TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
----------
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU CHE PHỦ ĐẾN
SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LẠC L23
TRỒNG TRÊN ĐẤT ĐỒI DỐC VỤ THU ĐƠNG NĂM 2011 TẠI
VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ
PHÚ THỌ - 2012
MỤC LỤC
PHẦN 1 ......................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ........................................................ 4
1.2. Mục đích yêu cầu .................................................................................... 5
1.2.1. Mục đích .............................................................................................. 5
1.2.2. Yêu cầu ................................................................................................ 5
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................. 5
1.3.1. Ý nghĩa khoa học.................................................................................. 5
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 6
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 7
2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc trên thế giới................................... 7
2.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất lạc ở Việt Nam ..................................... 13
PHẦN 3 ....................................................................................................... 20
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 20
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 20
3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 20
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 21
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu.............................................................. 21
3.4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu .............................................. 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................. 25
4.1. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của
giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc trong vụ thu đông 2011 ....................... 25
4.1.1. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tỷ lệ nảy mầm của
giống lạc L23.............................................................................................. 25
4.1.2. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến thời gian sinh trưởng, phát
triển của giống lạc L23................................................................................. 26
1
4.1.3. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến động thái tăng trưởng
chiều cao thân chính của giống lạc L23 ........................................................ 29
4.1.4. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tăng trưởng chiều cao
cành cấp 1 của giống lạc L23 ....................................................................... 34
4.1.5. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến khả năng hình thành nốt
sần của giống lạc L23 trong vụ thu đông ...................................................... 38
4.2. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến mức độ sâu, bệnh hại và cỏ
dại của giống lạc L23 trong vụ thu đông....................................................... 41
4.2.1. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến thành phần sâu hại trên
giống lạc L23 ............................................................................................... 41
4.2.2. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tình hình bệnh hại trên
giống lạc L23 trong vụ thu đông................................................................... 42
4.2.3. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến thành phần cỏ dại và khối
lượng cỏ dại tươi trên giống lạc L23 trong vụ thu đông................................ 44
4.3. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến ẩm độ đất ở các cơng thức
thí nghiệm .................................................................................................... 47
4.4. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất và các yếu tố cấu
thành năng suất giống lạc L23 ...................................................................... 48
4.4.1. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến số cành cấp 1, tổng số quả
trên cây và số quả chắc trên cây của giống lạc L23 ...................................... 50
4.4.2. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tỷ lệ quả trên cây .......... 51
4.4.3. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tỷ lệ nhân, khối lượng 100
quả, khối lượng 100 hạt của giống lạc L23 trong vụ thu đông 2011 ............. 51
4.4.4. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất lý thuyết, năng
suất thực thu của giống lạc L23 trong vụ thu đông 2011 .............................. 52
4.5. Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến hiệu quả kinh tế của giống
lạc L23 trồng trên đất đồi dốc vụ thu đông năm 2011................................... 55
PHẦN 5 ....................................................................................................... 58
2
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................... 58
5.1. Kết luận................................................................................................. 58
5.2. Đề nghị.................................................................................................. 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 60
3
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cây lạc (Arachis hypogea Line) là cây công nghiệp ngắn ngày, có
nguồn gốc từ Nam Mỹ và được phân bố rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
Cây lạc là cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao được dùng
làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, là nguồn nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến dầu thực vật và là mặt hàng nông sản xuất khẩu
quan trọng mang lại lợi nhuận cao. Ngồi ra, cây lạc cịn đóng vai trị tích cực
trong việc luân canh, cải tạo đất, do bộ rễ có nhiều nốt sần có khả năng cố
định đạm trong khí quyển.
Ở Việt Nam, lạc có ý nghĩa lớn trong xuất khẩu và sản xuất dầu ăn mà
hiện nay chúng ta vẫn còn phải nhập khẩu, hơn nữa cây lạc thích ứng tốt với
vùng đất nhiệt đới bán khơ hạn như ở Việt Nam, nơi mà khí hậu biến động và
canh tác gặp nhiều khó khăn. Việc nghiên cứu và đẩy mạnh sản xuất lạc hiện
nay đã được chú trọng song năng suất và sản lượng còn thấp hơn so với một
số nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là sự chênh lệch năng suất lạc
giữa đồng bằng với trung du, miền núi.
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, diện tích đất nơng nghiệp chủ
yếu là đất đồi, chua, nghèo dinh dưỡng và dễ bị xói mịn, rửa trơi. Vì vậy,
năng suất lạc khơng cao, tỉ lệ nhân thấp, độ mẩy của hạt kém, ảnh hưởng rất
lớn đến năng suất, chất lượng hạt giống cho vụ sau. Để nâng cao năng suất lạc
trồng trên đất dốc cần sử dụng giống lạc có khả năng chịu hạn và có biện
pháp thâm canh thích hợp. Ở Miền Bắc nước ta vụ lạc chính là vụ xuân cho
năng suất cao và ổn định do điều kiện thời tiết thuận lợi. Tuy nhiên, khó khăn
về việc để giống do thời gian bảo quản giống kéo dài 7 đến 8 tháng làm giảm
sức nảy mầm của hạt giống. Vụ lạc thu đông là vụ lạc phụ chủ yếu để nhân
giống. Đây được coi là phương pháp giữ giống ngoài đồng ruộng rất được bà
4
con nông dân ưa chuộng. Tuy nhiên, năng suất vụ này không cao đặc biệt là
với lạc thu đông trồng trên đất đồi dốc. Do thời kỳ cây con gặp nhiệt độ cao,
phát dục nhanh, ra hoa sớm nên năng suất sinh vật học thấp. Vào thời kỳ ra
hoa đậu quả thường gặp khô hạn nên khối lượng quả thấp hạt nhăn nheo, độ
mẩy kém. Vì vậy, để nâng cao năng suất lạc thu trồng trên đất đồi dốc cần có
các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý cho cây lạc nhằm giữ ẩm, hạn chế cỏ
dại, chống xói mịn rửa trơi….
