 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

LƯƠNG THỊ NHẤT

LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT TRUNG CHÍNH
(NƠNG CỐNG, THANH HĨA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THANH HÓA, NĂM 2022



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

LƯƠNG THỊ NHẤT

LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT TRUNG CHÍNH
(NƠNG CỐNG, THANH HĨA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chun ngành: Lịch sử Việt Nam


Mã số: 82.29.013

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thúy

THANH HÓA, NĂM 2022


Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học
(Theo Quyết định số1513/QĐ - ĐHHĐ ngày 06 tháng 07 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)

Cơ quan công tác

Học hàm, học vị,

Chức danh
trong Hội đồng

họ và tên
PGS.TS. Mai Văn Tùng

Trường Đại học Hồng Đức

Chủ tịch

TS. Vũ Quý Thu

Hội KH Lịch sử Thanh Hóa

Phản biện 1


TS. Lê Ngọc Tạo

Ban NC&BS Lịch sử Thanh Hóa

Phản biện 2

TS. Nguyễn Sỹ Hưng

Trường Đại học Hồng Đức

Ủy viên

Trường Đại học Hồng Đức

Thư ký

TS. Nguyễn Thị Vân

Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày 5 tháng 9 năm 2022

PGS.TS. Nguyễn Thị Thúy



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là cơng trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tơi. Các số liệu, những kết luận khoa học trong luận văn là trung thực,
có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.

Thanh Hóa, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận văn

Lương Thị Nhất


LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành bản luận văn này là sự cố gắng nổ lực của bản thân. Song
không thể thiếu được sự giúp đỡ, đóng góp của các thầy cơ trong bộ môn lịch
sử, các thầy giáo, cô giáo và cán bộ trường Đại học Hồng Đức đã quan tâm, tạo
điều kiện thuận lợi cho tơi trong q trình học tập, nghiên cứu tại trường.
Xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình học tập,
sưu tầm tài liệu, hồn thành luận văn.
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS. Nguyễn Thị
Thúy người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tơi trong suốt q trình nghiên cứu và
hồn thành đề tài này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến:
Các quý cơ quan: Phịng văn hóa huyện Nơng Cống; UBND xã Trung
Chính; Ban văn hóa xã Trung Chính; Ban quản lý các di tích trên địa bàn xã
Trung Chính; Thư viện trường Đại học Hồng Đức; Trung Tâm Bảo tồn di sản
văn hóa Tỉnh Thanh Hóa và Thư viện huyện Nơng Cống đã cung cấp những tài
liệu quý giá giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn Tập thể lớp K13 Lịch sử Việt Nam đã đồng hành cùng tôi.
Trong q trình nghiên cứu và hồn thành đề tài, khơng tránh khỏi những
hạn chế, thiếu sót. Tơi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn chân thành của
quý thầy cô và các bạn học viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày


tháng năm 2022

Tác giả luận văn

Lương Thị Nhất


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..................................................................................................ii
MỤC LỤC.......................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT................................................................v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................... 7
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 7
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................. 8
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................ 10
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 10
Chương 1. VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT TRUNG CHÍNH .......................... 11
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ............................................................... 11
1.1.1 Vị trí địa lý ............................................................................................. 11
1.1.2. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 13
1.2. Q trình hình thành vùng đất Trung Chính ............................................ 16
1.2.1. Địa danh vùng đất Trung Chính trong lịch sử ...................................... 16
1.2.2. Qúa trình hình thành dân cư và làng xã ................................................ 21
1.3. Truyền thống lịch sử - văn hóa ................................................................ 29
1.3.1.Truyền thống lao động cần cù, sáng tạo ................................................ 29

1.3.2.Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm ..................................... 30
1.3.3.Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” .................................................. 32
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 34
Chương 2. DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ.................................................. 36
2.1. Đình, phủ và bia ký .................................................................................. 36
2.1.1. Đình làng Đơng Cao.............................................................................. 36
2.1.2. Đình và bia ký làng Bi Kiều.................................................................. 40


2.1.3. Phủ thờ Thiên Tiên ................................................................................ 43
2.2. Đền thờ ..................................................................................................... 45
2.2.1. Đền thờ Bà Chúa ................................................................................... 45
2.2.2. Đền thờ Lê Đình .................................................................................... 45
2.2.3. Đền thờ Lê Cơng ................................................................................... 47
2.2.4. Đền thờ Đức Thánh Lưỡng ................................................................... 49
2.3. Chùa, nhà thờ họ và di tích lịch sử cách mạng ........................................ 50
2.3.1. Chùa Cây Trôi ....................................................................................... 50
2.3.2. Nhà thờ họ Lê ........................................................................................ 53
2.3.3. Di tích lịch sử cách mạng ...................................................................... 55
2.4. Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị .................................... 56
2.4.1. Thực trạng ............................................................................................. 56
2.4.2. Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị ........................................................ 59
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 60
Chương 3. DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ......................................... 62
3.1. Lễ hội truyền thống .................................................................................. 62
3.1.1. Lễ hội làng Đông Cao ........................................................................... 62
3.1.2. Lễ hội làng Bi Kiều ............................................................................... 67
3.1.3. Hội Bơi thờ và Chèo thờ ....................................................................... 68
3.2. Nghệ thuật dân gian và nghề thủ công truyền thống ............................... 77
3.2.1. Hát ghẹo Cầu Quan ............................................................................... 77

3.2.2. Nghề làm bánh tráng ............................................................................. 80
3.3. Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản.......................... 83
3.3.1. Thực trạng ............................................................................................. 83
3.3.2. Giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị ................................................. 85
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 87
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 91
PHỤ LỤC ....................................................................................................... P1


