Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Nghiên cứu du lịch văn hóa huyện hạ hòa tỉnh phú thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 87 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------

TRẦN THỊ TRÂM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HĨA HUYỆN HẠ HỊA TỈNH PHÚ THỌ

PHÚ THỌ - 2012


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................ 3
2. Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................... 4
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 8
5. Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu ....................................... 8
6. Giới thiệu cấu trúc của đề tài ........................................................................ 11
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HỐ .. 12
1.1. Các khái niệm chung ................................................................................. 12
1.1.1. Khái niệm du lịch ................................................................................... 12
1.1.2. Khái niệm loại hình du lịch..................................................................... 14
1.2. Các loại hình du lịch.................................................................................. 15
1.3. Du lịch văn hóa ......................................................................................... 18
1.3.1. Khái niệm............................................................................................... 18
1.3.2. Vai trị của du lịch văn hóa trong giai đoạn hiện nay .............................. 19
1.3.3. Các loại hình du lịch văn hóa.................................................................. 21


1.3.4. Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa ................................................. 21
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HĨA HUYỆN
HẠ HỊA, TỈNH PHÚ THỌ........................................................................... 30
2.1. Vị trí địa lý ................................................................................................ 30
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn...................................................................... 31
2.2.1. Di tích lịch sử văn hóa............................................................................ 31
2.2.2. Lễ hội truyền thống ................................................................................ 36
2.2.3. Các loại tài nguyên du lịch nhân văn khác .............................................. 38
2.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.................................................................... 42
2.3.1. Mạng lưới giao thông ............................................................................. 42
2.3.2. Thông tin liên lạc.................................................................................... 45
2.3.3. Hệ thống điện nước ................................................................................ 46
2.4. Dân cư – lao động ..................................................................................... 47
2.3.1. Dân cư.................................................................................................... 47
2.3.2. Lao động ................................................................................................ 47
2.5. Các nhân tố khác ....................................................................................... 49
2.5.1. Y tế......................................................................................................... 49
2.5.2. Đường lối chính sách.............................................................................. 50
2.6. Nhận xét chung ......................................................................................... 51
2.6.1. Thuận lợi ................................................................................................ 51
2.6.2. Khó khăn ................................................................................................ 52
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HĨA HUYỆN HẠ HỊA, TỈNH PHÚ THỌ ........................................ 54
3.1. Khái quát chung ........................................................................................ 54

1


3.2. Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa ......................................................... 54
3.2.1. Khách du lịch ......................................................................................... 54

3.2.2. Lao động du lịch..................................................................................... 57
3.2.3. Doanh thu từ du lịch ............................................................................... 59
3.2.4. Đầu tư cho du lịch văn hóa ..................................................................... 60
3.2.5. Cơ sở kĩ thuật phục vụ cho du lịch.......................................................... 63
3.2.6. Sản phẩm du lịch văn hóa....................................................................... 66
3.2.7. Hiện trạng tổ chức khơng gian của các tuyến, điểm du lịch văn hoá ....... 69
3.2.8. Nhận xét chung....................................................................................... 72
3.3. Đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa tỉnh
Phú Thọ............................................................................................................ 75
3.3.1. Định hướng phát triển du lịch văn hóa.................................................... 75
3.3.2. Một số giải pháp để phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa .................. 76
3.3.2.1. Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá.................................................... 76
3.3.2.2. Giải pháp về đầu tư phát triển nguồn nhân lực..................................... 76
3.2.2.3. Giải pháp về quy hoạch du lịch............................................................ 77
3.3.2.4. Giải pháp về vốn đầu tư và các chính sách huy động vốn .................... 78
3.3.2.5. Giải pháp về quản lý............................................................................ 79
3.3.2.6. Giải pháp về phát triển các sản phẩm du lịch. ...................................... 80
3.3.2.7. Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, kinh doanh dịch vụ du lịch ....... 81
3.3.2.8. Giải pháp bảo vệ tài ngun và mơi trường du lịch văn hóa ................ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch đã và đang là một trong những ngành kinh tế đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh loại hình du lịch
du lịch sinh thái gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của

các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa
chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể
cả những phong tục tín ngưỡng... để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và
từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám
phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa
mãn nhu cầu của họ. Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái
Lan, Indonesia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ....
Ở Việt Nam, du lịch ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu
trong đời sống sinh hoạt Xã hội, làm cho đời sống Xã hội ngày một phong phú, lý
thú và bổ ích hơn. Về phương diện kinh tế, ngành du lịch đã được Đảng và nhà
nước xác định là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế - Xã hội của đất nước và chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong thu nhập
kinh tế quốc dân. Du lịch giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho hàng triệu lao
động. Du lịch cịn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc
dân tộc, quảng bá được hình ảnh về thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam.
Hạ Hoà là một huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ. Phía Tây
Bắc giáp các huyện Trấn n, n Bình của tỉnh n Bái. Phía Đơng Bắc giáp
huyện Đoan Hùng. Phía Đơng Nam giáp huyện Thanh Ba. Đây là mảnh đất có
bề dày lịch sử. Ở huyện Hạ Hồ, loại hình du lịch văn hố là loại hình có lợi thế
so sánh trong tương quan với các loại hình du lịch khác. Với hệ thống tài nguyên
du lịch văn hoá phong phú gồm có các di tích lịch sử văn hố như khu di tích
Đền Mẫu Âu Cơ, Đền Chu Hưng, Đền Nghè, hệ thống các lễ hội tiêu biểu như lễ
hội Đền Mẫu Âu Cơ, lễ hội Đền Chu Hưng...các nét văn hoá ẩm thực và nghệ
thuật của đồng bào dân tộc thiểu số Dao và Cao Lan. Huyện đã và đang tập
3


