Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Cảm quan phật giáo trong tiểu thuyết

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 83 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------

PHẠM THỊ HẠNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐỨC PHẬT NÀNG SAVITRI VÀ TÔI” CỦA
HỒ ANH TUẤN

PHÚ THỌ - 2012


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 4
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu......................................................................... 8
4. Nhiệm vụ và đóng góp mới của đề tài .............................................................. 8
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 8
6. Cấu trúc đề tài ................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1. CẢM QUAN PHẬT GIÁO TỪ CÁI NHÌN LÍ THUYẾT........... 10
1.1. Về khái niệm cảm quan nghệ thuật và cảm quan Phật giáo......................... 10
1.2. Về cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam......................................... 11
1.2.1. Cảm quan Phật giáo trong văn học dân gian............................................. 11
1.2.2. Cảm quan Phật giáo trong văn học trung đại............................................ 14
1.2.3. Cảm quan Phật giáo trong văn học hiện đại ............................................. 19
CHƯƠNG 2. BIỂU HIỆN CỦA CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRÊN PHƯƠNG


DIỆN CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT, GIỌNG ĐIỆU VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN
THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI VÀ
TÔI…………………………………………………………….23
2.1. Biểu hiện cảm quan Phật giáo trên phương diện cốt truyện ........................ 24
2.2. Biểu hiện cảm quan Phật giáo trên phương diện nhân vật........................... 32
2.2.1. Nhân vật Đức Phật và hành trình giác ngộ ............................................... 33
2.2.2. Nàng Savitri trong kiếp ln hồi .............................................................. 36
2.2.3. Tơi – người kiếm tìm chân lí..................................................................... 40
1


2.3. Biểu hiện của cảm quan phật giáo trên các phương diện giọng điệu và điểm
nhìn trần thuật...................................................................................................... 42
2.3.1. Cảm quan phật giáo trên phương diện giọng điệu .................................... 42
2.3.2. Cảm quan phật giáo trên phương diện điểm nhìn trần thuật..................... 45
CHƯƠNG 3. BIỂU HIỆN CỦA CẢM QUAN PHẬT GIÁO QUA HỆ THỐNG
BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITR VÀ
TÔI ...................................................................................................................... 50
3.1. Khái niệm biểu tượng và biểu tượng văn học.............................................. 50
3.2. Biểu tượng sương mù và thế giới Vô Minh ................................................. 52
3.2.1. Sương mù- Biểu tượng thế giới Vô Minh ................................................. 53
3.2.2. Sương mù – biểu tượng của con người Vô Minh ..................................... 58
3.3. Biểu tượng con đường và quá trình giác ngộ............................................... 63
3.3.1. Con đường giác ngộ của Phật ................................................................... 64
3.3.2. Con đường giác ngộ của Savitri................................................................ 68
3.4. Biểu tượng cây bồ đề của sự giác ngộ ......................................................... 72
3.4.1. Một số quan niệm về biểu tượng Cây và cây bồ đề trong đạo Phật ......... 72
3.4.2. Biểu tượng cây bồ đề trong tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và Tôi ...... 74
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 80


2


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Kể từ sau 1975, văn học Việt Nam dần thốt khỏi tính chất của văn học
chiến tranh để từng bước vận động theo quy luật của văn học thời bình, hồ
nhập với xu hướng văn học thế giới. Trong bối cảnh văn hóa mới, tiểu thuyết với
sự hội tụ đầy đủ nhất những phẩm chất hiện đại của nó đã chiếm vị trí trung tâm
của bức tranh văn học. Các tiểu thuyết của Lê Lựu, Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn
Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường, Khuất Quang Thuỵ,… đã làm nên một thời kì
mới trong q trình hiện đại hố văn xi. Các cây bút tiểu thuyết đã không ngại
ngần thể nghiệm những cách tân, thể hiện những quan niệm mới mẻ.
Hồ Anh Thái với một quan niệm nghệ thuật độc đáo và một ý thức cách tân
chuyên nghiệp đã trở thành nhân tố tiêu biểu trong cách tân hiện đại của tiểu
thuyết thời kỳ đổi mới. Những đổi mới về nghệ thuật xây dựng nhân vật đến các
phương diện kết cấu, trần thuật của tiểu thuyết Hồ Anh Thái thực sự là những
đóng góp quan trọng trên hành trình cách tân tiểu thuyết đương đại Việt Nam.
Đằng sau những cách tân đậm chất hiện đại là một cảm quan nghệ thuật độc đáo
của Hồ Anh Thái. Một trong những cảm quan xuyên suốt các sáng tác của Hồ
Anh Thái, đặc biệt những tác phẩm “thời kỳ Ấn Độ” và “Hậu Ấn Độ” là cảm
quan phật giáo.
1.2. Tiếp cận văn hóa học các sự kiện văn học là một hướng nghiên cứu
mới được thể nghiệm ở Việt Nam. Đã có một số cơng trình thành cơng khơng
chỉ ở chất lượng tự thân mà hơn thế đã mở ra những cơ hội nghiên cứu mới.
Triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng tới văn học Việt Nam từ hàng nghìn năm nay.
Sau những gián cách bởi điều kiện chiến tranh, sau 1975, tư duy Phật giáo đã
hội tụ với những phẩm chất hiện đại, hậu hiện đại thể hiện một quan niệm độc
đáo về cuộc đời và con người trong văn học. Cảm quan Phật giáo trong sáng tác

của một cây bút tiểu thuyết thành công về đề tài Ấn Độ, Đức Phật và xa hơn là
cảm quan phật giáo trong văn học Việt Nam sau 1975 cần phải được đặt ra thành
vấn đề nghiên cứu quy mô. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng bản thân văn
học mà còn là vấn đề của văn hóa học.
3


Như vậy, đề tài “Cảm quan Phật giáo trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng
Savitri và tôi vừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn. Đó là lý do
chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những cơng trình nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Chúng tôi nhận thấy, phần lớn những nghiên cứu mang tính nhận định tổng
quát và nghiên cứu từng tác phẩm riêng lẻ. Những cơng trình nghiên cứu đó chủ
yếu đề cập tới vấn đề đặc sắc trong nghệ thuật cũng như trong cách viết của tác
giả như vấn đề về ngôn ngữ, giọng điệu đa thanh trong tiểu thuyết, điểm nhìn
trần thuật…
Về tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, tác giả Trần Bảo Hưng
trong bài Một cá tính sáng tạo độc đáo đã viết: “Có thể nói hiện thực trong
Người và xe chạy dưới ánh trăng là một hiện thực đa chiều. Để phản ánh được
cái hiện thực phức tạp ấy, Hồ Anh Thái đã sử dụng nhiều thủ pháp linh hoạt, cả
phục hiện và đồng hiện, rồi một cốt truyện đầy co giãn với những mạch ngang,
lối rẽ,… miễn là góp phần khắc họa thật đầy đặn những nhân vật anh định đưa
ra dưới trường đời” [17;398].
Xuân Thiều trong bài viết Sức mạnh văn học từ một tiểu thuyết trong khi đề
cao tình người trong tác phẩm đã đề cập đến quan niệm của cây bút trẻ này về
chiến tranh: “Khi viết về chiến tranh, trên cái nền vĩnh cửu hịa bình của dân tộc
ta, Hồ Anh Thái đã tạo được khơng khí sâu lắng gợi cho người đọc suy nghĩ về
chiến tranh nghiêm túc hơn, gợi lên một thứ chiến tranh chỉ còn là ảo ảnh, là một
nỗi đau khơng tên. Chính ở đây, tầm nhìn của tác giả là trung thực và nhân đạo”

