Tải bản đầy đủ (.pdf) (197 trang)

Quản lý kinh tế hướng đến phát triển bền vững trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề liên quan - Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phần 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.63 MB, 197 trang )


BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

QUẢN LÝ KINH TẾ HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRONG XU THẾ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH
THÁNG 10 NĂM 2021


BAN CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
PGS.TS Hồ Thủy Tiên
TS Đoàn Ngọc Phúc
CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG
PGS.TS Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư
PGS.TS Phan Thị Hằng Nga
TS Đoàn Ngọc Phúc
BAN BIÊN TẬP
PGS.TS Phan Thị Hằng Nga
TS Đoàn Ngọc Phúc
TS Nguyễn Quyết
ThS Bùi Hồng Trang

ii -


ĐỀ DẪN HỘI THẢO


Kính thưa Qúy vị đại biểu, các nhà khoa học!
Trong xu thế Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với những đặc trưng
nổi bật là mọi hoạt động dựa trên nền tảng kết nối internet, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo,
cơng nghệ robot, điều khiển tự động, công nghệ in 3D, công nghệ điện toán,… Hiện nay,
CMCN 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội,
môi trường, mang lại nhiều cơ hội cho các quốc gia nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển
bền vững. Trong xu thế đó, các phương thức hoạt động kinh tế của các quốc gia trên thế
giới cũng có sự thay đổi mạnh mẽ và Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Để thích ứng với những thay đổi tích cực đó, đổi mới quản lý kinh tế hướng đến phát triển
bền vững trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 là hướng đi đúng đắn, cần thiết trong
giai đoạn hiện nay.
Với tinh thần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, tổng kết thực tiễn cũng như dự báo xu thế
tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến đổi mới phương thức quản lý kinh tế để
khai thác hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền
vững. Do vậy, Trường Đại học Tài chính – Marketing tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề
“Quản lý kinh tế hướng đến phát triển bền vững trong xu thế cách mạng công nghiệp
4.0 và những vấn đề liên quan”. Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, các nhà quản
lý, các chuyên gia có thể trao đổi học thuật, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, cung cấp thêm
bằng chứng khoa học và các giải pháp kiến nghị liên quan đến vấn đề quản lý kinh tế trong
xu thế hiện nay.
Sau thời gian chuẩn bị, Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức nhà nước. Trong quá trình biên tập,
Ban Tổ chức đã lựa chọn được 25 bài tham luận đầy tâm huyết của các nhà khoa học, nhà
nghiên cứu, giảng viên của Trường Đại học Tài chính – Marketing và các trường đại học
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để in trong Kỷ yếu hội thảo. Các bài viết đã khai thác
các khía cạnh khác nhau theo ba chủ đề chính như: i) Đổi mới quản lý kinh tế hướng đến
phát triển bền vững; ii) Vai trò của nguồn nhân lực trong thời đại 4.0; iii) Định hướng, thúc
đẩy phát triển doanh nghiệp bền vững. Các bài tham luận được đánh giá là có chất lượng
tốt, theo sát với chủ đề của hội thảo, thể hiện sự quan tâm, tâm huyết của các nhà khoa học.
Ngoài các bài tham luận được trình bày trong hội thảo, cịn nhiều bài viết có chất lượng,

là sự sẻ chia kinh nghiệm quý báu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và quý thầy/cô.
Chúng tơi đánh giá rất cao những đóng góp này và trân trọng gửi lời cảm ơn đến các nhà
khoa học, các nhà nghiên cứu và quý thầy/cô.

- iii


Hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận các vấn đề sau:
– Đổi mới, hồn thiện thể chế và cơng cụ quản lý kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh
tế nhanh và bền vững;
– Quản lý nhà nước dựa trên nền tảng công nghệ và đổi mới sáng tạo;
– Hệ thống thông tin,cơ sở dữ liệu, kinh tế số thúc đẩy phát triển bền vững;
– Chính phủ kiến tạo trong quản lý và phát triển kinh tế;
– Đổi mới quản lý và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp;
– Vai trò của nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0;
– Đổi mới phương thức, công cụ quản lý kinh tế trong từng ngành, hoặc lĩnh vực cụ thể.
BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO

iv -


MỤC LỤC
PHẦN 1. QUẢN LÝ KINH TẾ HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam ................................................................................................................................... 2

Lê Trung Đạo, Đoàn Ngọc Phúc
2. Quản lý tài chính về đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ................................. 12

Nguyễn Đình Thái

3. Chính phủ kiến tạo trong quản lý và phát triển kinh tế ở Việt Nam ................................ 28

Phan Thị Cẩm Lai
4. Các chính sách kinh tế vĩ mô trong bối cảnh covid-19 với mục tiêu tăng trưởng kinh
tế ...................................................................................................................................... 39

Nguyễn Thị Hảo, Ngô Thị Hồng Giang
5. Thuế – công cụ kinh tế trong vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ............ 47

Ngô Thị Duyên, Nguyễn Thị Hương Thảo
6. Ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở cấp độ địa phương
tại Việt Nam ..................................................................................................................... 59

Nguyễn Thị Quý
7. Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế đến kinh tế Việt Nam ...................................................... 72

Phan Ngọc Yến Xuân, Lê Trường Giang
8. Tăng cường quản lý và kiểm soát nợ cơng ở Việt Nam ................................................... 84

Đồn Ngọc Phúc
9. Cơ hội phát triển bền vững từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: phân tích
bằng mơ hình ISM ........................................................................................................... 93

Nguyễn Quyết
PHẦN 2. NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHIỆP 4.0
10. Định hướng hoạt động đào tạo nghề nghiệp trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư .............................................................................................................................. 108

Nguyễn Văn Tuyên
11. Phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 ................ 117


Lê Thị Bích Thảo
12. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0 tại thành phố
Đà Nẵng ......................................................................................................................... 129

Lê Đức Thọ
13. Nhân lực trình độ thạc sĩ ngành quản lý kinh tế và hàm ý xây dựng chương trình đào
tạo thạc sĩ tại Trường Đại học Tài chính – Marketing ................................................... 138

Ngô Thị Hồng Giang, Nguyễn Thị Hảo
-v


14. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến quan hệ lao động ở Việt Nam và hàm
ý chính sách ................................................................................................................... 151

Bùi Thanh Tùng
15. Mối quan hệ giữa quản lý nguồn nhân lực xanh và kết quả thực hiện công việc .......... 164

Phạm Văn Thiệu, Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Văn Hiếu
16. Quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp hướng đến phát triển bền vững: trường
hợp quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp cho lao động nơng thơn ở cấp huyện,
xã ................................................................................................................................... 176