trung đầu tư, định hướng phát triển nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của huyện. Cùng với thành tựu trong công cuộc đổi mới, du lịch
huyện Hạ Hồ đã có bước phát triển đáng kể về mặt số lượng cũng như chất

lượng. Sự phát triển du lịch, đặc biệt du lịch văn hoá đã tác động tích cực đến sự
phát triển kinh tế - Xã hội của huyện, khôi phục các làng nghề truyền thống, tạo
công ăn việc làm góp phần xố đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu với bên ngoài,
quảng bá giới thiệu thiên nhiên và con người Hạ Hoà. Tuy nhiên, trong quá trình
phát triển, du lịch cịn bộc lộ nhiều mặt hạn chế cần quan tâm, như phát triển du
lịch thiếu tính bền vững, phát triển du lịch chưa giải quyết tốt vấn đề bảo vệ môi
trường sinh thái, chưa gắn kết chặt chẽ với việc trùng tu, bảo vệ và phát huy các
giá trị văn hố, thậm chí xâm hại đến di sản văn hố.
Do vậy, việc nghiên cứu loại hình du lịch văn hố ở huyện Hạ Hồ, là một
vấn đề có tính cấp thiết, giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về tiềm
năng và hiện trạng phát triển du lịch văn hoá của huyện, phân tích những mặt đã
đạt được, những mặt cịn tồn tại. Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lý luận
và thực tiễn, là cơ sở để đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm đưa du lịch
văn hoá Hạ Hồ phát triển đúng với tiềm năng sẵn có và nhanh chóng hội nhập
với sự phát triển du lịch trong tỉnh Phú Thọ và cả nước. Đó cũng là lí do chúng
tôi chọn đề tài “Nghiên cứu du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa, tỉnh Phú Thọ” làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu về du lịch đã có nhiều cơng trình nghiên cứu ở
những góc độ và trên quy mơ khác nhau như: Vũ Thế Bình (chủ biên) (2008),
Non nước Việt Nam, NXB Văn hóa thơng tin; Đồng Ngọc Minh – Vương Lơi
Đình (2002), Kinh tế du lịch, NXB trẻ; Phạm Trung Lương (2010), Tài nguyên
và môi trường du lịch, NXB Giáo dục; Bùi Thị Hải Yến (2009), Tài nguyên du
lịch, NXB Giáo dục. Ngồi ra cũng có nhiều tác giả đi vào nghiên cứu tìm hiểu
riêng một loại hình du lịch như: Thực trạng phát triển loại hình du lịch sinh thái
(2009), đề án phát triển của trường Đại học kinh tế quốc dân. Lê Thị Vân
4


(2008), Giáo trình văn hóa du lịch, NXB Hà Nội. Nội dung cơ bản của các cơng

trình trên nhằm đánh giá tiềm năng, giới thiệu các điểm du lịch trên khắp đất
nước. Từ đó cũng có một số cơng trình đưa ra những định hướng nhằm phát
triển ngành du lịch của Việt Nam trong tương lai. Trong hầu hết các cơng trình
nghiên cứu trên, tỉnh Phú Thọ ln được nhắc đến như một mảnh đất giàu tiềm
năng trong việc phát triển du lịch đặc biệt loại hình du lịch văn hóa.
Ở tỉnh Phú Thọ, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra
cách đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển tài nguyên du lịch văn hóa ở tỉnh
Phú Thọ, từ đó đưa ra những định hướng để phát triển loại hình du lịch văn hóa
tương xứng với tiềm năng của tỉnh như: Sở Văn hóa Thơng tin và Du lịch Phú
Thọ đã đưa ra bản Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn
2000 – 2010 và định hướng đến năm 2020 với các nội dung chính:
- Thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ trong thời gian qua.
- Tiềm năng, nguồn nhân lực phát triển du lịch Phú Thọ
- Điểm mạnh – điểm yếu và cơ hội – thách thức.
- Đề xuất phát triển du lịch Phú Thọ
- Đề xuất kế hoạch phát triển du lịch Phú Thọ 2000 – 2010
- Đề xuất một số chính sách nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Phú Thọ qua
các phân kỳ
Đặc biệt từ năm 2005 chương trình “ Du lịch hướng về cội nguồn” của 3
tỉnh Phú Thọ - Yên Bái – Lào Cai được thực hiện nhằm khai thác tài nguyên du
lịch của 3 tỉnh, đưa du lịch trở thành “ngành kinh tế mũi nhọn” ở 3 tỉnh. Ngoài
ra, năm 2008 UBND 3 tỉnh Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai có cuốn kỉ yếu “Hội
thảo nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch”. Trên báo Văn hóa, Thể thao và Du
lịch Phú Thọ số 02 năm 2009 có bài: Du lịch văn hóa – Lịch sử đất tổ Hùng
Vương tiềm năng, triển vọng của thạc sĩ Nguyễn Phi Nga, số báo 01 năm 2010
có bài: Lễ hội – sức hút của du lịch Phú Thọ, tác giả Quách Sinh, bài Du lịch
Phú Thọ theo góc nhìn tổng quan văn hố của tác giả Nguyễn Ngọc Ân. Ngoài
ra, năm 2010 ở trường Đại học Hùng Vương, tác giả Trần Văn Thục trong cuốn
5