[41;402].
Lê Minh Khuê sau một chặng đường văn chương Hồ Anh Thái đã đưa ra
nhận định về sự đột phá của Người và xe chạy dưới ánh trăng: “Có lẽ ngay từ
ngày ấy, tác giả đã ý thức rằng tác phẩm văn học muốn hòa nhập được với dòng
văn học chảy ào ạt ngoài kia của thế giới và muốn tiếp cận được với người đọc
ngày hơm nay thì đừng có quá lệ thuộc vào hiện thực giản đơn” [20;416].
Về bộ đôi tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo và Trong sương hồng hiện ra,
4


các tác giả Wayne Karlin, Micharel Harris,… “đánh giá cao những vấn đề mà
Hồ Anh Thái đặt ra về số phận cá nhân trước những vấn đề lớn lao của dân tộc,
trước cuộc chiến vệ quốc, hay những tín điều, đạo đức, lý tưởng,… Các tác giả
cũng ghi nhận những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết ở ngòi bút này trong đó đặc
biệt là giọng điệu hài hước và những dấu hiệu đa âm” [36;387].
Về tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị
Minh Thái trong bài Giọng tiểu thuyết đa thanh khẳng định Hồ Anh Thái “rất
cao tay trong cấu trúc tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế. Cuốn tiểu
thuyết ngắn gọn, giản dị, có độ dày,… nhưng hàm chứa thanh điệu của giọng kể
đa thanh”. Các giọng kể đan xen, quấn quýt vào nhau như một bản giao hưởng
trên nền những suy tưởng trữ tình, tạo ra độ nén của ngơn từ và hình tượng.
“Một cuốn tiểu thuyết được nén rất chặt như thế, chính là để bung ra tất yếu
trong cái kết thúc. Và hình như càng nén chặt, thì càng phát sáng trong sự bung
ra của tư tưởng. Điều này không những dẫn đến một kết thúc có hậu […] mà còn
dẫn đến một kết thúc mở với sự cất cánh của yếu tố lãng mạn” [38;286-299].
Về những nhận định tổng quát về văn chương Hồ Anh Thái nói chung và
tiểu thuyết của nhà văn này nói riêng, các tác giả ở mặt này, mặt khác đều đánh
giá cao những cách tân nghệ thuật thể hiện tinh thần hiện đại và một trái tim
nghệ sỹ ẩn chứa sau những tiếng nói sắc lạnh. Tuy nhiên, các cơng trình chỉ tập
chung vào khai thác các cách tân nghệ thuật mà chưa thực sự khai thác ở chiều

sâu cảm quan nghệ thuật. Có thể thấy khai thác kĩ thuật viết là một xu hướng rất
nổi bật bên cạnh những xu hướng như nghiên cứu về nghệ thuật hay tìm hiểu sự
đặc sắc trong kết cấu của tác phẩm…Và việc nghiên cứu tìm hiểu kĩ thuật viết
trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái như một khu vực ngữ liệu nhằm nghiên cứu
sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.
2.2. Những cơng trình nghiên cứu về cảm quan Phật giáo trong tiểu thuyết
Đức Phật, nàng Savitri và tôi và các tiểu thuyết khác của Hồ Anh Thái
Tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều
người. Tuy nhiên nghiên cứu về vấn đề cảm quan phật giáo thì cịn rất mới và
hiếm hoi, vả chăng thì chỉ có một và những cơng trình nghiên cứu về các sáng
5


tác của Hồ Anh Thái xoay quanh vấn đề tội ác và trừng phạt một quan niệm có
liên quan tới tinh thần của phật giáo mà thôi.
Dưới cái đầu đề Từ một giải thưởng khơng thành đăng trên Tạp chí Ngày
nay (2004), Hoài Nam đã đề cập đến vấn đề thiện - ác trong tiểu thuyết Cõi
người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái. Tác giả bài báo nhận định: “Hồ
Anh Thái đứng trên cỗ xe của cái Ác, mơ tả - thậm chí là cực tả - cái Ác, chỉ là
cách để khẳng định cái Thiện và sự tất yếu phải vươn tới cái Thiện. Anh khơng
tìm hứng thú trong việc miêu tả cái Ác, nhưng quả thật, nếu cái ác khơng được
cực tả, khơng “bạo liệt”, thì đâu có hồi chng rung lên báo hiệu ngày tận thế
cho cõi nhân gian” [29;355].
Lê Minh Khuê với bài viết Người cịn đi dài với văn chương đăng trên tạp
chí Tia Sáng số 1, 3-2003 cho rằng: “Tình yêu cuộc sống, bực bội vì cái xấu độc
ác có lẽ là cảm hứng chính cho cuốn sách nhiều lận đận Cõi người rung chng
tận thế. Tác giả nói rất nhiều về cái Ác bản năng như lồi thú, sự mưu mơ xảo
quyệt của con người như loài thú. Rồi xuyên qua cái đám bùng nhùng hỗn độn
ấy là một nhân vật giả tưởng chuyên đi trừng trị sự độc ác ở cõi nhân gian chung
quanh nhân vật chính. Đó là ý tưởng, là sợi chỉ xuyên suốt gây ấn tượng đặc

biệt” [21;258-259].
Trong bài Giọng tiểu thuyết đa thanh, Nguyễn Thị Minh Thái viết: “Cõi
người rung chuông tận thế đã được cấu trúc theo cách cấu tứ của thơ trữ tình,
với một ý tưởng cảnh báo về cái ác xuyên suốt như một tứ thơ chính: liệu con
người ta có thể đẩy được cái ác ra khỏi cõi người không, khi cái ác bao giờ cũng
mọc như cỏ dại trong vườn nhân thế?” [38;267].
Trong cơng trình nghiên cứu Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc,
Nguyễn Đăng Điệp cũng đã nhận định Hồ Anh Thái có quan niệm riêng về thế
giới: “Nhà văn dám nhìn thẳng vào nỗi đau, niềm nhức nhối bủa vây cõi người
để gióng lên những tiếng chng khẩn thiết về sự khơ kiệt nhân tính đang có
mặt khắp nơi. Điều này có thể thấy rất rõ trong Cõi người rung chuông tận thế.
Sự thù hận và cái Ác làm cho con người sống trong nghi kỵ, cầm tù con người
trong đời sống bản năng” [11;358].
6