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Được hiểu là, nghĩa là

TT

Chữ viết tắt

1

CT/TU

Chỉ thị/ Tỉnh ủy

2

DSVH

Di sản văn hóa

3


HĐND

Hội đồng nhân dân

5

NĐ-CP

Nghị định - Chính Phủ

4

NQ

Nghị Quyết

6

NQ/TW

Nghị quyết/ Trung ương

8

NXB

Nhà xuất bản

7




Quyết định

8

SVHTTDL

Sở văn hóa thể thao du lịch

9

UBND

Uỷ ban nhân dân

10

UBTVQH

Ủy ban Thường vụ Quốc hội

11

VHTT

Văn hóa thơng tin



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong diễn trình lịch sử dân tộc Việt, mỗi tên đất, tên làng, tên núi,
tên sông… đều gắn với những chiến công oanh liệt chống giặc ngoại xâm, dựng
nước và giữ nước. Mỗi vùng đất, làng, bản… đều có cốt cách văn hóa riêng.
Tất cả hịa quyện vào nhau cùng tạo nên truyền thống văn hóa Việt Nam tốt
đẹp mà các thế hệ hiện tại và tương lai có nghĩa vụ gìn giữ, tôn tạo và phát huy.
Bởi vậy, việc nghiên cứu lịch sử văn hóa dân tộc và đặc trưng văn hóa địa
phương ln được Đảng và Nhà nước xem là cơ sở khoa học cốt lõi cho đường
lối, chính sách phát triển đất nước.
Với vị trí và vai trị quan trọng trong công cuộc dựng xây đất nước nên
các vấn đề làng xã Việt Nam đã có nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên, sự hình thành, q trình phát triển và tơn tạo, phục dựng
các loại hình di sản văn hóa ở mỗi địa phương hiện vẫn còn là những khoảng
trống. Đây là một nhiệm vụ đặt ra có ý nghĩa cấp thiết đối với các ngành khoa
học nói chung và khoa học lịch sử nói riêng.
1.2. Nằm ở miền châu thổ xứ Thanh, Nông Cống là vùng đất cổ với lịch
sử phát triển hàng nghìn năm. Nơi đây có dãy núi Ngàn Nưa uy nghi, sừng
sững, ngàn năm nay vẫn âm vang tiếng cồng đánh giặc của Bà Triệu. Trải qua
bao đời sản xuất và chiến đấu chống giặc ngoại xâm, cộng đồng các thế hệ cư
dân Nông Cống đã xây dựng nên truyền thống văn hóa Ngàn Nưa mà tầm vóc,
ý nghĩa của nó đã thu hút sự say mê của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử.
Truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời của huyện Nơng Cống là cơ sở
hun đúc nên sự mộc mạc, gần gũi, nặng nghĩa tình của con người nơi đây. Mỗi
vùng đất Nơng Cống là một bức tranh văn hóa nhiều sắc màu, trong đó đáng
lưu ý, đặc sắc nhất là vùng đất Trung Chính. Vùng đất được sáp nhập từ xã
Trung Chính cũ với xã Trung Ý thành xã Trung Chính như ngày nay.
1.3. Dưới bóng Ngàn Nưa, từ bao đời nay, người dân các làng Đông Cao,
Bi Kiều, Mau Giáp, Tống Sở, Thanh Sơn, Đông Thắng, Vinh Quang, Phú
Thanh, Thọ Vinh đã cùng vun đắp nên một “tiểu vùng văn hóa Nưa” đặc sắc

và giàu giá trị. Những giai thoại, truyền thuyết về ông Tu Nưa khổng lồ - người
đã khai sáng văn minh nông nghiệp cho cả một vùng rộng lớn, cho đến tận ngày
nay vẫn còn hằn dấu vết trong đời sống sinh hoạt của cư dân vùng châu thổ
sơng Nhơm. Vào thời xa xưa, làng xóm nơi đây còn thưa thớt trong khung cảnh
1


đồng ruộng và đồi đất mênh mông. Năm 248 cuộc khởi nghĩa Bà Triệu là bước
ngoặt lịch sử - văn hóa, vùng Nưa đã bừng sáng, nhân dân cả nước hướng về.
Thế kỷ XV, với chính sách ban cấp Lộc điền của vương triều Lê Sơ, vùng
đất Trung Chính đã là nơi khai hoang, lập làng của các Công Thần Khai Quốc.
Theo đó, các làng lộc điền được hình thành như Đơng Cao, Bi Kiều, Ty Thơn.
Trong số đó tiêu biểu là vùng đất Đơng Cao của dịng họ Đinh, gắn với tên tuổi
và sự nghiệp của Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt. Ngồi dịng họ Đinh, hiện nay
vùng đất còn là nơi quần tụ của nhiều dòng họ lớn như họ Lê làng Mau Giáp,
họ Lê Cơng, Lê Đình làng Vinh Quang… cùng các danh nhân nổi tiếng được
lưu danh sử sách. Trung Chính cịn in đậm dấu tích cách mạng - Chi bộ Cộng
sản đầu tiên của huyện Nơng Cống. Với vị trí nằm trên tuyến giao thơng đường
thủy của kênh đào nhà Lê, vùng đất Trung Chính đã có nhiều đóng góp trong
cơng cuộc xây dựng q hương, đất nước. Trên mảnh đất lịch sử này còn lưu
giữ nhiều loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng,
với các giá trị độc đáo.
1.4. Khi đất nước chuyển mình sang thời kỳ mới, những định chế khơng
cịn phù hợp được xếp lại, cuộc sống có nhiều thay đổi, trong từng gia đình đến
ngồi làng xã. Trong đó cái cũ lỗi thời lạc hậu dần được thay thế cái mới, văn
minh, hiện đại. Những biểu hiện tiêu cực của nền kinh tế thị trường, đã kéo theo
nguy cơ biến tướng, mai một nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Vùng đất lịch
sử Trung Chính cũng khơng phải là ngoại lệ trong sự tác động, ảnh hưởng chung
của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại và hội nhập toàn cầu. Bởi vậy, đi sâu
tìm hiểu nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất là một việc làm rất cần thiết,

khơng những có ý nghĩa tích cực đối với bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hóa đặc thù của địa phương, mà còn giúp cho các thế hệ người dân nơi đây
thêm hiểu biết và gắn bó với quê hương. Từ đó, có những việc làm thiết thực
để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, văn minh và hiện đại.
Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Trung Chính để xây
dựng luận chứng khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Đồng thời, có ý nghĩa khoa học sâu sắc và rất cần thiết cho thực tiễn lãnh đạo,
quản lý ở địa phương. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ
những thiếu khuyết về lịch sử văn hóa của địa phương, để từ đó bổ sung vào
giá trị văn hóa tỉnh Thanh nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Với những lý do trên, tơi quyết định chọn vấn đề Lịch sử văn hoá vùng
2


