Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Diễn Ngôn Về Lịch Sử Trong Tiểu Thuyết Xác Phàm Của Nguyễn Đình Tú.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 105 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND TỈNH THANH HÓA

TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

BÙI THỊ TUYẾN

DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ
TRONG TIỂU THUYẾT XÁC PHÀM
CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

THANH HÓA, NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND TỈNH THANH HÓA

TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

BÙI THỊ TUYẾN

DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ
TRONG TIỂU THUYẾT XÁC PHÀM
CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam


Mã số: 822.01.21

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hỏa Diệu Thúy

THANH HÓA, NĂM 2019


Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học
Theo Quyết định số 1257/QĐ-ĐHHĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019
của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:
Học hàm, học vị, Họ và tên

Cơ quan Công tác

Chức danh
trong Hội đồng
Chủ tịch

GS.TS. Lã Nhâm Thìn

Trƣờng ĐHSP Hà Nội

PGS.TS. Lê Tú Anh

Trƣờng Đại học Hồng Đức

Phản biện 1

PGS.TS. Đinh Trí Dũng


Trƣờng Đại học Vinh

Phản biện 2

TS. Trần Quang Dũng

Trƣờng Đại học Hồng Đức

Ủy viên

TS. Nguyễn Văn Thế

Trƣờng Đại học Hồng Đức

Thƣ ký

Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày

tháng

Xác nhận của Thƣ ký Hội đồng

TS. Nguyễn Văn Thế

năm 201
Xác nhận của Ngƣời hƣớng dẫn

PGS.TS. Hỏa Diệu Thúy


* Có thể tham khảo luận văn tại Thư viện trường hoặc Bộ môn


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận
văn, luận án và các cơng trình nghiên cứu đã cơng bố.
Thanh Hóa, tháng 8 năm 2019
Ngƣời cam đoan

Bùi Thị Tuyến


ii

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian làm việc nghiêm túc, đề tài đã đƣợc hồn thành. Với
tình cảm chân thành, tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô
giáo PGS.TS.Hỏa diệu Thúy - Giảng viên cao cấp Khoa Khoa học xã hội,
Trƣờng Đại học Hồng Đức đã khơng quản nhọc nhằn, vất vả, tận tình chỉ bảo,
giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.
Tơi xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy cho
tơi trong những năm học qua.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm Khoa
Khoa học xã hội, Bộ môn Văn học Việt Nam, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại
học, Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ - Trƣờng Đại học Hồng Đức đã
tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, tổ bộ môn Trƣờng THCS
Trung Xuân đã tạo điều kiện thuận lợi trong cơng tác để tơi học tập và hồn

thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên,
khích lệ tơi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Mặc dù rất nỗ lực khi nghiên cứu và thực hiện đề tài, song chúng tơi
khơng thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong đƣợc sự góp ý và chỉ bảo của
các quý Thầy, Cô trong hội đồng bảo vệ luận văn để chúng tơi có điều kiện
học hỏi, mở mang kiến thức khoa học.
Thanh Hóa, tháng 8 năm 2019
Tác giả luận văn

Bùi Thị Tuyến


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................... 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .................................................... 14
4. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................... 14
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................. 14
6. Đóng góp của đề tài .......................................................................... 15
7. Bố cục đề tài ...................................................................................... 15
Chƣơng 1. XU HƢỚNG DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ TRONG VĂN

HỌC VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN

ĐÌNH TÚ ........................................................................................................ 16
1.1. Xu hƣớng diễn ngơn về lịch sử trong văn học Việt Nam đƣơng đại....16
1.1.1. Quan niệm “diễn ngôn” và “diễn ngôn văn học”...................... 16
1.1.2. Xu hướng diễn ngôn về lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại 20
1.2. Đôi nét về nhà văn Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết Xác phàm ..... 26
1.2.1. Nguyễn Đình Tú - cây bút tiểu thuyết đầy triển vọng ................. 26
1.2.2. “Xác phàm” - một “siêu tiểu thuyết” ......................................... 30
Chƣơng 2. DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT XÁC PHÀM
Ở PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG BIỂU ĐẠT .............................................. 33
2.1. Cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979 - những thông tin từ lịch sử . 33
2.1.1. Những con số biết nói … ............................................................ 33
2.1.2. Niềm khao khát tri ân với lịch sử ................................................ 36
2.2. Xác phàm - Những hiện thực đƣợc tái hiện ................................... 39
2.2.1. Bộ mặt phản trắc, bất nhân, man rợ của kẻ xâm lược................ 39


iv

2.2.2. Tinh thần - ý chí thép của quân dân biên giới và kết cục của quân
xâm lược ................................................................................................ 47
2.2.3. Bài học cho những kẻ mang dã tâm xâm lược ............................ 58
Chƣơng 3. DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT XÁC PHÀM
Ở PHƢƠNG DIỆN HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT .......................................................63
3.1. Nghệ thuật kết cấu cốt truyện ........................................................ 63
3.1.1. Kết cấu truyện lồng truyện.......................................................... 63
3.1.2. Sự tài hoa của tác giả qua những chi tiết “phục bút”................ 69
3.2. Nghệ thuật kể và dẫn dắt mạch truyện. .......................................... 71
3.2.1. Khai thác yếu tố “tâm linh” vào xây dựng điểm nhìn trần thuật71
3.2.2. Nghệ thuật dẫn dắt mạch truyện ................................................. 76
3.3. Nghệ thuật khắc họa nhân vật ........................................................ 79

3.3.1. Nhân vật được đặt trong tình huống đặc biệt ............................. 79
3.2.2. Chủ yếu khắc họa vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng .................... 83
3.4. Ngơn ngữ khách quan và “trung tính” ........................................... 89
KẾT LUẬN .................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………94