Nguyễn Anh Vũ trong bài viết Hơn cả sự thật về tác phẩm Cõi người rung
chuông tận thế đã cho rằng: “Đọc tiểu thuyết này, ta không khỏi lo ngại trước lối
sống của một bộ phận thanh niên trong xã hội hơm nay. Đó là một lối sống thực
dụng, bng thả, ích kỷ, với những ham muốn điên loạn, cuồng loạn. Rõ ràng,
họ không đại diện cho thế hệ trẻ đang tràn đầy sức sống, tài năng và nhiệt huyết
trong xã hội ngày nay. Thế nhưng, ta vẫn không khỏi xót xa, ngậm ngùi cho
những cảnh sống vơ hồn, khơng hồi bão, lý tưởng đó. Nếu khơng cảnh báo,
ngăn chặn, rất có thể đó sẽ là mảnh đất màu mỡ cho cái ác nảy mầm, tồn tại và
phát triển” [33;285-286].
Bài viết Ngả nghiêng trần thế của Sông Thương đăng trên báo Thanh Niên
ngày 11-4-2006 đã nhận xét: “Mười lẻ một đêm được viết bằng giọng hài hước
chủ đạo. Thậm chí có đoạn được lồng vào cả truyện cười dân gian. Câu văn thụt
thị, dài ngắn, có chủ đích. Chương một, chương hai cái nghiêng ngả còn liu riu,
rồi cái sự ngả nghiêng cứ tăng dần. Đến chương bảy - chuyện về nhà văn hóa

lớn, nó trở nên căng nhức. Nhiều độc giả cảm thấy ngột ngạt. Thế là đủ. Vào
chương tám, bầu trời câu chuyện bắt đầu kéo mây. Nao lòng với nhân vật thằng
bé người Cá. Thằng bé sinh ra với hai cẳng chân dính chặt vào nhau. Một hiện
thân của sự trả báo đầy vô lý chăng”? [43;347].
Qua những cơng trình nghiên cứu trên có thể thấy thấy được những cái
nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu về vấn đề cảm quan phật giáo trong sáng
tác của Hồ Anh Thái, nhưng chưa có cơng trình nào thể hiện rõ vấn đề này. Và
trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, vấn đề này cũng vẫn chưa được
đặt ra thành vấn đề nghiên cứu. Như vậy, vấn đề nghiên cứu cảm quan phật giáo
trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và Tôi của chúng tôi là một ngiên cứu
mới. Bởi lẽ, các tác giả khi nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Anh Thái nói chung và
tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi chủ yếu tập trung vào vấn đề những
cách tân nghệ thuật hiện đại của tác giả này. Còn phật giáo chỉ được xem như đề
tài của tiểu thuyết quan trọng này. Hoặc giả có nhắc đến tinh thần Phật trong các
cơng trình khác nhưng đó tuyệt nhiên khơng phải là mục đích nghiên cứu. Và ở
đâu đó nếu có những cơng trình nghiên cứu đã có đề cập tới một vài khía cạnh
7


của cảm quan phật giáo thì đó cũng chỉ là những bài viết lẻ tẻ, hoặc mới chỉ gợi
ra cho độc giả suy nghĩ mà thôi, và thực sự đây là những gợi mở quý báu cho đề
tài. Chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả này trong quá trình nghiên cứu.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Cảm quan Phật giáo trong tiểu thuyết
Đức Phật, nàng Savitri và tôi.
Đối tượng khảo sát của đề tài là tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tơi.
Và trong q trình nghiên cứu, chúng tơi sẽ tiến hành so sánh với các tiểu thuyết
khác của Hồ Anh Thái cũng như những tiểu thuyết quan trọng, được các nhà
nghiên cứu uy tín và dư luận thống nhất đánh giá cao kể từ sau 1975.
4. Nhiệm vụ và đóng góp mới của đề tài

4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết về cảm quan nghệ thuật và những biểu hiện của cảm
quan nghệ thuật trong tác phẩm văn học.
Nghiên cứu những biểu hiện của cảm quan Phật giáo trong tiểu thuyết Đức
Phật, nàng Savitri và tôi trên phương diện kết cấu và hệ thống các biểu tượng
của tiểu thuyết.
4.2. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài là cơng trình đầu tiên nghiên cứu và chỉ ra những biểu hiện của cảm
quan Phật giáo trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tơi. Qua đó, đề tài
khơng chỉ góp phần phân tích những giá trị của tiểu thuyết này mà cịn mài sắc
một cơng cụ lý thuyết trong nghiên cứu văn hóa, văn học.
Đề tài góp phần chỉ ra phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái, khẳng định vị
trí, sự đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Việt Nam đương đại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hố học hình thành trên vùng
tiếp giáp của các tri thức xã hội và nhân văn về con người và xã hội, nghiên cứu
văn hố như một chỉnh thể tồn vẹn với một phạm vi rộng khắp, trong đó văn
hóa học văn học nghệ thuật như một tiểu hệ thống. Từ cái nhìn văn hóa, chúng
8


tơi sẽ tìm thấy những mối quan hệ tương hỗ, biện chững giữa văn hóa và văn
học.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Bản thân việc tìm hiểu tiểu thuyết Đức
Phật, nàng Savitri và tơi từ cái nhìn văn hóa đã cho thấy nhiệm vụ cần làm sáng
tỏ những mối quan hệ giữa văn học và văn hóa. Cái nhìn hệ thống giúp chúng
tơi nhìn nhân văn học như một yếu tố trong chỉnh thể văn hóa của dân tộc.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã được ứng
dụng nghiên cứu thành công ở Việt Nam. Văn học, qua sự cắt nghĩa thi pháp đã

bộc lộ được bản chất sáng tạo trong tính quan niệm, giá trị sâu sắc của bản thể
văn chương. Khi một trường phái nghiên cứu đã khẳng định được vị trị thì bản
thân hướng tiếp cận sẽ định hình thành phương pháp nghiên cứu. Những biểu
hiện của thi pháp tác phẩm là căn cứ để xác định những biểu hiện của cảm quan
Phật giáo trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tơi của Hồ Anh Thái.
Ngồi ra chúng tơi sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, thuyết
minh,… như những thao tác thường xuyên.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài của chúng tôi
được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Cảm quan phật giáo từ cái nhìn lí thuyết
Chương 2: Biểu hiện của cảm quan phật giáo trên phương diện cốt
truyện, nhân vật, giọng điệu và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Đức
Phật nàng Savitri và tôi
Chương 3: Biểu hiện của cảm quan phật giáo qua hệ thống các biểu
tượng trong tiểu thuyết Đức Phật, Nàng Savitri và Tôi

9


CHƯƠNG 1
CẢM QUAN PHẬT GIÁO TỪ CÁI NHÌN LÍ THUYẾT
1.1. Về khái niệm cảm quan nghệ thuật và cảm quan Phật giáo
Theo sách Từ điển tiếng Việt giải thích cảm quan theo hai cấp độ nghĩa: “cơ
quan cảm giác, giác quan; nhận thức trực tiếp bằng các giác quan” [48;107].
Trong khi đó, Giải thích từ Hán – Việt, cảm quan được định nghĩa “là cảm giác
khi quan sát, trông thấy” [1;31]. Theo Đại từ điển tiếng Việt, cảm quan được
hiểu là “khả năng cảm nhận điều gì đó bằng trực giác, qua các giác quan, ý
nghĩ” [49;183].
Chúng tôi hiểu, cảm quan khơng đơn thuần là giác quan hay cách nhìn,

