Tải bản đầy đủ (.pdf) (67 trang)

Đánh giá khả năng sinh sản của gà bố mẹ giống lohmann nuôi tại công ty japfa comfeed việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1018.9 KB, 67 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
----------

NGUYỄN THANH TÂM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ BỐ MẸ GIỐNG
LOHMANN NUÔI TẠI CÔNG TY JAPFA COMFEED VIỆT NAM

PHÚ THỌ - 2012


MỤC LỤC
PHẦN 1 ......................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 4
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................. 4
1.2. Mục đích của đề tài................................................................................ 5
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .............................................................. 5
1.3.1. Ý nghĩa khoa học................................................................................. 5
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 5
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................... 6
2.1. Sinh lý sinh sản gia cầm ........................................................................ 6
2.1.1. Cơ quan sinh dục cái........................................................................... 6
2.1.2. Cơ quan sinh dục đực........................................................................ 10
2.2. Một số đặc điểm về khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố
ảnh hưởng .................................................................................................. 12
2.2.1. Tuổi thành thục về tính ..................................................................... 12
2.2.2. Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở ....................................................... 12
2.2.2.1 Khả năng thụ tinh ............................................................................. 12


2.2.2.2 Tỷ lệ ấp nở........................................................................................ 13
2.2.3. Khả năng sản xuất trứng và các yếu tố ảnh hưởng .......................... 13
2.2.3.1 Khả năng sản xuất trứng .................................................................. 13
2.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng....................................................................... 15
2.3. Cơ sở sinh học của ấp trứng................................................................ 16

1


2.3.1. Sự phát triển của phôi trong thời gian ấp ......................................... 16
2.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố trong máy ấp tới sự phát triển của phôi . 18
(Nguồn: Parent Stock Performance Objectives (2007)[26])............................... 25
2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngồi nước........................................ 25
2.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước..................................................... 25
2.5.2. Tình hình nghiên cứu ngồi nước .................................................... 27
PHẦN 3 ....................................................................................................... 29
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......... 29
3.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 29
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ....................................................... 29
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ............................................... 29
3.3.1. Nội dung nghiên cứu......................................................................... 29
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................. 29
3.3.2.1 Bố trí thí nghiệm............................................................................... 29
Thí nghiệm tiến hành trên đàn gà bố mẹ Lohmann meat, từ tuần tuổi 25 đến
40, được lặp lại 3 lần, kết quả thí nghiệm là trung bình của 3 lần nuôi nhắc lại.
..................................................................................................................... 29
3.3.2.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu.................................................... 34
3.3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu ................................................................ 36
PHẦN 4 ....................................................................................................... 37
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .................................................................... 37

4.1. Khối lượng cơ thể của đàn gà bố mẹ Lohmann meat thí nghiệm ..... 37

2


4.2. Tuổi thành thục sinh dục của đàn gà bố mẹ Lohmann meat thí nghiệm
..................................................................................................................... 38
4.3. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống qua các tuần tuổi của
đàn gà bố mẹ Lohmann meat thí nghiệm.................................................. 40
4.4. Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai đoạn sinh sản của đàn gà bố mẹ
Lohmann meat thí nghiệm......................................................................... 44
4.5. Khối lượng trứng qua các tuần tuổi của gà bố mẹ Lohmann meat thí nghiệm
..................................................................................................................... 46
4.6. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà bố mẹ Lohmann meat thí nghiệm
..................................................................................................................... 48
PHẦN V ...................................................................................................... 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................ 56
5.1. Kết luận................................................................................................ 56
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 57

3


PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngành chăn ni gia
cầm hiện nay đã và đang phát triển mạnh, ngày càng có vị trí quan trọng trong
việc cung cấp thực phẩm cho con người. Ngành chăn nuôi gia cầm đứng thứ
hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta, chăn nuôi gà

chiếm 72-73% trong tổng đàn gia cầm hàng năm. Trong tổng sản lượng tiêu
thụ thịt hàng năm, thịt gà được sử dụng tới 20% -30%, ở các nước phát triển
là 30% hoặc cao hơn. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập, tiếp cận với những
thành tựu khoa học công nghệ mới và chuyển dịch cơ cấu theo hướng mở
rộng quy mô, gia tăng số lượng đàn gia cầm, chăn ni gà đang có tốc độ phát
triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đàn gia cầm nước ta đến năm 2000
là 196 triệu con, trong đó có 147 triệu gà, trên 70% là gà vườn giống nội và
một số giống ngoại nhập nội, gà công nghiệp khoảng 25-30% tổng đàn (Lê
Hồng Mận, 2002)[12]. Tổng đàn gia cầm nước ta năm 2008 là 253,51 triệu
con, sản lượng trứng là 4,94 tỷ quả. Tính đến ngày 01 tháng 04 năm 2010,
tổng đàn gia cầm nước ta là 277,437 triệu con, tăng 8,11% so với cùng kỳ
năm 2009. Trong đó gà là 200,832 triệu con, tăng 8,4%; số lượng thịt gia cầm
hơi giết bán là 330738,2 tấn, tăng 16,95%.
Tuy nhiên, trên tổng đàn gia cầm vẫn chủ yếu là những giống địa
phương nuôi trong nông hộ. Những giống địa phương tuy có chất lượng thịt
thơm ngon đáp ứng đựợc thị hiếu của người tiêu dùng nhưng năng suất không
cao; hiệu quả kinh tế chưa cao. Ngược lại, đa số những giống gia cầm nuôi
theo phương thức công nghiệp đạt năng suất cao nhưng chất lượng thịt không
đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trong cả nước. Chính vì vậy, vấn
đề đặt ra là việc lựa chọn giống nào phù hợp với điều kiện Việt Nam, cho ra

4


sản phẩm là con giống thương phẩm có chất lượng tốt, thành tích sản suất cao.
Đi theo hướng này, trong những năm gần đây, nước ta đã đưa nhiều
giống gà chuyên thịt mới vào nuôi như USA-300MPK, AA, Cobb, BE,
Rohode Island, Lohmann meat… với mục đích nâng cao hiệu quả trong chăn
ni, góp phần chuyển dịch cơ cấu nơng nghiệp, tạo sản phẩm hàng hóa với
chất lượng tốt, giá thành hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày

càng tăng của người tiêu dùng. Đặc biệt trong số những giống trên có giống
gà Lohmann meat nguồn gốc từ Đức được nhập nội năm 1995 đang được
nuôi với quy mô lớn tại Công ty Cổ phần Japfa Comfeed Việt Nam.
Nhằm đánh giá khả năng sinh sản và sớm khẳng định kết quả chăn nuôi
đáp ứng nhu cầu con giống của giống gà này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá khả năng sinh sản của gà bố mẹ giống Lohmann nuôi tại công
ty Japfa Comfeed Việt Nam”.
1.2. Mục đích của đề tài
Xác định được khả năng sinh sản của đàn gà bố mẹ giống Lohmann
meat trong điều kiện chăn nuôi của công ty Japfa Comfeed Việt Nam.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu góp phần hồn thiện thêm quy trình chăm sóc và
sản xuất gà giống, là cơ sở khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Giúp cho người chăn ni có sự lựa chọn giống gà nuôi phù hợp, mang
lại hiệu quả kinh tế cao.