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát
triển và năng suất giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc vụ thu đơng năm
2011 tại Việt Trì - Phú Thọ’’
1.2. Mục đích yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Xác định loại vật liệu che phủ tốt nhất cho giống lạc L23 trồng trên đất
dốc trong vụ thu đơng tại Việt Trì - Phú Thọ.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hưởng của một số loại vật liệu che phủ đến sinh trưởng,
phát triển của giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc trong vụ thu đơng.
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại và cỏ dại ngoài đồng ruộng.
- Đánh giá ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến ẩm độ đất.
- Đánh giá ảnh hưởng của một số loại vật liệu che phủ đến năng suất và
các yếu tố cấu thành năng suất giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc.
- Đánh giá ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến hiệu quả kinh tế của
giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc trong vụ thu đông.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học làm cơ sở
cho các nghiên cứu về vật liệu che phủ cho lạc thu đông trồng trên đất đồi dốc.
5
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được loại vật liệu che phủ thích hợp cho giống lạc L23 trồng
trong vụ thu đông trên đất dốc nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt giống,
cung cấp đủ giống cho vụ xuân.
6
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc trên thế giới
Trong các loại cây trồng làm thực phẩm cho con người, cây lạc có vị trí
quan trọng. Mặc dù đã có từ lâu đời nhưng vai trò quan trọng của cây lạc mới
chỉ được xác định trong khoảng 125 năm trở lại đây, khi ngành công nghiệp
ép dầu lạc phát triển ở Pháp (xưởng ép dầu ở Mác Xây) bắt đầu được nhập
khẩu lạc từ Tây Phi để ép dầu, mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô
lớn. Công nghiệp ép dầu được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu
Âu và trên toàn thế giới [10].
Trong những năm gần đây người ta cũng chú ý nhiều đến hàm lượng
protêin trong hạt lạc và các cây trồng họ đậu. Hạt lạc chứa 25% - 30% protêin
(trong đó bao gồm nhiều axit amin không thay thế: Lyzin, Tryptophan, Varlin...).
Đây là một nguồn protêin thực vật quý giá cho con người và động vật [8].
Trong các cây trồng họ đậu, cây lạc đứng thứ hai trên thế giới về
diện tích và sản lượng (sau cây đậu tương). Ta thấy diện tích trồng lạc thế
giới ít dao động Năm 2009 diện tích trồng lạc giảm 0,6 triệu ha so với năm
2000, nhưng đến năm 2010 diện tích lạc lại tăng lên và chỉ giảm 0,03 triệu
ha so với năm 2000. Mặc dù diện tích trồng lạc dao động khơng đáng kể
nhưng năng suất và sản lượng liên tục tăng qua các năm. Từ 13,5 tạ/ha
(năm 2000) đến 15,47 tạ/ha (năm 2005) và năm 2010 đạt 15,4 tạ/ha. Sản
lượng lạc trên thế giới ngày càng tăng, từ 32,54 triệu tấn năm 2000 đến
37,64 triệu tấn năm 2010, đáp ứng nhu cầu sử dụng lạc làm thực phẩm cho
ngành công nghiệp ép dầu.
Như vậy, tuy diện tích lạc trên thế giới trong vài năm trở lại đây ít biến
động nhưng năng suất, sản lượng lạc vẫn tăng qua các năm. Điều này là do có
nhiều giống lạc mới cũng như biện pháp kỹ thuật thâm canh mới đã được
nghiên cứu và đưa vào sản xuất.
7
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc thế giới
từ năm 2000 đến 2010
Chỉ tiêu
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ ha)
(triệu tấn)
2000
24,10
13,50
32,54
2001
22,04
13,87
30,57
2002
23,70
14,28
33,84
2003
23,46
14,03
32,91
2004
22,73
14,71
33,44
2005
21,24
15,47
32,86
2006
21,67
15,72
34,07
2007
22,40
16,90
37,81
2008
24,90
15,54
38,20
2009
23,50
15,12
35,5
2010
24,07
15,41
37,64
Năm
(Nguồn: FAOSTAT, 2011)
Theo thống kê của tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO) lạc được
trồng nhiều nhất ở Châu Á (chiếm 62,2% diện tích, 18,6% sản lượng), tiếp
đến là Châu Phi (chiếm 31,26% diện tích, 18,60% sản lượng), và Châu Mỹ
(4,5% diện tích, 8,9% sản lượng). Ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ cũng có
sự chênh lệch khá rõ rệt về diện tích và năng suất [11].
Những nước sản xuất lạc chính trên thế giới là: Ấn Độ, Trung Quốc,
Nigieria, Indonesia, Sudan và Mỹ chiếm 96% diện tích lạc tồn cầu với mức
sản xuất chiếm 92% tồn thế giới.