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Viết về các vấn đề lịch sử, đặc biệt là lịch sử về các cuộc chiến
tranh giữ nƣớc luôn là khao khát và cũng là thách thức không nhỏ với các cây
bút. Vài thập kỷ gần đây, ngƣời đọc đƣợc thƣởng thức một loạt tiểu thuyết,
truyện ngắn về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc ra đời sau 1975. Phần
lớn các tác phẩm ấy là của ngƣời trong cuộc (những nhà văn từng tham gia/
có mặt ở chiến trƣờng, nhƣ: Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn
Trọng nh, Đình Kính, Nguyễn Trí Huân…). Sau 1975, đất nƣớc vẫn phải
tiếp tục chiến đấu để bảo vệ hai đƣờng biên giới Tổ quốc là phía Bắc và Tây
Nam. Hai cuộc chiến ấy tuy thời gian không dài, nhƣng nhƣ mọi cuộc chiến
đấu bảo vệ bờ cõi biên cƣơng tổ quốc trong lịch sử, máu của quân và dân ta
đã đổ, tính chất ác liệt “một mất một còn” thể hiện trong việc giằng co từng
tấc đất. Thực tiễn cuộc sống ln hƣớng về phía trƣớc nhƣng văn học là nơi
lƣu giữ ký ức của thực tiễn. Hai cuộc chiến tranh Biên giới đã và đang đƣợc
tái hiện qua các tác phẩm văn chƣơng.
Nhu cầu viết truyện lịch sử của các thế hệ không đƣợc tham dự vào
chiến tranh là có thật. Dƣờng nhƣ, dịng máu “anh hùng” của truyền thống
4000 năm bất khuất vẫn âm thầm chảy trong huyết quản ngƣời Việt Nam, vì
vậy, khi chọn nghề cầm bút, các nhà văn Việt Nam ln có sẵn niềm say mê
lịch sử dân tộc. Họ luôn muốn khám phá, tái hiện, lật lại những trang sử cũ để

tìm câu trả lời cho các vấn đề hiện tại và tƣơng lai. Với những cây bút trẻ
trƣởng thành sau năm 1986, có điều kiện tiếp cận, gặp gỡ với những lý thuyết
mới và đƣợc thụ hƣởng bầu khơng khí dân chủ trong đời sống văn học trong
khơng khí đổi mới đất nƣớc cho nên họ có cơ hội sáng tạo ra diễn ngơn mới
về lịch sử, có nhiều cách để nhận ra “mùi” của chiến trận, dẫu chƣa từng trải
nghiệm. Họ nêu ra cách nói mới, góc nhìn mới, phán xét mới, cách tranh luận
mới, gợi mở khả năng mới để tái tạo hiện thực đã qua - hiện thực lịch sử, nhất


2

là về hai cuộc chiến tranh biên giới mà dƣ âm vẫn cịn đậm nét, hiện hữu
trong bầu khí quyển của thời đại.
1.2. Nguyễn Đình Tú là nhà văn quân đội, sinh năm 1974, đƣợc đánh
giá là có triển vọng trong đời sống văn học đƣơng đại. Sách của Nguyễn Đình
Tú ln nhận đƣợc sự u mến của độc giả khi ra mắt và số lƣợng sách đƣợc
tái bản đáng kể. Nhƣ nhiều cây bút trẻ khác, Nguyễn Đình Tú có niềm say mê
viết về những vấn đề thời sự của đời sống xã hội đƣơng đại, trong đó có
những đề tài thật sự “hóc búa”, táo bạo. Theo đánh giá của nhà văn Văn
Thành Lê: “Chỉ từ thế hệ nhà văn 7x về sau, văn nghệ quân đội mới lấp lánh
một diện mạo mới, hình ảnh mới, khơng khí mới, đƣơng đại hơn, gắn với
hơi thở cuộc sống hơn. Và là ngƣời đi tiên phong trong việc làm thay đổi
cách nhìn của mọi ngƣời vào các nhà văn mặc áo lính, tơi cho rằng, đấy là
nhà văn Nguyễn Đình Tú ” [27].
Tiểu thuyết Xác phàm xuất bản năm 2014 của Nguyễn Đình Tú là một
trong hai tiểu thuyết hiếm hoi viết về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm
1979. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài viết “Tiểu thuyết Xác phàm của
Nguyễn Đình Tú - nén hương thơm tưởng nhớ liệt sĩ” đã đánh giá đây là cuốn
tiểu thuyết đầu tiên viết về cuộc chiến đấu anh hùng bảo vệ Tổ quốc của quân
và dân ta một cách trực diện (…) là một cuốn siêu tiểu thuyết, một truyện

trong truyện” [43]. Có thể nói, Xác phàm khẳng định đƣợc chỗ đứng trên văn
đàn, chỉ trong khoảng bốn năm kể từ khi xuất hiện (từ năm 2014 đến năm
2018), cuốn sách đã đƣợc tái bản lần hai với số lƣợng đáng kể và đƣợc đánh
giá với nhiều ý kiến tích cực.
1.3. Là một giáo viên đang giảng dạy môn văn ở nhà trƣờng phổ thông,
nhu cầu cập nhật tìm hiểu, nghiên cứu các tác giả, tác phẩm đƣơng đại khơng
chỉ là niềm say mê mà cịn là nhiệm vụ, để phục vụ cho hoạt động giảng dạy
hiện nay. Chọn nghiên cứu một tác giả trẻ và một tác phẩm viết về đề tài lịch
sử, lại là lịch sử về cuộc chiến tranh vệ quốc còn ở rất gần, đáp ứng với


3

nguyện vọng ấy. Sự lựa chọn này sẽ giúp cho việc gắn bó văn chƣơng trong
nhà trƣờng với đời sống xã hội, giúp kinh nghiệm giảng dạy những tác phẩm
viết về lịch sử đƣợc tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Để có cơ sở tìm ra tính mới và triển khai tƣ tƣởng khoa học, luận văn
làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến đề tài theo hai hệ thống: những cơng
trình, bài viết nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Đình Tú nói chung và tiểu
thuyết Xác phàm (trong đó có diễn ngơn về lịch sử) nói riêng.
2.1. Hướng nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Đình Tú
Nguyễn Đình Tú, là nhà văn mặc áo lính, sáng tác của anh (chủ yếu là
tiểu thuyết) ln có sức hút độc giả của nhiều giới. Có thể dễ dàng tìm thấy
vơ số các bài viết về Nguyễn Đình Tú và các sáng tác của anh đƣợc đăng tải
trên các trang mạng.
Trƣớc tiên là các bài điểm sách, những bài phê bình, nhận xét ở nhiều
góc độ. Có thể nói rằng, ít có tác giả nào mà khi sách ra mắt đều nhận đƣợc sự
“tƣơng tác” với bạn đọc nhƣ trƣờng hợp của Nguyễn Đình Tú. Hình nhƣ, với
mỗi đầu sách, tác giả đã chuẩn bị và hình dung cho đứa con tinh thần của

mình một số phận, ai sẽ đón nhận chúng. Bạn đọc có ấn tƣợng về tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú “luôn mang yếu tố hiện thực nhƣng rất lãng mạn”; “Nguyễn
Đình Tú đã thành cơng khi tạo ra đƣợc cho mình một cách tiếp cận hiện thực
khá mới mẻ và một lối kể chuyện có sức cuốn hút” [54].
Khi tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù ra mắt đồng thời với giải thƣởng danh
giá của bộ Công an trong cuộc thi tiểu thuyết (1988 - 2002), tác phẩm không
chỉ lọt mắt xanh các nhà đạo diễn phim mà còn đƣợc độc giả đón nhận nồng
nhiệt, 4 lần tái bản cho thấy độ “hót” của cuốn sách. Hàng chục bài viết với
những nhận xét, đánh giá của các nhà chuyên môn. Nhà văn Khuất Quang
Thụy đánh giá:


