Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Khóa luận tốt nghiệp một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5 6 tuổi làm quen với tiếng anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 120 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-----------------------

TRẦN THỊ THU HÀ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH HỨNG THÚ
CHO TRẺ 5-6 TUỔI LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục mầm non

Phú Thọ, 2022


TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-----------------------

TRẦN THỊ THU HÀ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH HỨNG THÚ
CHO TRẺ 5-6 TUỔI LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục mầm non

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: TH.S NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

Phú Thọ, 2022



LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm
quen với tiếng Anh” đƣợc hoàn thành tại khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm
non, trƣờng Đại học Hùng Vƣơng.
Chúng em cũng xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô
giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, trƣờng Đại học Hùng Vƣơng
đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Chúng em xin đƣợc bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô
giáo, Th.S Nguyễn Thị Hồng Vân - ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, động viên
và giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa
học.
Xin đƣợc cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các cô giáo
và các cháu trƣờng mầm non Nông Trang, trƣờng mầm non Gia Cẩm, trƣờng
mầm non Hịa Phong - Việt Trì - Phú Thọ đã tạo điều kiện cho chúng em điều
tra, khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề
tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận

Trần Thị Thu Hà


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.7.1. Ý nghĩa của việc cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh ....................... 41
Bảng 2.7.2. Nhận thức của giáo viên về biểu hiện hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khi làm
quen với tiếng Anh ........................................................................................................ 43
Bảng 2.7.3. Những vấn đề mà gv quan tâm nhằm kích thích hứng thú cho trẻ 5-6

tuổi làm quen với tiếng Anh .......................................................................................... 44
Bảng 2.7.4. Khó khăn của giáo viên trong quá trình cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với
tiếng Anh ....................................................................................................................... 45
Bảng 2.7.5. Nguồn tài liệu mà giáo viên sử dụng cho trẻ mầm non làm quen ............. 49
với tiếng Anh ................................................................................................................. 49
Bảng 2.7.6. Kết quả đánh giá mức độ biểu hiện hứng thú của trẻ 5-6 tuổi làm quen
với tiếng Anh ................................................................................................................. 51
Bảng 2.7.7. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh . 52
Bảng 2.7.8. Bảng thang đánh giá mức độ làm quen ..................................................... 54
với tiếng Anh của trẻ 5-6 tuổi ở trƣờng mầm non ........................................................ 54
Bảng 2.7.9. Mức độ làm quen với tiếng Anh của trẻ từ 5-6 tuổi ................................. 55
Bảng 3.1. Mức độ hứng thú của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trƣớc thực
nghiệm ........................................................................................................................... 78
Bảng 3.2. Mức độ hứng thú khi làm quen với tiếng Anh của trẻ nhóm đối chứng và
nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm ............................................................................. 81
Bảng 3.3. Mức độ hứng thú khi làm quen với tiếng Anh của trẻ nhóm đối chứng
trƣớc và sau thực nghiệm .............................................................................................. 85
Bảng 3.4. Mức độ hứng thú khi làm quen với tiếng Anh của trẻ nhóm thực nghiệm
trƣớc và sau thực nghiệm .............................................................................................. 86


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Mức độ hứng thú khi làm quen với tiếng Anh của trẻ nhóm đối chứng
và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm ........................................................................ 82
Biểu đồ 3.2. Mức độ hứng thú khi làm quen với tiếng Anh của trẻ nhóm đối chứng
trƣớc và sau thực nghiệm .............................................................................................. 85
Biểu đồ 3.3. Mức độ hứng thú của nhóm thực nghiệm trƣớc và sau thực nghiệm ....... 87


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ...................................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn..................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .................................................................................. 3
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................................. 4
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ................................................................. 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................................... 6
1.1.1. Trên thế giới .......................................................................................................... 6
1.1.2. Ở Việt Nam ......................................................................................................... 11
1.2. Một số vấn đề lí luận về hứng thú .......................................................................... 13
1.2.1. Khái niệm hứng thú ............................................................................................. 13
1.2.2. Cấu trúc của hứng thú ......................................................................................... 14
1.2.3. Đặc điểm hứng thú .............................................................................................. 15
1.2.4. Vai trò của hứng thú trong hoạt động cá nhân .................................................... 17
1.2.5. Biểu hiện hứng thú của trẻ 5-6 tuổi ..................................................................... 18
1.3. Tiếng Anh đối với trẻ mầm non ............................................................................. 20
1.3.1. Khái niệm ngôn ngữ và tiếng .............................................................................. 20
1.3.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi ................................................... 22
1.3.3. Cho trẻ mầm non làm quen với tiếng Anh .......................................................... 24
1.4. Kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh ............................... 30
1.4.1. Đặc điểm của quá trình cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh ....................... 30
1.4.2. Biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ làm quen với tiếng Anh ở trƣờng mầm
non ................................................................................................................................. 33
Tiểu kết chƣơng 1.......................................................................................................... 35
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA TRẺ 5-6 TUỔI KHI LÀM QUEN
VỚI TIẾNG ANH ......................................................................................................... 36
2.1. Mục đích điều tra ................................................................................................... 36