5


PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Sinh lý sinh sản gia cầm
Sinh sản là một quá trình phức tạp ở các lồi động vật, nó phụ thuộc
vào chức năng chính xác của các q trình sinh hóa học với sự tham gia của
nhiều cơ quan trong cơ thể. Hiệu quả sinh sản là một chỉ tiêu quan trọng nhất
trong chăn nuôi động vật. Lợi nhuận thu được trong chăn ni chính là số
lượng các cá thể con trên một mẹ giống. Sự phát triển hay hủy diệt của loài
phụ thuộc vào khả năng tự bảo tồn và tăng số lượng của bản thân lồi đó.

Thành cơng lớn nhất trong việc tự bảo tồn và phát triển nòi giống của gia cầm
là khả năng đẻ trứng và ấp trứng của chúng.
2.1.1. Cơ quan sinh dục cái
 Buồng trứng
Buồng trứng là nơi hình thành lịng đỏ. Trong thời kì đầu ấp trứng, cả 2
buồng trứng phải và trái cùng hình thành và phát triển. Từ ngày ấp thứ 5 – 7,
buồng trứng trái đã phát triển lớn hơn buồng trứng phải. Ở gia cầm trưởng
thành chỉ có buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển và hoạt động chức
năng, cịn buồng trứng phải và ống dẫn trứng phải khơng phát triển. Gia cầm
khi chưa đẻ, buồng trứng có hình bầu dục bốn góc. Buồng trứng nằm ở thắt
lưng của xoang bụng, phía trước thận trái. Buồng trứng của gà có khoảng 586
– 3605 tế bào trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Khối lượng buồng
trứng thay đổi theo trạng thái chức năng (tuổi): gà con 1 ngày tuổi là 0,03g ; 3
tháng tuổi 0,31g ; 5 tháng tuổi 6,55g ; sau khi đẻ quả trứng đầu tiên 38g.
 Ống dẫn trứng: ống dẫn trứng gà đẻ dài 10-20cm, đường kính 0,30,8mm. Trong khi đẻ trứng với cường độ cao có thể dài 40-60cm, đường kính
1,0cm.Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lí, ống dẫn trứng chia thành

6


5 phần: loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo.
Loa kèn là phần đầu tiên của ống dẫn trứng, có hình ơ van với đường
kính 8 – 9cm nằm ở trong xoang bụng, gần buồng trứng. Thành của loa kèn
tương đối dày và hình thành miệng loa như môi. Miệng loa được nối với
thành bụng bởi các dây chằng cơ, nhờ đó mà loa kèn có thể chuyển động về
phía trước hoặc sau để hứng trứng. Sau đoạn phình to của loa kèn đến đoạn co
hẹp hơn dài 2 – 4cm gọi là cổ loa kèn.
Phần tiết lịng trắng có thành khá dày và dài khoảng 30 – 35cm, có
khoảng 15 – 25 nếp gấp dọc, cao 4,5mm, dày 2,5mm. Ở phần này có rất nhiều
tuyến để tiết ra lòng trắng. Ở phần cuối hơi hẹp lại, phân cách với phần eo và

khơng có tuyến.
Phần eo có đường kính nhỏ và dài 8cm, khơng có tuyến, có các cơ vịng
dày. Giữa phần eo và tử cung khơng có ranh giới rõ ràng.
Tử cung có hình bao túi, dài 8 – 9cm. Thành tử cung có nhiều cơ bao dọc
và cơ vòng dày. Màng nhầy tử cung tạo thành các nếp gấp, vì thế khi trứng đến
tử cung có thể rộng ra. Giữa tử cung và âm đạo có một vịng cơ thắt.
Âm đạo hơi co hẹp lại, cơ vịng của nó rất phát triển. Phía trong âm đạo
có các nếp gấp như những gờ thấp, nhỏ bởi màng nhầy. Phần âm đạo tham gia
hồn chỉnh hình thành trứng và thơng vào lỗ huyệt.
 Sự hình thành trứng trong ống dẫn trứng
Tế bào trứng tách khỏi buồng trứng có dạng hình cầu màu vàng,
chuyển vào túi lịng đỏ hoặc trực tiếp vào loa kèn. Nhờ sự co bóp của cơ bụng
hoặc cơ thắt lưng, loa kèn bao lấy tế bào trứng (lòng đỏ). Lòng đỏ dừng lại ở
loa kèn khoảng 20 phút. Khi lòng đỏ đi dần xuống phần dưới của loa kèn thì
trên bề mặt có gắn dây chằng lịng đỏ nhưng chưa hồn chỉnh. Dây chằng
lịng đỏ được hồn chỉnh dần, đến tận tử cung mới kết thúc.

7


Sau đó lịng đỏ chuyển tiếp tới phần tiết lịng trắng. Thời gian ở đây
chừng 2,5 – 3 giờ. Tốc độ chuyển khoảng 2 – 2,3mm/phút. Do chuyển động
của lòng đỏ theo chiều quay xoắn trong ống dẫn trứng nên dây chằng lịng đỏ
có dạng xoắn rất lạ. Đồng thời hình thành mạng lưới như khoang mạng nhện
bằng các sợi dây rất mảnh, nhỏ, dịch lòng trắng được chứa đầy giữa các
khung dây đó. Như vậy phía ngồi lịng đỏ được bao phủ bởi một lớp lòng
trắng đặc (gọi là lớp lịng trắng đặc) có tác dụng cố định hình dạng của lòng
đỏ. Phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng tham gia bắt đầu hình thành lớp
lịng trắng lỗng. Lớp này đến phần eo thì hồn chỉnh cơ bản. Lớp ngồi lịng
trắng lỗng cũng bắt đầu hình thành từ phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng,