8
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lạc một số nước trên thế giới
(từ năm 2005 đến năm 2010)
Chỉ tiêu
Nước
Achentina
Trung Quốc
Ấn Độ
Mỹ
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2005
0,21
28,24
0,59
2006
0,16
30,31
0,50
2007
0,21
33,69
0,71
2008
0,23
27,50
0,63
2009
0,26
23,52
0,61
2010
0,22
27,92
0,61
2005
4,68
30,73
14,39
2006
4,72
31,19
14,74
2007
4,69
27,93
13,09
2008
4,27
33,59
14,34
2009
4,39
33,57
14,76
2010
4,55
34,54
15,71
2005
6,74
11,87
7,99
2006
5,64
8,70
4,41
2007
6,70
9,85
6,60
2008
6,16
11,63
7,16
2009
5,47
10,07
5,51
2010
4,93
11,44
5,64
2005
6,59
33,51
22,08
2006
4,89
32,21
15,75
2007
4,84
35,09
16,98
2008
6,09
38,39
23,41
2009
4,37
38,35
16,74
2010
5,08
37,11
18,84
(Nguồn: FAOSTAT, 2011)
Ấn Độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, đạt tới 4,93 triệu
ha năm 2010 giảm 1,81 triệu ha so với năm 2005 và là nước đứng thứ hai về
sản lượng (trung bình 6,2 triệu tấn). Tuy nhiên, năng suất lạc của Ấn Độ thấp
9
(trung bình 10,59 tạ/ha) do cây lạc được trồng chủ yếu trong điều kiện khô
hạn, dựa vào nước trời. Các nhà khoa học trên thế giới nói chung và Ấn Độ
nói riêng vẫn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lớn về cây lạc như: Điều
kiện sinh thái của lạc, chọn tạo giống, các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng
năng suất, những vấn đề khó khăn mà người trồng lạc gặp phải để giải quyết
và đưa nhanh những tiến bộ kỹ thuật mới ngoài đồng ruộng…. Trong nhiều
năm nghiên cứu của Ấn Độ cho thấy nếu sử dụng giống mới kết hợp với kỹ
thuật canh tác tiến bộ sẽ làm tăng năng suất lạc 50% - 63%. Các kỹ thuật
được nông dân chấp nhận và áp dụng rộng rãi phải là những kỹ thuật đầu tư
kinh phí ít, dễ hiểu, dễ áp dụng và phù hợp với điều kiện canh tác từng địa
phương [11].
Trung Quốc là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích trồng lạc với
hơn 4 triệu ha mỗi năm, chiếm 19% tổng diện tích gieo trồng lạc của cả thế
giới. Trong nhiều năm gần đây sản phẩm lạc của Trung Quốc là một trong
những sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng trên toàn thế giới. Mỗi năm Trung Quốc
xuất khẩu khoảng 30 - 50 vạn tấn thu về 20 triệu đôla Mỹ. Hàng năm, Trung
Quốc giành ½ lượng dùng cho ép dầu cung cấp cho thị trường trong nước
khoảng 220 vạn tấn dầu lạc trên một năm. Sở dĩ sản xuất lạc ở Trung Quốc đã
đạt được những thành tựu nổi bật hơn so với các nước Châu Á nhờ vào chiến
lược đẩy mạnh nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về trồng lạc. Với 160
viện, trường và trung tâm nghiên cứu triển khai các hướng nghiên cứu trên
cây lạc. Trong thời gian từ năm 1982 - 1995 các nhà khoa học Trung Quốc đã
cung cấp 82 giống lạc mới với nhiều ưu điểm nổi bật như: Năng suất cao, thời
gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh, chống chịu phèn, thích ứng
rộng…. Nhờ có mạng lưới khuyến nơng hoạt động mạnh mẽ mà nhiều giống
lạc mới và nhiều biện pháp kỹ thuật thâm canh đạt năng suất cao được nông
dân chấp nhận và ứng dụng rộng rãi. Các biện pháp đó là cầy sâu kết hợp với
bón phân cân đối, phù hợp với từng loại đất, mật độ trồng thích hợp, đặc biệt
10
là kỹ thuật che phủ được gọi là “cuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạc’’.
Kỹ thuật che phủ nilon được du nhập từ Nhật Bản vào Trung Quốc từ năm
1978 và hiện nay được áp dụng ở rất nhiều vùng trồng lạc Trung Quốc. Việc áp
dụng kỹ thuật này làm năng suất lạc bình qn của tỉnh Sơn Đơng tăng 36,6%.
Gần đây Trung Quốc đã tạo ra một số giống được đánh giá cao như: Luhua 3,
Zhonguaz, Zhong, Thế giới Hua 4, Yeugou 92, 256 có khả năng kháng gỉ sắt,
héo xanh cao, Các giống Bach Sa 1061, Hoa 11, Lubua10, 8130 có chất lượng
hạt giống cao dùng để xuất khẩu năng suất cao hơn các giống cũ 15% [5].
Mỹ là quốc gia có năng suất lạc bình qn cao nhất thế giới đạt 35,78
tạ/ha. Người ta đã đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới, Hiện nay có 3 chương
trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng để tạo ra giống chống chịu
sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texa. Nhiều vùng trồng lạc ở đây cho thấy
bón N, P, K cho cây bơng là cây trồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực
tiếp cho lạc. Kỹ thuật bón phân cân đối đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng. Bón phân và kỹ thuật thâm canh cao
đã đưa Mỹ thành nước có năng suất lạc cao nhất thế giới mặc dù diện tích
trồng rất ít [2].