4

Là một cử nhân luật và cũng từng là một cán bộ pháp lý
của quân đội một thời gian trƣớc khi trở thành nhà văn, chắc chắn
Nguyễn Đình Tú có kiến thức khá vững vàng về "tội phạm học".
Nhƣng khi khảo sát khái niệm này ở góc độ một nhà văn, Nguyễn
Đình Tú đã có những ý tƣởng mới mẻ sâu sắc hơn những dịng lý
luận khơ khan. Anh đã cố gắng thơng qua ngơn ngữ và hệ thống
hình tƣợng để lý giải quá trình hình thành nhân cách của một con
ngƣời cũng nhƣ q trình tha hố một nhân cách (…) Với những
vấn đề rất nghiêm túc đƣợc đặt ra trong cuốn sách, Nguyễn Đình
Tú đã chứng tỏ mình là một cây bút có trách nhiệm và có tham
vọng [54].
Nhà văn đàn anh cũng chỉ ra những mặt còn “non” của cây bút trẻ:
Tuy vậy, cũng có thể dễ dàng nhận thấy anh chƣa đạt đƣợc
nhiều lắm cho những mục tiêu nghệ thuật, nhất là nghệ thuật tiểu
thuyết. Bố cục của cuốn sách chƣa thật chặt chẽ, có chƣơng cịn rời
rạc. Những đoạn trích dẫn hoặc thuật kể điển tích của Phật giáo, Ki

tơ giáo chƣa nhuyễn và hơi tham lam. Ngồi nhân vật chính, những
nhân vật có hình hài, có cá tính chƣa nhiều. Có một số nhân vật
xuất hiện có "tính thời vụ", đƣợc tác giả tung ra khi cần thiết và sau
đó thì mất hút hoặc chỉ là những cái bóng mờ nhạt... [54].
Khi cuốn tiểu thuyết Nháp ra đời, nhà văn Khuất Quang Thuỵ” một lần
nữa khẳng định: “Nguyễn Đình Tú đã thành cơng khi tạo ra cho mình một
cách tiếp cận hiện thực khá mới mẻ và một lối kể chuyện có sức cuốn hút, ít
nhất khi đọc cuốn sách này, chúng ta cũng bị lay động và buộc phải suy nghĩ
một cách nghiêm túc hơn, ít phiến diện hơn về một số vấn đề đặt ra trong
cuộc sống hơm nay. Đó chính là một sự khởi đầu tốt đối với một cuốn tiểu
thuyết”. Nhà văn Chu Lai, trong bài giới thiệu Nháp cũng cho rằng:
Đó là bút pháp táo tợn và dịu dàng. Và hơi giật mình. Mới
ngày nào, giọng văn, hơi văn cịn nền nã, hiền hồ, lãng mạn dƣờng


5

kia mà giờ đây đã phá phách, đáo để, không né tránh bất cứ thứ gì
mà cuộc sống khuất lấp và ngổn ngang phơi bày ra kia. Với cuốn
sách này, Nguyễn Đình Tú hồn tồn đã có thể ngẩng cao đầu bƣớc
tiếp trên con đƣờng tiểu thuyết mênh mang nắng gió nhƣng cũng
q đỗi chơng gai, nhọc nhằn.
Chu Lai cịn liên tƣởng “Đọc Nháp trong mối so sánh liên văn bản với hai
tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù và Bên dịng Sầu Diện chúng tơi cho rằng đây là tác
phẩm đánh dấu một chặng đƣờng sáng tác của anh. Sau Nháp, chúng ta sẽ gặp
một Nguyễn Đình Tú với phong cách sáng tác hoàn toàn khác trƣớc đây” [46].
Tác giả Lê Nhật Tăng trong bài “Phản biện sex trong Nháp của Nguyễn
Đình Tú” ấn tƣợng:
Tiểu thuyết mới của nhà văn trẻ Nguyễn Đình Tú có cái tên
khá độc đáo: Nháp (NXB Thanh Niên, 2008) đã gợi sự tò mò

cho bạn đọc. Và quả thật cuốn sách này đã có sự lôi cuốn ngay
từ những trang đầu tiên với một giọng dẫn chuyện rất tự nhiên.
Việc không bày đặt ra chƣơng hồi cũng nằm trong dụng ý của
tác giả để thu hút mọi liên tƣởng và tìm kiếm sự đồng phát hiện
của độc giả. Những bất ngờ ở các quãng chuyển đoạn và khả
năng diễn tả những biến động tâm lý của nhân vật gây đƣợc hiệu
quả thẩm mỹ và chứng tỏ khả năng tiểu thuyết của nhà văn trẻ
đầy nội lực này [45].
Có khi chỉ là điểm sách nhƣng rất đích đáng:
Nếu nhƣ tiểu thuyết Nháp (2008) đƣa đến một cảm giác ngổn
ngang, nhiều hiểm họa trong cuộc sống của ngƣời trẻ nhƣng lại là
môi trƣờng để thiện - ác phân tranh, khẳng định sức mạnh mn đời
của tính thiện. Phiên bản (2009) là sự soi chiếu tội phạm học dƣới
góc độ văn học thơng qua sự tha hóa của những nhân vật mang
dáng dấp nguyên mẫu là những giang hồ khét tiếng (Dung Hà, Năm