nhưng đến phần eo mới đầy đủ.
Trứng chuyển từ phần tiết lòng trắng xuống phần eo với tốc độ quay
chuyển chậm hơn (1,4mm/phút). Ở phần eo tiết ra dịch dạng keo có tác dụng
tạo thành những sợi keo rất nhỏ gắn chặt các phần với nhau. Trứng di chuyển
qua phần tiết lòng trắng chỉ có 40% – 60% lịng trắng được hình thành.
Trong quá trình vận chuyển quay các sợi keo xoắn lại dần tạo thành dây
chằng lòng đỏ. Ở phần eo tiết ra lòng trắng dạng hạt kiểu keratin. Các hạt này
thấm nước, phồng lên, loãng ra và tham gia trên bề mặt của lòng trắng để tạo
thành màng trong dưới vỏ cứng gồm các sợi rất nhỏ. Sau đó trứng dừng lại ở
phần eo, tích tụ các chất tiết để tạo thành màng ngoài dưới vỏ cứng. Khi trứng
lại bắt đầu chuyển động thì các tuyến hịa lỗng dịch tiết và tạo thành màng
ngoài dưới vỏ cứng. Màng ngoài dưới vỏ cứng khác màng trong dưới vỏ cứng
là nó gồm các sợi lịng trắng to hơn. Trong khi hình thành màng dưới vỏ cứng
thì ở phần eo này cũng xảy ra đồng thời q trình tích lũy lớp ngồi lịng
trắng lỗng. Lớp ngồi lịng trắng lỗng bắt đầu tích lũy từ phần tiết lòng
trắng của ống dẫn trứng. Trứng qua phần eo mất chừng 70 phút.
Ở phần tử cung, các tuyến tiết ra dịch tiết chứa nhiều nước và chất khoáng.

8


Nhờ độ thẩm thấu cao của màng dưới vỏ cứng nên nước và muối khoáng
ngấm vào trong trứng làm cho lịng trứng lỗng ra, các màng dãn căng ra.
Phía ngồi màng dưới vỏ cứng bắt đầu tích lũy cứng. Mới đầu chỉ là sự lắng
đọng của những hạt rất nhỏ trên bề mặt của màng dưới vỏ cứng, sau đó tăng
lên trong quá trình hấp thu muối canxi. Muối canxi lắng đọng được hịa lẫn
với một số ít lịng trắng tạo nên những núm gai rất vững. Những núm gai vỏ
này gắn chặt với nhau nhưng giữa chũng có khoảng trống là các lỗ – đó là các
lỗ khí của vỏ trứng, có tác dụng trong q trình trao đổi khí.
Trên bề mặt lớp vỏ cứng có chứa protein dạng keo tiết ra từ tuyến phần

đầu tử cung. Giữa các sợi keo hình thành cũng chứa muối canxi. Như vậy lớp
thứ 2 của vỏ cứng được hình thành, lớp này chiếm 2/3 bề dày của vỏ cứng.
Nhờ sợi khung của lớp thứ 2 nên các khe lỗ khí vẫn được thơng ra. Mật độ lỗ
khí phân bố khơng đều, ở đầu to nhiều hơn đầu nhỏ. Trứng qua tử cung mất
19 – 20 giờ. Ở phần này, mỗi vỏ trứng hình thành phải mất 5g cacbonat canxi
(CaCO3). Các mơ tử cung khơng chứa canxi dự trữ, vì vậy tồn bộ canxi huy
động từ máu nên trong máu gà đẻ, lượng canxi nhiều hơn gà không đẻ tới 2 –
3 lần.Trong q trình hình thành vỏ cứng, sự tích máu ở tử cung tăng lên.
Canxi trong máu ở dạng ion dễ hịa tan (bicacbonat canxi). Có nhiều men ảnh
hưởng tới sự tích tụ muối canxi ở vỏ cứng.
Sau khi hình thành vỏ cứng, các sắc tố có dạng vân vịng ngấm vào
vỏ tạo thành màu xác định theo giống, loài. Màu vỏ trứng rất khác nhau,
nói chung vỏ trứng gia cầm có màu trắng hồng, nâu phớt (nhạt), xám...
Chủ yếu các sắc tố được cung cấp từ máu tới tuyến tử cung và hòa lẫn với
dịch tiết của tuyến.
Ở tử cung cịn tiến hành tạo thành một lớp màng ngồi vỏ cứng là do
các tế bào ở biểu mô tử cung tiết ra. Thành phần hóa học của nó gần giống
với màng dưới vỏ cứng. Màng ngoài vỏ cứng của gà không màu, rất mỏng và
sáng ánh. Trứng qua âm đạo rất nhanh và ra ngoài.
9


Q trình hình thành trứng trong tồn bộ các phần của ống dẫn trứng
mất 23,5 – 24 giờ.
 Đẻ trứng: quá trình đẻ trứng được thực hiện nhờ sự co bóp cơ tử
cung và âm đạo. Âm đạo là phần cuối cùng của ống dẫn trứng, có chiều
dài bằng chiều dài của trứng. Thành âm đạo có nhiều lớp cơ lớn. Cơ âm
đạo co bóp đẩy trứng từ tử cung ra âm đạo và lỗ huyệt rồi ra ngoài. Phần
lớn trứng đẻ đầu nhỏ ra trước. Các giống gia cầm của ta thường đẻ theo
lứa cứ 7 – 20 trứng lại ấp. Các giống gà tốt, đặc biệt các giống gà chuyên

trứng đẻ liên tục tới 300 trứng/ năm.
Sản lượng trứng phụ thuộc vào loài, tuổi, giống, trạng thái sinh lý, mức
độ ăn, nuôi dưỡng… Gà mái đẻ 300 trứng/năm thì sử dụng của cơ thể : 1,4kg
protein, 1,2kg mỡ, 1,2kg chất khoáng, 10 – 11kg nước.
2.1.2. Cơ quan sinh dục đực
 Tinh hồn
Có 2 tinh hồn, tinh hồn trái phát triển hơn tinh hồn phải, tinh hồn
có hình ơ van và nằm trong xoang bụng, phía trên thùy trước của thận, bên
cạnh túi khí bụng. Trọng lượng tinh hồn phụ thuộc vào tuổi và trạng thái
sinh lý. Lúc còn non, tinh hồn có màu hồng nhạt, lúc hoạt tính sinh dục cao
tinh hồn có màu trắng. Tinh hồn được phủ bằng màng mỏng mỡ, ở trung
mơ khơng có vách ngăn mơ liên kết.
Trong tinh hồn có nhiều ống cong nhỏ nối với nhau bằng mô liên kết ở
các đám rối khác nhau. Mỗi tinh hồn đều có phần phụ tinh hoàn (gọi là mào
tinh). Phần phụ tinh hoàn và tinh hoàn nằm trong một bao chung . Phần phụ
tinh hồn có màu vàng và thấy rất rõ khi hoạt tính sinh dục mạnh. Nó cũng
chứa nhiều ống nhỏ, các ống nhỏ này được nối với các ống nhỏ của tinh hoàn
bằng ống dẫn nằm trên bề mặt ngoài của tinh hoàn.