Achentina là một nước thành công trong ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
để phát triển nâng cao hiệu quả sản xuất lạc. Trong suốt 50 năm (1932 1983), năng suất lạc của Achentina ở mức khiêm tốn là 1,0 tấn/ha. Tuy nhiên,
từ năm 1982 công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
đã được tăng cường. Đến năm 1991, năng suất lạc bình quân của Achentina
đạt 2 tấn/ha gấp 2 lần so với năm 1980. Các nghiên cứu giống mới năng suất
cao, chất lượng tốt được đem vào sản xuất đã đưa Achentina trở thành nước
xuất khẩu lạc đứng thứ ba trên thế giới (sau Mỹ và Trung Quốc) mặc dù diện
tích của nước này chỉ khoảng 210,000 ha/năm [6].
Ngoài các nước sản xuất lạc như trên thì Hàn Quốc là nước phát triển ở
châu Á nổi tiếng về đầu tư cao cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
11
trên cây lạc. Nhờ kết hợp giống mới và tiến bộ trong kỹ thuật canh tác đã đưa
năng suất lạc của Hàn Quốc tăng lên gấp bốn lần so với năm 1960. Hầu hết
diện tích trồng lạc ở Hàn Quốc ở những vùng đất cát những bãi bồi ven sông,
sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Nước này đã nghiên cứu
và đề ra mức phân bón hợp lý là 30N + 30,6P2O5 + 83K2O trên ha. Các
nghiên cứu của Hàn Quốc cũng cho thấy, tăng việc sử dụng phân lân đối với
trồng lạc có che phủ đem lại năng suất cao hơn [3].
Các thị trường nhập khẩu lạc nhiều nhất trên thế giới chiếm 78% giá trị
nhập khẩu là Châu Âu, Nhật Bản và Canada - những nước có khí hậu lạnh.
Thị trường Châu Âu là nơi tiêu thụ lạc nhiều nhất, toàn bộ nhu cầu tiêu thụ lạc
hàng năm ở khu vực này được đáp ứng từ việc nhập khẩu. Lưu lượng xuất
khẩu hàng năm trên thế giới: 1,3 - 1,7 triệu tấn lạc quả, 350.000 - 400.000 tấn
lạc dầu, các nước xuất khẩu nhiều là : Xenegan, Nigieria. Yêu cầu nhập khẩu
về lạc và các sản phẩm từ lạc cũng tăng lên nhiều ở Châu Âu, người ta thích
dùng dầu lạc và dầu thực vật nói chung để thay thế cho mỡ động vật. Dầu lạc
cũng là sản phẩm chính trong hơn 600 sản phẩm được chế biến từ lạc và từ
cây lạc.
Trong nền kinh tế của các nước đang phát triển lạc giữ vai trị khá
quan trọng. Ở Xenegan, lạc cung cấp ¾ thu nhập của nông dân và chiếm 80%
giá trị xuất khẩu. Ở Nigieria, lạc và các sản phẩm chế biến từ lạc thường
chiếm trên 60% giá trị xuất khẩu, tuy nhiên nước này chỉ mới đem bán 15%
sản lượng hàng năm [7].
Lạc là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, đã có nhiều
giống lạc có năng suất cao được đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, nhiều nước trên
thế giới chưa khai thác được hết tiềm năng về năng suất của các giống lạc,
diện tích trồng lạc của nhiều nước giảm, năng suất lạc thấp. Để giải quyết vấn
đề này, trong các năm vừa qua đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về kỹ thuật
thâm canh lạc đạt kết quả tốt như : Làm đất, phân bón, che phủ…[8].
12
2.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất lạc ở Việt Nam
Cây lạc được du nhập vào nước ta và được trồng từ bao giờ khơng có
tài liệu xác minh cụ thể. Tài liệu cổ nhất nói về lạc là cuốn ‘‘Vân đài loại
ngữ’’ của Lê Quý Đôn vào thế kỷ XVIII, Căn cứ vào tên gọi - từ ‘‘Lạc’’ có lẽ
xuất phát từ âm Hán ‘‘Lạc Hoa Sinh’’- thì từ lạc ở Việt Nam có thể được du
nhập từ Trung Quốc. Từ thế kỷ XVI – XVII, thuyền buôn phương Tây đã đến
nước ta chủ yếu là từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan. Tuy nhiên khơng
có tài liệu nào nói về sự du nhập các giống cây trồng do các thương nhân trên
đưa đến. Như vậy, có thể khẳng định con đường du nhập lạc vào nước ta chỉ
có thể qua đường Trung Quốc [10].
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc Việt Nam
( từ năm 1998 đến 2010)
Chỉ tiêu
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1998
269,4
14,3
385,2
1999
247,6
12,8
316,9
2000
244,9
14,5
355,1
2001
241,4
14,6
352,4
2002
246,8
16,1
397,3
2003
250,0
16,6
415,0
2004
263,7
17,8
469,0
2005
269,9
18,0
485,5
2006
246,7
18,7
462,2
2007
254,6
19,8
505,0
2008
256,0
20,85
533,8
2009
245,0
20,9
510,9
2010
231,0
21,0
485,7
Năm
(Nguồn tổng cục thống kê Việt Nam, 2011)
Ngày nay, cây lạc được trồng rộng rãi trên cả nước, trên nhiều loại đất
và nhiều địa hình khác nhau bởi đây được coi là cây trồng có hiệu quả kinh tế
13
và giá trị dinh dưỡng cao. Diện tích trồng lạc có xu hướng giảm dần. Năm
2002 giảm so với năm 1998 là 22,6 nghìn ha, năm 2008 giảm 13,9 nghìn ha
so với năm 2005. Song năng suất lại tăng dần qua các năm, thấp nhất là năm
1999 với năng suất 12,8 tạ/ha, cao nhất là năm 2010 với năng suất 21,0 tạ/ha.