sách “Những làng văn hoá, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ” đã giới
thiệu về các nét văn hóa, nghệ thuật của tỉnh Phú Thọ, trong đó có đề cập đến
một số lễ hội trong tỉnh Phú Thọ. Năm 2011, có khóa luận tốt nghiệp của sinh
viên Nguyễn Diệu Thu, trường Đại học Hùng Vương nghiên cứu về “Tiềm năng
và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Phú Thọ”
Có thể khái quát những bài viết này thành những vấn đề sau:
- Nghiên cứu về tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm du lịch văn hóa vật
thể, du lịch văn hóa phi vật thể.
- Nghiên cứu các điều kiện nhằm phát triển loại hình du lịch văn hóa chủ
yếu đề cập đến điều kiện tự nhiên.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa.
- Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa.
Tuy vậy đây cũng chỉ là những bài viết, cơng trình nghiên cứu nhỏ lẻ.
Huyện Hạ Hịa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ là nơi có nhiều di
tích lịch sử văn hóa gắn với truyền thuyết thời dựng nước như: Đền Mẫu Âu Cơ,
Đền Nghè, Đền Chu Hưng…các địa danh này đã và đang được quy hoạch, từng
bước đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường xây dựng đa dạng hóa sản
phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống. Đại hội Đảng bộ huyện
lần XXI đã xác định: Du lịch dịch vụ là một ngành kinh tế mũi nhọn được ưu
tiên trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Theo đó, đã xây dựng “ Đề án phát triển
du lịch huyện Hạ Hoà ” gồm 2 giai đoạn lớn: Từ năm 2005 - 2010 tập trung phát
triển cơ sở hạ tầng và từ năm 2010 sẽ khai thác các dịch vụ tại cơ sở du lịch. Các
tác giả Nguyễn Văn Khỏe, Đoàn Mạnh Phương, Tạ Văn Nhã, Nguyễn Cơng
Chính trong cuốn “Hạ Hòa – Tiềm năng và cơ hội đầu tư” (xuất bản năm 2005)
có viết về một số tài nguyên du lịch đặc biệt tài nguyên phục vụ du lịch văn hóa
của huyện như: Đền Mẫu Âu Cơ, chiến khu 10 Đại Phạm, chiến khu Vần – Hiền
Lương. Trong đó có đoạn viết về những điểm nhấn trong kế hoạch kinh tế Xã
hội huyện Hạ Hòa giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020: “Tạo sự
tăng trưởng mạnh mẽ trong các ngành dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng

6


hướng. Tổ chức hình thành các mơ hình dịch vụ hoàn chỉnh (từ sản xuất, phân
phối đến tiêu dùng), phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ đó là: Dịch vụ du
lịch sinh thái, du lịch văn hóa, nhà hàng, khách sạn…Tăng cường quảng bá văn
hóa, du lịch để thu hút đầu tư và khách tham quan du lịch, hình thành các khu du
lịch khép kín”, nhưng chưa có nội dung nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề phát
triển loại hình du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa. Năm 2011 sinh viên Bùi Thị
Hoa trường Đại học Hùng Vương có khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về “Khả
năng phát triển loại hình du lịch sinh thái – văn hóa ở huyện Hạ Hịa, tỉnh Phú
Thọ” Ngồi ra, trên báo Phú Thọ cũng có một số bài viết đề cập đến việc phát
triển du lịch huyện Hạ Hòa. Tuy nhiên đây chỉ mang tính chất những bài viết
nhỏ lẻ, chỉ đề cập khái quát chứ chưa ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu, chưa
thật sự chú trọng đến việc phát triển loại hình du lịch văn hóa, biến loại hình này
trở thành một mơ hình đưa vào kinh doanh.
Nhìn chung lại, đây chỉ là những bài viết nhỏ lẻ, việc nghiên cứu tìm hiểu
một cách hệ thống về du lịch văn hố huyện Hạ Hồ cho đến nay vẫn chưa có
tác giả nào thực hiện. Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá, phân tích về loại hình du
lịch này, chúng tôi sẽ tổng hợp được tất cả các tiềm năng cơ bản nhất, đánh giá
đúng hiện trạng phát triển du lịch văn hố huyện Hạ Hồ. Từ đó đưa ra các giải
pháp nhằm phát triển loại hình du lịch văn hố ở huyện miền núi phía Tây Bắc
của tỉnh Phú Thọ. Vì thế, việc thực hiện “Nghiên cứu du lịch văn hố huyện Hạ
Hồ, tỉnh Phú Thọ” cũng có thể xem là một đóng góp mới của đề tài.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc tổng quan cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa, đề tài tập
trung phân tích những điều kiện và hiện trạng phát triển du lịch văn hố huyện
Hạ Hồ, từ đó đề tài bước đầu đưa ra các giải pháp phát triển du lịch văn hố ở
huyện Hạ Hồ tỉnh Phú Thọ.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
7


- Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch và loại hình du lịch văn hố.
- Phân tích điều kiện phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa.
- Phân tích hiện trạng phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hồ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy loại hình du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ làm đối
tượng nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát
triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa, tỉnh Phú Thọ.
- Về khơng gian: địa bàn huyện Hạ Hòa.
- Về thời gian: từ năm 2000 đến nay.
5. Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
5. 1. Quan quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống là một trong những quan điểm đặc trưng của địa lí
học và là quan điểm cơ bản quyết định phương pháp tư duy tiếp cận mọi vấn đề.
Hệ thống là “một tập hợp các phần tử, có liên hệ với nhau theo cách để đạy được
mục đích chung”. Quan điểm hệ thống chỉ đạo phương pháp nhận thức đối
tượng nghiên cứu và phương pháp phân tích hệ thống. Theo quan điểm hệ thống
các yếu tố tự nhiên, kinh tế - Xã hội trên một lãnh thổ ln ln có tác động qua
lại và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt
trong vị trí tương quan với nhiều vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn và