cách cảm nhận mang tính trực giác. Đó là những dấu ấn, quan niệm, cảm thức
hình thành trong tâm hồn con người. Cảm quan bao hàm cả trực giác, vô thức và
ý thức. Cảm quan là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh
thần của con người được lưu giữ, chuyển đổi trong vô thức, ý thức.
Như vậy, có thể thấy cảm quan bao hàm những nội dung sau: Thứ nhất,
cảm quan chính là một hệ thống cảm nhận, cảm xúc, tình cảm của con người
trước thế giới; Thứ hai, vì những cảm xúc, cảm giác đó là riêng của mỗi cá nhân
nên nó bộc lộ sắc nét thế giới quan và cá tính của mỗi người; Thứ ba, cảm quan
không phải là những cảm nhận, cảm giác có tính trừu tượng, chung chung. Nó
phải bộc lộ thành khuynh hướng thẩm mỹ, thế giới hình tượng, biểu tượng của
riêng mình.
Trong văn học, cảm quan nghệ thuật là hệ thống cảm xúc, cảm nhận, nhận
định của người nghệ sĩ trước thế giới xung quanh, bộc lộ thế giới quan, cá tính
của cá nhân ấy và được tái tạo thơng qua hệ thống hình tượng phong phú, mang
đậm tính quan niệm, bản sắc của người sáng tạo. Đó chính là những thái độ,
rung cảm, quan niệm. Cảm quan của người nghệ sĩ gắn liền với tư chất nhưng
mang tính quan niệm rõ nét.
Như vậy, có thể thấy cảm quan nghệ thuật là một khái niệm quan trọng của
lý luận văn học. Trong tương quan với khái niệm quan niệm nghệ thuật thì hẹp
hơn cảm quan nghệ thuật. Khái niệm cảm quan nghệ thuật chủ yếu đề cập đến
10


mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và cuộc sống. Trong khi đó, quan niệm nghệ
thuật là bao trùm những cắt nghĩa, lý giải về đời sống, một mô hình nghệ thuật
về con người, cuộc đời và tác phẩm. Tuy nhiên, khi xem xét cảm quan nghệ
thuật, tức mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và đời sống thì căn cứ vẫn là bản
thân tác phẩm. Bởi lẽ, tác phẩm chính là nơi thể hiện tập trung quan niệm, cảm
quan nghệ thuật của nhà văn về đời sống. Các phương diện của tác phẩm văn
học, bởi thế là những căn cứ để đánh giá cảm quan nghệ thuật của tác giả.

Cảm quan nghệ thuật thể hiện trình độ khám phá, cắt nghĩa, lý giải về đời
sống của nhà văn. Cảm quan nghệ thuật thể hiện bản lĩnh văn hóa, những tư chất
nghệ thuật của người nghệ sĩ. Và bởi vậy, cảm quan nghệ thuật chính là cơ sở để
đánh giá tính chân thực của văn học, giá trị thẩm mĩ và vị trí của nhà văn trong
đời sống văn học cũng như vận động của văn học sử. Tìm hiểu cảm quan nghệ
thuật trong văn học chính là quá trình nghiên cứu những căn cứ nghệ thuật nhằm
định vị thành cơng của tác phẩm cũng như vị trí của nhà văn.
Cảm quan Phật giáo chính là một nguyên tắc cắt nghĩa, lý giải đời sống
trong tác phẩm in đậm triết lý Phật giáo. Đó chính là cảm quan về sự vô minh
của thế giới, sự vô minh của bản thể. Cùng với đó là quan niệm về con đường
giác ngộ của nhân sinh. Cảm quan Phật giáo sẽ chi phối đến tất cả sự lựa chọn
và biểu hiện nghệ thuật của tác phẩm, từ các phương diện nội dung đến hình
thức nghệ thuật.
1.2. Về cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam
1.2.1. Cảm quan Phật giáo trong văn học dân gian
Nền văn học Việt Nam đã sớm phát triển nở rộ trên nền tảng của văn hóa
và nó là một trong những thành tố cấu tạo nên nền văn hóa. Trong mỗi tác phẩm
văn học mang những đặc trưng văn hóa rõ nét. Hơn thế nữa Việt Nam là một
quốc gia đa tôn giáo, đa dân tộc nên văn hóa cũng vơ cùng phong phú và đa
dạng, do đó nó ảnh hưởng tới tất cả các thể loại và trở thành đề tài sáng tác của
văn học.
Và điều đáng chú ý hơn cả ấy là sự ảnh hưởng của Phật giáo. Phật giáo du
nhập vào nước ta ngay từ đầu cơng ngun với những giáo lí phù hợp với văn
11


hóa của dân tộc nên ngay từ buổi đầu đã thâm nhập mạnh mẽ vào nước ta và
được nhân dân tiếp thu trên tinh thần tự nguyện. Điều ấy được phản ánh rõ nét
trong văn học. Sự phát triển của văn học qua các thời kì hầu như đều in đậm triết
lí của Phật như; “Ác giả ác báo”, “Chính nghĩa thắng tà”, “ở hiền gặp

lành”….Nó đã trở thành nếp nghĩ của người dân Việt.
Ngay trong các tác phẩn văn học dân gian cảm quan phật giáo cũng đã chi
phối mạnh mẽ và tạo ra những đặc trưng riêng của đối tượng này. Những biểu
hiện của tinh thần Phật giáo tác động đến văn học thời kì này thể hiện trên tất cả
các phương diện từ chủ đề, kết cấu nội dung của tác phẩm, đều thấm đượm
những quan niệm mang triết lí nhà phật. Nó thể hiện đậm đặc nhất trên phương
diện nội dung, xoay quanh những vấn đề như: Ác giả ác báo, ở hiền gặp
lành…đó chính là theo thuyết nhân quả của nhà Phật. Tất cả những quan niệm
ấy được thể hiện ở hầu hết các tác phẩm trên hầu hết các thể loại văn học dân
gian thời kì này.
Kho tàng truyện ngụ ngơn của chúng ta hết sức phong phú và đa dạng, các
truyện đều mang tính giáo dục cao với những chủ đề về nhân sinh và cuộc sống.
Bên cạnh các yếu tố đó ta cũng thấy những triết lí và quan niệm nhà phật đã
nhanh chóng thâm nhập và trở thành chủ đề quen thuộc của thể loại này. Những
truyện ngụ ngôn như Xẩm sờ voi, Mèo lại hồn mèo…Hoặc những truyện có liên
quan tới thuyết nhân quả. Những câu chuyện ấy đều thể hiện rõ tư tưởng của
Phật giáo. Truyện Xẩm sờ voi theo quan niệm của nhà Phật thì đó như thể là sự
vô minh của con người trong thế giới ấy, một quan niệm quan trọng trong thuyết
pháp nhà phật. Hay câu chuyện Mèo lại hồn mèo cũng chính là cái vỏ bề ngồi
khơng thể che đậy bản chất bên trong, con mèo thì chỉ mãi là con mèo chứ có
hóa thân thành con gì đi nữa thì tính cách của anh cũng vẫn là con mèo mà thơi.
Đó chính là những vấn đề mà nhà Phật ln phê phán vì tâm khơng chính trực
dễ rơi và lầm đường lạc lối.
Trong thế giới truyện cổ tích thì cũng mang đậm tư tưởng Phật giáo, các tác
giả dân gian thể hiện cảm nhận của mình và đem cái cảm quan của mình về thế
12


giới để hiện vào trong các sáng tá c của mình một trong số đó chính là cảm quan
phật giáo, như truyện Tấm cám, cây khế, cây tre trăm đốt…