Diện tích trồng lạc chiếm khoảng 40% tổng diện tích gieo trồng cây
cơng nghiệp ngắn ngày. Theo số liệu thống kê năm 2010, lạc phân bố ở 6
vùng chính:
Vùng đồng bằng Sông Hồng, lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh: Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình…chiếm 13,07% diện tích trồng
lạc cả nước.
Vùng trung du miền núi phía Bắc lạc trồng tập trung ở các tỉnh Phú
Thọ, Thái Ngun, Bắc Giang, Tun Quang, Hồ Bình, Điện Biên, Sơn La,
Lai Châu …chiếm 21,73% diện tích cả nước.
Bảng 2.4. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của các vùng trọng
điểm ở Việt Nam năm 2010
Chỉ tiêu
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
Đồng bằng sơng Hồng
30,2
24,1
72,8
Trung du miền núi phía
Bắc
50,2
17,6
88,5
Dun hải miền Trung
102,3
19,9
204,0
Tây Nguyên
16,7
17,5
29,3
Đông Nam Bộ
20,5
25,1
51,6
Đồng Bằng Sông Cửu Long
11,1
35,5
39,5
Cả nước
231,0
21,0
485,7
Vùng
(Nguồn tổng cục thống kê, 2011)
14
Vùng Tây Nguyên: Chiếm 7,22% diện tích trồng lạc cả nước, tập trung
ở Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai.
Vùng duyên hải miền trung, diện tích trồng lạc tập trung chủ yếu ở 3
tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh với diện tích chiếm 44,2% diện tích trồng
lạc cả nước, Do đó đây cũng là vùng trồng lạc lớn nhất cả nước.
Vùng Đơng Nam Bộ chiếm 8,87% diện tích trồng lạc cả nước, tập trung
ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Định, Bình Phước.
Vùng Đồng Bằng Sơng Cửu Long chiếm 4,80% diện tích trồng lạc cả
nước, tập trung chủ yếu ở Long An và Trà Vinh.
Trong đó, Nghệ An là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất cả nước
(23,000 ha) tiếp đến là Tây Ninh (20,900 ha) và Hà Tĩnh (20,300 ha) [1].
Mặt khác, đất đai nông nghiệp của nước ta bị rửa trơi và phong hố
nhanh, hàm lượng mùn và dinh dưỡng thấp, lạc là cây trồng cải tạo đất quan
trọng trong hệ thống canh tác đa canh ở nước ta. Do đó trong 10 năm trở lại
đây, năng suất lạc bình quân của Việt Nam đã được cải thiện. Những tiến bộ
kỹ thuật trong sản xuất lạc ở nước ta phải kể đến đó là: Giống, mật độ trồng,
phân bón, trồng lạc với kỹ thuật che phủ…đã góp phần tích cực trong việc
tăng năng suất lạc. Đặc biệt, biện pháp che phủ cho cây lạc là rất tốt trong tình
hình sản xuất hiện nay khi mà lựơng mưa ít dần, khí hậu khơ hanh, đất trồng
ngày càng thiếu ẩm, nhiều cỏ dại, sâu bệnh xuất hiện trên cây nhiều hơn, xói
mịn đất ngày càng tăng…thì việc che phủ cho đất hạn chế các yếu tố sinh học
là điều không thể thiếu cho những vùng đất dốc [4].
Ở nước ta, vụ lạc xuân là vụ sản xuất chính với diện tích, sản lượng cao
hơn so với các vụ khác trong năm. Tuy nhiên, do phải bảo quản hạt giống
trong thời gian dài, mặt khác hạt lạc có hàm lượng dầu cao, trong quá trình
bảo quản dễ bị biến chất nên hạt lạc giống thường bị mất sức nảy mầm dẫn
đến nhiều khi thiếu giống, ảnh hưởng đến kế hoạch gieo trồng lạc vụ xuân
hàng năm [12].
15
Những năm gần đây, nhiều địa phương ở các tỉnh phía Bắc như Hà Nội,
Bắc Giang, Phú Thọ, Ninh Bình đã áp dụng thành cơng mơ hình trồng lạc thu
đơng nhằm chủ động cung cấp giống lạc cho vụ sau. Lạc giống được sản xuất
từ vụ thu đơng do có thời gian bảo quản ngắn, phẩm chất hạt ít bị biến đổi nên
tỷ lệ nảy mầm cao, tiết kiệm được giống. Khi gieo trồng mật độ cây được đảm
bảo, cây sinh trưởng khoẻ dẫn đến năng suất cao [4].
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, diện tích đất nông nghiệp chủ
yếu là đất đồi, chua, nghèo dinh dưỡng và dễ bị xói mịn, rửa trơi. Trong hệ
thống cây trồng như ngơ, đậu tương, lạc… thì cây lạc vẫn được sử dụng được
trồng nhiều hơn do đặc tính phù hợp với chất đất, có khả năng cải tạo đất,
mức đầu tư thấp nhưng cho thu nhập cao hơn cây trồng khác.
Tuy nhiên, người dân vẫn sử dụng các giống cũ và canh tác theo
phương thức truyền thống. Năng suất cây lạc rất thấp, chủ yếu phục vụ nhu
cầu tiêu dùng của gia đình, có dư thừa mới mang bán, sản xuất manh mún và
hiệu quả kinh tế thấp.