đất Trung Chính (Nơng Cống, Thanh Hóa) làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do sự phong phú về tự nhiên, tộc người cùng với lịch sử lâu đời nên
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mang nhiều sắc màu văn hóa. Việc nhận
diện giá trị và phát huy vai trị của văn hóa ở mỗi vùng miền là nhiệm vụ hết
sức quan trọng trong chiến lược phát triển tồn diện đất nước. Đây chính là cơ
hội để đánh thức các giá trị lịch sử - văn hóa địa phương trong thời đại mới.
Bởi vậy, nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất từ lâu là đề tài hấp dẫn đối
với các học giả trong và ngoài nước. Trung Chính là vùng đất có lịch sử hình
thành và phát triển lâu đời thuộc huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa. Đã có
nhiều cơng trình nghiên cứu Trung Chính trên nhiều phương diện, khía cạnh và
góc độ khác nhau. Trong đó, có thể điểm qua một số cơng trình tiêu biểu liên
quan đến đề tài luận văn như sau:
Cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX từ Nghệ Tĩnh trở ra [53],
Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản năm

1981. Nội dung sách ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước (chỉ gồm Bắc Kỳ
và Trung Kỳ) và đã khảo sát tên làng xã Việt Nam trong đó tên làng xã
Trung Chính.
Hồng Anh Nhân và Lê huy Trâm tác giả của Cuốn Địa chí Nơng Cống
do Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1998 [41]. Đây là công trình
nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực địa lý, hành chính, lịch sử, văn hóa – xã
hội và con người Nông Cống trong quá khứ, hiện tại. Nội dung sách (phần viết
về xã Trung Chính và Trung Ý) là cơ sở để tác giả có cái nhìn tổng quan về
Nơng Cống nói chung và vùng đất Trung Chính nói riêng. Tuy nhiên, nội dung
lịch sử viết về làng xã Trung Chính cịn trình bày khá sơ lược, chưa nêu được
quá trình hình thành, tồn tại, giá trị cũng như thực trạng của các di sản trên vùng
đất này.
Cuốn Tên làng xã Thanh Hóa, tập I, Nxb Thanh Hóa năm 2000 [7]. Nội
dung sách đã đề cập đến sự thay đổi của tên làng xã của xứ Thanh đến năm
1954. Trong đó có đề cập đến địa danh một số làng xã của Trung Chính, Trung
Ý. Mặc dù chỉ điểm qua sơ lược nhưng đây là dữ liệu quan trọng cho quá trình
nghiên cứu của luận văn về sự hình thành dân cư, làng xã trên vùng đất Trung
Chính.
3


Trong cuốn Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh, tác giả Hoàng Anh
Nhân và Lê huy Trâm, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội, năm 2001 [42] đã giới
thiệu các lễ tục lễ hội truyền thống tiêu biểu ở các vùng, miền của tỉnh Thanh
Hóa. Đây là một cơng trình nghiên cứu về văn hóa phi vật thể cịn tồn tại trên
mảnh đất xứ Thanh. Sách đã đề cập đến khơng gian rộng lớn (Trung Thành –
Trung Chính – Tế Tân) của Lễ hội Đền Mưng, nét đặc trưng của vùng đất Nơng
Cống Thanh Hóa. Đây là nguồn minh chứng sát thực để tác giả luận văn có cái
nhìn lơ gích trong nghiên cứu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể trong đề tài
khoa học.

Theo sách Đồng Khánh địa chí dư, Nxb Thế giới, năm 2003 [65], đã ghi
chép khái quát về vị trí, giới hạn, số huyện, tổng, xã, thơn, phường, phong tục,
thổ sản, khí hậu… của tỉnh Thanh Hóa cùng các địa phương khác. Trong đó tên
các làng của xã Trung Chính được nhắc đến tuy nhiên sách chưa phản ánh cụ
thể phạm vi, giới hạn của từng làng trên mảnh đất này và nhất là những thay
đổi của đơn vị hành chính xã chưa được cập nhật.
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội,
2004 [57], cũng là một cơng trình phục vụ cho q trình nghiên cứu của đề tài.
Cơng trình đã trình bày hệ thống diện mạo văn hóa xứ Thanh, trong đó giới
thiệu một số thành tựu văn hóa vật thể và phi vật thể của các địa phương tỉnh
Thanh Hóa. Cùng với nội dung viết về huyện Nông Cống, một số di sản văn
hóa tiêu biểu của xã Trung Ý (trước khi sáp nhập) và xã Trung Thành cũng
được tác giả sách giới thiệu số liệu. Đây là những thông tin gợi mở để đề tài
luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của các loại hình di
sản vật thể này.
Sách Lam Sơn thực lục, tác giả Nguyễn Diên Niên, Lê Văn Uông, nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004 [43]. Cơng trình đã khái qt về những
chiến công oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược và vai
trò của các tướng lĩnh tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Trong đó có phần viết về
Đinh Bồ, Đinh Lễ, Đinh Liệt – Khai quốc công thần có đất lộc điền ở vùng đất
Trung Chính. Đây là dữ liệu quan trọng khi tìm hiểu về quá trình lập làng cũng
như nguồn gốc của các di sản tồn tại trên đất Trung Chính.
Cuốn Hương đất Cầu Quan, do nhóm tác giả Nguyễn Đình n, Lê Huy
Trâm, Vũ Minh biên soạn dưới sự chỉ đạo của Sở văn hóa – thơng tin Thanh
4


Hóa. Sách được xuất bản lần 1 năm 1992, đến 8 năm 2006 xuất bản lần thứ 2,
(có chỉnh lý bổ sung) [62]. Hương đất Cầu Quan đã giới thiệu về vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên, sự hình thành, phát triển làng cổ và văn hóa truyền thống