Trong truyện có sự xuất hiện của hình tượng Bụt, một nhân vật đã được
hình tượng hóa cưu mang người Việt bằng màu sắc Phật giáo. Đoạn kết của câu
chuyện tấm cám chính là một hình ảnh sinh động và cụ thể nhất cái tư tưởng của
phật giáo trong truyện cổ tích “thiện thắng ác”, “ở hiền gặp lành”, “chính nghĩa
thắng tà”. Tấm sống và trở thành người sau bao lần hóa thân thành chim vàng
anh – xoan đào – khung cửi – cây thị. Bên cạnh đó cịn có hàng loạt các câu
chuyện khác nói đến tinh thần phật.
Trong truyện cổ tích, nhân vật Bụt xuất hiện khá nhiều. Có thể nói trong
những khái niệm vốn có của nhà Phật, dân gian chỉ giữ lại một điều đơn giản
nhưng có ý nghĩa nhất: Bụt có sức mạnh vơ biên, thần thông quảng đại, thường
xuyên giúp đỡ những người hiền lành. Vai trò của Bụt là vai trò của yếu tố thần
kỳ, một thủ pháp nghệ thuật quan trọng và quen thuộc của truyện cổ tích trong
việc giải quyết số phận nhân vật và sự phát triển của cốt truyện. Bụt xuất hiện
nhiều nhưng không phải để tuyên truyền giáo lý mà chỉ tạo điều kiện cho nhân
vật giành lại hạnh phúc ngay trong cõi trần, ngay trong chính cuộc đời.
Bên cạnh những thể loại tự sự này tư tưởng phật giáo còn được thể hiện rõ
nét trong kho tàng ca dao dân ca, tục ngữ, truyện cười,… Nó thể hiện sự ảnh
hưởng rộng lớn của tư tưởng Phật giáo trong giai đoạn đầu của nền văn học.
Ông cha ta vừa tiếp thu tư tưởng Phật giáo làm kim chỉ nam vừa tạo nền luân lý
nhân bản.
Những câu ca dao tục ngữ thấm đượm tinh tư tưởng phật giáo nói thuyết
nhân quả như:
“Có tiền thì hậu mới hay.
Có trồng cây đức, mới dầy nên nhân”
Hay những câu ca lại nói về thuyết luân hồi của đạo phật:
“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”[19;134.]
13



Như vậy có thể thấy rằng, văn học dân gian ra đời khi cuộc sống của nơng
dân Việt vẫn cịn hết sức thống khổ. Và cùng lúc đó đạo phật du nhập với những
triết lí phù hợp với văn hóa Việt của nó. Ðạo Phật quan niệm vạn vật khơng do
một thế lực bên ngoài nào làm ra mà do vận động của bản thân nó. Quy luật vận
động là quy luật nhân quả. Mỗi vật có thủy có chung, sinh rồi diệt, sắc bất vị
không nên gọi là "vô thường". Ðạo Phật nhằm giải thốt con người khỏi vịng vô
thường mà trở về với thường trụ bất sinh - bất diệt. Ðạo Phật cũng quan niệm
cuộc đời là bể khổ, con người trầm luân trong bể khổ. Dứt được cái khổ tức là
giải thốt, nhưng đạo Phật lại tìm nguyên nhân cái khổ ở bản thân con người, do
nhân duyên (duyên nghiệp) luân hồi. Ai cũng khổ, nhưng ai cũng có thể giải
thốt thành Phật được bằng cách tu tâm. Ðạo Phật chủ trương bình đẳng và tự
giác, đồng thời chủ trương cứu khổ cứu nạn - vị tha - từ bi bác ái. Vì vậy nó
chính là chỗ dựa tinh thần là nơi rất gần với mong ước của nhân dân, chính vì
thế mà tác giả dân gian thơng qua cảm nhận của mình gửi gắm cái mong ước
thầm kín đó vào trong các sáng tác của mình. Những sáng tác mang đậm tư
tưởng và triết lí phật giáo mang đậm tính nhân sinh.
Sự ảnh hưởng mạnh mẽ này không chỉ ở văn học dân gian mà ở cả lĩnh vực
văn học Viết. Chúng tơi sẽ phân tích ở phần tiếp theo của đề tài.
1.2.2. Cảm quan Phật giáo trong văn học trung đại
Triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người
dân Việt. Trong văn học, triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng khơng chỉ đến văn học
dân gian mà cịn ảnh hưởng đến văn học viết. Văn học trung đại Việt Nam trong
bối cảnh tam giáo đồng nguyên có những đặc trưng riêng. Tuy vậy, cảm quan
Phật giáo vẫn là một phần ưu trội trong diện mạo của giai đoạn văn học đặc thù
này.
Văn học thấm đượm tư tưởng phật giáo thời kì này phải kể tới đó là văn
thơ Lí – Trần, có thể thấy đây là thời kì mà văn học chịu tác động bởi tư tưởng
Phật giáo mạnh mẽ nhất, vì thời kì này phật giáo trở thành quốc giáo ở nước ta.
Nổi bật lên trên nền văn học ấy là là dòng văn học chữ Hán và chữ Nôm.
14



Trong văn thơ chữ Hán thời kì này các bài thơ mang tư tưởng và cảm
quan phật giáo chủ yếu là những bài thơ thiền của các nhà sư như: Sư Vạn
Hạnh, Mãn Giác Thiền Sư, Không Lộ Thiền Sư,…
Tiêu biểu như bài kệ của thiền sư Vạn Hạnh:
“Thân như điện ảnh hữu hồn vơ,
Vạn mộc xn vinh thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phơ” [49;225].
Bốn câu thơ chính là sự dăn dạy của Ngài đối với chúng ta đó là một lối
sống bình an, nếu con người hiểu rõ về cuộc đời thì mọi thứ có dù có thay đổi
“thạnh” hay “suy” tì vẫn an nhiên chứ khơng buồn khổ. Đó chính là tư tưởng
của bài thiền mang lại. Nói rộng hơn theo tinh thần phật thì cuộc đời có cái vơ
thường nên mới có vuy có buồn.
Hay “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền Sư cũng là một bài kệ mang
đậm triết lí và tư tưởng Phật giáo:
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”[49;175]
Bài thơ là sự đúc kết về sự giác ngộ chân lí đạo Phật và thể hiện những
rung động chủ quan của nhà thơ trước hình ảnh, cảnh vật, màu sắc, âm thanh của
thế giới vật chất. Bài thơ chỉ ra quy luật muôn đời của tạo hóa đó là vịng sinh,
lão, bệnh, tử gắn với quan niệm luân hồi của triết lí nhà phật, đồng thời với hình
ảnh “Nhất chi mai” cho ta thấy quan niệm của Phật về con người trong cõi Niết
Bàn với cái tâm thanh tịnh và luôn sáng dưới ánh sáng của chân lí.
Như vậy, có thể thấy cái hay trong thơ Thiền chính là được tạo nên bởi

những quan niệm về triết lí nhân sinh của Phật giáo. Mỗi tác phẩm đều mang
một đạo lí góp phần khun dăn con người sống tốt trong cõi đời. Nhưng đồng
15