Đồn Thị Thủy, Đồn Thị Vân
PHẦN 3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP BỀN VỮNG
17. Các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm của khách hàng với các thương hiệu cà phê
kinh doanh theo chuỗi ở Thành phố Hồ chí minh ......................................................... 192

Ao Thu Hồi

18. Phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê: tiếp cận bằng mơ hình
trọng lực.......................................................................................................................... 212

Nguyễn Thị Hoài Đan, Nguyễn Thị Hương Quỳnh, Đặng Thị Nhã Trúc,
Trần Thị Hạ Vy, Nguyễn Quyết
19. Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
logistics – trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh .................................... 223

Nguyễn Văn Tun, Ngơ Thị Hồng Giang
20. Sử dụng các mơ hình phân lớp, cảnh báo sớm rủi ro phá sản của doanh nghiệp, thơng
qua báo cáo tài chính, bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam ...................................... 235

Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Tâm Nhi
21. Doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CSR):
bằng chứng tại Việt Nam ............................................................................................... 252

Nguyễn Thanh Chương
22. Thực trạng phát triển kinh tế số Việt Nam ...................................................................... 270

Trần Anh Sơn, Nguyễn Thị Thủy
23. Phát triển bền vững kinh tế tư nhân: cần tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước ................ 284

Lê Thị Bích Thảo
24. Đổi mới tư duy quản lý kinh tế – nhìn từ những lần sửa đổi Luật Doanh nghiệp ......... 296

Tơ Thị Đơng Hà
25. Vận dụng tư duy về Chính phủ kiến tạo phát triển trong quản lý thị trường chứng
khốn Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý ............................................................. 307

Hồ Thị Thanh Trúc


vi -


PHẦN 1

QUẢN LÝ KINH TẾ HƯỚNG ĐẾN
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

-1


TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
TS Lê Trung Đạo*
TS Đồn Ngọc Phúc*
TĨM TẮT
Sau hơn 30 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đến nay khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) đã thực sự trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế
quốc dân. Bên cạnh vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, khu vực FDI vẫn
cịn những hạn chế nhất định cần có sự quản lý và điều tiết. Thông qua phương pháp phân
tích thống kê kinh tế các số liệu thứ cấp thu thập về tình hình thu hút vốn từ năm 2000 đến
2020 được lấy từ Niên giám thống kê (GSO), Bộ Kế hoạch và Đầu vư (MPI), bài viết đánh
giá những thành tựu và hạn chế trong quản lý hoạt động FDI, từ đó đề xuất một số giải
pháp chủ yếu khả thi nhằm tăng cường quản lý hoạt động FDI trong thời gian tới.
Từ khóa: FDI, quản lý FDI, Việt Nam.

1. Đặt vấn đề
Với chủ trương mở cửa hội nhập, trong những năm qua, lượng vốn FDI vào Việt Nam
ngày càng tăng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Có thể nói,

FDI là nguồn vốn quan trọng bổ sung nhu cầu vốn cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu
tư, phát triển sản xuất, tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho đất nước; góp phần
tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thay đổi cơ cấu
lao động… Ngoài ra, khu vực FDI cịn góp phần quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh
tế của Việt Nam, khơng những nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước
thông qua chuyển giao và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động FDI vẫn
còn những tồn tại nhất định, do vậy, tăng cường quản lý hoạt động FDI là hết sức cần thiết
và có ý nghĩa thực tiễn to lớn.
2. Cơ sở lý thuyết về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quản lý nhà nước đối với hoạt động thu hút FDI là sự tác động của cơ quan quản lý
nhà nước có chức năng và thẩm quyền nhất định tới hoạt động FDI nhằm thực hiện các mục
Trường Đại học Tài chính – Marketing.

*

2-


tiêu đã định trong lĩnh vực này nhằm hướng tới mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế của
đất nước (Sengphai Vanh, 2013).
Mục tiêu quản lý nhà nước về FDI bao gồm tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng.
Mục tiêu trung gian nhằm (1) tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI
(2) Định hướng hoạt động FDI (3) Khuyến khích, thu hút FDI (4) kiểm soát hoạt động
FDI. Mục tiêu cuối cùng của quản lý nhà nước về FDI hường đến tăng trưởng và hiệu quả
(Nguyễn Thạc Hoát & Nguyễn Thế Vinh, 2021).
Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI có vai trị nâng cao trình độ cơng nghệ quốc
gia; nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền
vững và chuyễn dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả (Sengphai Vanh, 2013).
Sengphai Vanh (2013) còn cho rằng, quản lý nhà nước về hoạt động FDI bao gồm

các nội dung chủ yếu sau: xây dựng, thực thi hệ thống luật pháp liên quan đến FDI; xây
dựng và thực chiến lược, kế hoạch thu hút FDI; xây dựng chính sách thu hút FDI; kiểm
tra, kiểm soát việc xây dựng, tổ chức thực hiện cơ chế quản lý FDI; tổ chức bộ máy quản
lý nhà nước về thu hút FDI.
Cạnh tranh về FDI ngày càng gay gắt do chính phủ các nước phát triển và đang phát
triển đều chú trọng đến chất lượng hơn là số lượng FDI địi hỏi một tổ hợp chính sách mới
và một cách tiếp cận mới để đánh giá hiệu quả hoạt động trong hoạt động xúc tiến đầu tư.
Nghiên cứu này còn cho rằng, những thách thức mà các cơ quan xúc tiến đầu tư phải đối
mặt từ góc độ quản lý vốn trí tuệ, vốn nhân lực, từ đó nghiên cứu này đưa ra một khuôn
khổ hướng dẫn tốt hơn cho việc cải cách và đánh giá chính sách thu hút FDI (José Guimón
& Sergey Filippov, 2012).
Nghiên cứu của Nguyễn Nguyên Dũng (2020) cho rằng, để hướng hoạt động FDI theo
chiều sâu gắn với mục tiêu phát triển bền vững, ưu tiên những dự án chất lượng, sản phẩm có
giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao, cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước ở lĩnh vực này. Những giải pháp mà ttác giả này đề xuất nhằm tăng cường quản lý hoạt
động FDI trong thời gian tới bao gồm: hồn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán, tạo
hành lang pháp lý cho việc quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, cải cách thủ tục hành chính
theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, làm tốt cơng tác xúc tiến đầu tư đầu tư nước ngoài; kiện toàn
bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp
nước ngoài; phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng trong quản lý FDI.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích này chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp: số liệu có liên đến đầu tư trực tiếp
nước ngoài từ các niêm giám thống kê của Tổng cục thống kê, Báo cáo tổng kết 30 năm thu