6

Cam...). Cịn Kín một lần nữa lại đi sâu, bóc tách, lí giải nhằm nổi
bật lên chân dung lớp trẻ đƣơng đại thơng qua hành trình tới những
miền đất của nhân vật Quỳnh, những sinh hoạt quần hôn tập thể, sự
nguy hiểm của giang hồ, bắt cóc, đĩ điếm và cả thế giới tinh thần
phong phú nhƣng cũng đầy linh thiêng, đó là Đạo Mẫu [14].
Các bài viết về tác giả, tác phẩm Nguyễn Đình Tú đều muốn tìm hoặc
chứng minh sự hấp dẫn của các sáng tác và tài năng của nhà văn. Trong bài
viết “Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”, tác giả Trần
Tố Loan đƣa ra ý kiến: “Bên cạnh việc xây dựng một cốt truyện hồn chỉnh,
sử dụng ngơn từ phù hợp, nhà văn đã dụng công trong việc tổ chức kết cấu tác
phẩm một cách sinh động và hấp dẫn” [28]. Tiếp cận Nguyễn Đình Tú theo

hƣớng phân tâm học, Nguyễn Trọng Hiếu có hai bài nghiên cứu về chủ đề
này: “Hiện tƣợng giấc mơ trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú” (Tạp chí
Khoa học trƣờng đại học Đồng Tháp) và “Bản năng tính dục trong tiểu
thuyết của Nguyễn Đình Tú” (Tạp chí Khoa học trƣờng đại học An Giang).
Nguyễn Trọng Hiếu đặt vấn đề: “Giải mã giấc mơ trong tiểu thuyết Nguyễn
Đình Tú là một trong những cách thức giúp ngƣời đọc hiểu sâu hơn về
những ám ảnh, ẩn ức, mặc cảm, cùng với những khát khao đẹp đẽ trong đời
sống tâm linh nhân vật…” [17; tr 52] vì tác giả cho rằng: “Giấc mơ trong
tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú bộc lộ thế giới nội tâm sâu kín, thỏa mãn
ham muốn và giải tỏa những ám ảnh của đời sống nhân vật”. Thêm nữa
“còn là phƣơng thức bộc lộ bề sâu tâm hồn con ngƣời mà ở đó những nỗi
đau, sự mất mát hay tội ác ám ảnh vò xé…” [17; tr 52 - 53]. Nhà nghiên
cứu trẻ Đoàn Minh Tâm đánh giá:
Tính mạch lạc, rõ ràng. Với các sáng tác của Nguyễn Đình
Tú, sẽ khơng bao giờ xảy ra tình huống bạn đọc phải mệt mỏi, căng
mình ra để xem nội dung tác phẩm là cái gì, dù cho anh sử dụng các
kỹ thuật khác nhau, các kiểu kết cấu khác nhau cho mỗi tiểu thuyết.
Hồ sơ một tử tù và Nháp đƣợc kết cấu theo thời gian song song


7

giữa quá khứ và hiện tại. Từng chặng, từng chặng trong cuộc đời
đáng quên của Bạch Đàn (Hồ sơ một tử tù) đƣợc lồng xen kẽ trong
thời gian Bạch Đàn bị đƣa ra trƣờng bắn. Cuộc đời của Đại (Nháp)
đƣợc tái hiện từng chặng qua lời kể của Thạch. Thời gian tuyến tính
là kết cấu chính của Bên dịng sầu diện. Toàn tiểu thuyết là cuộc đời
của Minh Việt từ lúc sinh ra, lớn lên, trƣởng thành rồi mất đi. Có
thể nói, các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú rất dễ dựng thành…
phim [46].

Tác phẩm của Nguyễn Đình Tú cũng đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu
của các luận văn trong các giảng đƣờng đại học. Các luận văn hoặc tìm hiểu
đặc điểm, tƣ duy tiểu thuyết hoặc đi sâu khảo sát một phƣơng diện nghệ
thuật của tiểu thuyết hay nhóm tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, nhƣ: Luận
văn của Hoàng Thị Thêu (Đại học Đà Nẵng) “Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn
Đình Tú”, Luận văn của Dƣơng Thị Hƣơng (ĐHKHXH&NV) “Đặc điểm
tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”, Luận văn của Trần Thị Kim Thanh (ĐHKH
Huế), Luận văn của Nông Thị Mai (ĐHSP Hà Nội) “Nghệ thuật trần thuật
trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua ba tác phẩm Nháp, Phiên bản, Xác
phàm”, Luận văn của Dƣơng Thúy Hằng (ĐHKH Thái Nguyên) “Tiểu
thuyết của Nguyễn Đình Tú từ góc nhìn phân tâm học”, Luận văn của
Nguyễn Kim Toại (ĐH Vinh) “Hình tƣợng giới trẻ trong Tiểu thuyết của
Nguyễn Đình Tú”, Luận văn của Phạm Thị Thu Hoài (ĐH Vinh) “Hành động
hỏi qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”, Luận văn của
Phạm Anh Đào (Đại học Vinh) “Hiện thực đƣơng đại trong tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú”…
Các luận văn hầu nhƣ đã khảo sát nhiều vấn đề liên quan đến các
phƣơng diện thể loại của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú từ nội dung đến hình
thức. Một vài luận văn cịn hƣớng đến khái quát đặc điểm bút pháp trong tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú, nhƣ luận văn của Hồng Thị Thêu “Đặc điểm tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú”. Luận văn đã chỉ ra đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn


8

Đình Tú ở phƣơng diện đề tài (tác giả thƣờng quan tâm tới hai loại đề tài là
tình yêu - tình dục và thế giới tội phạm), đặc điểm nhân vật (gắn liền với hai
loại đề tài này là các kiểu nhân vật: Nhân vật chấn thƣơng, nhân vật đời sống
bản năng và nhân vật tự ý thức). Trùng tên với đề tài này, luận văn của Dƣơng
Thị Hƣơng (đại học KHXH&NV đại học Quốc gia Hà Nội) đặt vấn đề khảo

sát khá tồn diện nội dung và hình thức của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
(Cuộc sống và con ngƣời trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú; Phƣơng thức
biểu hiện trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú). Ở chƣơng khảo sát hình thức,
luận văn của Dƣơng Thị Hƣơng đã nhận diện đƣợc các dạng thức nghệ thuật
của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, nhƣ: Kết cấu đa tuyến, dòng ý thức, kết cấu
song song, tổ chức kết cấu truyện lồng trong truyện, cốt truyện phân mảnh,
điểm nhìn trần thuật khơng - thời gian và điểm nhìn nhân vật và một số thủ
pháp nghệ thuật khác...
Một số luận văn khác đi sâu tìm hiểu một phƣơng diện tổ chức nghệ
thuật nào đấy của bút pháp tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, nhƣ: “Nghệ thuật
trần thuật”, “Hành động hỏi qua lời thoại”, hoặc soi chiếu tác phẩm ở góc
nhìn “phân tâm học”, có khi chỉ khảo sát một kiểu loại hình tƣợng nhân vật
“Hình tƣợng giới trẻ”…
Từ thống kê trên cho thấy, tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú đã có vị trí
nhất định trong đời sống văn học nói chung và sức hấp dẫn của ngịi bút này
với giới nghiên cứu nói riêng.
2.2. Hướng nghiên cứu về tiểu thuyết Xác phàm
Trong buổi ra mắt tiểu thuyết “Xác phàm”, tác phẩm đã nhận đƣợc
nhiều sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu. Giáo sƣ Trần Đình Sử
khẳng định: “Cuốn tiểu thuyết rất hấp dẫn, tơi đọc một hơi không dứt ra đƣợc
cho đến khi đọc hết. Một cuốn siêu tiểu thuyết, một truyện trong truyện” [43].
TS Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng đây là cuốn “Mới tinh và khá lạ về thi
pháp phối màu tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú” Nhà nghiên cứu thích thú