trong cấp phân vị thấp hơn. Du lịch văn hóa Hạ Hồ là một mắt xích quan trọng
trong hệ thống du lịch văn hóa của tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, hoạt động du lịch văn
hóa có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - Xã hội của huyện Hạ Hoà và tỉnh
Phú Thọ. Đồng thời, du lịch văn hóa chỉ là một loại hình nằm trong hệ thống các
8


loại hình du lịch khác của huyện Hạ Hịa. Du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa cịn
được xem xét trong mối quan hệ với sự phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Phú
Thọ và trong các mối quan hệ với du lịch liên vùng của tỉnh Phú Thọ.
5.1.2. Quan điểm lãnh thổ
Sự phân hóa của các điều kiện vị trí địa lí, tài ngun du lịch văn hóa và
các điều kiện phát triển của mỗi lãnh thổ khác nhau, vì thế, sự phát triển của các
loại hình du lịch văn hóa ở mỗi địa phương sẽ khác nhau.
Vận dụng quan điểm lãnh thổ đòi hỏi phải đặt sự phát triển loại hình du
lịch văn hóa của huyện Hạ Hịa phải đặt trong điều kiện nhất định về lãnh thổ
của huyện Hạ Hòa.
5.1.3. Quan điểm tổng hợp
Sử dụng quan điểm tổng hợp địi hỏi phải nhìn nhận vấn đề một cách tổng
quát. Phân tích đối tượng nghiên cứu như một hệ thống trong mối liên hệ biện
chứng giữa đối tượng với chính thể mà bản thân nó là một bộ phận cấu thành.
Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện, tài nguyên du lịch, các yếu tố kinh tế
- Xã hội, sự phân bố và biến động của chúng.
Nghiên cứu loại hình du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hịa phải
được nhìn nhận một cách tổng hợp.
5.1.4. Quan điểm lịch sử
Trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định, mỗi một đối tượng khách quan
đều có sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc. Xem xét quá trình diễn
biến lịch sử để tìm ra quy luật tất yếu của sự phát triển lịch sử đó.
5.1.5. Quan điểm phát triển bền vững

Nghiên cứu những biện pháp để khai thác các tiềm năng phát triển du lịch
văn hóa ở Hạ Hoà nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại mà không làm
ảnh hưởng đến tương lai (không làm cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn tài nguyên).
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp khảo sát thực địa
Để thực hiện đề tài tôi tiến hành nhiều đợt điều tra tại các điểm du lịch văn
9


hóa của huyện Hạ Hịa, làm việc với các cơ quan địa phương từ các xã, huyện
Hạ Hòa đến tỉnh Phú Thọ thu thập tư liệu, quan sát trực tiếp các hoạt động về du
lịch văn hóa ở huyện Hạ Hoà. Kết quả điều tra thực địa là cơ sở ban đầu để thẩm
định lại một số nhận định trong quá trình nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn
Qua các lần khảo sát thực địa tôi tiến hành điều tra phỏng vấn đối với
người dân, chủ các cơ sở kinh doanh và các nhà quản lý. Từ đó thấy được
những ảnh hưởng của hoạt động du lịch văn hóa đến sự phát triển kinh tế - xã
hội của huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ.
5.2.3. Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sử dụng
trong nghiên cứu Địa lí kinh tế – Xã hội. Việc thu thập tài liệu phải thơng qua
nhiều nguồn, từ đó phân tích, chọn lọc để có những tài liệu cần thiết. Việc thu
thập tài liệu của đề tài chủ yếu từ các Phòng, ban, ngành của huyện Hạ Hịa như:
Phịng Văn hóa, phịng thống kê, phòng kinh tế…và Sở, ban, ngành của tỉnh Phú
Thọ như: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Cục thống kê tỉnh Phú Thọ…Các
số liệu được thu thập từ 1996 – nay.
5.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Sau khi đã thu thập số liệu và điều tra thực tế, phương pháp thống kê toán
được sử dụng để xử lí các số liệu phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp thống kê toán học giúp cho việc đảm bảo tính định lượng của đề

tài, thể hiện ở việc đảm bảo tính định lượng trong phân tích các điều kiện và
hiện trạng phát triển du lịch văn hóa của huyện Hạ Hịa.
5.2.5. Phương pháp so sánh bản đồ, biểu đồ
Từ các bản đồ, biểu đồ, các kiến thức địa lí được thu thập có giá trị tổng
thể và toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Các biểu đồ giúp cho việc so sánh các đối
tượng nghiên cứu một cách dễ dàng hơn, từ đó, các kết luận được rút ra trong
qua trình nghiên cứu loại hình du lịch văn hóa ở huyện Hạ Hịa.
Đồng thời, từ việc nghiên cứu, phân tích các bản đồ như bản đồ hành
10


chính huyện Hạ Hịa, bản đồ tài ngun du lịch huyện Hạ Hịa..., giúp cho
việc phân tích các điều kiện và hiện trạng phát triển du lịch văn hóa của huyện
Hạ Hòa khách quan hơn.
Bên cạnh việc sử dụng các bản đồ như những tài liệu tham khảo thu thập
được, các kết quả nghiên cứu được thể hiện trên các bản đồ: bản đồ tài nguyên
du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa, bản đồ hiện trạng phát triển du lịch văn hóa
của huyện Hạ Hịa.
6. Giới thiệu cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của đề tài tập trung trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hố.
Chương 2: Điều kiện phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hịa, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Hiện trạng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ
Hịa, tỉnh Phú Thọ