-3


hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bộ Kế hoạch & Đầu tư; số liệu từ các báo cáo của
các Bộ, ngành; các bài báo và các công trình khoa học uy tín có liên quan. Phương pháp
được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này bao gồm: phân tích và tổng hợp các số liệu thu

thập được; phương pháp phân tích thống kê kinh tế, phương pháp so sánh.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thực trạng và vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Đến hết năm 2020, nay cả nước có 29.792 dự án cịn hiệu lực với tổng vốn đăng
ký 481 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI đạt khoảng 231,5 tỷ USD, bằng
48,13% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến
hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế. Khu vực FDI chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội, trên 70% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp gần 20% GDP; tạo việc làm cho hơn 3,6
triệu lao động trực tiếp và khoảng 5-6 triệu lao động gián tiếp (MPI, 2020).
Xét theo lĩnh vực đầu tư: có đến 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc
dân có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngồi. trong đó lĩnh vực chế biến, chế tạo chiếm
58% tổng vốn FDI; lĩnh vực kinh doanh bất động sản chiếm 16,8%; sản xuất và phân phố
điện, khí chiếm 6,6% tổng vốn FDI (MPI,2020).
Theo đối tác đầu tư: các nước ASEAN với khoảng 22% vốn đầu tư; Hàn Quốc 16,6%;
Nhật Bản 13,7%; Đài Loan 9%; EU chiếm 8,2%; Mỹ chiếm khoảng 5,2%;… Trong thời
gian gần đây, lượng vốn FDI vào Việt Nam từ Trung Quốc tăng khá nhanh nhưng vốn đăng
ký còn thấp (chỉ chiếm khoảng 3% tổng vốn FDI) và quy mô dự án nhỏ (bình quân chỉ
khoảng 6,2 triệu USD) (MPI, 2020).
Xét theo phân bổ dự án: đầu tư nước ngoài hiện nay đã có mặt khắp 63 tỉnh, thành
phố, trong đó thành phố Hồ chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI khoảng 45,5
tỷ USD (chiếm 13% tổng vốn FDI), Hà Nội 33,4 tỷ USD (chiếm 9,5 tổng vốn FDI); Bình
Dương 32,7 tỷ USD (chiếm 9,3 tổng vốn FDI) (MPI, 2020).
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi ngày càng khẳng định vai trị quan trọng
trong q trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, góp phần bổ sung vốn đầu tư xã hội: FDI là nguồn bổ sung quan trọng
trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Trong giai đoạn 1996 – 2000: tỷ trọng vốn
FDI chiếm 21,6%; giai đoạn 2001 – 2005 chiếm 15,7%; giai đoạn 2006 – 2010: 25,3%;
giai đoạn 2011 – 2015: 22,6%; giai đoạn 2016 – 2019: 34,1%. Tính chung cả giai đoạn
1991 – 2020, tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển tồn xã hội duy trì ở mức
từ 15,7-25,3%. Năm 2020, FDI đăng ký đạt gần 28,5 tỷ USD, chiếm khoảng 21,4% vốn

đầu tư toàn xã hội.
4-


Bảng 1. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển chia theo khu vực kinh tế
giai đoạn 2000 – 2020

1996-2000

Kinh tế nhà nước
(%)
54,3

Kinh tế ngồi nhà
nước (%)
24,1

Kinh tế có vốn
ĐTNN (%)
21,6

2001-2005

51,8

32,5

15,7

2006-2010


38,7

36,1

25,3

2011-2015

39,1

38,3

22,6

2016-2020

34,0

43,08

22,92

Năm

Nguồn: Tổng hợp từ Kinh tế Việt Nam 2020 – 2021: Việt Nam & thế giới, tr.44
Thứ hai, thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế. Khu vực FDI đang giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu của Việt
Nam hiện nay. Thông qua các doanh nghiệp FDI, Việt Nam có thể nhanh chóng hợp tác với
nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế, qua đó từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên

trường quốc tế và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Năm 2020,
xuất khẩu của khu vực FDI đạt 202,89 tỷ USD (đóng góp khoảng 71% kim ngạch xuất
khẩu cả nước) và xuất siêu khoảng 33,87 tỷ USD (GSO, 2021).
Thứ ba, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế và năng lực sản xuất công nghiệp: khu
vực FDI tạo ra hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp; góp phần chuyển dịch cơ cấu nơng
nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mới, năng suất và có khả năng cạnh
tranh. Số liệu thống kê cho thấy, tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP ngày càng
tăng, trong khi tỷ trọng kinh tế nhà nước ngày càng giảm.
Bảng 2. Cơ cấu GDP chia theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2020
Kinh tế

Kinh tế ngồi

Kinh tế có vốn

2015

nhà nước (%)
28,69

nhà nước (%)
39,98

ĐTNN (%)
31,33

2016

28,81


40,76

30,43

2017

28,63

42,03

29,34

2018 – 2020

29,34

42,98

29,88

Năm

Nguồn: Kinh tế 2018-2019: Việt Nam & thế giới, tr.99
Thứ tư, FDI góp phần đáng kể cho thu ngân sách nhà nước: khu vực FDI đóng góp
khoảng 26% tổng thu ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn 2011 – 2019 khu vực FDI chiếm