2.2. Đối tƣợng điều tra .................................................................................................. 36
2.3. Giới thiệu địa bàn điều tra ...................................................................................... 36
2.3.1. Trƣờng mầm non Nơng Trang - Việt Trì - Phú Thọ ........................................... 36
2.3.2. Trƣờng mầm non Gia Cẩm - Việt Trì - Phú Thọ ................................................ 36


2.3.3. Trƣờng mầm non Hịa Phong - Việt Trì - Phú Thọ............................................. 37
2.4. Nội dung điều tra .................................................................................................... 38
2.5. Phƣơng pháp điều tra ............................................................................................. 38
2.5.1. Quan sát sƣ phạm ................................................................................................ 38
2.5.2. Trao đổi đàm thoại với giáo viên ........................................................................ 38
2.5.3. Điều tra bằng phiếu Anket .................................................................................. 38
2.5.4. Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm .................................................................... 38
2.5.5. Xử lý số liệu toán học ......................................................................................... 39
2.6. Tiêu chí và thang đánh giá ..................................................................................... 39
2.7. Kết quả điều tra ...................................................................................................... 40
2.7.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc cho trẻ 5-6
tuổi làm quen với tiếng Anh .......................................................................................... 40
2.7.2. Thực trạng việc tổ chức các hoạt động cho trẻ từ 5-6 tuổi làm quen với tiếng
Anh ở trƣờng mầm non ................................................................................................. 47
2.7.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh .......... 52
2.7.4. Mức độ làm quen với tiếng Anh của trẻ 5-6 tuổi ................................................ 54
2.7.5 Đánh giá chung về thực trạng .............................................................................. 56
Tiểu kết chƣơng 2.......................................................................................................... 58
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH HỨNG THÚ CHO
TRẺ 5-6 TUỔI LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH ......................................................... 59
VÀ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................................................. 59
3.1. Căn cứ đề xuất biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với
tiếng Anh ....................................................................................................................... 59
3.1.1. Dựa vào mục tiêu giáo dục mầm non.................................................................. 59

3.1.2. Dựa vào đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi ...................................................... 60
3.1.3. Dựa vào đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi ..................................................... 61
3.1.4. Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi ................................................... 61
3.1.5. Dựa vào thực trạng và nhu cầu cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh ........... 63
3.2. Đề xuất một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với
tiếng Anh ....................................................................................................................... 63
3.2.1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy tiếng Anh cho trẻ theo các chủ đề. Sƣu tầm
các bài hát, mẩu chuyện, trò chơi tiếng Anh phù hợp với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi .......... 63
3.2.2. Biện pháp 2: Tận dụng các thời điểm khác nhau để rèn luyện các kỹ năng
cho trẻ giúp trẻ làm quen tiếng Anh thông qua các hoạt động trong ngày ................... 70
3.2.3. Biện pháp 3: Tuyên truyền kiến thức tiếng Anh cho cộng đồng kết hợp với
trung tâm tiếng Anh liên kết với trƣờng, với phụ huynh học sinh ................................ 74
3.2.4. Biện Pháp 4: Tăng cƣờng hoạt động bồi dƣỡng giáo dục cho đội ngũ giáo
viên nâng cao trình độ tiếng Anh .................................................................................. 75


3.3. Thực nghiệm sƣ phạm ............................................................................................ 77
3.3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................................ 77
3.3.2. Thời gian thực nghiệm ........................................................................................ 77
3.3.3. Đối tƣợng thực nghiệm ....................................................................................... 77
3.3.4. Nội dung thực nghiệm ......................................................................................... 77
3.3.5. Phƣơng pháp thực nghiệm .................................................................................. 77
3.3.6. Kết quả thực nghiệm ........................................................................................... 78
Tiểu kết chƣơng 3.......................................................................................................... 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN ............................................................................................................... 92
2. KIẾN NGHỊ 2.1. Đối với nhà quản lí giáo dục ........................................................ 92
2.2. Đối với giáo viên mầm non .................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 93
PHỤ LỤC ..........................................................................................................................