9

với “sự pha trộn ngẫu hứng, tinh tế chất liệu tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú,
giữa hai màu đen trắng, sự đan quyện hai không gian rất cách xa nhau: Chiến
tranh - hồ bình , sự sống - cái chết, đời sống tâm linh bí hiểm và sự thật phũ

phàng trong đời sống hằng thƣờng của ngƣời Việt hiện đại. Và sự pha trộn
gây hấp dẫn nhất của tiểu thuyết này chính là sự hồ điệu tinh tế giữa chất báo
chí ngồn ngộn của sự kiện chiến tranh với những lên hƣơng nồng nàn của tình
ái lạ lùng giữa hai chàng trai con liệt sĩ, đến mức một trong hai đã quyết định
chuyển giới”. Tác giả bài viết còn khẳng định: “Một nét độc đáo nữa của tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú, chính là sự hƣ cấu thơng minh, biết dựa trên tâm thế
của chính mình, là ngƣời viết từng trải, nhiều quan sát và linh nghiệm, học
đƣợc từ nghiệm sinh của những nhà ngoại cảm chân chính, thực sự có tài
năng”. Nhà văn Võ Thị Xuân Hà bình luận:
Những xác phàm sinh ra làm ngƣời, có thể hồn chỉnh, có thể
thiếu hụt, dự phần trong hịa bình hay trong chiến tranh, đƣợc đủ đầy hay
thiếu vắng, sống trong hạnh phúc hay đau khổ... Nhƣng cho dù là trạng
huống nào, ở thể nào, con ngƣời ta vẫn nhất quyết đi tìm cho mình một
bản ngã căn cốt. Và tâm hồn con ngƣời đƣợc vƣơn lên ngạo nghễ từ bản
ngã đó. Thành công của Xác phàm đƣợc xác quyết nhƣ vậy.
“Xác phàm một lần nữa đƣa Nguyễn Đình Tú vào danh sách những nhà
văn có nhiều độc giả nhất hiện nay. Một Nguyễn Đình Tú ngồn ngộn vốn
sống, dày dặn trải nghiệm và đặc biệt cực kỳ phong phú trí tƣởng tƣợng. Văn
phong vẫn cứ sắc ngọt, hoạt. Nhƣng bắt đầu chín muồi về độ triết lý”, nhà phê
bình Bùi Việt Thắng nhận định. Nhà văn Đào Bá Đoàn nhận xét:
Xác phàm thực ra là một dịng sơng ký ức cuộn chảy của dân
tộc Việt thời đoạn một phần ba thế kỷ qua - Ấy là cuộc chiến vệ
quốc với kẻ thù truyền kiếp; sự khốc hại của chiến tranh; cái nhân
văn trong cảnh ngộ máu; những đớn đau mất mát của thân phận đàn


10

bà; sự “lệch chuẩn” trong hoàn thiện nhân cách trẻ em - những cơn
buồn và những vẻ đẹp hoang đƣờng nhƣ một mê sảng của thế giới

tiếp tục còn bị đẩy sâu vào vùng tăm tối - đƣờng còn lắm mê loạn,
cái đẹp cịn bị dìm, bị tàn hại bởi bao tảng đá hộc; khát vọng nhân
văn còn vời vợi và bản thân nó vẫn gây khát nhƣ ngƣời bệnh trót
uống cả biển mặn mà mặt trời đã đổ lửa, rang tất cả trong một
khung trời… [32].
Tác giả Trung Dũng trong bài viết “Nguyễn Đình Tú - mùi buồn đƣơng
đại” nhận xét: “Đây là cuốn tiểu thuyết đề cập chiến tranh biên giới 1979
nhƣng thể hiện với lối viết đặc trƣng Nguyễn Đình Tú - ln huy động yếu tố
đƣơng đại”. Từ Xác phàm, tác giả còn cho rằng “Bất cứ tiểu thuyết nào, nhà
văn Nguyễn Đình Tú cũng muốn xây dựng từ những biến cố lịch sử có thực.
Anh muốn xây dựng, tái tạo nó sao cho gần với sự thật nhất”. Tác giả ghi
nhận cảm giác của mình về cuốn sách:
Trong Xác phàm, dù tác giả có đóng vai vào mỗi nhân vật,
nhƣ Nam hay Việt, thì anh vẫn giữ giọng viết rất trung tính. Lời kể
tƣờng minh gãy gọn, tránh sa đà vào mọi trạng huống cảm xúc. Đôi
khi, đọc Xác phàm, cảm giác nhƣ đang đi qua một bài học lịch sử,
đƣợc kết nối bằng sợi dây tâm linh mỏng manh vơ hình, khơi gợi
trong não một cậu bé 6 tuổi, thông qua cái chết đuối bất ngờ cùng
cấu tạo cơ thể lƣỡng tính bộ phận sinh dục không trai - không gái không số phận, có đƣợc linh giác kết nối với ngƣời bố liệt sĩ [12] .
Bài viết “Tiểu thuyết Xác phàm ba trong một” của tác giả Nguyễn Hữu
Quý lại cho rằng, tiểu thuyết này chứa đựng ba nội dung trong một mà không
hẳn cái nào quan trọng hơn cái nào:
Lớp vỏ bề ngoài dễ thấy nhất là câu chuyện về cuộc đời khá
kỳ lạ và hiếm hoi của nhân vật Nam; Lớp thứ hai chính là cuộc