-5



bình quân 28% tổng thu ngân sách Nhà nước. Song tại nhiều địa phương, doanh nghiệp vốn
FDI chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu ngân sách. Chẳng hạn, với Vĩnh Phúc là 93,5%;
Bắc Ninh là 72%, Đồng Nai 63%, Bắc Giang 60% và Bình Dương 52% (MPI, 2020).
Thứ năm, tạo tác động lan tỏa công nghệ, thúc đẩy tăng năng suất lao động; nguồn
vốn FDI đã tạo ra tác động lan tỏa cơng nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ thông
qua chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý. FDI là kênh quan trọng để phát triển công
nghệ, tạo ra áp lực đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác,
thông qua khu vực FDI, Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới,
giảm dần các ngành thâm dụng lao động hướng tới phát triển các ngành thâm dụng vốn,
các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành sử dụng nhiều chất xám, từ đó thúc đẩy tăng
trưởng năng suất lao động và làm dịch chuyển lao động từ khu vực kinh tế trong nước có
năng suất thấp sang khu vực có vốn đầu tư nước ngồi có năng suất cao hơn.
Thứ sáu, tạo cơng ăn việc làm cho người lao động, từng bước cải thiện chất lượng
nguồn nhân lực: Năm 1995 cả nước có khoảng 330 nghìn lao động làm việc trong DN
FDI; năm 2000 khoảng 358,5 nghìn người thì đến năm 2020 là khoảng 3,6 triệu người,
chiếm khoảng 26% lực lượng lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp (GSO,2020).
Ngoài ra, khu vực FDI còn gián tiếp tạo ra khoảng 5-6 triệu lao động. Theo thống kê của
Bộ lao động, tỷ lệ DN FDI tham gia đào tạo cho người lao động đạt 57%, trong đó tự đào
tạo chiếm 40%, liên kết với các cơ sở đào tạo chiếm 17%, qua đó góp phần hình thành và
phát triển một lực lượng lao động có kỹ năng nghề và du nhập nhiều kinh nghiệm quản trị
doanh nghiệp tiên tiến.
4.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI
Đạt được những thành tựu về thu hút FDI trong thời gian qua là do trong suốt hơn
30 đổi mới kinh tế và mở cửa hội nhập, Việt Nam đã tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư
nước ngồi bằng việc tạo ra một mơi trường chính trị ổn định; mơi trường kinh doanh thơng
thống; nguồn tài nguyên dồi dào và nguồn lao động giá rẻ; hoạt động xúc tiến đầu tư được
tăng cường. Đặc biệt, từ năm 2005, Luật đầu tư chung ra đời thay thế Luật đầu tư nước
ngoài và Luật đầu tư trong nước trong nước tạo nên bước đột phá về cải thiện mơi trường
đầu tư, xóa bỏ hồn tồn sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp, giữa các khu
vực kinh tế. Đến năm 2014, Luật đầu tư này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng tách

thủ tục đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp đã tạo động lực và tăng tính hấp dẫn với
nhiều ưu đãi trong việc tiếp cận các nguồn lực về đầt đai, thuế, hải quan,… cho các doanh
nghiệp FDI. Có thể nói, trong những năm qua, Việt Nam liên tục hồn thiện thể chế, chính
sách ưu đãi về tài chính để thu hút và quản lý tốt hơn nguồn lực đầu tư nước ngồi. Chính
phủ đã ban hành nhiều văn bản, chính sách nhằm thu hút, quản lý FDI tại Việt Nam tiêu
biểu như: Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật Thuế xuất khẩu,
6-


thuế nhập khẩu, Luật Sử dụng đất phi nông nghiệp cùng với các văn bản hướng dẫn về cơ
chế, chính sách khuyến khích DN FDI đầu tư vào Việt Nam. Cụ thể:
Tạo khung pháp lý bảo đảm cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi: Các chính
sách liên quan đến DN FDI đều tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngồi, khơng
có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư đã
quy định cụ thể 13 nhóm lĩnh vực và 3 loại địa bàn được ưu đã đầu tư; quy định rõ điều kiện,
thủ tục, quy trình đăng ký kinh doanh cũng như hình thức đầu tư và triển khai thực hiện các
dự án đầu tư… Đồng thời, bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài sau khi
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Quy định này khiến nhà đầu tư nước ngoài vững tin hơn khi tham gia đầu tư vào Việt Nam.
Về quy trình, thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận đầu tư, do có sự nỗ lực trong cải cách
hành chính nên đã giảm đáng kể thời gian và chi phí cho DN FDI…
Chính sách thuế đối với các DN: Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn quy
định cụ thể các mức ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thống nhất chung cho tất cả các loại hình
DN; bãi bỏ các quy định về thuế TNDN bổ sung; bãi bỏ quy định về thuế chuyển lợi nhuận
ra nước ngoài. Việc cắt giảm thuế quan hàng năm theo các cam kết khu vực và quốc tế đối
với các nguyên vật liệu thô cũng giúp cho các DN, trong đó có DN FDI cắt giảm đáng kể
một phần chi phí đầu vào, nâng cao sức cạnh tranh về giá cho sản phẩm.
Chính sách đất đai, mặt bằng: Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành cùng
thống nhất quan điểm xoá bỏ sự phân biệt giữa các loại hình DN trong cơ hội tiếp cận, sử
dụng đất đai và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động sử dụng đất đai.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quản lý FDI hiện nay vẫn còn những hạn chế,
bất cập. Cụ thể:
Chưa tạo được sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn FDI và khu vực
kinh tế trong nước: FDI chưa tạo được liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nước
để cùng tham gia vào chuỗi giá trị cũng như thúc đẩy phát triển các ngành cơng nghiệp phụ
trợ. Bên cạnh đó, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành cơng nghiệp có vốn FDI cịn thấp;
phần lớn phụ tùng, ngun vật liệu và dịch vụ phục vụ cho hoạt động của khu vực doanh
nghiệp FDI được nhập khẩu thay vì được cung ứng bởi các doanh nghiệp ttrong nước.
Ngoài ra, các doanh nghiệp khu vực FDI cũng chưa thật sự tạo được hiệu ứng lan tỏa công
nghệ và năng suất chưa cao như kỳ vọng thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệp
cho các doanh nghiệp trong nước.
Phân bổ vốn FDI không đều giữa các khu vực, tập trung chủ yếu vào những địa
phương có điều kiện thuận lợi như Thành phố Hố Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương,… Năm
2020, có khoảng 42,4% vốn FDI đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ và 27,7% vốn FDI đầu tư

-7


vào vùng Đồng bằng sơng Hồng, trong khi chỉ có 4,7% vốn FDI đầu tư vào miền Núi và
trung du Bắc Bộ (GSO, 2020). Ngoài ra, cơ cấu đầu tư còn mất cân đối chủ yếu đầu tư vào
những ngành sản xuất thay thế nhập khẩu, những ngành lắp ráp, gia cơng, tỷ lệ nội địa hóa
thấp, hoặc những ngành sản xuất được nhà nước ưu đãi thuế, những ngành sử dụng nhiều
tài nguyên, các ngành sử dụng nhiều lao động, cơng nghệ trung bình, gây ơ nhiễm mơi
trường, các dự án FDI chỉ tập trung vào lĩnh vực sản xuất, chưa chú trọng đầu tư ở các lĩnh
vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao cao như tài chính, cơng nghệ cao, nghiên cứu phát triển.
Khả năng tiếp cận công nghệ chưa đạt được mục tiêu đặt ra: thiết bị, máy móc chuyển
giao vào nước ta cịn lạc hậu. một số dự án đầu tư không hiệu quả đã hạn chế khả năng thu
hút công nghệ. Nhiều dự án FDI tập trung ở một vài công đoạn trong các ngành sử dụng
nhiều lao động để gia công, lắp ráp và chế biến. Đầu tư của khu vực FDI vào lĩnh vực
cơng nghệ cao, cơng nghệ nguồn cịn hạn chế dẫn đến việc tiếp cận công nghệ mới, tiên