11


NỘI DUNG

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HOÁ
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm du lịch
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép. Một mặt, du lịch mang
lại ý nghĩa thông thường từ việc đi lại của con người với mục đích vui chơi giải
trí, nghỉ ngơi…Mặt khác du lịch được nhìn nhận như là hoạt động gắn chặt với
những kết quả kinh tế - sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra.
Trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch là một hoạt động không thể thiếu
được trong hoạt động bình thường của mỗi người dân. Trong các chuyến du lịch
nội địa hoặc ra nước ngồi, con người khơng chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí
mà cịn nhằm thỏa mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần. Thông qua việc
phát triển du lịch quốc tế, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng
mở rộng.
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - Xã hội thu hút hàng tỉ người trên thế
giới. Bản chất kinh tế của du lịch là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hóa phục
vụ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của khách. Với sự phát triển của du
lịch thì ngành kinh tế phục vụ cho du lịch phải ra đời để đáp ứng nhu cầu của
con người.
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới
sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ
ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn
hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và
văn hố (I.I Piogionic – 1985 ).
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách, du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ một nước
này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.

12



Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với
các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Theo học giả Mỹ McIntosh và Goeldner du lịch là một ngành tổng hợp của các
lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố cấu thành khác kể
cả xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ nhu cầu và mong muốn của khách du lịch.
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách thì du lịch là một sản phẩm tất yếu
của sự phát triển kinh tế - Xã hội của loài người đến một giai đoạn nhất định, chỉ
trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu
người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ khoa học – công nghệ, phương tiện giao
thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, tham
quan du lịch của con người. Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạm để cảm
nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hóa cao. Tiếp cận du lịch
dưới góc độ nhu cầu của con người thì du lịch được hiểu là một hiện tượng.
Trước thế kỉ XIX, đến tận đầu thế kỉ XX du lịch vẫn được coi là đặc quyền của
tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ coi đây như là một hiện tượng cá biệt
trong đời sống kinh tế - X.hội. Các giáo sư Thụy Sĩ là Hunziker và Krapf đã
khái quát: “ Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ
việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương, những người khơng có
mục đích định cư và khơng liên quan đến bất kì hoạt động kiếm tiền nào”.
Như vậy có khá nhiều khái niệm về du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du
lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi cư trú thường
xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng
nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của
cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của các cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng

13


thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hịa bình.
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa
toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai
phần riêng biệt.
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích chuyến đi): Du lịch là một
dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngồi nơi cư trú với
mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, cơng
trình văn hóa, nghệ thuật…
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh
doanh có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền
thống lịch sử và văn hóa dân tộc từ đó góp phần tăng thêm tình u q hương
đất nước; đối với người nước ngồi là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt
kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là
hình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ tại chỗ.
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần
thúc đẩy sự phát triển du lịch.
Theo điểm 1, điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam (14/06/2005): “Du
lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngồi nơi cư trú
thường xun của mình nhằm đáp ứng yêu cầu tham quan. Tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [9]
Như vậy có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch. Tuy nhiên
theo thời gian các quan niệm này dần hoàn thiện. Trong điều kiện của nước ta
hiện nay, quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trình
bày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khố IX, kỳ họp thứ 7 thơng qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.
1.1.2. Khái niệm loại hình du lịch
Để có thể đưa ra các định hướng và chính sách phát triển đúng đắn về du

lịch các nhà quản lý vĩ mô về du lịch cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp du
lịch cần phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau. Việc phân loại sẽ
14


đảm bảo tính hệ thống khi có quan điểm thống nhất về khái niệm loại hình du
lịch. Phân loại các loại hình du lịch giúp xác định được những đóng góp về kinh
tế cũng như hạn chế của từng loại hình du lịch, trên cơ sở đó các tổ chức quản lý
du lịch sẽ hoạch định những chính phù hợp để khuyến khích hoặc hạn chế đối
với từng thể loại du lịch tùy theo mục tiêu và chính sách phát triển chung của
một vùng, một địa phương hay một quốc gia. Phân loại các loại hình du lịch làm
cơ sở cho hoạt động Marketing của các nơi đến và các tổ chức kinh doanh du
lịch. Mỗi loại hình du lịch có các đặc trưng riêng của nhóm khách du lịch.
Thơng qua việc phân tích các loại hình du lịch, mỗi vùng, mỗi địa phương, quốc
gia có thể xác định được điểm mạnh, điểm yếu của mình để lựa chọn khách
hàng mục tiêu phù hợp.
Theo Trương Sỹ Quý (2002) khái niệm loại hình du lịch có thể được định
nghĩa như sau: “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch
có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn nhu cầu, động cơ du
lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có
cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chúng vào
một mức giá bán nào đó”.
1.2. Các loại hình du lịch
Du lịch bắt nguồn từ mong muốn được sống sót, khát vọng chinh phục
những vùng đất mới và ước mơ muốn mở rộng hoạt động kinh doanh buôn bán.
Hoạt động du lịch có thể được phân chia thành các nhóm – các thể loại du lịch
theo những tiêu thức khác nhau nhằm một mục đích nào đó. Thể loại du lịch
biểu hiện những nét đặc trưng của một nhóm khách du lịch. Có nhiều cách phân
loại các hoạt động du lịch như căn cứ vào mục đích chuyến đi, căn cứ vào phạm
vi lãnh thổ, căn cứ vào sự tương tác của khách du lịch đối với nơi đến du lịch…

Tác giả Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ và những người khác (năm 2010)
trong “Địa lí Du lịch Việt Nam” đã chia các loại hình du lịch như sau:
- Phân loại theo mục đích chuyến đi chia thành: du lịch thuần tuý và du lịch
kết hợp.
15