11

chiến vô cùng bi tráng và bi đát ở biên giới phía Bắc nƣớc ta; lớp
thứ ba phần lõi của tiểu thuyết chính là một góc nhìn về sự bí ẩn,

những khoảng trống chƣa lí giải đƣợc của con ngƣời…miêu tả thực,
phân tích tâm lý nhân vật, triết luận về tơn giáo con
ngƣời…Nguyễn Đình Tú đều đạt đến điểm chuẩn và có sức cuốn
hút khơng nhỏ [38].
Trịnh Sơn cũng có những nhận xét riêng cho Xác phàm trong so sánh
đối chiếu với bút pháp của những tác phẩm khác của tác giả:
Nguyễn Đình Tú của những cốt cách nhức buốt bản năng Hồ
sơ một tử tù, Nháp, Kín, Phiên bản, Hoang tâm… đã làm tròn bổn
phận của một nhà văn trong dịng chảy thời đại: dị tìm, ngụp lặn,
bơi ngƣợc dịng bằng cả thân thể, trí năng của mình để chứng thực
cảm giác gần gũi nhất, thiết tha nhất và chân thực nhất về một mảng
ngầm tâm linh, tâm lý, tâm thế và tâm sử dân tộc. Vƣợt khỏi địa hạt
thế mạnh là hiện thực, văn Nguyễn Đình Tú trong Xác phàm thiên
về cảm luận và bay bổng lâng lâng giữa đƣờng biên tam giác lãng
mạn - tƣợng trƣng - huyền ảo [39].
Nhà thơ, đạo diễn Phan Huyền Thƣ với những “cảm nhận của một độc
giả bình thƣờng”, nhận xét về tiết tấu ngôn từ trong tác phẩm “Xác phàm”:
“Nếu nhƣ “Hoang tâm” tạo ra một thế giới ảo, miên man, thì cuốn này tác giả
chủ động sử dụng những câu văn rời rạc, ngắn để tặng cho bạn đọc một hiện
thực khốc liệt. Ở ngƣời viết văn xuôi thành cơng thƣờng là có một câu chuyện
hay, hoặc là văn đẹp. Tú không quá mạnh về một trong hai thứ trên nhƣng lại
biết tìm một lối đi riêng” [48].
Đánh giá Xác phàm gắn với diễn ngôn về lịch sử, đáng chú ý với những
bài viết sau: Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài viết “Tiểu thuyết Xác
phàm của Nguyễn Đình Tú - nén hƣơng thơm tƣởng nhớ liệt sĩ” đánh giá đây
là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về cuộc chiến đấu anh hùng bảo vệ Tổ quốc
của quân và dân ta một cách trực diện… là một cuốn siêu tiểu thuyết, một


12


truyện trong truyện. Là nén hƣơng thơm ngát để chúng ta cùng tƣởng niệm
những ngƣời con của dân tộc đã ngã xuống trong cuộc chiến chống quân bành
trƣớng phƣơng Bắc.
Nhà nghiên cứu Ngơ Văn Giá trong bài “Nguyễn Đình Tú: lao vào
vùng cấm với Xác phàm đã nhận định “Xác phàm là tiểu thuyết đầu tiên nói
về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 xuất hiện một cách chính
thống và đàng hồng trên các kệ sách trong đời sống văn học hiện nay” [39].
Nhà nghiên cứu đánh giá:
Trƣớc Xác phàm anh đã đƣợc độc giả biết đến với nhiều tiểu
thuyết ăn khách nhƣ: Hồ sơ một tử tù, Bên dịng Sầu Diện, Nháp,
Phiên bản, Kín, Hoang tâm. Nếu nhƣ ở những tiểu thuyết trƣớc đây,
Nguyễn Đình Tú viết về đề tài đời sống xã hội, hay về cuộc sống
của những ngƣời lính thời hậu chiến, thì đến Xác phàm, ngòi bút
của anh đã tái hiện cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979,
thơng qua lối viết hồi tƣởng, tâm linh, đan xen giữa quá khứ và hiện
tại. Lớp lõi cuối cùng là những gì Nguyễn Đình Tú lý giải con
ngƣời [39].
Khai thác đề tài chiến tranh biên giới phía Bắc với bút pháp nghệ thuật
độc đáo, sáng tạo, “Xác phàm”, tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn
Đình Tú, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội đã gây ấn tƣợng sâu
sắc với độc giả chỉ sau hơn một tuần phát hành. Tôi muốn phá vỡ sự im lặng
quá lâu về cuộc chiến này trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, cũng nhƣ có khát
vọng đƣợc nhắc lại nó cho các thế hệ hậu sinh biết rằng dân tộc chúng ta đã
trải qua một cuộc chiến tranh nhƣ thế” [32].
Nguyễn Đình Tú ln mong muốn tái hiện khơng khí sục sơi của cuộc
chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979, anh đã có nhiều chuyến cơng tác lên các
tỉnh biên giới phía Bắc để tìm hiểu các nguồn tƣ liệu. Nhƣng Xác phàm không
chỉ kể câu chuyện chiến đấu của quá khứ mà nhà văn lồng ghép câu chuyện
của cuộc sống hiện tại để tác phẩm them màu sắc của cuộc sống đƣơng đại.



13

Bản thân Nguyễn Đình Tú có lần chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn:
Khi viết Xác phàm, có những kiểu nhân vật tơi phải gặp gỡ
ngun mẫu ngồi đời để hỏi chuyện, có những kiểu nhân vật hồn
tồn hƣ cấu. Cái khó nhất là làm sao để các nhân vật này kết nối
đƣợc với nhau, có mối quan hệ “máu thịt” với nhau, trong toàn bộ
kết cấu của câu chuyện và tác phẩm. Cuối cùng thì pháo đài chính
là nơi để các nhân vật, bằng cách này hay cách khác, bằng lý do này
hay lý do kia, tự tìm về, tự tụ lại và cùng nhau chiến đấu đến hơi
thở cuối cùng [40].
Trong một hội thảo khoa học vừa diễn ra ở trƣờng đại học Hồng Đức
“Nghiên cứu và giảng dạy văn học về đề tài lịch sử dân tộc”, tiểu thuyết Xác
phàm của Nguyễn Đình Tú cũng đã đƣợc khảo sát, đánh giá cùng với tiểu
thuyết Mình và Họ của Nguyễn Bình Phƣơng trong bài của nhà nghiên cứu
Hỏa Diệu Thúy. Tác giả bài viết tìm sự lí giải về sự xuất hiện hai tiểu thuyết
này gắn với sự kiện lịch sử cuộc chiến biên giới 1979: “… không phải ngẫu
nhiên các cây bút quân đội thƣờng là những ngƣời đồng hành với lịch sử sớm
nhất, bởi họ không chỉ là ngƣời “trong cuộc” mà với họ, những ngƣời đã hi
sinh tính mạng cho tổ quốc là đồng chí, đồng đội, vì vậy, viết về các sự kiện
lịch sử trƣớc hết là mệnh lệnh của trái tim”. Nhà nghiên cứu cũng đã phân
tích, luận giải cho quan niệm: Xác phàm là “diễn ngôn trực diện về cuộc chiến
tranh biên giới phía Bắc năm 1979” [53; tr 270].
Có thể nói, tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú thuộc nhóm tác phẩm “ăn
khách”. Hầu nhƣ tác phẩm nào ra đời cũng đƣợc đón nhận nồng nhiệt. Tiểu
thuyết Xác phàm hấp dẫn độc giả không chỉ ở mạch truyện với đề tài đang
đƣợc dƣ luận quan tâm: đời sống của những số phận thuộc “thế giới thứ ba”
mà trƣớc hết là lớp truyện lịch sử, viết về cuộc chiến tranh biên giới 1979 cịn