tiến từ các nước công nghiệp phát triển như Tây Âu, Bắc Mỹ chưa đạt được như mục tiêu
kỳ vọng.
FDI vẫn còn nhiều hành vi tiêu cực, mức độ động viên vào ngân sách nhà nước còn
thấp. một số doanh nghiệp FDI ln báo lỗ và có dấu hiệu cơ chế chuyển giá để trốn thuế,
gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Cách thức chuyển giá mà các doanh nghiệp FDI
thường sử dụng là mua hàng hóa, nguyên vật liệu và các dịch vụ với giá cao trong nội bộ
tập đồn hoặc chuyển giá thơng qua các khoản vay từ công ty mẹ, công ty liên kết với lãi
suất cao để chuyển lợi nhuận ra nước ngồi. Ngược lại, cịn xuất hiện hiện tượng chuyển
gia, chuyển lợi nhuận vào Việt Nam và chuyển giá giữa các doanh nghiệp FDI trong nước
có quan hệ liên kết được hưởng ưu đãi lớn về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Số liệu
báo cáo tài chính của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2012 – 2017 cho thấy, số lượng doanh
nghiệp lỗ hàng năm từ 44% đến 52% (GSO,2020). Riêng năm 2017, khoảng 52% doanh
nghiệp FDI kê khai lỗ với giá trị lỗ tương đương 4 tỷ USD và trong số này có khoảng 20%
doanh nghiệp lỗ mất vốn (GSO, 2017).
Nguyên nhân của những bất cập trên là do nhận thức của các cơ quan quản lý nhà
nước và các địa phương về vị trí vai trị nguốn vốn FDI chưa thật sự đầy đủ và nhất quán.
Hệ thống pháp luật nói chung và luật đầu tư nói riêng mặc dù tương đối đồng bộ và thơng
thống nhưng việc thực thi cịn tùy tiện. Chính sách quản lý FDI chưa tạo được sự liên kết
giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI. Ngồi ra, cơ chế quản lý vẫn
cịn chồng chéo; việc thu hút vốn FDI trong thời gian qua chưa gắn với tổng thể quy hoạch
và phát triển vùng; chưa tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tổng thể phát triển kinh
tế xã hội của vùng; tình trạng cạnh tranh trong thu hút vốu FDI khá phổ biến đã tạo ra sự
bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và dẫn đến những hệ lụy như trên mà còn tạo ra sự
8-


thiếu nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế và thực thi chính sách trong thu hút
nguồn lực quan trọng này.
5. Kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động FDI
Trong bối cảnh khu vực và trong nước đặt ra nhiều cơ hội và thách thức mới đối với

việc thu hút và sử dụng FDI. Quy mơ dịng vốn FDI tồn cầu giảm, xung đột thương mại
giữa Mỹ – Trung, Nhật Bản – Hàn Quốc, nguy cơ khủng hoảng ở các nền kinh tế mới nổi;
sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động
mạnh mẽ tới đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển công nghệ,… sẽ tác động không nhỏ
đến sự di chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Do vậy để tăng cường quản lý hoạt động FDI
trong thời gian tới, chúng tối kiến nghị các giải pháp chủ yếu sau:
Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách trong quản lý hoạt động FDI; hồn thiện hệ thống
pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng công khai, minh bạch, đảm bảo tính
cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Đặc biệt cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp
lý; sớm loại bỏ hồn tồn tính tùy tiện trong thực thi pháp luật để thu hút nguồn vốn FDI.
Cần có mục tiêu đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi trong khu cơng nghiệp
cho từng giai đoạn phát triển, phải có lựa chọn đối với các DN này cho phù hợp với mục
tiêu của đất nước. Điều này có liên quan mật thiết đến việc lập chiến lược, kế hoạch, quy
hoạch và chính sách thu hút đầu tư phải phù hợp với mục tiêu phát triển mới đem lại hiệu
quả cao. Khi đã có mục tiêu rõ ràng thì cần có quy hoạch chi tiết cho mục tiêu đó. Đồng
thời, phải có lựa chọn cho phù hợp với mục tiêu đặt ra. Cần tránh những thất bại như các
nước trong khu vực dẫn đến cơ cấu kinh tế kém phát triển, kinh tế thiếu bền vững, không
tạo ra năng lực sản xuất thực sự.
Quản lý nhà nước đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải hướng đến phát
triển cân đối các ngành, vùng. Sự mất cân đối này có thể gây ra những hậu quả trong phát
triển dài hạn. Để giải quyết tình trạng này cần quan tâm đến việc xây dựng và phát triển
quy hoạch tổng thể, cả quy hoạch theo ngành, nghề và quy hoạch theo vùng thống nhất
trong cả nước. Thu hẹp các ngành, nghề hạn chế đầu tư, phát triển quy hoạch vùng, tạo nên
các cực kinh tế trọng điểm, mở rộng các vùng kinh tế và chuyển dịch các cực kinh tế rộng
khắp cả nước.
Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư phải nhất quán và phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế – xã hội quốc gia và cũng là cơ hội tốt nhất để quản lý hoạt động
của DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi. Các chính sách bảo đảm đầu tư và giải quyết
các tranh chấp phải thỏa đáng, phải bảo đảm cơng bằng. Khuyến khích đầu tư nước ngoài,
-9



cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào mọi lĩnh vực, trừ các lĩnh vực ảnh hưởng tới
an ninh – quốc phịng.
Chính sách quản lý cần tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tổng thể phát triển
kinh tế xã hội của vùng; tránh tình trạng cạnh tranh trong thu hút vốu FDI khá phổ biến đã
tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và dẫn đến những hệ lụy như trên mà còn
tạo ra sự thiếu nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế và thực thi chính sách trong
thu hút nguồn lực; hoàn thiện hệ thống quy hoạch theo hướng hiện đại, đồng bộ giữa các
địa phương và giữa các vùng trong cả nước. Việc thu hút vốn FDI gắn với tổng thể quy
hoạch và phát triển vùng, tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tổng thể phát triển kinh
tế xã hội của vùng, tránh tình trạng cạnh tranh trong thu hút vốu FDI giữa các địa phương
như trong thời gian qua.
Cần có chiến lược thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi có chọn lọc theo
hướng cần xác định những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mục tiêu nhằm định hướng thu hút đầu
tư một cách chủ động, đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế và thực
thi chính sách trong thu hút FDI. Cần tập trung ưu tiên thu hút FDI vào các ngành công
nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám và ưu đãi dựa vào hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép và quản lý vốn FDI; hạn chế cấp
phép các dự án FDI sử dụng công nghệ lạc hậu; thẩm tra chặt chẽ các dự án sử dụng nhiều
tài nguyên, đặc biệt là các dự án sử dụng nhiều đất; cần giao đất theo tiến độ triển khai dự
án đầu tư và nên cần quy định về tỷ suất đầu tư/đơn vị diện tích đất đối với các dự án đầu
tư FDI.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2017). Dự thảo chiến lược và Định hướng Chiến lược Thu hút FDI thế hệ
mới giai đoạn 2018 – 2030.
Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2019). 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: tầm nhìn và cơ
hội mới trong kỷ nguyên mới. Kỷ yếu hội thảo khoa học.
Nguyễn Nguyên Dũng (2020). Giải pháp tăng cường quản lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Thành phố Hà Nội hiện nay. Tạp chí cơng thương, 4, 20-24.

Nguyễn Thạc Hoát & Nguyễn Thế Vinh (2021). Thu hút và quản lý nhà nước các dự án đầu tư
trực tiếp nước ngồi trên địa bàn thủ đơ Hà Nội. Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
José Guimón & Sergey Filippov (2012). Competing for High-quality FDI: Management Challenges
for Investment Promotion Agencies. Institutions and Economies, 4(2), 25.
Quốc hội (2014). Luật Đầu tư 2014. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

10 -


Sengphai Vanh Seng Aphone (2013). Quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi ở
cộng hịa dân chủ nhân dân Lào. Luận án tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Thời báo kinh tế Việt Nam (2020). Kinh tế 2018 – 2019 Việt nam và Thế giới. Nhà xuất bản Thông
tin & Truyền thông.
Thời báo kinh tế Việt Nam (2021). Kinh tế 2020 – 2021 Việt Nam và Thế giới. Nhà xuất bản Thông
tin & Truyền thông.
Tồng cục Thống kê (2019). Tăng trưởng kinh tế các vùng trọng điểm giai đoạn 2011 – 2017. Nhà
xuất bản Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2011). Niên giám thống kê năm 2010. Nhà xuất bản Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2016). Niên giám thống kê năm 2015. Nhà xuất bản Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2021). Niên giám thống kê năm 2021. Nhà xuất bản Thống kê.

- 11


QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TS Nguyễn Đình Thái*
TĨM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này tập trung làm rõ khung lý thuyết quản lý tài chính đất đai;
đánh giá, phân tích thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao

gồm kết quả đạt được và nhữnh hạn chế trong quản lý giá đất, các nguồn thu từ đất đai
của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020. Dựa vào những phân tích và kết quả
nghiên cứu, bài viết đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả về quản lý tài chính đất đai trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Từ khóa: Đất đai; giá đất, quản lý tài chính đất đai, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt để con người sản xuất
ra của cải vật chất. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của đất đai được xác định lại cho
phù hợp với giá trị vốn có của nó. Mỗi quốc gia xác lập quyền sở hữu và quản lý đất đai
bằng nhiều phương thức khác nhau. Ở Việt Nam, đất đai được xác định là tài sản quốc gia,
là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Muốn quản lý đất đai có hiệu quả trong
nền kinh tế thị trường thì Nhà nước phải thay đổi phương thức quản lý; khơng chỉ sử dụng
các biện pháp hành chính mà cịn sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp kinh tế để quản
lý đất đai. Nhìn nhận đất đai dưới khía cạnh tài sản quốc gia, nguồn nhân lực quan trọng
để phát triển đất nước thì tất yếu phải đặt ra vấn đề quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và
quản lý các nguồn thu ngân sách từ đất đai.
Thành phố Hồ Chí Minh là đơ đặc biệt, q trình đơ thị hóa diễn ra nhanh do đó làm
cho đất đai trở nên có giá trị và giá trị sử dụng cao. Trong những năm qua, hoạt động quản
lý tài chính về đất đai được chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm thực hiện quyết
liệt. Trong đó, hoạt động quản lý giá đất và nguồn thu từ đất đai được tăng cường. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây thị trường bất động sản bắt đầu tăng giá làm cho hoạt động
quản lý giá đất và nguồn thu từ đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nảy sinh những
vấn đề cần tăng cường các giải pháp quản lý.

Học viện Chính trị khu vực II.

*


12 -


2. Cơ sở lý thuyết quản lý tài chính đất đai
Hoạt động quản lý đất đai được pháp luật quy định bởi Luật Đất đai, các nghị định
của Chính phủ và Quyết định của UBND cấp tỉnh. Nội dung và khung lý thuyết quản lý
đất đai đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, trong đó có hoạt động quản lý tài chính
về đất đai. Ở Việt Nam, để quản lý đất đai là nguồn lực quan trọng cùa quốc gia một cách
hiệu quả, công bằng, minh bạch thì Nhà nước quyết định giá đất và quyết định chính sách
tài chính về đất đai (Luật Đất đai, 2013). Các nghiên cứu hoạt động quản lý tài chính về đất
đai hầu hết dựa trên khung quy định của pháp luật về đất đai.
Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), quản lý tài chính luôn là nội dung quan trọng
trong công tác quản lý nhà nước về đất đai vì nó là quản lý các nguồn tài chính trực tiếp
liên quan đến đất đai nhưng lúc đầu chỉ đơn thuần là quản lý thuế đất. Chính vì thế, trong
lịch sử phát triển ở nước ta đã có lúc ngành quản lý đất đai nằm trong Bộ Tài chính. Đến
khi Luật Đất đai 1993 quy định quyền sử dụng đất có giá trị, mọi hoạt động giao dịch về
đất đai như: giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục lịch sử dụng đất, bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất, thu thuế khi chuyển quyền sử dụng đất... đều dựa trên cơ sở giá trị
của quyền sử dụng đất thì quản lý tài chính đất không chỉ đơn thuần là quản lý thuế đất
mà là quản lý tất cả những gì thuộc lĩnh vực tài chính liên quan trực tiếp đến đất đai. Như
vậy, nội dung này đã được đề cập đến từ lâu nhưng chưa nằm trong các văn bản quy phạm
pháp luật về đất đai mà nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính. Đến nay,
khi ban hành Luật Đất đai 2003, 2013, Nhà nước đưa vào hệ thống pháp luật đất đai những
quy phạm pháp luật quy định về tài chính liên quan trực tiếp đến đất đai để quản lý. Vì vậy,
quản lý tài chính về đất đai trở thành một trong các nội dung của công tác quản lý nhà nước
về đất đai. Quản lý tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu
ngân sách từ đất đai.
i) Quản lý giá đất
Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất. Giá trị trị
quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác

định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Luật Đất đai, 2013).
Mục đích của việc xác định giá đất là sử dụng làm căn cứ để tính thuế đối với việc sử
dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tính tiền sử dụng đất
và tiền thuê. Đất khi giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá
quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi
giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; xác định giá trị quyền sử dụng
đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi doanh nghiệp cổ phần hóa,
lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất để thu lệ

- 13


phí trước bạ khi chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tính giá trị quyền
sử dụng đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; tính tiền bồi thường đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước theo qui định
của pháp luật.
ii) Quản lý các nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai
Các khoản thu từ đất đai bao gồm: Tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất có
tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất mà
phải nộp tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất khi được Nhà nước cho thuê; Thuế sử dụng đất;
Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật
về đất đai; Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất
đai; Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai. Chính phủ quy định chi tiết việc thu tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho
Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai (Điều 107 Luật Đất đai 2013).
Ngoài Luật Đất đai năm 2013, Điều 22 nội dung quản lý nhà nước về đất đai có 15
khoản, trong đó Khoản 10 quy định quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Nghị định Chính
phủ điều chỉnh, quản lý tài chính đất đai và giá đất được cụ thể hố ở Nghị định số 96/2019/
NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 12 năm 2019 Quy định về khung giá đất. Theo đó,

Điều 3 Nghị định 96/2019/NĐ-CP quy định thành hai nhóm khung giá đất: Nhóm đất nơng
nghiệp và nhóm đất phi nơng nghiệp. Trong đó, mỗi nhóm đất sẽ có những loạt đất khác
nhau ứng theo khung giá được quy định. Quy định cụ thể về giá đất Chính phủ có Nghị
định số 44/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014 Quy định về giá đất và
Bộ Tài ngun và Mơi trường có Thơng tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm
2014 Quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định
giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.
Bảng 1. Khung giá đất tại đô thị vùng Đông Nam Bộ
STT
1
2
3
4
5
6

Loại đô thị
Đặc biệt
I
II
III
IV
V

Giá tối thiểu
1.500,0
1.000,0
800,0
400,0
300,0

120,0

ĐVT: Nghìn đồng/m2
Giá tối đa
162.000,0
76.000,0
50.000,0
40.000,0
30.000,0
25.000,0

Nguồn: Nghị định số 96/2019/NĐ-CP
14 -


3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn tài liệu liên
quan, số liệu từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố
Hồ Chí Minh, Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Niên giám Thống kê Thành phố
Hồ Chí Minh, các báo cáo của UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin, số liệu thứ cấp
thu nhập nhằm sử dụng để hình thành khung lý thuyết nghiên cứu, làm rõ các khái niệm, lý
luận, chính sách quản lý liên quan quản lý tài chính về đất đai.
Thời gian nghiên cứu về quản lý tài chính đất đai ở Thành phố Hồ Chí Minh được
giới hạn trong giai đoạn 2015 – 2020 và có tham chiếu so sánh những năm tiếp theo. Về nội
dung, nghiên cứu tập trung luận giải và phân tích thực tiễn quản lý tài chính đất đai trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh ở trên phương diện: Hoạt động quản lý giá đất và hoạt động
quản lý các nguồn thu tài chính từ đất đai.
Phương pháp được sử dụng là: phân tích, tổng hợp; so sánh; phương pháp mơ hình
hố các số liệu để lý giải và phân tích những vấn đề thực trạng quản lý tài chính đất đai trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Kết quả và thảo luận
4.1. Một số kết quả quản lý tài chính về đất đai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4.1.1. Hoạt động quản lý giá đất
Thành phố Hồ Chí Minh là đơ thị lớn nhất của cả nước, một trung tâm lớn về kinh
tế, văn hố, khoa học, cơng nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng. Thành phố Hồ Chí
Minh có vai trò đặc biệt và ảnh hưởng trực tiếp đến Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả
nước, những năm qua nền kinh tế của Thành phố đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, thu
hút mạnh mẽ đầu tư trong nước và nước ngoài. Một trong những yếu tố tự nhiên quan trọng để
Thành phố Hồ Chí Minh có được vị thế đó là nhờ vào vị trí địa lý và đất đai. Vị trí địa lý, đất
đai thúc đẩy sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đồng thời sự phát triển nhanh
về kinh tế – xã hội ở đây cũng góp phần làm cho giá trị sử dụng đất và nguồn thu từ đất đai
tăng lên.
Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội,
Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hoạt động quản lý nhà nước về đất đai nói
chung và quản lý tài chính về đất đai và giá đất nói riêng. Bởi đây là một trong những nguồn
thu quan trọng cho ngân sách địa phương.
i) Về xây dựng bảng giá đất
Căn cứ quy định của pháp luật và chỉ đạo, hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Tài ngun
và Mơi trường, từ khi có Luật đất đai năm 2013, nhất là các Nghị định hướng dẫn của
- 15