Về năng suất và diện tích:
Diện tích trồng lạc cuả tỉnh giảm dần qua các năm, năm 2000 có 6,8
nghìn ha đến năm 2010 chỉ cịn 5,5 nghìn ha nhưng năng suất lạc thì liên tục
tăng. Trong 10 năm từ 2000 đến 2010 năng suất lạc của tỉnh đã tăng 5,1 tạ/ha.
Tuy nhiên năng suất lạc của Phú Thọ còn ở mức thấp, cao nhất là năm 2010 đạt
17,8 tạ/ha, thấp hơn năng suất lạc trung bình của cả nước 3,2 tạ/ha. Sở dĩ năng
suất lạc của tỉnh thấp là do sản xuất lạc chưa được quan tâm đầu tư thích đáng.
Về sản lượng:
Tuy diện tích trồng lạc giảm (trong 10 năm từ năm 2000 đến 2010
diện tích trồng lạc của tỉnh giảm 1,3 nghìn ha) nhưng năng suất lạc tăng nên
sản lượng lạc cũng tăng theo. Sản lượng năm 2009 cao hơn sản lượng năm
2000 là 1,3 nghìn tấn. Năng suất năm 2010 cao nhất đạt 17,8 tạ/ha nhưng do
diện tích giảm cịn 5,5 nghìn ha nên sản lượng chỉ đạt 9,8 nghìn tấn.
16
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc Phú Thọ
( từ năm 2000 đến 2010)
Chỉ tiêu
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
2000
6,8
12,7
8,7
2001
6,7
12,3
8,3
2002
6,0
12,6
7,6
2003
5,8
15,0
8,7
2004
6,2
15,4
9,6
2005
6,0
15,6
9,4
2006
5,7
14,7
8,4
2007
6,0
15,8
9,5
2008
6,3
17,1
10,8
2009
6,0
17,5
10,5
2010
5,5
17,8
9,8
Năm
(Nguồn tổng cục thống kê Việt Nam, 2011)
Vì năng suất lạc của tỉnh Phú Thọ còn thấp nên việc đưa các giống mới
và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để nâng cao năng
suất lạc là rất cần thiết.
2.3. Tình hình nghiên cứu về sử dụng vật liệu che phủ trên cây lạc
Việc áp dụng cơng nghệ thâm canh trên cây trồng có che phủ là tiến bộ
khoa học kỹ thuật tiên tiến đã và đang được phát triển mở rộng trong sản xuất
nông nghiệp trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Sigapo….
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của Nhật Bản, kỹ thuật che phủ nilon
đã được đưa vào nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1978, năm 1984, kết quả
khảo nghiệm trên 16 tỉnh thành đã cho năng suất bình quân từ 37 - 45 tạ/ha.
17
Ước tính đến năm 1995, diện tích trồng lạc có che phủ nilon đã chiếm tới 80 90%, diện tích trồng lạc của tỉnh Sơn Đông, đã thực sự tạo ra cuộc cách mạng
trắng trong sản xuất lạc ở Trung Quốc (SunYanhao và Wang Caipin, 1995).
Hiện nay, diện tích lạc được che phủ nilon ở Trung Quốc đạt khoảng 400
nghìn ha, chiếm hơn 10% diện tích gieo trồng lạc cả nước.
Che phủ nilon là một trong những biện pháp quan trọng nhất để tăng
năng suất cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng. Kết quả nghiên cứu ở Trung
Quốc cũng cho thấy, che phủ lạc bằng nilon giúp tăng năng suất từ 20% 50% so với không che phủ, việc che phủ nilon còn làm cho hàm lượng dầu
trong hạt lạc tăng, tỉ lệ hạt chín đều hơn [5].
Ở Việt Nam, biện pháp này được Trung Tâm Nghiên Cứu Thực
Nghiệm Đậu Đỗ tiến hành thử nghiêm từ năm 1996. Qua nhiều năm nghiên
cứu kết quả cho thấy như sau:
Kỹ thuật che phủ nilon cho lạc đã được Hội đồng Khoa học Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn cho phép khu vực hóa năm 1997. Qua cả 2 vụ
thu – đông 1998 và xuân 1999 đều cho năng suất cao đáng kể. Năng suất lạc
của 20 ha trong vụ thu đơng có áp dụng kỹ thuật che phủ nilon ở Đông Anh
đã đạt 41,0 tạ/ha, 92 ha trong vụ xuân ở Nam Định đạt 44,0 tạ/ha và tỉnh Hà
Nam lạc trồng trong vụ xuân trên quy mô 12 ha cũng đạt năng suất trung bình
43 tạ/ha. Trong vụ thu đơng 1998 và vụ xuân 1999, biện pháp kỹ thuật này đã
được triển khai với quy mô rộng 364,6 ha trong phạm vi nhiều tỉnh ở phía
bắc, năng suất trung bình tất cả các vùng đạt 31,0 tạ/ha, năng suất tăng lên
14,3 tạ/ha so với diện tích khơng áp dụng biện pháp che phủ nilon.
Mức độ chấp nhận của nông dân với tiến bộ kỹ thuật này được thể hiện
rõ năm 1997 diện tích lạc che phủ nilon là 11 ha tăng lên 150 ha năm 1998 và
đạt 394 ha năm 1999. Nam Định là tỉnh ứng dụng kỹ thuật này nhanh và có
hiệu quả cao nhất, diện tích trồng tăng lên 92 ha, sau đó là tỉnh Bắc Giang 68
ha [9].