Trung Chính. Sách tuy là nguồn tài liệu có giá trị để phục vụ cho hướng nghiên
cứu của đề tài nhưng mới chỉ viết ở mức độ khái quát, điểm qua.
Sắc màu xứ Thanh – Làng Đông Cao xưa và nay, là cuốn sách của tác giả
Đinh Văn Hạnh do Nxb Lao động, Hà Nội ấn hành năm 2007 [34], đã khái quát
về lịch sử lập làng, nguồn gốc dân cư của làng Đông Cao. Đây là nguồn tài liệu
quan trọng để làm rõ vị trí của Đơng Cao trong lịng Trung Chính.
Năm 2008, Nxb Thanh Hóa đã ấn hành cuốn Những bia ký điển hình ở
Thanh Hóa [52], đã giới thiệu về nghệ thuật khắc bia, số liệu, nội dung của
những bia ký điển hình ở Thanh Hóa. Trong đó, có phần giới thiệu về bia Cầu
Quan thuộc làng Bi Kiều, xã Trung Chính. Nội dung “Bi Kiều bia ký” đã khẳng
định thời kỳ Lê – Trịnh (thế kỷ XVII –XVIII) Trung Chính là vùng đất dân cư
đơng đúc, giao thương “trên bến dưới thuyền” tấp nập… Đây là tài liệu quan
trọng trong việc phục dựng những giá trị di sản văn hóa của làng Bi Kiều xã
Trung Chính và là nguồn tài liệu quý giá liên quan đến nội dung của luận văn.
Sách Địa chí Thanh Hóa, tập 3, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2010
[58], đã giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên, con người, lịch sử, đặc điểm
kinh tế, chính trị, văn hóa của các địa phương tỉnh Thanh hóa, trong đó có đề
cập đến địa danh xã Trung Chính và huyện Nơng Cống. Cơng trình là cơ sở tài
liệu đối chiếu, so sánh khi tìm hiểu vùng đất Trung Chính trong mối tương quan
với huyện Nơng Cống và tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, tài liệu đã cung cấp thơng
tin hữu ích về các làng Việt cổ, hệ thống DSVH tại Thanh Hóa, trong đó có
những di sản cịn hiện hữu tại vùng đất Trung Chính.
Nhà xuất bản Văn hóa Thơng tin, Hà Nội năm 2012 ấn hành cuốn Danh
nhân lịch sử Việt Nam – Mưu thần Đinh Liệt [27], sách kể lại những chiến tích
oai hùng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Đinh Liệt chỉ huy cũng
như dấu ấn trong cuộc đời của Đinh Liệt cho đến lúc ông qua đời.
Ngồi ra, viết về làng Đơng Cao trong cuốn Lịch sử truyền thống làng
Đông Cao [21] của Chi bộ Đông Cao đã sơ lược một số tên gọi của làng Đông
Cao qua các thời kỳ và tầm quan trọng của điều kiện tự nhiên đối với sự phát
triển của vùng đất này. Đây là những cuốn sách để tác giả có cái nhìn đa chiều

5


về lịch sử - văn hóa làng Đơng Cao trong mối quan hệ với các làng khác trong
vùng đất.
Năm 2013, Nxb Thanh Hóa đã ấn hành cuốn Lịch sử Đảng bộ và phong
trào cách mạng Trung Chính giai đoạn (1930 – 2012) [5; tr.13 - 42]. Nội dung
cuốn sách chủ yếu tập trung vào lịch sử Đảng bộ và truyền thống cách mạng xã
Trung Chính từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Tuy nhiên, sách đã
giành Chương 1 giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, con người và
truyền thống lịch sử xã Trung Chính. Thơng tin mới dừng ở mức khái lược
nhưng đây là tài liệu quan trọng để giúp tác giả làm sáng tỏ nhiều nội dung
nghiên cứu về vùng đất Trung Chính.
Cùng viết về lịch sử Đảng bộ năm 2013, Nxb Thanh Hóa đã ấn hành
cuốn Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Trung Ý (1930 – 2012) [6;
tr.11 - 34]. Sách đã giới thiệu tổng quan về xã Trung Ý trước khi tập trung vào
lịch sử Đảng bộ và truyền thống cách mạng xã Trung Ý. Đây là nguồn tài liệu
quan trọng phục vụ cho tác giả trong nghiên cứu sự thay đổi làng xã Trung
Chính xưa và nay.
Viết về chùa, lễ nghi trên đất xứ Thanh có các cuốn sách do Giáo hội
Phật giáo tỉnh Thanh Hóa ấn hành. Tiêu biểu là cuốn Chùa xứ Thanh, tập
3, xuất bản năm 2017 [32], Lịch sử Phật giáo Thanh Hóa xuất bản năm
2019 [33]. Tài liệu là cơ sở tin cậy để nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa tâm
linh trên đất Trung Chính.
Đồng thời, nghiên cứu về địa phương Nơng Cống cũng đã có một số luận
văn tiếp cận. Luận văn, Dòng họ Đinh và vùng đất Đơng Cao (xã Trung Chính,
huyện Nơng Cống, Tỉnh Thanh Hóa) [22] của tác giả Vũ Thị Chiến. Đề tài
Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nơng Cống [19] tác giả Lê
Thanh Bình. Tác giả Ngơ Thị Hồng với luận văn Sự chuyển biến kinh tế - xã
hội của huyện Nơng Cống, tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2016 [37]…

Mỗi cơng trình tìm hiểu vùng đất ở một khía cạnh, phạm vi khác nhau nhưng
đã bổ sung nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho luận văn.
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều cơng trình khoa học đề cập đến vùng
đất Trung Chính nhưng hiện vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu tồn diện và
chuyên sâu về lịch sử văn hóa vùng đất này. Trung Chính là một vùng đất cổ,
với cái nhìn sâu sắc, tồn diện, đa chiều về văn hóa đề tài tiếp tục nghiên cứu
các vấn đề sau:
6


- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành vùng đất Trung
Chính, huyện Nơng Cống.
- Q trình phát sinh, phát triển và những giá trị của các loại hình di sản
văn hóa vật thể, phi vật thể trên vùng đất Trung Chính.
- Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng của di sản văn hóa ở vùng đất Trung
Chính để đề xuất các giải pháp bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị, góp
phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và giá trị các di sản
văn hóa vật thể, phi vật thể vùng đất Trung Chính. Từ đánh giá thực trạng của
di sản văn hóa ở vùng đất Trung Chính; đề xuất các giải pháp bảo tồn, gìn giữ
và phát huy giá trị.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên; quá trình hình thành, phát triển
và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu của vùng đất Trung Chính.
- Làm rõ diện mạo hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại địa
phương để tái hiện lại vùng đất Trung Chính trong lịch sử và có cái nhìn sâu
sắc hơn về các giá trị văn hóa của vùng đất này.
- Đánh giá được thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát

huy giá trị di sản.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát
triển và những giá trị của các loại hình di sản văn hóa vật thể, phi vật thể trên
vùng đất Trung Chính, huyện Nơng Cống, tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình hình thành,
phát triển các giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Trung Chính, huyện Nơng
Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Khơng gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong địa bàn xã Trung
Chính ngày nay với với 9 làng. Ngồi ra, cịn được mở rộng phạm vi khảo sát
đến các làng xã phụ cận để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lịch sử văn hóa
vùng đất Trung Chính như xã Hoằng Sơn, Tế Thắng, Tân Khang, Tế Thắng,
Trung Thành, Tân Phúc thuộc huyện Nông Cống.
7


- Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thành các làng xã cùng
nguồn gốc, q trình tơn tạo, phục dựng di sản văn hóa trên vùng đất Trung
Chính trong dịng chảy lịch sử văn hóa dân tộc.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã sử dụng các nguồn
tài liệu thành văn, tài liệu vật chất, tài liệu văn hóa dân gian, tài liệu thực địa
(do cá nhân sưu tầm, thu thập, xử lý trong quá trình khảo cứu).
- Tài liệu thành văn gồm tài liệu bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán. Các bộ
sử gốc như Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến nay [1], Lịch triều hiến chương
loại chí, tập 1 [24], Lam Sơn thực lục [43], Đại Nam nhất thống chí [44], Đại
Việt sử ký toàn thư [63]… Các tài liệu về gia phả dịng họ trên vùng đất Trung

Chính hiện còn lưu giữ tại các chi họ ở các làng thuộc xã Trung Chính. Lý lịch
khoa học di tích đang được lưu giữ tại Ban quản lý di tích tại các làng, Phịng
Văn hóa - Thơng Tin huyện Nơng Cống, Sở Văn hóa - Thơng tin Thanh Hóa,
Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa Thanh Hóa. Bao gồm Lý lịch di tích lịch sử
văn hóa Đền thờ Đinh Thị Ngọc Ban [16], Lý lịch di tích lịch sử văn hóa Đình
làng Đơng Cao [17], Hồ sơ di tích đền thờ họ Lê Cơng [48], Hồ sơ di tích đền
thờ họ Lê Đình [49], Hồ sơ di tích lịch sử cách mạng, nơi thành lập Chi bộ
cộng sản đầu tiên [50]… Tài liệu chữ Hán gồm có các văn bia, hương ước, đây
là những tài liệu gốc liên quan trực tiếp đến văn hóa vùng đất và lịch sử các làng.
Tuy nhiên nguồn tài liệu này không nhiều và khả năng khai thác còn hạn chế.
- Tài liệu vật chất: Là các di vật, hiện vật đang được bảo lưu tại các di
tích đình, phủ, đền, nhà thờ họ, chân tảng, bát hương và đồ thờ trong di tích…
- Tài liệu văn hóa dân gian: Là các truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục
ngữ có liên quan đến đất và người Trung Chính. Các phong tục tập quán, tín
ngưỡng, lễ hội, lễ tục dân gian ở vùng đất Trung Chính là nguồn tài liệu cung
cấp cho luận văn tìm hiểu về lịch sử văn hóa vùng đất theo khía cạnh của tâm
thức văn hóa dân gian. Đây là nguồn tài liệu để so sánh, đối chiếu tạo nên cái
nhìn đa chiều về lịch sử - văn hóa vùng đất. Tuy nhiên, nguồn tài liệu này có
nhiều dị bản, đơi khi cịn mâu thuẫn với tài liệu chính sử nên phải được xử lý
thận trọng khi sử dụng.
8


- Tài liệu điền dã: Ngoài các tài liệu trên, tác giả cịn trực tiếp tìm hiểu,
khảo cứu tại các làng của xã Trung Chính, tìm hiểu các di tích tại đây. Đồng
thời, tác giả đã tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp với các bậc cao
niên và những người hiểu biết về vùng đất để có thêm nguồn tư liệu phục vụ
cho nghiên cứu, đặc biệt nguồn tư liệu liên quan đến các loại hình di sản văn
hóa trên vùng đất này.
Trên đây là các nguồn tài liệu tác giả đã tiếp cận, sử dụng khi thực hiện

nghiên cứu luận văn và đã được trích dẫn ghi chú rõ ràng, nguồn gốc, xuất xứ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận sử học: Trên cơ sở nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam,
đảm bảo tính trung thực, khách quan trong nghiên cứu lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Sử dụng để nghiên cứu và phục dựng
đầy đủ quá trình phát sinh và phát triển các loại hình văn hóa trên vùng đất
Trung Chính. Phương pháp nghiên cứu lịch đại (theo tiến trình lịch sử) để tái
hiện lại lịch sử từ thấp đến cao. Áp dụng phương pháp nghiên cứu đồng đại để
tái hiện toàn diện mọi mặt của các loại hình văn hóa trên vùng đất trong lịch
sử. Bên cạnh phương pháp lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp lơ gích, phân
tích, đánh giá, so sánh… để từ đó nhận diện sự tương đồng và khác biệt của
vùng đất này so với các vùng đất khác.
- Đồng thời, luận văn vận dụng hướng tiếp cận liên ngành như khảo cổ
học, dân tộc học, văn hóa học, khu vực học... Vùng đất Trung Chính là một
khơng gian văn hóa và được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa điều
kiện tự nhiên, mơi trường xã hội và hồn cảnh lịch sử. Từ đó, rút ra đặc trưng
văn hóa vùng đất Trung Chính trong dịng chảy lịch sử - văn hóa của địa phương
và dân tộc.
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Điều tra điền dã thu thập tư
liệu, kiểm chứng và bổ sung thiếu hụt kết quả điều tra. Kết hợp so sánh với kết
quả điều tra, điền dã thực trạng tại các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở
Trung Chính.
Điều tra thực tế về thực trạng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở vùng
đất Trung Chính để đề xuất phương pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống trên vùng đất này.
9