Chính phủ, Thơng tư của Bộ về khung giá đất và giá đất, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển
khai công tác điều tra giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường; khảo
sát mức chi phí, thu nhập từ đất phục vụ việc xây dựng bảng giá đất của địa phương; Thành
phố đã triển khai xây dựng Bảng giá đất ban hành và công bố công khai vào ngày 01/01
hằng năm theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Trên cơ sở đó, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo Bộ Tài nguyên và Mơi
trường về tình hình và kết quả xây dựng bảng giá đất của từng năm. Hiện nay, UBND
Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh tại Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND; áp dụng từ ngày 01/01/2015 đến
ngày 31/12/2019; đồng thời thay thế Quyết định số 60/2013/QĐ-UBND ngày 26/12/2013
của UBND Thành phố về ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh. Trong quá trình áp dụng, có một sớ tuyến đường, đoạn đường mới được đặt
tên nên Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 30/2017/QĐUBND ngày
22/7/2017 cập nhật, bổ sung giá đất các tuyến đường mới. Bảng giá đất này cũng là căn cứ
để xác định giá cụ thể theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại Điều 18 Nghị
định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất.
Giai đoạn năm 2020 – 2024, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số
02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020, thay thế Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày
31/12/2014.
Có thể khẳng định, Bảng giá đất đã ban hành đúng trình tự, quy định của của Luật Đất
đai; sát với Khung giá đất giá đất do Chính phủ ban hành; được xây dựng với sự đóng góp
ý kiến và thống nhất cao của các đối tượng có liên quan, đảm bảo sự công khai, dân chủ và
được Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua. Trong thực tiễn áp dụng, Bảng giá đất đã
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, thúc
đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo phù hợp trong việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp (Sở Tài ngun và Mơi trường
Thành phố Hồ Chí Minh, 2020).
Thực tế giá các loại đất trong Bảng giá đất của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2016 – 2020, cơ bản phù hợp với giá đất thị trường và có điều chỉnh tăng giá đất tại một
số vị trí, đường phố, khu vực có đầu tư nâng cấp hạ tầng tốt hơn, đồng thời điều chỉnh
giảm giá đất tại một số vị trí, tuyến đường, khu vực cho phù hợp với tình hình thực tế thị
trường tại địa phương.
ii) Về hệ số điều chỉnh giá đất
Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành các quyết định quy định về hệ số điều chỉnh
giá đất hàng năm như: Quyết định số 35/2015/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2015;

16 -



Quyết định số 09/2016/QĐ-UBND ngày 25 tháng 3 năm 2016; Quyết định số 19/2017/
QĐ-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2017; Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 15 tháng
3 năm 2018; Quyết định số 18/2019/QĐ-UBND ngày 01 tháng 8 năm 2019; Quyết định số
03/2020/QĐ-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2020.
Theo đó, các trường hợp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 4 Điều 114, Khoản
2 Điều 172 và Khoản 3 Điều 189 của Luật Đất đai mà thửa đất hoặc khu đất của dự án có
giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng thì Cục Thuế Thành phố xác
định nghĩa vụ tài chính và các khoản thu liên quan đến đất đai cho ngân sách Thành phố
(Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021).
iii) Xử lý giá đất giáp ranh
Về giáp ranh địa giới hành chính các tỉnh lân cận: Năm 2014, khi triển khai xây dựng
Bảng giá đất theo Luật Đất đai, các sở, ngành của Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức họp
với các sở, ngành của 02 tỉnh lân cận là Đồng Nai và Long An để cân đối, điều chỉnh giá
đất của những tuyến đường giao thông đi qua 02 tỉnh giáp ranh theo tiêu chí không chênh
lệch quá 30% giữa 02 địa phương theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định số
44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định về giá đất. Tuy nhiên,
do tiêu thức phân vùng, phân loại, phân vị trí đất để xác định giá đất tại các tỉnh không
giống nhau và có sự khác biệt về hạ tầng giao thông, các công trình công cộng, do đó, giá
đất thị trường tại khu vực giáp ranh, nằm ngoài các tuyến đường giữa các tỉnh là không
giống nhau.
Về giáp ranh trên cùng địa bàn Thành phố: Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các
Sở, ngành liên quan cùng Ủy ban nhân dân các quận, huyện nơi có các tuyến đường giao
thông đi qua, từ đó cân đối điều chỉnh giá đất các tuyến giao nhau theo nguyên tắc mức
chênh lệch không quá 30% (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021).
iv) Về giá đất cụ thể
Trên cơ sở quy định của pháp luật về định giá đất cụ thể, UBND Thành phố Hồ Chí
Minh đã tổ chức thực hiện việc xác định giá đất cụ thể tại các quận, huyện, phường, xã, tuyến
đường cụ thể.
Về giá đất để tính bồi thường: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến nay, Ủy ban nhân

dân Thành phố đã phê duyệt 574 quyết định về hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư.
Nhằm rút ngắn thời gian bàn giao mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công,
Ủy ban nhân dân Thành phố đã kiến nghị Chính phủ cho phép áp dụng thí điểm cơ chế, quy

- 17


trình đặc thù để rút ngắn thời gian thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và đã được
Chính phủ chấp ban hành Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2020. Theo đó,
Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 10/2021/QĐ-UBND ngày 04 tháng
5 năm 2021 quy định về hệ số điều chỉnh giá đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư lấy ý kiến người dân có đất thu hồi trên địa bàn Thành phố.
Về giá đất để xác định nghĩa vụ tài chính: Ủy ban nhân dân Thành phố đã phê duyệt
261 quyết định về phương án giá đất theo giá thị trường, làm căn cứ xác định các khoản
nghĩa vụ tài chính về đất đai, với tổng số tiền thu nộp ngân sách là 177.484 tỷ đờng (Sở Tài
ngun và Mơi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021).
Trong những năm qua, việc xác định giá đất cụ thể để tính thu tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất một lần cho cả thời gian thuê không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng
đất chủ yếu được thực hiện thơng qua hình thức th tổ chức có chức năng tư vấn xác định
giá đất thực hiện. Giá đất cụ thể được xác định cơ bản phù hợp với giá đất phổ biến trên thị
trường theo nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai, góp phần tăng
thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi.
v) Các cơ quan định giá đất
Thành phố Hồ Chí Minh chú trọng đến công tác định giá đất. Do đó, Ủy ban nhân
dân Thành phớ đã ban hành Qút định thành lập Hội đồng thẩm định giá đất Thành phố
và Quy chế hoạt động của Hội đồng thẩm định giá đất Thành phố. Theo đó, Sở Tài nguyên
và Môi trường tổ chức việc xác định giá đất, gửi Hội đồng thẩm định giá đất Thành phố có
ý kiến thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt. Ngồi ra, ở Thành
phố Hồ Chí Minh, hệ thống cơ quan định giá đất tư nhân cũng khá phát triển. Căn cứ Nghị

định số 89/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Giá và thẩm định giá, hàng năm Bộ Tài chính đều có Thông báo Danh
sách các doanh nghiệp thẩm định về giá đủ điều kiện hành nghề. Hiện nay, cả nước có 330
doanh nghiệp hoạt động thẩm định về giá, trong đó có khoảng 200 doanh nghiệp có trụ sở
và Chi nhánh hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, có khoảng 18
đơn vị có kỹ năng tốt trong thực hiện tư vấn giá đất cụ thể (Sở Tài nguyên và Mơi trường
Thành phố Hồ Chí Minh, 2021).
Như vậy, cách hoạt động quản lý giá đất của Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đúng
quy định của pháp luật đât đai, tạo môi trường pháp lý, cơ chế quản lý để người dân và
doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là kinh doanh bất động sản.

18 -


×