rất “nóng hổi” trong tâm thức ngƣời Việt. Tơi khơng muốn cuộc chiến tranh


14

biên giới phía Bắc bị chìm đi q lâu - nhà văn từng bộc lộ. Song, chƣa có
cơng trình, bài viết nào đi sâu nghiên cứu tác phẩm với tƣ cách là một diễn
ngôn về lịch sử. Đây cũng là lí do luận văn chọn hƣớng tiếp cận này để
nghiên cứu.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là: Diễn ngôn về lịch sử trong tiểu
thuyết Xác phàm của Nguyễn Đình Tú.
Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở xác lập khái niệm lý thuyết về diễn
ngôn, diễn ngôn về lịch sử, luận văn sẽ nghiên cứu làm rõ diễn ngôn về lịch
sử trong tiểu thuyết Xác phàm ở phƣơng diện nội dung và nghệ thuật.
Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu: tiểu thuyết Xác phàm của Nguyễn Đình Tú,
Nhà xuất Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hƣớng đến mục tiêu làm rõ các biểu hiện với tƣ cách là diễn
ngôn về lịch sử của tiểu thuyết Xác phàm. Qua đó, góp phần khẳng định vị trí,
đóng góp của tiểu thuyết này trong dòng chảy truyện lịch sử của văn học Việt
Nam đƣơng đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu đề tài này, chúng tôi vận dụng những phƣơng
pháp và thao tác chủ yếu sau:
Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp: Đây đƣợc coi là phƣơng pháp cơ
bản của nghiên cứu tác phẩm văn chƣơng. Đề tài sẽ vận dụng phƣơng pháp
này vào việc phân tích, luận giải các vấn đề để từ đó đƣa ra những nhận xét,
nhận đinh khái quát.
Phƣơng pháp so sánh và đối chiếu: Đây cũng là phƣơng pháp thiết yếu

của đề tài, bởi các vấn đề muốn có những đánh giá khách quan khoa học ln
phải đƣợc soi rọi, nhìn nhận thơng qua so sánh, đối chiếu. Đề tài sẽ sử dụng
phƣơng pháp này để so sánh, đối chiếu Xác phàm với những tác phẩm có
cùng đề tài, chủ đề về lịch sử.


15

Phƣơng pháp liên ngành: Xác phàm đƣợc đánh giá là một “siêu tiểu
thuyết” với bút pháp đa dạng và hiện đại, vì vậy, đề tài sẽ tiếp cận và nghiên
cứu bằng phƣơng pháp liên ngành để vấn đề đƣợc làm rõ và thấu đáo hơn.
- Phƣơng pháp hệ thống: Những năm gần đây nở rộ xu hƣớng diễn
ngôn về lịch sử, đặt Nguyễn Đình Tú trong dịng chảy của các cây bút quan
tâm đến lịch sử để thấy đƣợc những sáng tạo trong diễn ngơn về lịch sử của
nhà văn.
Ngồi ra, đề tài còn vận dụng một số thủ pháp khác, nhƣ: thống kê,
phân loại để xử lý nguồn tƣ liệu và dữ liệu.
6. Đóng góp của đề tài
- Xác lập một số thuật ngữ lý thuyết liên quan đến đề tài: diễn ngôn,
diễn ngôn văn học, diễn ngôn lịch sử.
- Từ góc nhìn diễn ngơn, đề tài góp thêm tiếng nói khoa học vào việc
đánh giá giá trị tƣ tƣởng và hiệu quả thẩm mỹ của tiểu thuyết Xác phàm về
đề tài lịch sử dân tộc (thông qua việc tác phẩm phản ánh sự kiện chiến tranh
biên giới 1979).
- Góp tiếng nói đánh giá tài năng và vị trí của nhà văn Nguyễn Đình Tú
ở thể loại tiểu thuyết (trong đó có tiểu thuyết lịch sử) trong sự vận động phát
triển của văn xuôi Việt Nam đƣơng đại.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chƣơng:

Chƣơng 1. Xu hƣớng diễn ngôn về lịch sử trong văn học Việt Nam
đƣơng đại và đôi nét về nhà văn Nguyễn Đình Tú
Chƣơng 2. Diễn ngơn về lịch sử trong tiểu thuyết “Xác phàm” ở
phƣơng diện nội dung biểu đạt.
Chƣơng 3. Diễn ngôn về lịch sử trong tiểu thuyết “Xác phàm” ở
phƣơng diện hình thức biểu đạt.


16

Chƣơng 1.
XU HƢỚNG DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH TÚ

1.1. Xu hƣớng diễn ngơn về lịch sử trong văn học Việt Nam đƣơng đại
1.1.1. Quan niệm “diễn ngôn” và “diễn ngôn văn học”
1.1.1.1. Khái niệm “diễn ngôn”.
Theo từ điển New Webster`s Dictionary diễn ngôn đƣợc định nghĩa
gồm hai nghĩa. Một là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trị chuyện, lời nói, bài phát
biểu); hai là sự nghiên cứu tƣờng minh, có hệ thống về một đề tài nào đó
(luận án, các sản phẩm của suy luận). Nhƣng theo GS Trần Đình Sử, “cả hai
nghĩa trên đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngơn ngữ, nhƣng chƣa nói đến cái nghĩa
hiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực, cũng chƣa đề cập giao tiếp
phi ngôn từ, nhƣ cử chỉ thân thể, sự mô phỏng động tác, sự thay đổi tƣ thế của
thân thể, trang phục, nghi thức… Đồng thời cả một lĩnh vực rộng lớn là nghệ
thuật nhƣ hội họa, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc, thi ca đều nằm ngồi định
nghĩa đó” [41].
Cho đến nay giới nghiên cứu vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về
“diễn ngôn”. Quan niệm khác nhau bắt nguồn từ cách tiếp cận khác nhau, một
số nhà nghiên cứu đã hệ thống về ba cách tiếp cận cơ bản và tƣơng đƣơng với