18
Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện khoa học kỹ thuật Nơng Lâm
Nghiệp Miền Núi Phía Bắc do tiến sỹ Lê Quốc Doanh làm chủ nhiệm đã áp
dụng các biện pháp che phủ đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở
vùng cao, đất dốc. Các vật liệu che phủ như nilon, rơm rạ cho ngô, lạc kết quả
cho thấy mức độ xói mịn giảm 73% - 94% so với khi không che phủ, làm
giảm nhiệt độ bề mặt từ 3 - 70C vào lúc 15 giờ hằng ngày, giảm lượng bốc hơi
nước, giảm cỏ dại. Chỉ sau một vụ áp dụng che phủ đất làm tăng hàm lượng
các chất hữu cơ đặc biệt là lân và kali dễ tiêu tạo điều kiện cây trồng sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao mà chi phí cho che phủ khơng q
lớn. Khơng chỉ thế, vật liệu che phủ có vai trò rất quan trọng đối với đất dốc
như: Giữ ẩm, hạn chế rửa trôi, cỏ dại và sâu bệnh. Giữ ấm cho cây trồng trong
mùa đông. Giảm đầu tư cơng làm đất, làm cỏ, tưới nước, bón phân. Tạo điều
kiện cho hạt nảy mầm tốt, bộ rễ phát triển khoẻ, cây sinh trưởng tốt, cho năng
suất cao. Làm sạch nông sản, phát triển nông nghiệp bền vững. Đặc biệt, kỹ
thuật che phủ bằng màng nilon mới chỉ được thực hiện cách đây vài năm. Các
nghiên cứu về che phủ nilon ở các tỉnh miền Bắc cho thấy năng suất lạc tăng
từ 20% đến 40% so với đối chứng trồng không che phủ, số quả/cây và tỉ lệ hạt
chắc cũng tăng cao hơn [13].
Do đó, việc che phủ cho lạc trên đất dốc là hết sức cần thiết để đạt năng
suất, chất lượng nông sản đảm bảo phát triển bền vững.
19
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giống lạc L23
Nguồn gốc: Giống lạc L23 được Trung Tâm Nghiên Cứu Và Phát
Triển Đậu Đỗ (Viện cây lương thực và cây thực phẩm) chọn lọc ra từ tập
đoàn nhập nội từ năm 2001.
Một số đặc điểm của giống: Giống lạc L23 thuộc dạng hình thực vật
Spanish, thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khỏe, ra
hoa kết quả tập trung, kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và kháng héo
xanh vi khuẩn khá. Khối lượng 100 quả: 145 - 150 gam, khối lượng 100 hạt:
58 - 61 gam, tỉ lệ nhân 70 - 72 %, tiềm năng năng suất từ 50 - 55 tạ/ha. Quả
có gân rõ, vỏ hạt màu hồng. L23 là giống chịu thâm canh cao, thời gian sinh
trưởng 120 ngày (vụ Xuân) và 95 - 110 ngày (vụ Thu Đông). Chiều cao thân
chính từ 35 - 50cm. Giống L23 có thể trồng trên đất bãi ven sơng, đất đồi, ven
biển có thành phần cơ giới thích hợp là cát pha. Giống L23 cũng có thể trồng
được ở cả 2 thời vụ trong năm (vụ Xuân và vụ Thu Đông) [11].
- Vật liệu nghiên cứu:
Vật liệu che phủ: Nilon, rơm rạ, vật liệu tổng hợp (gồm cây phân xanh, cỏ
khô). Đã loại bỏ quả, hạt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trung tâm thực hành thực nghiệm, cơ sở I
trường Đại học Hùng Vương (độ dốc là 100).
- Thời gian nghiên cứu: Vụ thu đông năm 2011.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến sinh trưởng,
phát triển của giống lạc L23 trồng trên đất dốc trong vụ thu đông.
20
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tình hình
sâu bệnh hại và cỏ dại ngồi đồng ruộng ở các cơng thức.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến ẩm độ đất.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc trong vụ thu đông.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại vật liệu che phủ đến hiệu quả
kinh tế của giống lạc L23 trồng trên đất đồi dốc trong vụ thu đông.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hồn chỉnh với 4 công
thức, 3 lần nhắc lại:
CT1: Không che phủ (đối chứng)
CT2: Che phủ bằng rơm, rạ
CT3: Che phủ bằng nilon
CT4: Che phủ bằng vật liệu tổng hợp (cây phân xanh và cỏ khơ), đã
loại bỏ quả, hạt.
Sơ đồ thí nghiệm
Dải bảo vệ
Dải
bảo vệ
CT4
CT1
CT3
CT2
CT3
CT2
CT4
CT1
CT2
CT4
CT1
CT3
Dải
Bảo vệ
Dải bảo vệ
- Diện tích ơ thí nghiệm: 9m2
- Tổng diện tích thí nghiệm: 120m2
- Phương pháp đo đếm: Lấy mẫu ngẫu nhiên (mỗi công thức lấy ngẫu
nhiên 10 cây theo đường chéo 5 điểm) tiến hành đo đếm, quan sát các chỉ tiêu.
21
- Phương pháp thu thập số liệu: Kế thừa các tài liệu thứ cấp về điều
kiện tự nhiên (đất đai, môi trường).
3.4.1.2. Các chỉ tiêu theo dõi
+ Chỉ tiêu sinh trưởng phát triển
- Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày): Khi có 50% số cây trên ơ có
hai lá xoè ra trên mặt đất.