10


Ống dẫn tinh có dạng xoắn cong, bắt đầu từ phần phụ tinh hồn tới
lỗ huyệt thì mở rộng hơn. Ống dẫn tinh hoàn nằm dọc cùng ống dẫn
nước tiểu và đối xứng qua trục sống.Ở gà, gà tây và gà phi khơng có cơ
quan giao cấu (dương vật).
 Sự tạo thành tinh trùng
Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra như ở gia súc. Tế bào sơ cấp tức
là tinh nguyên bào bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất và
phát triển. Sau đó thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng.

Kích thước tinh trùng phụ thuộc vào tuổi, hoạt tính sinh dục, mùa vụ
trong năm, thức ăn, ni dưỡng… Q trình hình thành tinh trùng mạnh nhất
ở gà vào tháng 2 đến tháng 6. Trong thời gian hoạt tính sinh dục mạnh, trọng
lượng tinh hoàn ở một số loài gia cầm tăng lên gấp 20 lần so với trạng thái
tĩnh. Gà trống có thể giao phối từ 14 – 30 lần trong một ngày.
Lượng tinh dịch tiết ra trong mỗi lần giao phối của gà là 0,4 – 1,6ml,
của ngỗng là 0,1 – 0,2ml. Tinh dịch màu trắng lờ hoặc xám, không mùi.
Trong một ml tinh dịch của gà trống Loghorn chứa 1,4 – 2,33 triệu tinh trùng,
còn của gà trống Newhamshire 1,36 – 2,7.
Tinh trùng trong ống dẫn trứng có khả năng thụ tinh tới 20 – 30 ngày.
Suốt 2 giờ đầu sau khi giao phối tinh trùng hoàn toàn ở âm đạo. Sau 5 giờ tinh
trùng tới tử cung. Qua một ngày tinh trùng tới phần eo, qua 4 – 5 ngày tinh
trùng tới phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng nhưng số lượng rất ít. Qua 30
ngày thì số lượng giảm xuống nhiều, qua 75 ngày thì trên tồn bộ các phần
của ống dẫn trứng chỉ cịn 1 – 5 tinh trùng. Qua 180 ngày sau khi giao phối thì
khơng cịn tinh trùng nữa.

11


2.2. Một số đặc điểm về khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố
ảnh hưởng
2.2.1. Tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính của gia cầm được tính từ khi con vật bắt đầu có
phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Tuổi thành thục về tính được xác
định qua các biểu hiện như bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn
chỉnh, con cái bắt đầu có hiện tượng rụng trứng và con đực có hiện tượng sinh
tinh. Ở gia cầm, tuổi thành thục về tính được tính từ khi gia cầm mái đẻ quả
trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc trên đàn quần thể là lúc tỷ lệ đẻ đạt
5%. Nói chung tuổi thành thục sinh dục của gà trong khoảng 150 – 190 ngày.

Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hướng của giống và môi trường. Các
giống gia cầm khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau. Có giống
gia cầm thành thục về tính rất muộn: đến tận 200 ngày hoặc có khi lâu hơn
nữa, do vậy chu kỳ đẻ trứng cũng ngắn hơn.
Trong chăn ni người ta rất chú trọng đến chương trình chiếu sáng.
Các nhà chăn ni thường áp dụng chương trình chiếu sáng giảm dần trong
giai đoạn nuôi hậu bị. Trước thời gian đẻ vài ngày, người ta thường tăng thời
gian chiếu sáng để kích thích phát dục và sau đó chiếu sáng theo quy trình
chăn ni gia cầm đẻ để ánh sáng tăng dần tới 15 – 16 giờ chiếu sáng/ngày.
2.2.2. Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở
2.2.2.1 Khả năng thụ tinh
Sự thụ tinh là một quá trình, trong đó tinh trùng và trứng hợp nhất lại
thành một hợp tử. Cơ chế thụ tinh được thực hiện ngay tại loa kèn. Tế bào
trứng có khả năng thụ tinh 15 đến 20 phút sau khi rụng. Nếu trong thời gian
đó trứng khơng được gặp tinh trùng thì nó sẽ mất khả năng thụ tinh.
Sự thụ tinh chính là một tính trạng dùng để đánh giá sức sinh sản của đời
12


bố, mẹ. Tuy nhiên, ở gia cầm nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tỷ lệ thụ tinh và
tỷ lệ nở cao nhất thường vào những năm đẻ đầu tiên. Tỷ lệ thụ tinh cũng phụ
thuộc vào tỷ lệ trống/ mái.
Tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vào yếu tố dinh dưỡng, sức khỏe của đàn
giống. Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh; mật độ nuôi q
đơng cũng có ảnh hưởng đến hoạt động giao phối của con đực. Đặc biệt
phương thức chăn ni cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ thụ tinh: nuôi
chăn thả có tỷ lệ thụ tinh cao.Tỷ lệ phơi là một tính trạng quyết định số gia
cầm giống nở ra trên một gia cầm mái.
2.2.2.2 Tỷ lệ ấp nở
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số con con

nở ra so với tổng số trứng vào ấp. Tỷ lệ nở cao có ý nghĩa kinh tế lớn. Nếu kết
quả ấp nở kém thì tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng sau này cao, chất
lượng con giống không được đảm bảo.
Tỷ lệ ấp nở chịu tác động của nhiều yếu tố: di truyền và môi trường.
2.2.3. Khả năng sản xuất trứng và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.3.1 Khả năng sản xuất trứng
 Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số lượng trứng của gia cầm mái đẻ ra trong một chu
kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định có thể tính theo tháng hoặc năm. Sản
lượng trứng của gà là kết quả tác động của rất nhiều gen lên một số lượng lớn
các q trình sinh hóa học.
Khi điều kiện mơi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng),
rất nhiều gen tham gia điều khiển tất cả các quá trình liên quan đến sản xuất
trứng hoạt động, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền
của chúng. Sản lượng trứng được tính theo năm sinh học 365 ngày kể từ ngày