Du lịch thuần tuý: Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạm để cảm nhận
những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hố cao. Chuyến du ngoạn đó có
thể có mục đích thuần t là tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao nhận thức về
thế giới xung quanh. Du lịch thuần tuý có thể bao gồm: Du lịch tham quan, du
lịch giải trí, du lịch thể thao không chuyên, du lịch khám phá, du lịch nghỉ dưỡng.
Du lịch kết hợp: Ngồi mục đích du lịch thuần t cũng có nhiều cuộc hành
trình tham quan vì các lý do khác nhau như học tập, cơng tác, hội nghị, tơn
giáo…Trong cuộc hành trình này, khơng ít người đã sử dụng các dịch vụ du lịch
như lưu trú, ăn uống tại khách sạn – nhà hàng và tranh thủ thời gian rỗi để rham
quan, nghỉ ngơi, ngắm cảnh, nhằm cảm nhận tại chỗ các giái trị thiên nhiên, văn
hoá ở nơi đến. Du lịch kết hợp bao gồm các loại hình du lịch tơn giáo, du lịch
học tập, nghiên cứu, du lịch thể thao kết hợp, du lịch công vụ, du lịch chữa bệnh,
du lịch thăm thân. [17, 22].
Theo tài nguyên du lịch, du lịch được chia thành hai hình thức: Du lịch văn
hố và du lịch sinh thái
Du lịch văn hoá: Theo điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch
văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia
của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.
Du lịch sinh thái: Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) “Du lịch sinh thái là
hình thức du lịch dựa vào tự nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự
tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. [9]
- Theo pham vi lãnh thổ, du lịch được chia ra làm hai loại hình du lịch:
Du lịch trong nước: Là một loại hình du lịch có phạm vi hẹp, chỉ giới hạn

trong phạm vi của một nước, một quốc gia, chi phí phải trả cho những chuyến
du lịch là tiền trong nước không phải ngoại tệ.
Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch có phạm vi rộng, không chỉ giới hạn
trong nước mà mở rộng sang các quốc gia khác trên thế giới. Du lịch quốc tế
phân ra làm hai loại: du lịch chủ động là loại hình du lịch trực tiếp chủ động đón
khách du lịch nước ngoài và tăng thêm doanh thu ngoại tệ; du lịch bị động là
16


loại hình du lịch mà nước gửi khách đi du lịch sang nước khác phải mất một
khoản ngoại tệ nhất định. Tất cả các nước đều muốn phát triển du lịch chủ động
hơn là loại hình du lịch bị động vì doanh thu sẽ cao hơn mà khơng phải mất
ngoại tệ khi gửi khách du lịch sang nước khác.
- Phân loại theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch:
Du lịch nghỉ biển: Là các cơ sở du lịch đóng tại vùng ven biển với mục đích
đón khách tới du lịch nghỉ mát và tắm biển.
Du lịch nghỉ núi: Là các cơ sở du lịch đóng trên núi với mục đích thu hút
khách du lịch leo núi, ngắm cảnh thư giãn tăng cường sức khỏe.
Bên cạnh đó cịn có các loại hình du lịch thành phố và du lịch nơng thơn.
- Theo thời gian của cuộc hành trình (độ dài của chuyến đi) chia thành:
Du lịch ngắn ngày: Là loại hình du lịch thường vào cuối tuần hoặc vào
những ngày nghỉ không kéo dài quá 1- 2 ngày.
Du lịch dài ngày: Là loại hình du lịch thường được tổ chức vào các dịp
nghỉ dài ngày như những thời gian nghỉ phép, thời gian nghỉ đông, thời gian
nghỉ hè.
- Phân loại theo các phương tiện giao thông gồm:
Du lịch đi bộ: Loại hình du lịch này du khách có thể tổ chức đi theo các
đồn với mục đích tham quan một số các địa điểm du lịch nào đó gần nơi ở.
Du lịch đi xe đạp: Là loại hình du lịch thường được tổ chức vào cuối tuần,
có đủ thời gian để đi đến một số nơi nào đó gần nơi ở của mình, vừa có thể tăng

cường sức khỏe vừa có thể ngắm cảnh thiên nhiên có tác dụng thư giãn sau
những thời gian mệt mỏi.
Du lịch ô tơ: Là loại hình du lịch phát triển mạnh có số du khách đơng nhất
trong tồn bộ lượng khách du lịch hiện hay do nhu cầu và chất lượng cuộc sống
ngày càng được nâng cao, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của con người.
Du lịch máy bay: Là loại hình du lịch tiên tiến nhất, loại hình du lịch này
nhằm đáp ứng nhu cầu của các du khách ở xa. Tuy nhiên đây lại là hình thức du
lịch có giá thành vận chuyển rất cao, khơng thể phù hợp với tầng lớp Xã hội có thu
17


nhập thấp. [17, 16]
Ngoài các cách phân loại nêu trên, người ta còn sử dụng nhiều cách phân
loại khác nhau như: Phân loại theo hình thức tổ chức chia thành: Du lịch có tổ
chức, du lịch cá nhân, du lịch gia đình. Theo vị trí địa lí chia thành: Du lịch biển,
du lịch núi, du lịch đồng quê, du lịch đô thị. Chia theo lứa tuổi - đối tượng
khách, theo phương thức hợp đồng, theo địa điểm lưu trú…
1.3. Du lịch văn hóa
1.3.1. Khái niệm
Khái niệm du lịch văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập
đến. Theo Pijoinik, du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, tùy vào
môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành 2 nhóm du lịch là
du lịch văn hóa và du lịch sinh thái.
Người ta gọi du lịch văn hóa là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong
môi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên
du lịch nhân văn. Quan điểm này đề cập đến việc khai thác các tài nguyên du
lịch nhân văn trong phát triển du lịch văn hố.
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục đích chính là nhằm nâng cao
hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế
độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước du

lịch. Như vậy chúng ta có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại hình du lịch mà
mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, thông qua các chuyến du lịch
đến những vùng đất mới để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, kiến
trúc, văn hóa nghệ thuật, kinh tế, chế độ Xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán
của địa phương, đất nước đến du lịch hoặc kết hợp với nhiều mục đích khác.
Du lịch vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh du lịch. Du
lịch văn hóa nhằm chuyển hóa các giá trị văn hóa, các giá trị vật chất cũng như
tinh thần cho hoạt động du lịch, là phương thức hấp dẫn vì nó giải quyết những
nhu cầu về cảm thụ cảnh quan của quốc gia và du lịch văn hóa thường dành cho
những du khách có trình độ cao trong Xã hội.
18