Sử dụng phương pháp phỏng vấn các cụ cao niên, những người trơng coi,

quản lý trực tiếp tại di tích ở địa phương; kết hợp thu thập tài liệu, đối chiếu so
sánh giữa lý luận và thực tiễn nhằm đảm bảo tính trung thực, khách quan trong
nghiên cứu lịch sử.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là cơng trình nghiên cứu có tính hệ thống về q trình hình
thành và phát triển của các làng xã trên vùng đất Trung Chính. Từ kết quả
nghiên cứu, luận văn sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học để địa phương biên
soạn lịch sử - văn hóa làng xã.
- Luận văn là cơng trình nghiên cứu tồn diện về nguồn gốc, giá trị các
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các dòng họ, danh nhân tiêu biểu trên vùng
đất Trung Chính. Qua đó góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng hướng về nguồn
cuội, phát huy những giá trị quý báu của dòng họ và quê hương.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn cịn góp phần làm phong phú thêm
nguồn tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về lịch sử văn hóa địa phương và hướng dẫn tham quan du lịch tại các điểm di tích lịch
sử - văn hóa ở Trung Chính nói riêng và Nơng Cống nói chung.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Vài nét về vùng đất Trung Chính
Chương 2. Di sản văn hóa vật thể
Chương 3. Di sản văn hóa phi vật thể.

10


Chương 1. VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT TRUNG CHÍNH
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Nơng Cống là một huyện đồng bằng nằm về phía Nam của tỉnh Thanh
Hóa. Từ trung tâm đi đến thành phố Thanh Hóa là 28km2, có tọa độ 19037’33”

vĩ độ Bắc, 105038’56” kinh độ Đông, tiếp giáp với nhiều huyện trong tỉnh. Phía
Bắc giáp Triệu Sơn, Đơng Sơn, phía Nam giáp thị xã Nghi Sơn, phía Tây giáp
Như Thanh, phía Đơng giáp Tĩnh Gia và Quảng Xương.
Nơng Cống có địa hình chủ yếu là đồng bằng, vùng núi chỉ chiếm 37%
diện tích nên thuận lợi cho kinh tế nơng nghiệp. Có 2 con sơng chảy qua địa
bàn huyện là sơng Yên (sông Chuối), sông Lãng Giang (sông Nhơm, sông Cầu
Quan), ngồi cung cấp phù sa, nguồn nước tưới tiêu cịn là huyết mạnh giao
thông của vùng và tỉnh Thanh trong suốt chiều dài lịch sử.
Nông cống là huyện phụ cận trong vùng kinh tế nam Thanh, bắc Nghệ,
có nhiều tuyến đường giao thơng quan trọng đó là tỉnh lộ 505, 506, tuyến đường
sắt Thống Nhất (có 3 nhà ga là Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long) chạy qua, quốc
lộ 45 chạy dọc nối Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh. Ngồi ra, cịn có 2 tuyến
đường trọng điểm của cả nước đi qua là tuyến đường cao tốc Mai Sơn - Quốc
lộ 45 và đường cao tốc Quốc lộ 45 - Nghi Sơn đã, đang được xây dựng, tạo
điều kiện cho Nông Cống phát triển, hội nhập.
Hiện nay, huyện Nơng Cống có diện tích 292,5km2, dân số là 182,801
người (số liệu 2021) trong đó 87,9% dân số làm nơng nghiệp. Các sản phẩm chủ
yếu của vùng là lúa, khoai, ngơ, sắn, dong, lạc, vừng, cói, mía. Nơng Cống có 29
đơn vị hành cấp xã trực thuộc, bao gồm trị trấn Nơng Cống và 28 xã.
Trung Chính là một trong 29 xã, thị trấn của huyện Nông Cống. Đây là
xã nằm ở phía bắc của huyện, được thành lập trên cơ sở sáp nhập tồn bộ diện
tích và dân số của hai xã Trung Chính và Trung Ý theo nghị quyết số 786/NQUBTVQH14 ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về
việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Vị trí địa lý xã Trung Chính ở 190 42’37” vĩ độ Bắc, 1050 40’16” kinh
độ Đông, cách thị trấn Nông Cống 12km và cách trung tâm thành phố Thanh
Hóa 20km. Trung Chính là nơi hội tụ được các tuyến đường giao thông thủy
11