13


đẻ quả trứng đầu tiên. Nhiều hãng gia cầm khác ở Mỹ và Đức thì tính sản
lượng trứng trong vịng 500 ngày đẻ. Hiện nay các hãng gia cầm lớn trên thế
giới chỉ tính sản lượng trứng gà bố mẹ hướng thịt đến 9 tháng đẻ (270 ngày
đẻ) và gà hướng trứng thương phẩm đến 18 tháng đẻ (540 ngày đẻ). Như vậy,
đánh giá sản lượng trứng theo tỷ lệ phần trăm hoặc số lượng trứng gà đẻ trong
một thời gian nhất định là phương pháp thông dụng.
 Khối lượng trứng
Khối lượng trứng của gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng chịu ảnh
hưởng của nhiều gen, đặc biệt là gen liên kết với giới tính. Khối lượng trứng
của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu sau đó chậm lại và ổn định khi
tuổi gia cầm càng cao

 Chất lượng trứng
- Hình thái của trứng: trứng gia cầm thường có hình oval, hoặc hình e-lip
một đầu lớn và một đầu nhỏ. Hình dạng trứng thường mang đặc điểm của từng
cá thể. Chỉ số hình thái của trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển, đóng
gói. Trứng càng dài càng dễ vỡ. Chỉ số hình thái có ý nghĩa quan trọng khơng
chỉ trong việc đóng gói, vận chuyển mà còn liên quan đến tỷ lệ ấp nở của trứng
gia cầm, những trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở kém.
- Độ dày vỏ trứng: vỏ trứng có tác dụng làm lớp vỏ bảo vệ bên ngoài và
lớp vỏ này được chia làm hai tầng: tầng trên cùng xốp, tầng dưới cứng và có
rất nhiều lỗ khí. Lỗ khí có tác dụng giúp cho hoạt động hơ hấp của phơi.
Chiều rộng của mỗi lỗ khí biến động từ 6 – 42 micro và trung bình là 20
micro. Độ rộng của của các lỗ khí một mặt ảnh hưởng đến độ chịu lực của vỏ
trứng (lỗ khí nhỏ thì độ chịu lực lớn và ngược lại), mặt khác chúng cũng ảnh
hưởng đến tỷ lệ nở (lỗ khí to từ 36 – 42 micro thì sự bốc hơi nước nhanh, làm
giảm khả năng hô hấp của phôi). Độ dày vỏ có tương quan dương đối với độ
bền vỏ và có ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở. Thường những trứng có vỏ quá dày

14


hoặc quá mỏng đều có tỷ lệ nở kém. Vỏ trứng quá dày hạn chế sự bốc hơi
nước, cản trở q trình phát triển của phơi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở.
Nếu vỏ trứng quá mỏng làm bay hơi nước nhanh, khối lượng trứng giảm
nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, nở yếu và tỷ lệ chết cao. Độ dày lý tưởng của vỏ
trứng là 0,26 – 0,34 mm.
- Chất lượng lòng đỏ: tỷ lệ lòng đỏ chiếm 30 – 33% khối lượng trứng và
có đường kính khoảng 30 – 35mm. Để đánh giá chất lượng lòng đỏ người ta
dùng chỉ số lòng đỏ. Chỉ số này được xác định bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng
đỏ so với đường kính của nó. Cùng với chỉ tiêu về chỉ số lịng đỏ thì màu sắc
lịng đỏ cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng gia cầm.

Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thức ăn. Màu vàng
của lòng đỏ là do hỗn hợp của lipit là xantophil tạo nên. Hàm lượng xantophil
phụ thuộc vào khẩu phần ăn. Các loại xantophil khác nhau tạo nên các màu
vàng khác nhau: lutein cho màu vàng chanh, zeaxanthin cho màu vàng đậm.
- Đơn vị Haugh: xác định thông qua khối lượng trứng và chiều cao lịng
trắng đặc. Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt, thực tế những
quả trứng chênh lệch nhau 8 đơn vị Haugh thì coi như có chất lượng tương tự.
2.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng
- Giống, dòng ảnh hưởng tới sức sản xuất trứng một cách trực tiếp, các
giống, dịng khác nhau thì sức sản xuất trứng khác nhau.
- Tuổi: sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ 2 giảm
15 – 20% so với năm thứ nhất.
- Tuổi thành thục sinh dục.
- Nhiệt độ môi trường: nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải
huy động năng lượng chống rét, và trên giới hạn cao – thải nhiệt ngẫu nhiên,
do đó đều làm ảnh hưởng tới sức đẻ trứng.

15


- Ánh sáng: trong tất cả các yếu tố bên ngồi ảnh hưởng đến sản lượng
trứng thì yếu tố thời gian chiếu sáng đóng một vai trị quan trọng, ảnh hưởng
tới bộ máy sinh dục thông qua cơ chế sau: ánh sáng tác động lên mắt, thông
qua dây thần kinh lên não từ đó tác động lên vùng dưới đồi giải phóng LH,
đồng thời kích thích sự giải phóng Gonando tropin kích thích sự phát triển của
nang trứng và điều tiết quá trình rụng trứng.
2.3. Cơ sở sinh học của ấp trứng
2.3.1. Sự phát triển của phôi trong thời gian ấp
Sau khi trứng được đẻ ra, nếu nhiệt độ thấp hơn 270C thì sự phát triển của
phơi ngừng ngay lập tức. Tăng nhiệt độ trong khi ấp thì phơi tiếp tục phát triển.

Sự hình thành thêm 4 màng phơi để cung cấp oxy, dinh dưỡng, nước và bảo vệ
chống sự mất nước, chống sóc được tạo nên ngay từ giai đoạn đầu của ấp.
- Màng ối: chống sóc và mất nước
- Màng đệm: có chức năng hơ hấp và hấp thu canxi từ lòng trắng và một
phần từ vỏ trứng.
- Túi lòng đỏ: cung cấp dinh dưỡng và định vị phôi.
- Màng niệu: túi chứa chất thải (acid uric).
Ngày 1: Sự phát triển rất phức tạp của phôi trong 24 giờ đầu tiên đã
được hình thành trong ống dẫn trứng của gà mái, bằng mắt thường ta đã có
thể nhìn thấy một vòng tròn nhỏ trên màng lòng đỏ (nếu trứng khơng được
thụ tinh, đĩa phơi có màu trắng và hình trịn bị biến dạng méo mó).
Sau 25 giờ, hệ thống tuần hoàn mạch máu bắt đầu phát triển.
Ngày 2: Mạch máu bắt đầu xuất hiện trên túi lịng đỏ
Hình thành màng ối
Tim bắt đầu đập
16