Như vậy du lịch văn hoá theo quan điểm này thì được xem là một hiện
tượng văn hóa. Những cố gắng thu hút khách ở các điểm du lịch phải mang tính
văn hóa. Du lịch văn hóa thường thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu
của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật của
nơi đến.
Như vậy, có nhiều cách nhìn nhận và quan niệm về du lịch văn hóa theo
nhiều góc độ khác nhau. Đến nay, ở Việt Nam du lịch văn hóa ngày càng được
quan tâm, phát triển. Hiện nay, Luật du lịch của nước ta đã cụ thể hóa khái niệm
du lịch văn hóa. Theo điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam (14/06/2005) : “Du
lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia
của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.[9]
Luật Du lịch đề cập đến khía cạnh kết hợp khai thác các bản sắc văn hoá dân tộc
với việc bảo tồn các bản sắc văn hố đó trong việc phát triển du lịch văn hoá.
Như vậy từ việc phân tích các quan điểm về du lịch văn hố ta có thể
hiểu: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách
về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - Xã hội, lối sống và phong tục tập quán ở nơi họ
đến thăm. Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa, bảo

tang, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao.
1.3.2. Vai trò của du lịch văn hóa trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh loại hình du lịch du lịch sinh thái gần đây du lịch văn hóa được
xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách
du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa,
những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng... để tạo
sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách
du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa,
thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. Phần lớn hoạt động du
lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa. Khách
du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ
chức những chuyến du lịch nước ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia
19


du lịch văn hóa tức là tạo ra dịng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người
dân địa phương. Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng
phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du
lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản
sắc dân tộc. Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch,
nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng Xã hội. Những
quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ....
Với hình thức du lịch văn hóa, khách du lịch được đi tìm hiểu các giá trị
văn hóa truyền thống của đân tộc, về những nơi linh thiêng của đất nước để thể
hiện thái độ thành kính lịng biết ơn đối với những người có cơng với dân tộc
với đất nước, nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân đối với các giá trị văn hóa
dân tộc, thể hiện đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn ”, tưởng nhớ tôn vinh công lao
của các vị tướng, những người có cơng dựng nước và giữ gìn đất nước. Du lịch
văn hóa là đem lại các giá trị nhân văn của các cộng đồng, các dân tộc cho mọi

người, để cùng và giúp mọi người khám phá những giá trị của văn hóa, hướng
mọi người đến Chân - Thiện - Mỹ thông qua các sản phẩm du lịch.
Nói tóm lại du lịch văn hóa mang đến những lợi ích Xã hội sau:
- Người đi được chiêm ngưỡng các cảnh đẹp quê hương, có thái độ thành
kính đối với những người có cơng với đất nước, có cơng tơn tạo chùa chiền
thành các cảnh đẹp của quê hương đất nước
- Người địa phương có nhiều công ăn việc làm từ dịch vụ du lịch, cải thiện
đời sống, xóa đói giảm nghèo.
- Giới thiệu được các đặc sản, sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở địa phương.
- Tạo tình cảm tốt đẹp, kết nối những con người quá khứ và hiện tại thành
những người yêu quê hương, yêu đất nước, ham học hỏi, hăng say phục vụ đất
nước và dân tộc.
- Thỏa mãn óc tị mị ham học hỏi của du khách.

20


1.3.3. Các loại hình du lịch văn hóa
Dựa vào nhiều mục đích khác nhau chia ra các hình thức du lịch văn hóa
khác nhau.
- Theo mục đích chuyến đi, du lịch văn hóa được chia thành:
+ Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa: Khách đi tìm hiểu các nền văn hóa
chủ yếu. Mục đích của chuyến đi là tìm hiểu, nghiên cứu. Đối tượng khách chủ
yếu là các nhà nghiên cứu khoa học, học sinh, sinh viên. Đó là các chương trình
du lịch dã ngoại đến các bảo tàng dân tộc ít người…
+ Du lịch tham quan văn hóa: Đây là loại hình du lịch kết hợp giữa tham
quan với nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa trong một chuyến đi.
Đối tượng tham gia phong phú gồm cả khách đi vừa để tham quan, vừa để
nghiên cứu và những khách chỉ để chiêm ngưỡng, để biết và thỏa mãn sự tị mị
có trào lưu.