bộ và đường sắt. Vùng đất nằm ở giao điểm của dịng Lãng Giang từ đại ngàn

phía Tây Bắc đổ về và quốc lộ 45 từ phía Đơng Bắc đi tới. Cũng có thể từ Triệu
Sơn, Tĩnh Gia, Như Thanh, Như Xuân theo các tuyến Tỉnh lộ 506, hay quốc lộ
45 về Trung Chính đều thuận tiện. Nếu theo tuyến xe lửa Bắc – Nam xuống ga
Yên Thái đi 3km nữa cũng về đến xã. Từ xưa, nơi đây đã được chọn làm huyện
lị của Nông Cống [22; tr 14].
Trên bản đồ huyện Nơng Cống, phía Đơng xã Trung Chính giáp xã Tế
Nơng, phía Tây giáp xã Trung Thành, phía Bắc giáp xã Tân Khang, Tân Phúc, Hồng
Sơn, phía Nam giáp xã Trung Thành.
Xã Trung Chính có diện tích tự nhiên 809.34 ha, dân số 7.125 người
(năm 2019), dân cư làm nơng nghiệp chủ yếu, ngồi ra cịn có các ngành dịch
vụ, bn bán.
Trung Chính là địa phương thuận tiện về giao thông thủy, bộ. Khi đường
bộ chưa phát triển thì sơng Lãng là tuyến đường giao thơng quan trọng của cả
vùng. Thuyền bè chở lâm thổ sản từ miền núi về, hải sản, hàng hóa từ miền
xi ngược lên ln tấp nập. Từ thời Tiền Lê, Lê Hồn đã cho đào một số kênh
nối các tuyến giao thông đường thủy trong tỉnh gồm sông Chảy, sông Chu, sông
Mã, sông Hồng, sơng n… gọi chung là hệ thống kênh nhà Lê. Bến Cầu
Quan (thuộc địa phận xã Trung Chính) trên dịng sơng Lãng là điểm giao thơng
sầm uất, trên bến dưới thuyền. Từ Trung Chính theo dịng sơng Lãng có thể đi
đến nhiều miền trong tỉnh. Bằng các phương tiện đường sông, nhân dân các
huyện miền biển như Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nghệ An … đưa hải sản về Cầu
Quan tiêu thụ rồi lại rời bến khi các ghe, thuyền đầy ắp lúa gạo, nơng sản.
Về đường bộ, Trung Chính nằm ngay trên tuyến đường từ thành phố
Thanh Hóa đi các huyện phía Tây Nam của tỉnh, nay là Quốc lộ 45. Vào đầu thế
kỉ XX, người Pháp cho mở rộng, nâng cấp các tuyến đường này để khai thác tài
ngun phong phú ở đây, trong đó có nơng trường Yên Mĩ. Con đường này đã
trở thành huyết mạch giao thơng của vùng đất phía nam tỉnh Thanh Hóa. Trong
hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, quốc lộ 45 cũng là tuyến giao
thông vận chuyển lương thực, vũ khí và nhân lực ra tiền tuyến. Hiện con đường
này đã được nâng cấp để đáp ứng sự phát triển kinh tế xã hội của quê hương

đất nước. Theo Quốc lộ 45 về hướng Đơng Bắc, Trung Chính cách Quốc lộ 1A
15km, về hướng Tây Nam qua huyện lị Nông Cống đến các huyện Như Thanh,
12


Như Xuân rồi gặp đường Hồ Chí Minh vào các tỉnh phía nam. Từ Trung Chính
đi về phía đơng 3km sẽ đến ga Yên Thái, ra bắc vào nam đều dễ dàng. Trung
Chính cịn có 3km Tỉnh lộ 506 đi Triệu Sơn, Thọ Xuân chạy dọc theo xã gần
như vuông góc với Quốc lộ 45.
Như vậy, vị trí địa lý thuận lợi, có diện tích và dân số trung bình, giao
thơng thủy, bộ thuận lợi… Đây chính là những cơ sở cho sự phát triển mọi mặt
của Trung Chính.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Về địa hình, Nơng Cống được xếp vào hệ thống “Miền núi phía Tây
Thanh Hóa” và gọi đó là “Dải đồi núi trung du sông Chu” [41; tr 24]. Địa hình
Nơng Cống khá đa dạng gồm đồi núi, đồng bằng và những miền trũng, có độ
dốc xi ra biển và khá gần biển. Tuy nhiên, có thể chia thành hai vùng chính:
Thứ nhất là vùng có kiểu địa hình châu thổ, thuộc nửa phía Đơng của
huyện Nơng Cống (cắt theo trục Bắc - Nam), có diện tích khoảng 21.210 ha,
chiếm khoảng 74% diện tích tự nhiên tồn huyện. Vùng này địa hình mang tính
cục bộ, khơng đồng nhất. Đặc điểm địa hình ở đây là trên các cánh đồng rộng
có mọc xen các đồi gị thấp, các núi đá vơi nhỏ và có những vùng lầy, thấp
trũng.
Thứ hai là vùng có kiểu địa hình đồi núi, thuộc nửa phía Tây Bắc của huyện
Nơng Cống, có diện tích khoảng 7.500 ha. Sách Địa chí Nơng Cống viết:
Địa hình vùng này đặc trưng bởi dãy núi Nưa (tiếp giáp giữa 3 huyện
Nơng Cống - Như Xn - Triệu Sơn), có đỉnh cao 414 m (so với mực
nước biển) là dãy núi cao nhất huyện với những dãy đồi núi cao thấp,
những khe suối từ sườn phía Đơng núi Nưa kéo ra chia cắt địa hình
phía Tây Nơng Cống. Có hàng chục khe ngòi từ núi Nưa và dãy đồi

đất đỏ đổ ra cánh đồng Nông Cống mà ngày nay con đường xuyên Bắc
- Nam phải xây dựng nhiều cây cầu là khe Cầu Cống, khe Đậu Yên,
khe Cầu Lịm, khe Chuối, khe Cầu Gạo, khe Ngang, khe Chậm, khe
Lườn, khe Cầu Thị Long [41; tr 25].
Vùng đất Trung Chính mang đặc trưng của hai kiểu địa hình châu thổ và
đồi núi. Các làng của xã phần lớn nằm dọc theo hữu ngạn dịng sơng Lãng. Riêng
làng Đơng nằm tách sang tả ngạn kéo sát tới chân núi Nưa, uốn lượn theo hình
vịng cung, có nhiều khe ngịi đổ ra từ núi Nưa đổ ra cánh đồng Đông Cao.
13