thời những bài thơ ấy cũng góp phần tạo nên diện mạo cho văn chương thời kì
này.
Tuy nhiên khơng chỉ có thơ Thiền mới mang tư tưởng nhà Phật, mà cảm
quan Phật giáo còn in đậm trong các sáng tác của các tác giả có thành tựu nổi
bật trong văn học Việt Nam trung đại và trong suốt những thế kỉ sau như: Trần
Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Nguyễn Trãi…..
Nói tới vua Trần Thái Tơng trong lịch sử văn học phật giáo Việt Nam, thì
đây là một con người khơng những học rộng tài cao, biết nhiều mà cịn là một
người tu ngộ đạo. Trần Thái Tông thể hiện trong những sáng tác của mình thể
hiện ơng là một tín đồ của đạo Phật, một con người am tường tư tưởng của Đấng
Giác Ngộ. Một con người am hiểu về lẽ đời về sự tham – sân – si của cuộc sống.
Khi làm vua thì chứng tỏ mình là một vị vua anh minh đem lại hưng thịnh cho
quốc gia, nhưng vua lại không hề tham muốn quyền lực coi ngai vàng của mình
giống như một đơi giàu rách vứt bỏ lúc nào cũng được. Nhờ trí tuệ và sự học hỏi
vua đã thấm được lý vô thường của phật giáo nên đã tự mình cảnh tỉnh mọi
người.
“Mệnh tựa ngọn đèn trước gió
Thân như bọt nước đầu ghềnh” [19;24].
Cuộc đời mỏng manh như vậy mà người ra đắm chìm trong thanh sắc,
khơng biết tỉnh ngộ, ln ln đắm chìm trong bến mê, mãi mãi trôi nổi nơi biển
khổ, mù mù mịt mịt, nào biết nào hay, lẫn quẫn, lanh quanh chẳng tỉnh chẳng
ngộ. Hết thảy đều buông lung tâm ý, chẳng ai nắm mũi lôi về. Vậy hãy sớm thức
tỉnh quay về ngơi nhà vĩnh cửu.
Như vậy có thể thấy tư tưởng phật giáo đã được tác giả hấp thụ và thể
hiện trong các sáng tác của mình, tạo nên những nét đặc sắc trong sáng tác, tạo

nên một dòng văn học mang dấu ấn phật giáo rõ nét.
Đối với tác giả Tuệ Trung Thượng Sĩ khi thể hiện quan niệm sáng tác của
mình, cụ thể là tư tưởng Phật giáo trong văn thơ, thì nhà thơ chủ yếu chú ý vào
vấn đề “Tâm – Phật” trong sáng tác của mình, tức là chỉ sự giác ngộ thực sự của
Phật hướng tới chúng sinh. Phật, tâm thực ra chỉ là một, khơng thể có cái này mà
16


khơng có cái kia, diệt cái này là cịn cái kia. Chẳng những thế cũng không thể
phân biệt tâm Phật với tâm sinh diệt. Nếu xưa kia khơng tâm thì nay khơng Phật,
mà thật ra chỉ có tâm với Phật là thực tại bất sinh bất diệt; Còn phàm, thánh, trời,
người như chớp giật. Tâm thể không thị cũng không phi dễ bị hiểu lầm ra là tâm
thể không phải cũng không trái, không thiện cũng không ác. Sự thực không thị
không phi đây ám chỉ lý trong Kinh Lăng Nghiêm nói tâm phải là ngoại cảnh mà
cũng chẳng khơng phải là ngoại cảnh, chẳng phải thị và phi thị.
Như thế một đạo lí đơn giản mà tác giả muốn hướng chúng ta nhận thức
theo đúng tinh thần Phật. Thật giản đơn khơng có Phật nào ngồi thế gian,
khơng có Niết Bàn nào ngoài sinh tử, Phật ở trong ta và ta bao giờ cũng có Phật.
Đó chính là con đường đi tới sự giác ngộ mà sau này trong văn học hiện đại Hồ
Anh Thái cũng viết trong tiểu thuyết của mình.
Như vậy có thể thấy thơ văn thời Lí – Trần mang đậm màu sắc và cảm
quan phật giáo, cái cảm quan ấy không phải xuất hiện ngẫu nhiên mà nó có tiền
đề là phật giáo du nhập vào nước ta khá sớm cùng với những tư tưởng dễ tiếp
nhận nên nó đã được người Việt đón nhận trên tinh thần tự nguyện nên nó dễ
dàng ăn sâu vào tâm thức người Việt. Trong thời kì này phật giáo lại trở thành
quốc giáo nên đều ảnh hưởng đến đời sống con người trên tất cả các phương
diện, đặc biệt là văn học.
Trong văn học chữ Nôm, tư tưởng Phật giáo vốn đã thấm sâu vào tâm thức
quảng đại quần chúng và hịa lẫn với tín ngưỡng pháp thuật, đến đây lại gặp môi
trường thuận tiện để nẩy nở. Những tác phẩm văn học chữ Nôm nhiều không sao

kể xiết, ở đây người viết chỉ đề cập đến những tác phẩm truyện Nơm khuyết
danh tiêu biểu có ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng Phật giáo và thấm sâu vào
lịng dân tộc như: Truyện Quan Âm Thị Kính, truyện Nam Hải Quan Âm, truyện
Phạm Công Cúc Hoa. Bên cạnh những truyện Nơm khuyết danh mang tư tưởng
phật giáo thì những truyện Nơm do các tác giả sáng tác thì cũng thấm đượm tư
tưởng này. Hai cây đại thụ về truyện và thơ Nôm không thể không kể tới trong
thời kì văn học này chính là Nguyễn Dữ và Nguyễn Du.
17


Cùng với những tác giả đương đại khác thì trong sáng tác của Nguyễn Dữ
cũng ít nhiều mang tư tưởng của phật giáo. Nó thể hiện rất rõ nét trong những
sáng tác truyện Nôm của ông, nhất là tác phẩm “Truyền kì mạn lục”. Nguyễn Dữ
đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thốt ra khỏi khn khổ của tư tưởng chính
thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố
hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một
cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân
quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng của tư
tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo đức,
nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội.
Trong tác phẩm này tư tưởng phật giáo cũng thể hiện rõ nét ở cuối truyện đó là
quan niệm nhân – quả của nhà Phật.
Nói đến kho tàng văn học cổ Việt Nam, không thể không nhắc đến Truyện
Kiều, bởi đây là một tác phẩm xuất sắc nhất, một tuyệt tác tiêu biểu cho Văn học
Việt Nam. Những tư tưởng của thời đại như Nho giáo, Phật giáo được tràn trải
trong toàn bộ kiệt tác Truyện Kiều. Chủ đề chính của tác phẩm mang tư tưởng
của chủ nghĩa nhân văn cao cả, tư tưởng khuyến thiện trừng ác; đề cao giá trị
của con người, sự hiếu đạo với cha mẹ, ước vọng hướng đến tình yêu tự do và
hạnh phúc lứa đôi; miêu tả sự oan khuất và lý giải số phận nghiệt ngã của một
người con gái tài sắc.