các cách tiếp cận ấy là các định nghĩa về khái niệm “diễn ngôn”.
Ở hƣớng tiếp cận ngôn ngữ học, “diễn ngôn” đƣợc hiểu nhƣ là việc “sử
dụng ngôn ngữ” hoặc “ngôn ngữ trong sử dụng” và “một diễn ngôn” là “một
tập hợp rời của một chỉnh thể ngôn ngữ (chẳng hạn nhƣ một bài (viết hay nói)
tách ra đƣợc từ trong Tiếng Việt” [6; tr 42]. Với quan niệm này, “diễn ngôn”
đƣợc gọi là Discourse để phân biệt với Test (Văn bản). Theo các nhà ngôn
ngữ học, Văn bản (Test) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, cịn Diễn
ngơn (Discourse) là cấu trúc lời nói mang tính động. David Crystal cho rằng:


17

“Phân tích diễn ngơn tập trung vào cấu trúc của ngơn ngữ nói xuất hiện một
cách tự nhiên trong các diễn ngơn nhƣ lời đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và
lời nói. Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong
các văn bản nhƣ tiểu luận, thông báo, biển chỉ đƣờng và các chƣơng sách”.
Michael Stubbs (1983) phân biệt: “Một văn bản có thể đƣợc viết ra, trong khi
một diễn ngơn có thể đƣợc nói ra, một văn bản có thể đƣợc tƣơng tác trong
khi một diễn ngơn thì khơng tƣơng tác”.
Ở hƣớng tiếp cận phong cách học, có thể coi M.Bkhtin là ngƣời khởi
nguồn trong tiểu luận “Vấn đề các thể loại lời nói”. M.Bkhtin quan tâm đến
tính “thoại” của lời nói. Theo ông, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể
sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của
những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng. Diễn ngôn là nơi hội tụ, tranh biện
của những tƣ tƣởng, quan niệm khác nhau về thế giới, nó mang đậm tính chủ
thể, vì vậy, “đối thoại là bản chất của diễn ngơn” [35], từ đó, M.Bkhtin cho
rằng muốn nghiên cứu phong cách ngôn ngữ hay phong cách cá nhân, khơng
thể khơng đi sâu tìm hiểu các thể loại lời nói, bởi “bản thân lời nói chỉ có thể
tồn tại trong thực tế dƣới hình thức những phát ngơn cụ thể của những lời nói
riêng lẻ, những chủ thể của lời nói ấy”. Bkhtin quan niệm: “Thực chất phong

cách ngôn ngữ hay phong cách chức năng chẳng phải là cái gì khác, mà chính
là phong cách thể loại ở những lĩnh vực nào đó trong hoạt động giao tiếp của
con ngƣời”, “mọi thay đổi lịch sử của các phong cách ngôn ngữ đều gắn với
sự thay đổi của các thể loại lời nói” [35]. Những tƣ tƣởng của M.Bkhtin, có
ảnh hƣởng lớn đến các khuynh hƣớng lý thuyết sau này với các tên tuổi nhƣ:
Julia Kristeva trong các khái niệm “liên văn bản”, “liên chủ thể”.
Ở hƣớng tiếp cận xã hội học với vai trị chủ sối là M.Foucault – ngƣời
đƣợc coi là ông tổ của các lý thuyết hậu hiện đại và có ảnh hƣởng lớn đến
nghiên cứu diễn ngôn từ những năm 60 của thế kỷ trƣớc. Ngƣời ta dựa vào
tiểu luận Trật tự diễn ngôn của M.Foucault để hiểu quan điểm của ông về


18

diễn ngơn. Foucault lƣợc quy tồn bộ hoạt động của con ngƣời vào hoạt động
ngôn từ, con ngƣời tạo ra ý nghĩa của thế giới, và lọc thế giới qua ngơn ngữ,
mọi thứ đều có quan hệ với ngơn ngữ, ngôn ngữ đƣợc biểu hiện dƣới dạng
thực tiễn diễn ngôn. Con ngƣời tạo ra các kí hiệu, các diễn ngơn, các mã, đến
lƣợt mình - các diễn ngơn lại tạo hình cho cấu trúc xã hội. Foucault đề nghị
coi diễn ngôn ngang với những sự kiện, những hành động tạo nghĩa. Diễn
ngôn là đơn vị của ngữ nghĩa chứ không phải của ngữ pháp, đơn vị của diễn
ngôn là đơn vị ý nghĩa hoặc hành động của con ngƣời để diễn tả ý nghĩa chứ
khơng phải các đơn vị hình thức của ngôn ngữ. Do lẽ này mà Foucault cho
rằng cần thiết phải có nghiên cứu về những điều kiện hình thành các diễn
ngơn, ơng coi trọng các quan hệ quyền lực, hệ thống tƣ tƣởng xã hội hình
thành nên diễn ngôn.
Quan niệm về “diễn ngôn” của tác giả luận văn: Từ việc tiếp thu quan
điểm nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc, luận văn đƣa ra quan niệm về
diễn ngôn để làm cơ sở lý luận cho đối tƣợng nghiên cứu của mình nhƣ sau:
Thứ nhất, diễn ngơn là một cấu trúc siêu văn bản, cái biểu đạt của các văn bản

trong siêu văn bản này không chỉ ở nội dung cụ thể mà cơ bản là ở cái cơ chế,
nguyên tắc tạo thành nên các văn bản ấy; thứ hai, diễn ngôn là sản phẩm của
môi trƣờng văn hóa, chịu tác động, chi phối của đời sống lịch sử - xã hội và
văn hóa. Thời đại, thể chế chính trị ảnh hƣởng và đặt ra quy ƣớc cho diễn
ngôn; thứ ba, diễn ngôn là sự kiến tạo thế giới theo quan điểm, tƣ tƣởng của
cá nhân. Thực tiễn khách quan tồn tại ngồi chủ thể, song, nó đƣợc kiến tạo
lại qua tƣ tƣởng, nhận thức, quan điểm của chủ thể diễn ngôn.
1.1.1.2. Diễn ngôn văn học
Diễn ngôn văn học là hình thức sử dụng ngơn từ để chuyển tải tri thức
văn hóa của thời đại thơng qua các phƣơng thức đặc trƣng thể loại của văn
học. Diễn ngôn văn học là một bộ phận của hệ hình tƣ tƣởng, tƣ tƣởng của


×