- Theo mức độ cụ thể hay tổng hợp của chuyến đi, du lịch văn hóa được
chia thành 2 loại:
+ Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: Khách du lịch thuộc thể loại này
thường đi với mục đích đã định sẵn. Thường họ là các cán bộ khoa học, sinh
viên và chuyên gia.
+ Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: Gồm đơng đảo những người
thích mở mang về kiến thức thế giới và thỏa mãn tị mị của mình.
Nhìn chung cách phân chia loại hình du lịch văn hóa có ý nghĩa tương
đối. Vì thế trên thực tế, khách du lịch thường kết hợp du lịch văn hóa với nhiều
mục đích khác nhau.
1.3.4. Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa
Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa nhìn chung tương tự như các điều
kiện phát triển du lịch nói chung. Tuy nhiên đối với loại hình du lịch văn hóa
cần có các điều kiện cụ thể như sau:
1.3.4.1. Tài nguyên du lịch văn hóa
Một quốc gia muốn phát triển du lịch văn hóa trước hết phải có tài nguyên
21


du lịch văn hóa. Các đặc điểm của tài nguyên du lịch văn hóa nhìn chung cũng
mang những đặc điểm như tài nguyên du lịch nói chung.
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài
nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch,
đến việc hình thành chun mơn hóa của vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của
hoạt động du lịch. Như vậy tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển
du lịch. Thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao
nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.
Theo Luật du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch được hiểu là “ cảnh quan
tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, cơng trình lao động
sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là

yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sức hấp
dẫn du lịch ”
Tài nguyên du lịch được phân chia thành 2 nhóm: Tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Trong đó với rất nhiều quan điểm của các
nhà nghiên cứu, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc
nhân tạo, nghĩa là do con người tạo ra. Toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật
chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sản
phẩm văn hóa.
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di sản thế giới và di tích lịch sử
- văn hoá, lễ hội truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, làng
nghề thủ công truyền thống.
Như vậy tài nguyên du lịch nhân văn cũng được coi là tài nguyên du lịch
văn hóa. Để phát triển du lịch văn hóa, tài nguyên du lịch nhân văn là điều kiện
đầu tiên và cần thiết để phát triển du lịch văn hóa.
1.3.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị
- Dân cư – nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã
hội. Cùng với hoạt động lao động, dân cư cịn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch.
22


Số dân càng đơng thì số dân tham gia vào hoạt động du lịch càng lớn.
Với việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự
phân bố, mật độ dân cư có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển du lịch. Nhu cầu du
lịch của con người tùy thuộc vào đặc điểm Xã hội và nhân khẩu của dân cư. Cơ
cấu nghề nghiệp của dân cư cũng là một điều kiện để thúc đẩy phát triển du lịch
văn hóa. Sự tập trung đơng dân cư vào các điểm du lịch, các thành phố…liên
quan mật thiết đến lao động cho ngành du lịch của một địa phương.
- Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và

phát triển du lịch là điều kiện điều kiện kinh tế chung.
Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các
ngành kinh tế du lịch. Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của nhân
dân, thu nhập của nhân dân có thể đi du lịch .
Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm là cơ sở cung
cấp nguồn hàng hóa nhất cho du lịch. Ngành cơng nghiệp dệt cung cấp cho các
xí nghiệp du lịch các loại vải để trang bị văn phịng, ngành cơng nghiệp chế biến
gỗ trang bị đồ gỗ cho các văn phòng, cơ sở lưu trú.
- Chính sách phát triển du lịch
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành cơng trong việc
phát triển du lịch, nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế.
Chính sách phát triển du lịch được thể hiện ở 2 mặt: thứ nhất là chính sách
chung của tổ chức du lịch thế giới đối với các nước thành viên, thứ 2 là chính
sách của các cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó.
Mặt thứ 2 có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người căn
cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp.
- An ninh chính trị và an toàn xã hội
Du lịch bên cạnh việc nghỉ ngơi là thẩm nhận những giá trị vật chất tinh
thần độc đáo, khác lạ với quê hương mình. Điều này đòi hỏi sự đi lại giao lưu
của du khách giữa các quốc gia, các vùng miền. Bầu chính trị hịa bình sẽ kích
23


thích sự phát triển của du lịch quốc tế. Một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột
về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch tức là khơng làm trịn “
sứ mệnh ” đối với du lịch, gây nên nỗi hồi nghi, tâm lí sợ hãi cho du khách.
Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược làm hủy
hoại tài ngun du lịch, các cơng trình kiến trúc do lồi người sáng tạo nên.
Ngồi ra những thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch
trong đó có du lịch văn hóa.

- Trình độ dân trí
Ngồi những điều kiện chung giúp cho du lịch được phát triển như sự ổn
định về chính trị, nền kinh tế ngày càng phát triển, giao thông vận tải thuận lợi,
thời gian rỗi, những chính sách du lịch hợp lí thì du lịch văn hóa cịn có những
điều kiện riêng để có thể phát triển trong đó quan trọng nhất là do trình độ dân
trí được nâng cao. So với du lịch tự nhiên, loại hình du lịch văn hóa có tác dụng
nhận thức nhiều hơn, giải trí là thứ yếu.
Khi trình độ dân trí được nâng cao ngồi việc tiếp thu cái mới của cuộc
sống hiện tại thì việc quay về tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống đang
được đẩy mạnh. Đó là một nhu cầu mang tính thời đại. Cuộc sống hiện tại của
mỗi người bắt nguồn từ từ quá khứ và thế hệ ngày nay muốn tìm hiểu những đặc
điểm quan trọng hình thành và phát triển của chính tổ tiên mình. Du lịch văn hóa
giải quyết và đáp ứng được tất cả những nhu cầu đó. Hơn thế nữa, thơng qua du
lịch văn hóa tạo ra sự két nối giữa quá khứ và hiện tại từ đó có một hướng phát
triển chung cho Xã hội tương lai.
1.3.4.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
- Cơ sở hạ tầng
Có ý nghĩa đặc biệt đối việc đẩy mạnh du lịch. Du lịch trong đó có du lịch
văn hóa gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định. Nó
phụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông. Chỉ có thơng qua
lưới giao thơng thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ
biến trong Xã hội.
24


×