Tư tưởng Phật giáo được thể hiện trong sáng tác này của Nguyễn Du chính
là ơng nói về vấn đề nghiệp báo. Nguyễn Du xem những oan trái mà Thúy Kiều,
một người con gái tài sắc vẹn toàn, gặp phải là những nghiệt ngã của cuộc đời.
Thế nên, ông đưa ra những tư tưởng như nghiệp báo hay khuyến thiện trừng ác.
Ở đoạn kết, ông đã muốn nhấn mạnh rằng, con người sinh ra là đã mang theo
nghiệp báo, sống không nên đổ lỗi cho đời, cho người, mà hãy sống lương thiện,
chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài là quan trọng. Thật tài tình và tinh tế, cái tư
tưởng phật trong tâm tưởng của tác giả Nguyễn Du đã được bộc lộ ra bên ngoài
và thấm đượm trên mỗi câu chữ, thể hiện hơn nữa tài năng của thiên tài Nguyễn
Du. Đó chính là cảm quan phật giáo trong văn học.
18


Và đặc biệt cảm quan phật giáo còn thể hiện đậm đặc ở trong thơ Nguyễn
Trãi. Nguyễn Trãi, theo phương châm chính nghĩa yêu nước thương dân, xây
dựng cuộc đời thái bình cho mọi người. Nguyễn Trãi tin theo con đường chính
nghĩa cũng giống như Kinh Phật nói: “Này A Nam Đa, hãy tự mình làm ngọn
đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa vào chính mình, chớ nương tựa một
cái gì khác”.Phương châm xử thế của Nguyễn Trãi mang ý nghĩa tự giác, tự tin,
rất phù hợp với phương châm “tự mình làm ngọn đèn cho chính mình của Đức
Phật”. Chỉ mình là chỗ dựa chân chính, đích thực đề đi tìm lẽ phải, tìm sự thực
cuộc sống. Con đường tự giác để tự giải thoát là nguyên lý Phật giáo nguyên
thủy và nguyên
lý tự giác, giác tha của Phật giáo phát triển có yếu tố từ bi, bác ái, có yếu tố
vơ ngã, vị tha tích cực lạc quan sớm du nhập vào nước ta quá sớm góp phần vào
việc dựng nước giữ nước. Phương châm “Tự mình là ngọn đèn cho chính mình”
khá phù hợp với phương châm “chính tâm, tu thân” của Nho giáo được ghi trong
sách Đạo học.
Như vậy có thể thấy, một thời kì ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo lên văn
học như thế đã tạo ra một dòng văn học mang tư tưởng và triết lí nhà Phật. Nó

phải xuất phát từ chính cảm nhận của các tác giả, tức là các nhà văn nhà thơ
bằng những cảm nhận cảm xúc của mình đem ra tiếp thu lấy hững gì mà được
gọi là tư tưởng của Phật rồi thể hiện nó một cách sinh động xúc tích trong tác
phẩm của mình. Những thể hiện đó chính là một thế giới cảm quan nghệ thuật
về Phật giáo.
1.2.3. Cảm quan Phật giáo trong văn học hiện đại
Văn học phát triển mang tính liên tục qua từng thời kì và trong mỗi thời kì
ấy thì độ hưng suy của nó là khác nhau, và cùng với đó là sự ảnh hưởng của các
yếu tố như: Nho, Phật, Đạo.. cũng khác nhau. Tuy nhiên, một điều dễ dàng nhận
thấy là ở bất cứ thời kì nào thì tư tưởng Phật giáo cũng trở thành một chủ để
sáng tác quan trọng trong văn học Việt Nam kể cả thời kì văn học hiện đại.
Nhờ tinh thần hòa hợp, tinh thần từ bi quảng đại mà Phật giáo đã trở thành
chỗ dựa tinh thần cho con người mỗi khi gặp khó khăn hay bế tắc trong cuộc
19


sống, chính vì vậy dù trong hồn cảnh nào thì Phật giáo cũng ảnh hưởng mạnh
mẽ đến người dân Việt nó tạo nên sức mạnh tinh thần giúp con người đấu tranh
vượt lên mọi khổ khăn gian khổ. Trong giai đoạn văn học này Phật giáo xảy ra
những biến cố kinh thiên động địa, nhưng tư tưởng Phật giáo vẫn đứng vững
như cây Tùng, cây Bách. Xét về yếu tố này, Vũ Hồng Chương nói:
“Trang sử Việt
Cũng là trang sử Phật
Trải bao độ hưng suy
Có nguy mà chẳng mất”[9;35].
Với sự thâm nhập của nền văn minh phương Tây Việt Nam, dẫn tới sự đổ
vỡ xảy ra cay đắng trong giới Nho sĩ. Chính lúc đó thì tư tưởng Phật giáo vẫn
âm thầm sống trong tập tục tín ngưỡng của đại đa số quần chúng, cũng như
trong các tác phẩm văn chương. Cùng với sự giao lưu và biến đổi văn hóa thì
văn học cũng có sự chuyển đổi mạnh mẽ, đa số văn học viết theo lối chữ Quốc

ngữ với những chủ đề đa dạng và phong phú. Tuy nhiên văn học phật giáo thời
kì này chủ yếu được lưu giữ trên những tác phẩm chữ Nôm, và văn học chữ
Nơm thời kì này cũng cịn rất phong phú và đa dạng chính vì thế mà ta khơng
thể nào điểm hết được số cây trái trong khu rừng văn chương Phật giáo ở thời kỳ
này. Vả lại, mục đích của người viết là lựa chọn một vài trường hợp tiêu biểu
trong sự thể hiện tư tưởng Phật giáo, hiểu theo nghĩa đã trình bày ở chương là tư
tưởng Phật giáo đã thấm sâu vào tâm hồn người Việt từ những kiếp nào và bây
giờ biểu lộ một cách vô thước trong ngôn ngữ, trong tác phẩm văn chương.
Chẳng hạn như, trong thơ Hồ Chí Minh cũng đã từng nhắc tới quy luật của
tạo hóa của lẽ vơ thường, sinh rồi diệt của vạn vật:
Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng
Hoa tàn hoa nở cũng vơ tình” [27;125].
Quat thực, nhữn triết lí của đạo Phật mãi ăn sâu váo trong tiềm thức văn
hóa của dân tộc và phát huy ảnh hưởng sâu rộng đến các tác phẩm văn học của
từng thời kì, từng giai đoạn khác nhau.
20


Tiếp đến giai đoạn 1945 – 1975, văn học Việt Nam phục vụ mục đích chính
trị hàng đầu là đấu tranh giải phóng dân tộc. Đạo Phật khơng cịn được nhìn
nhận từ bản chất uyên thâm của triết lý. Sự giản dị đến phức tạp của Phật giáo
khơng tìm được một khơng gian văn hóa tương thích. Bởi vậy, cảm quan Phật
giáo không phát triển trong giai đoạn này. Phật giáo chỉ đóng góp những mảnh
ghép khơng ngun vẹn trong một quan niệm văn học bao trùm hơn: văn học
chiến tranh.
Văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là văn xuôi đã thực sự thâm nhập
những vấn đề bản thể. Đây chính là khơng gian văn hóa mà các tác giả có thể thể
nghiệm những cảm quan độc đáo. Triết học Phật giáo trở lại với văn học trong
một diện mạo trẻ trung hơn, giản dị hơn những cũng sâu sắc hơn khi mà tâm
thức của con người hiện đại đang có những va đập rốt ráo. Hàng loạt những tác