Ngày 3: Màng ối bao quanh tồn bộ phơi
Mũi, cánh, chân và màng niệu xuất hiện
Ngày 4: Mắt hình thành sắc tố
Ngày 5: Diều và cơ quan sinh dục hình thành, tính biệt có thể xác định
bằng kính hiển vi.
Ngày 6: Hình thành lơng vũ, mỏ, phần đầu cứng của mỏ (răng cứng),
phơi có sự chuyển động.
Ngày 7: Bụng phát triển to ra vì các cơ quan phát triển.
Ngày 8: Phơi trở nên nặng và chìm xuống phía dưới.
Ngày 9: Mỏ mở có thể nhìn thấy, phơi bắt đầu nhìn giống như gà con.
Ngày 10: Mỏ trở nên cứng hơn, lơng vũ có thể nhìn bằng mắt thường,
từ ngày thứ 10, phôi thay đổi căn bản, mỏ há ra để cho dòng các chất dinh

dưỡng từ màng ối đi vào ống tiêu hóa.
Ngày 11-12: Ngón chân phát triển, lơng tơ hình thành.
Ngày 13-14: Đầu phơi quay về phía đầu to của quả trứng.
Ngày 15: Phần cuối của ruột non được hình thành.
Ngày 16: Lịng trắng hầu như đã tiêu biến hết, lịng đỏ là nguồn cung
cấp chính, móng và mỏ đã cứng.
Ngày 17: Mỏ hướng về phía buồng khí, dịch màng niệu giảm.
Ngày 18: Sự phát triển hầu như hoàn chỉnh.
Ngày 19: Túi lòng đỏ được lộn dần vào xoang bụng, phơi chốn tồn
bộ trứng (trừ buồng khí) và nằm dọc theo trứng: đầu dấu dưới cánh phải, chân
ép vào bụng, màng ối ép sát phôi do đã hết dịch nước ối.

17


Ngày 20: Túi lòng đỏ được lộn vào xoang bụng hồn tồn, mổ vỏ trong
(mỏ phơi thai trọc thủng lớp màng ngăn với buồng khí). Bắt đầu chuyển sang
hơ hấp bằng phổi. Màng niệu – đệm dừng hản chức năng và khô (máu được
phôi thai hấp thu lại). Gà con mổ vỏ trứng (gạo vỏ hay mổ vỏ ngoài).
Ngày 21: Gà nở ra, sau khi vỏ trứng vỡ, lông, lỗ rốn khơ (khoảng 6 – 9 giờ).
Một số vị trí của phôi trong các ngày ấp
Ngày 1 – 4: phôi cong gập, đầu và các phần còn lại của thân sát cận nhau.
Ngày 5 – 9: nổi trên màng ối.
Ngày 9: nằm gần đầu to của trứng, bằng phẳng trên túi lòng đỏ.
Ngày 13 – 14: quay dọc theo trục của trứng.
Ngày 15: đầu cong lên
Ngày 17: đầu quay về phía phải, chân tỳ vào vỏ cứng.
Ngày 19: túi lịng đỏ được hấp thu, gà hướng về phía phải.
Ngày 20: mổ vỏ trong, hô hấp bằng phổi thay cho hô hấp từ màng đệm.
Sự chết phơi trong q trình ấp bình thường theo quy luật sau:

0 – 4 ngày: chết phôi giai đoạn đầu 30%
5 – 17 ngày: chết phôi giai đoạn giữa 10%
18 – 21 ngày: chết phôi giai đoạn giữa 60%
2.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố trong máy ấp tới sự phát triển của phôi
 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Bình thường trong máy ấp điện, nhiệt độ dao động khoảng 37 –
380C.Trong nửa đầu của quá trình ấp trứng. Khi nhiệt độ tăng (trong mức giới
hạn) thì sức lớn của phôi cũng tăng, phôi phát triển nhanh, khi đó nước từ
lịng trắng mang theo các chất dinh dưỡng chuyển vào túi lòng đỏ nhanh hơn
18


(Bùi Hữu Đồn, 2009)[6]. Lịng đỏ lỗng ra nhanh, phía dưới phơi huyết
tương hình thành sớm, mạch máu lịng đỏ hình thành sớm, vì vậy dinh dưỡng
và hơ hấp của phôi được đảm bảo, phôi lớn nhanh và nặng. Màng niệu nang,
mạng mạch máu và các cơ khép kín đầu nhọn đúng thời gian. Ngược lại nếu
thời gian này, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ quy định sẽ làm cho phôi phát triển
chậm, phôi nhẹ, các màng không thể khép kín đúng thời gian quy định. Nếu
phơi bị ảnh hưởng xấu quá nặng nề ở giai đoạn này sẽ không thể bù lại hồn
tồn trong các giai đoạn cịn lại. Do đó gia cầm nở ra chậm, chất lượng kém.
Ở nửa sau của quá trình ấp trứng (sau khi màng niệu nang khép kín
phía trong đầu nhọn) thì sự phát triển của phôi hay ảnh hưởng của nhiệt độ
lại phụ thuộc vào sự phát triển của phôi trong nửa thời gian đầu. Nếu phôi
đã phát triển tốt, màng niệu nang khép đúng lúc thì tăng nhiệt độ trong thời
gian cuối nhất là 5 – 6 ngày cuối cùng sẽ làm giảm khả năng hấp thu lịng
đỏ, lịng trắng của phơi, do đó phơi nhỏ. Nhiêt độ tăng làm cho phơi khơng
kịp chuyển hết túi lịng đỏ vào trong khoang bụng mà đã nở, vì vậy gia cầm
nở sớm nhưng vẫn hở rốn. Ngược lại nếu nhiệt độ thấp hơn sẽ kích thích
q trình trao đổi chất, phơi mau lớn, tận dụng được hết lòng trắng, đưa
được hết lòng đỏ vào bụng, gia cầm nở ra đúng thời hạn, to khỏe, rốn khép

kín (Bùi Hữu Đồn, 2009)[6].
Nếu nửa đầu q trình ấp trứng, phôi của gia cầm phát triển chậm do
nhiệt độ thấp thì giai đoạn sau tăng nhiệt độ (trong giới hạn cho phép) sẽ có lợi
cho sự phát triển của phôi thai. Nếu nhiệt độ thấp sẽ làm giảm q trình tận
dụng lịng trắng lịng đỏ của phơi thai, phơi nhỏ, kéo dài q trình ấp. Điều rất
quan trọng là phải giữ nhiệt độ trong máy ấp luôn ổn định, đồng đều nhiệt ở tất
cả các vùng trong máy ấp. Ở các thời gian khác nhau của quá trình ấp mà mức
nhiệt độ thấp hơn mức dưới, hoặc cao hơn mức cao có thể ảnh hưởng nhiều
hoặc ít đến sự phát triển của phơi. Nhưng nhìn chung có thể nói ấp trứng nhạy