+ Tỷ lệ nảy mầm: Được tính theo cơng thức sau:
Tổng số cây mọc
x 100
Tỷ lệ nảy mầm (%) =
Tổng số hạt gieo
- Thời gian từ gieo đến ra hoa (ngày): Tính từ khi có 50% số cây xuất
hiện ít nhất một hoa nở ở bất kỳ đốt nào trên thân chính.
- Thời gian ra hoa: Tính từ khi có 50% số cây bắt đầu ra hoa đến khi có
50% số cây kết thúc ra hoa rộ.
- Thời gian sinh trưởng của cây lạc (ngày): Tính từ khi gieo đến khi thu
hoạch (khi có 80- 85% số quả có gân điển hình, mặt trong vỏ quả chuyển màu
đen, vỏ lụa hạt có màu đặc trưng của giống. Tầng lá giữa và gốc chuyển màu
vàng và rụng).
- Chiều cao cây (cm): Đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính.
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm): Theo dõi trên 10
cây mẫu, 7 ngày/lần từ khi gieo đến khi chiều cao cây không đổi.
- Số cành cấp 1: Đếm số cành mọc ra từ thân chính.
- Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1(cm): Bắt đầu đo khi cành
cấp 1 xuất hiện, theo dõi 7 ngày/lần, đến khi chiều dài không thay đổi.
- Số lượng nốt sần hữu hiệu (lấy mẫu đại diện mỗi ô 10 cây) xác định ở
3 thời kỳ: Thời kỳ bắt đầu ra hoa, thời kỳ ra hoa rộ, thời kỳ quả mẩy.
- Các yếu tố cấu thành năng suất
- Tỷ lệ quả 1 hạt/cây (%): Số quả có một hạt trên tổng số quả của 10
cây mẫu. Tính trung bình 1 cây.
22
- Tỷ lệ quả 2 hạt/cây (%): Số quả có 2 hạt trên tổng số quả của 10 cây
mẫu. Tính trung bình 1 cây.
- Tỷ lệ quả 3 hạt/cây (%): Số quả có 3 hạt trên tổng số quả của 10 cây
mẫu. Tính trung bình 1 cây.
- Tổng số quả/cây (quả): Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô, khi thu
hoạch. Tính trung bình 1 cây.
- Số quả chắc/cây (quả): Đếm tổng số quả chắc trên 10 cây mẫu/ô, khi
thu hoạch. Tính trung bình 1 cây.
- Khối lượng 100 quả (gam): Cân 3 mẫu (bỏ quả lép, non, chỉ lấy quả chắc),
mỗi mẫu 100 quả khô ở độ ẩm hạt khoảng 10%, lấy một chữ số sau dấu phẩy.
- Khối lượng 100 hạt (gam): cân 3 mẫu hạt nguyên vẹn, không bị sâu
bệnh được tách từ 3 mẫu quả trên. Mỗi mẫu 100 hạt ở ẩm độ hạt khoảng 10%
sau đó tính trung bình.
- Tỷ lệ hạt/quả (%): Khối lượng hạt khô/khối lượng quả khô của 100
quả mẫu x 100.
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = (số quả chắc/cây x số hạt/quả x khối
lượng 100hạt x mật độ)/1000. Quy ra tạ/ha.
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Năng suất quả khô thu được trên các ơ thí
nghiệm (thu riêng từng ơ, bỏ quả lép, non, chỉ lấy quả chắc) phơi khô tới độ
ẩm khoảng 10%. Cân khối lượng để tính ra năng suất trên ô, quy ra năng suất
tạ/ha.
- Đánh giá mức độ sâu bệnh hại chính
- Thời gian điều tra: 10 ngày điều tra một lần, điều tra tất cả các đối
tượng sâu, bệnh hại xuất hiện trong thí nghiệm.
- Sâu hại: Rệp muội đen, sâu khoang, sâu xám…
+ Rệp muội đen (% cây bị hại):
% cây bị hại = Tổng số cây bị hại/tổng số cây điều tra x 100
- Điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc
23
+ Sâu xám (% cây bị hại): % cây bị hại = Tổng số cây bị hại/tổng số
cây điều tra x 100. Điều tra tất cả các cây trên ô thí nghiệm.
- Bệnh hại: Héo xanh, đốm lá, gỉ sắt…
- Đánh giá tình hình cỏ dại:
+ Thành phần cỏ dại: Gồm các loại cỏ dại xuất hiện trên các công thức
trong mỗi lần nhắc lại.
+ Khối lượng cỏ dại tươi (tạ/ha): Cân khối lượng cỏ dại tươi ở từng lần
nhắc của các công thức khác nhau. Quy ra tạ/ha.
- Theo dõi 3 lần vào thời điểm: Làm cỏ, vun, trước thu hoạch.
- Chỉ tiêu ẩm độ đất
- Mẫu đất được lấy ở tầng 0 – 20cm.
- Độ ẩm đất được tính theo khối lượng đất khơ kiệt
W% = Pn/Pđk x 100
Trong đó:
W là độ ẩm đất (%)
Pn là hàm lượng nước chứa trong mẫu đất
Pn = Khối lượng đất lấy trên đồng ruộng – khối lượng đất
sấy khô kiệt (Pđk)
Pđk là khối lượng đất khô sấy ở 1050.
Thời gian sấy từ 6 – 8 giờ.
- Độ ẩm đất mỗi tháng lấy 1 lần vào những ngày khô ráo (sau mưa ít
nhất 7 ngày).
3.4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu được xử lý thống kê theo chương trình IRRISTAT và excel.
24