giả, tác phẩm đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến tinh thần và tâm thức Phật giáo.
Tuy nhiên trong thời kì này cảm quan phật giáo trong văn học không giống như
trong văn học dân gian với quan niêm gieo nhân nào thì gặt quả nấy nữa, mà
cuộc sống với nhiều sự xáo trộn có khi người tốt thì bất hạnh và ngược lại kẻ ác
sống vui vầy. Chính vì vậy thể hiện cảm quan phật giáo trong văn học thời kì
này các tác giả muốn lấy làm chỗ dựa tinh thần mà thơi. Đây chính là một tín
hiệu đáng mừng cho sự phát triển của văn học sử dân tộc. Bởi lẽ, văn học đã
thực sự lấy điểm tựa là tư tưởng nhân văn của đời sống cá nhân.
Như vậy, trong tiến trình phát triển của Phật giáo từ khi du nhập đến nay,
trải qua những giai đoạn thịnh suy theo dòng lịch sử của dân tộc, lịch sử cho
thấy Phật giáo đã chia vui sẻ buồn với dân tộc trong gần 2000 năm. Phật giáo đã
sống trong tâm hồn dân tộc Việt Nam. Phật giáo đã sống, đã hòa lẫn, đã trở
thành tinh thần dân tộc và biểu hiện tự nhiên gần như vô thức trong nếp sống
hằng ngày, trong ngôn ngữ thường nhật, trong sinh hoạt thường xuyên của người
dân Việt. Rõ ràng theo dòng lịch sử, vai trị và vị trí Phật giáo có lúc đã trở
thành một động lực xã hội mạnh mẽ thúc đẩy xã hội và văn hóa Việt Nam phát
triển. Và thường trực, Phật giáo như một dòng chảy thầm thào, mãnh liệt ở
những cơ tầng sâu nhất của nền văn hóa, văn học. Chỉ cần có một mơi trường
21


văn hóa thích hợp, cảm quan Phật giáo lại trỗi dậy với một sức hấp dẫn lạ lùng.
Hồ Anh Thái một nhà văn trẻ trưởng thành sau năm 1975 đã kế thừa tất cả
những tư tưởng tốt đẹp của phật giáo có tính truyền thống ấy và thể hiện một
cách đậm đặc trong văn chương của mình bằng hàng loạt các tác phẩm. Nổi bật
lên trong đó chính là cuốn tiểu thuyết Đức Phật nàng Savitri và Tôi. Một cuốn
tiểu thuyết xoay quanh câu chuyện về Đức Phật và nàng Savitri đó là câu chuyện
về con đường giác ngộ và hành trình trên con đường giác ngộ của họ.

22



CHƯƠNG 2
BIỂU HIỆN CỦA CẢM QUAN PHẬT GIÁO
TRÊN PHƯƠNG DIỆN CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT, GIỌNG ĐIỆU VÀ
ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI VÀ TÔI
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Kết cấu là một thuật ngữ thể hiện một
nội dung rộng rãi hơn bố cục. Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối
bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn
bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác
phẩm. Bố cục là một phương diện của kết cấu. Ngồi bố cục kết cấu cịn bao
gồm: Tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian và khơng gian nghệ thuật
của tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể các thành phần cốt
truyện, nghệ thuật trình bày bố trí các yếu tố ngồi cốt truyện,… sao cho toàn bộ
tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật […].
Bất cứ một tác phẩm nào cũng có một kết cấu nhất định. Kết cấu là
phương diện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật. Kết cấu đảm nhiệm
những chức năng rất đa dạng, bộc lộ tốt chủ đề và nội dung tư tưởng của tác
phẩm: triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện; cấu trúc hợp lí hệ thống tính cách:
tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả tạo ra tính tồn vẹn của tác phẩm như là
một hiện tượng thẩm mĩ. Và có thể nói kết cấu của tác phẩm dù thế nào thì cũng
phải phù hợp với nội dung của tác phẩm, và bộc lộ được tài năng cũng như
phong cách của nhà văn”[13;132].
Tác phẩm “Đức Phật, nàng Savitri và Tôi” là một cuốn tiểu thuyết có kết
cấu độc đáo, thể hiện tài năng viết truyện của nhà văn Hồ Anh Thái. Đồng thời
thể hiện sự đổi mới trong cách viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái cùng với xu thế
đổi mới tiểu thuyết Việt Nam. Sự độc đáo của tác phẩm này thể hiện rõ nét các
phương diện chủ yếu đó là cốt truyện, nhân vật, ngơn ngữ và điểm nhìn trần
thuật. Trên phương diện cốt truyện thì tác phẩm khơng viết theo lối truyền thống

mà cốt truyện chính là những “mảnh vỡ” khó kể khó tóm tắt cộng với lối diễn
đạt theo vòng tròn tạo nên sự “lộn xộn” trong sáng tác. Nhưng nó lại được kết
23


nối sâu chuỗi thành một chỉnh thể nghệ thuật bởi hệ thống biểu tượng trong tác
phẩm.
Trên phương diện nhân vật cũng thể hiện sự cách tân mới mẻ. Nhân vật
trong tác phẩm của Hồ Anh Thái rất bình dị, gần gũi, sống động và hơn hết là
các nhân vật bị “giải thể”, “tan ra” theo mảnh vỡ của cốt truyện, để tạo nên các
số phận nhân vật khác nhau. Chính vì vậy khi đi nghiên cứu tiểu thuyết này cần
có một cái nhìn tổng quát và sâu sắc trên từng phương diện để tìm ra cảm quan
phật giáo thể hiện ở trong nó.
Trên phương diện ngơn ngữ thì tác phẩm được thể hiện bằng nhiều cách
thức khác nhau, có ngơn ngữ dung dị suồng sã nhưng cũng có nhiều ngơn từ
được sử dụng mang tính triết lí sâu sắc, cùng với đó là sự kết hợp với giọng điệu
độc đáo thể hiện riêng từng tính cách của nhân vật. Bên cạnh đó về điểm nhìn
trần thuật thì có sự thay đổi điểm nhìn khá phức tạp và luân phiên. Từ hiện tại
soi chiếu về quá khứ và từ nhân vật này luân phiên soi dọi vào nhân vật kia làm
cho nhân vật được nhìn nhận một cách tồn diện.
Qua việc tiếp xúc nghiên cứu và tìm hiểu tác phẩm “Đức phật nàng Savitri
và Tôi” của Hồ Anh Thái. Chúng tôi nhận thấy các phương diện trên của tác
phẩm thể hiện rõ cảm quan phật giáo một cách độc đáo và rõ nét. Đặc biệt là
trên phương diện cốt truyện, nhân vật và một số phương diện khác thể hiện được
phong cách của nhà văn.
2.1. Biểu hiện cảm quan Phật giáo trên phương diện cốt truyện
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Cốt truyện là hệ thống sự kiện
cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ
phận cơ bản quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc
loại tự sự và kịch.

Cốt truyện không phải là yếu tố tất yếu của mọi loại tác phẩm văn học.
Trong các loại tác phẩm trữ tình, cốt truyện (với ý nghĩa chặt chẽ nhất của khái
niệm này) không thể hiện vì ở đây tác giả thể hiện diễn biến tình cảm, tâm trạng.
Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ: Một
mặt cốt truyện là phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện nhà văn thể hiện
24


×