19


cảm với nhiệt độ cao hơn mức hơn là nhiệt độ thấp hơn mức, điều này là khá tự
nhiên vì gia cầm mái thường rời tổ vài lần trong ngày để ăn uống.
 Ảnh hưởng của nhiệt độ cao
Nhiệt độ cao hơn 380C là vượt quá giới hạn. Nhiệt độ lớn hơn 410C
phôi sẽ chết đồng loạt. Nhiệt độ lớn hơn 380C và nhỏ hơn 400C phôi sẽ không
chết ngay nhưng sẽ thể hiện các dấu hiệu sau: nếu nhiệt độ cao trong giai
đoạn đầu, nhiều trứng chết “vòng máu”, vịng máu to, rộng, đậm màu, phơi
chết hay dính vỏ. Nếu nhiệt độ cao ở giai đoạn giữa, nhiều phôi chết, mạch
máu ở màng niệu nang căng ứ, não, gan, thận đầy máu, phơi nhỏ một số cịn
thấy nhiều lịng trắng, hầu như trứng đều đỏ thẫm. Nếu nhiệt độ cao ở giai
đoạn cuối, gia cầm mổ vỏ sớm, vết mổ vỏ nhỏ, mảnh vỡ ra nhỏ. Một số mổ
vỏ ở phía đầu nhọn, gia cầm nở ra hiếu động, lông ngắn và bẩn, bụng to, cứng
và trễ. Nhiều gia cầm hở rốn kèm theo các vệt máu khô. Một số lịng đỏ
khơng lộn vào xoang bụng.
Nhìn chung nhiệt độ cao trong giai đoạn ấp sẽ dẫn tới gia cầm non nở
ra quá sớm, con nhỏ, một số rốn có cục, vỏ trứng dính ở gia cầm non, mắt
nhắm, cong chân.

 Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp
Nếu nhiệt độ thấp ở giai đoạn đầu: trao đổi chất kém, phôi phát triển
chậm, hệ thống màng và mạch máu chậm phát triển, khi soi lần đầu thấy phôi
nhỏ nằm sát vỏ trứng, ít di động. Nếu nhiệt độ thấp ở giai đoạn giữa, màng
niệu nang chậm khép kín ở phía đầu nhọn (chậm 1 – 3 ngày). Nếu thiếu nhiệt
ở cả giai đoạn, khi soi trứng chuyển sang máy nở thấy đầu nhọn quả trứng vẫn
trắng do lòng trắng vẫn chưa được chuyển hóa hết, do vậy thời gian nở kéo
dài, tỷ lệ nở kém, gia cầm nở muộn, vết mổ vỏ nằm sát phía đầu lớn, vỏ vỡ ra
thành từng mảng lớn. Nhiều gia cầm phải nở rất khó khăn và nằm lại khá lâu

20


trong đó khơng ra được. Gia cầm nở ra rốn khơng khép kín, túi lịng đỏ nhỏ,
bụng mềm nhưng rất yếu, chậm chạp, đứng khó khăn.
 Ảnh hưởng của ẩm độ: 2 ảnh hưởng
 Điều hòa sự bay hơi nước từ trứng (nhất là trước khi màng niệu đạo
khép kín phía đầu nhọn). Phần lớn trong thời gian ấp, độ bay hợi nước từ
trứng phụ thuộc vào ẩm độ tương đối của máy. Ẩm độ trong máy ấp cao thì
sự bay hơi nước từ trứng giảm và ngược lại. Khi màng niệu nang khép kín
phía trong quả trứng thì sự bốc hơi nước từ trứng giảm dần sự phụ thuộc vào
ẩm độ máy ấp. Về cuối quá trình ấp, sự bốc hơi nước phụ thuộc cường độ trao
đổi chất của phôi, phôi càng hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng, lịng trắng,
lịng đỏ thì nước bay hơi từ trứng càng nhiều (do trao đổi chất tăng làm cho
phôi tăng thải nhiệt, nhiệt độ trứng tăng, tăng bốc hơi nước). Do vậy nửa sau
của quá trình ấp, bốc hơi nước của trứng phụ thuộc vào sự trao đổi chất và
cường độ phát triển của phôi, nghĩa là phụ thuộc vào tất cả các yếu tố như
nhiệt độ, ẩm độ, sự thông thống, đảo trứng và vệ sinh.
 Điều hịa độ tỏa nhiệt của trứng
Trong những ngày ấp đầu, trứng đang ở giai đoạn thu nhiệt, nhiệt độ

của trứng bằng hoặc nhỏ hơn nhiệt độ máy ấp. Lúc này nếu trứng bốc hơi
nước sẽ mất nhiệt. Do vậy, giảm bốc nhiệt của trứng bằng cách tăng độ ẩm
máy ấp chính là góp phần giữ nhiệt cho trứng.
Ở giai đoạn giữa: giảm nhiệt độ của máy để tăng bốc hơi nước từ trứng,
làm cân bằng lượng nhiệt dư thừa của phôi trong trao đổi chất với lượng nhiệt
hao phí để bốc hơi nước (nhiệt độ của máy lúc này chỉ là duy trì nhiệt độ của
máy ấp do nhiệt bị dẫn truyền qua thành máy ấp).
Ở giai đoạn cuối: lúc này nước thải của trao đổi chất của túi niệu căn
bản đã bốc hơi hết, để tạo điều kiện cho gia cầm phá vỡ màng và vỏ trứng

21


phải tăng ẩm độ, hơn nữa khơng khí ẩm lúc này thu nhiều nhiệt và dễ hơn
khơng khí khơ. Chính vì vậy ẩm độ cao giai đoạn cuối cịn là góp phần giúp
trứng thải được nhiệt dư.
 Ảnh hưởng của ẩm độ cao
Ẩm độ cao là môi trường tốt để các mầm bệnh của vỏ trứng phát triển
xâm nhập vào bên trong gây thối. Ẩm độ cao ở những ngày đầu không gây
ảnh hưởng xấu. Nhưng từ ngày thứ 7 trở đi, nếu ẩm độ cao sẽ làm cho màng
niệu chậm khép kín phía đầu nhọn, phơi phát triển chậm. Nếu ẩm độ cao kéo
dài làm cho gia cầm non nở chậm hơn một vài ngày, không nở đồng loạt mà
kéo dài thời gian nở. Chỗ mổ vỏ sẫm màu nhanh do chất lỏng của túi niệu
chảy ra, chất lỏng này có thể cùng với lịng trắng khơng tiêu thụ hết bịt kín
chỗ mổ vỏ và làm tắc mũi, mỏ của gia cầm non gây chết. Nếu gia cầm nở ra
được thường lơng dính bết, bẩn, ít hoạt động, bụng to và mềm do túi lòng đỏ
còn rất lớn. Sau khi nở vỏ trứng bị dính bẩn bởi các chất lỏng từ màng niệu,
lòng trắng, vết máu.
 Ảnh hưởng của ẩm độ thấp
Ẩm độ thấp làm cho nước từ trong trứng bốc hơi nhanh và nhiều gây tỷ