Về thổ nhưỡng, Trung Chính thuộc vùng châu thổ của hệ thống sơng ở
Thanh Hóa. Đất đai được bồi đắp trực tiếp bởi phù sa của dòng Lãng Giang.
Đặc điểm chung của vùng châu thổ này là được bồi đắp hàng năm, đồng ruộng
tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc thâm canh cây lúa. Từ xưa đến nay,
ruộng đất Trung Chính đã góp phần làm nên vùng lúa gạo Nông Cống nổi tiếng
với câu ca dao“được mùa Nông Cống sống mọi nơi”. Ngồi đất trồng lúa,
Trung Chính cịn có một phần đồng cạn, chủ yếu trồng rau màu, phát triển chăn
ni. Đất đai ở Trung Chính thuộc thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, trung tính.
Tuy nhiên khi hệ thống đê sơng Lãng hình thành, khơng cho nước lụt vào đồng
ruộng, q trình lắng đọng phù sa của sơng chấm dứt thì việc kiến tạo, bồi đắp
thêm các vùng đất mới cũng khơng cịn nữa. Điều này lý giải tại sao bên cạnh
phần lớp diện tích đất trung tính thuận tiện cho phát triển nơng nghiệp lại có
những vùng đất chua, bạc màu, không mấy thuận lợi cho sản xuất. Nằm bên
dịng sơng Lãng, Trung Chính cịn có dạng đất điển hình khác đó là đất bãi bồi
ven sơng. Đây là vùng đất được bồi đắp hàng năm qua mỗi mùa mưa lũ nên đất
đai màu mỡ, rất thuận tiện cho phát triển cây hoa màu ngắn ngày.
Nhìn chung, sự đa dạng về đất đai đem lại giá trị kinh tế lớn về mặt nông
nghiệp. Bên cạnh các vụ lúa có năng suất cao cịn có các cây màu như lạc, vừng,
ngơ… đều tìm ở đây điều kiện để phát triển.

Khí hậu và thời tiết cũng là một yếu tố quan trọng tác động đời sống sinh
hoạt và sản xuất của dân cư. Cũng như các xã khác của huyện Nơng Cống,
Trung Chính mang đặc trưng chung của khí hậu Thanh Hóa, một năm có hai
mùa rõ rệt “mùa khô, từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau (dương lịch)
thuộc khí hậu hanh khơ, giá rét. Từ tháng 2 đến tháng 6 (dương lịch) thuộc khí
hậu nóng, có gió Lào (gió Phơn – Tây Nam). Mùa mưa, từ tháng 6 đến tháng
10 (dương lịch), thường xuyên xảy ra gió bão, lụt lội” [41; tr 44]. Tồn bộ thiên
nhiên và hoạt động của con người đều chịu tác động sâu sắc của yếu tố này. Do
tác động của gió mùa mà Trung Chính có một nhiệt độ trung bình năm tương
đối cao, nhưng lại có sự chênh lệch nhiệt giữa mùa đông và mùa hạ tương đối
lớn. Về độ ẩm cũng xảy ra hiện tượng tương tự, nếu như mùa hạ mang theo
nhiều hơi nước gây mưa thì gió mùa đơng lại có tính chất lạnh và khơ. Đặc tính
này tạo nên thảm thực vật ở địa phương trước đây, cũng như ảnh hưởng đến
việc quyết định gieo trồng, tìm những giống cây phù hợp với chất đất, khí hậu
trong sản xuất của nhân dân.
14


Trên thực tế thì tính thất thường của thời tiết ln gây khó khăn trong đời
sống của nhân dân. Đặc biệt về mùa nóng, mỗi khi có gió Lào, nhiệt độ thường
lên cao và độ ẩm xuống rất thấp, gây nên kiểu thời tiết khơ nóng rất khó chịu,
bên cạnh đó là những trận bão có sức tàn phá lớn thường gây nên lũ lụt, mất
mùa trong vùng.
Hệ thống sông ngịi, một yếu tố gắn liền với sự hình thành và phát triển
của cộng đồng dân cư vùng đất Trung Chính.
Sơng Lãng là một trong 4 chi lưu chính của sơng n cùng với sơng
Hồng, sơng Thị Long, sơng Lý. Sơng có chiều dài 66,9km, chiều rộng khoảng
30m, bắt nguồn từ Hàm Đôn huyện Như Thanh chảy theo chân núi Nưa thuộc
khu vực Triệu Sơn rồi đổ về Nông Cống. Sông chảy qua các xã của Nông Cống
như Tân Thọ, Tân Khang, Trung Chính, Trung Thành, Tế Thắng, Tế Tân rồi

gặp sơng Hồng ở ngã ba Vua Bà. Sơng Nhơm chảy qua hầu hết các làng của
xã Trung Chính với chiều dài khoảng 12 km [37; tr 12].
Theo các nhà nghiên cứu, sông Nhơm khi về đến hạ lưu do độ dốc thấp, q
trình đào lịng theo chiều ngang diễn ra mạnh nên sơng thường uốn mình quanh các
bờ bãi tạo nên bên lỡ, bên bồi, đôi khi tạo nên các bãi bồi hình quả bầu. Đoạn sơng
Lãng chảy qua địa phận xã Trung Chính có vai trị khơng nhỏ trong việc cung cấp
nguồn phù sa và nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp của cư dân nơi đây.
Về mùa khơ, nước chảy chậm lại nên cịn có tên là Lãn Giang, tức là “sông lười”
sau này gọi chệch thành Lãng Giang. Phần lớn các làng của xã Trung Chính đều
nằm dọc theo hữu ngạn sơng Lãng, riêng làng Đông Cao nằm ở tả ngạn - bờ nam
của sơng. Bên cạnh những lợi ích sơng Nhơm cũng gây khơng ít những khó khăn
cho nhân dân mỗi mùa mưa lũ.
Ngồi sơng Lãng, Trung Chính cịn có hệ thống kênh nơng giang, thuộc
cơng trình thủy lợi nam sơng Chu. Kênh từ nam đập Bái Thượng, Thọ Xuân
qua Triệu Sơn đổ về, sau khi đi qua các xã Tân Thọ, Tân Khang, qua Trung
Chính rồi kết thúc ở xã Tế Tân. Đến địa phận Trung Chính, kênh Nam phân
nhánh tại Mi Đô - Thanh Hà thành chi giang 25 qua xã Hoằng Sơn rồi kết thúc
ở xã Hoằng Giang. Đây chính là hệ thống tưới tiêu chủ yếu phục vụ sản xuất
nơng nghiệp của Trung Chính cũng như các xã phía Bắc của huyện Nơng Cống.
Đồng thời Trung Chính cịn có hệ thống tiêu úng như mương tiêu Đá Bàn,
mương tiêu Tân Giang, Hón Gai Đơng Cao, tạo điều kiện tiêu úng cho nông
nghiệp của xã mỗi mùa lũ lụt.
15


×