lệ chết thai cao. Màng niệu khép kín trước thời gian quy định (tuy nhiên với
điều kiện khí hậu ở Việt Nam thì từ khi màng niệu khép kín đến khi chuyển
sang máy nở, sẽ khơng có ẩm độ khi nào bị coi là thấp).
Ẩm độ thấp khi soi trứng chuyển sang máy nở thấy phôi bị chết, đa số
phôi phát triển hơi sớm, mổ vỏ, nở sớm. Nếu ẩm độ tiếp tục thấp làm cho
màng vỏ khô dai cho nên dù mổ vỏ rồi gia cầm vẫn khó chui ra ngồi. Ẩm độ
thấp cịn làm cho gia cầm bị khơ lơng trước khi ra khỏi vỏ nên sẽ bị dính lơng.
Nếu nở sớm, gia cầm nở ra nhỏ, hiếu động, lông khô bơng. Nếu gà con có
màu lơng trắng sẽ chuyển sang màu vàng sẫm, thậm chí hơi nâu.

22


 Ảnh hưởng của độ thơng thống
Phơi cũng như các động vật khác cần có oxy để duy trì sự sống. Mới
đầu phôi sử dụng oxy do các men tác dụng với lòng đỏ tạo ra và đi vào các tế
bào nhờ hiện tượng khuếch tán – thẩm thấu.
Sang ngày thứ 2, lượng oxy trên khơng cịn đủ đáp ứng nữa, do vậy lúc
này hình thành mạch máu lịng đỏ. Đầu tiên chỉ có lịng đỏ ở xung quanh
phơi, sau mạch máu phát triển vươn dài ra những nơi lòng đỏ xa phơi và lấy
oxy từ đó đưa qua máu về cho phơi. Phơi phát triển nhanh làm cho lịng trắng
lỗng ra và đi xuống phía dưới phơi, nhờ vậy hệ thống mạch máu lòng đỏ
vươn ngay tới lớp màng lụa (màng của lịng trắng) phía dưới buồng khí. Từ
lúc đó phơi lấy oxy chủ yếu ở buồng khí thơng qua hệ lưới mạch máu lòng đỏ.
Khi màng niệu nang phát triển, nó lan rất nhanh phủ kín phía trong vỏ trứng,
lúc này oxy cung cấp là do hệ mạch máu của màng niệu đệm thơng qua các lỗ
khí trên vỏ trứng.
Trước khi nở, cơ chế hô hấp của phôi lại thay đổi, màng niệu đệm teo
dần cắt đứt tuần hồn của phơi trao đổi khí với mạch máu của màng niệu đêm.
Lúc này phổi của phôi thai hoạt động, khơng khí đã được trao đổi thơng qua

các phần trống do lịng trắng đã được chuyển hóa. Sau đó phơi thai nâng căng
màng dưới vỏ ngăn cách với buồng khí, mỏ cắt đứt màng này và trao đổi khí
trực tiếp đi qua vỏ trứng.
Trung bình mỗi quả trứng ấp cần cung cấp 5 lít khí oxy và thải ra 3 lít
CO2, như vậy từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 21 yêu cầu về oxy tăng lên 100
lần. Ở điều kiện bình thường của máy ấp thì hàm lượng CO2 không quá 0,1 –
0,4% và ở máy nở là khoảng 0,5%, điều này có nghĩa là tăng dần thơng
thống trong thời gian ấp trứng.

23


 Ảnh hưởng của yếu tố đảo trứng
Trứng phải được đảo thường xuyên ít nhất 2 lần một ngày từ khi bắt
đầu ấp đến ngày thứ 18, nhằm tránh cho phơi bị dính vào một bên của vỏ
trứng và làm cho nhiệt tiếp xúc đều với tất cả các phần của trứng. Tránh hiện
tượng va, sóc khi đảo trứng, góc đảo ít nhất là 900.
 Vệ sinh sát trùng
Điều kiện ở máy ấp, máy nở thích hợp cho các vi khuẩn phát triển với các
điều kiện sẵn có như nước, nhiệt độ và nguồn dinh dưỡng. Nếu trứng không
được sát trùng, mầm bệnh phát triển rất nhanh làm tăng tỷ lệ chết phôi.
2.4. Giới thiệu về giống gà Lohmann meat
Giống gà Lohmann meat có nguồn gốc từ Đức, gà bố mẹ được nhập
vào nước ta năm 1997 từ Inđônêxia, là giống chuyên dụng để sản xuất ra gà
Broiler. Chúng có khả năng thích ứng rộng rãi và khả năng sản xuất ổn định
trong khí hậu nhiệt đới và ni cơng nghiệp ở các nước đang phát triển.
Gà giống Lohmann meat hiện đang được ni tại Xí nghiệp gà Tam
Dương, Vĩnh Phúc và Xí nghiệp gà Tân Sơn, Phú Thọ thuộc Công ty cổ phần
Japfa Comfeed Việt Nam. Gà Lohmann meat là giống gà hướng thịt có tầm vóc
lớn, gà có màu lông trắng tuyền, mào đơn, chân vàng, mỏ vàng…. Khối lượng

cơ thể gà thịt lúc 49 ngày tuổi: con trống nặng 2,6kg, con mái nặng 2,2kg. Sản
lượng trứng đạt 175 – 185 quả/mái/năm. Gà Lohmann meat có sức đề kháng
tương đối tốt, tỷ lệ nuôi sống khá cao 94 – 96%, có khả năng thích nghi ở các
vùng sinh thái khác nhau. Gà thương phẩm có lơng màu trắng, chân và mỏ
vàng, chóng lớn, có thể bán thịt khi gà nặng khoảng 2,2 – 2,5kg lúc 7 – 8 tuần
tuổi; tỷ lệ thân thịt 78%, tỷ lệ thịt lườn là 21%; thịt đùi 23%; tiêu tốn khoảng
1,9 – 2,0kg thức ăn/kg tăng trọng.

24


×