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng Anh là ngơn ngữ tồn cầu, là cơng cụ khơng thể thiếu đối với
mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế. Hiện nay, tiếng Anh đã trở
thành ngôn ngữ phổ biến và thông dụng nhất trên thế giới. Trên thế giới có
gần 60 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngơn ngữ chính, bên cạnh tiếng mẹ đẻ
và gần 100 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Việc biết sử dụng
tiếng Anh thành thục nhƣ ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ là một lợi thế
trong việc phát triển bản thân và mang lại thành công đối với mỗi ngƣời, do
vậy mà trở thành yêu cầu giáo dục quan trọng đối với nhiều quốc gia khác
nhau, trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, việc cho trẻ làm quen tiếng Anh ngay từ bậc học mầm
non hiện đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo dục và các
bậc phụ huynh. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học về việc học nói
của trẻ, thực tiễn thành cơng trong dạy và học tiếng Anh ở một số nƣớc khu
vực Đông Nam Á và kết quả triển khai thí điểm cho trẻ làm quen tiếng Anh
tại một số cơ sở giáo dục mầm non trong những năm vừa qua đã chỉ ra sự cần
thiết, sự phù hợp và hiệu quả mang lại của việc cho trẻ đƣợc tiếp cận sớm với
tiếng Anh ngay từ lứa tuổi mầm non.
Việc tổ chức cho trẻ làm quen tiếng Anh ngay từ bậc học mầm non cần
đƣợc coi là một trong những giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn
diện, đảm bảo sự kế thừa cũng nhƣ tạo tiền đề vững chắc cho trẻ học tiếng
Anh ở cấp phổ thơng, góp phần đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lƣợng
cao trong thời kỳ hội nhập. Đây cũng là xu thế phát triển chung của nền giáo
dục hiện đại, cũng là một phần trong mục tiêu phấn đấu của giáo dục mầm
non theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp
hành Trung ƣơng khóa XI về "Đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị

trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế". Và đƣợc bộ giáo
dục quan tâm triển khai theo thông tƣ số 50/2020/TT-BGDĐT ngày
1


31/12/2020 về “Chƣơng trình làm quen với Tiếng Anh dành cho trẻ mẫu
giáo”.
Trong độ tuổi từ 3-6 tuổi, các bé có khả năng học hỏi cao nhất; nội
dung học nên đƣợc thiết kế đơn giản, dễ hiểu có trọng tâm và phải vừa đủ với
nhận thức của các bé, cân bằng giữa chƣơng trình học ở trƣờng và cuộc sống.
Điều này sẽ tạo cho bé cảm giác thoải mái khi tham gia các lớp học và tiếp
cận tiếng Anh một cách tự nhiên giống nhƣ ngôn ngữ mẹ đẻ. Ở thời điểm này,
bé học ngoại ngữ hay học tiếng mẹ đẻ đều dễ dàng, nhanh chóng nhƣ nhau.
Bé cũng sẽ khơng hồn tồn bị nhầm lẫn giữa các ngơn ngữ nhƣ mọi ngƣời
vẫn lầm tƣởng. Việc này hoàn toàn giống nhƣ việc bé học nói và phát triển
ngơn ngữ mẹ đẻ, do đó, trẻ hồn tồn khơng có cảm giác rằng mình phải vận
động trí não hay “luyện tập” phát âm.
Nhận thấy nhu cầu làm quen tiếng Anh của trẻ và nhu cầu cho con làm
quen tiếng Anh của phụ huynh học sinh là rất lớn. Đó là cơ hội của nhiều
trung tâm dạy tiếng Anh phát triển. Tuy nhiên ở các cơ sở này lại chƣa có sự
thống nhất về giáo trình, cũng chƣa có sự kiểm sốt, kiểm chứng sát sao về
kết quả đầu ra của trẻ. Mặt khác trình độ của giáo viên Mầm non ngày càng
nâng cao hồn tồn có thể lồng ghép nội dung cho trẻ làm quen với tiếng Anh
vào các hoạt động hàng ngày trên lớp, vừa đảm bảo tính hệ thống về nội dung
giáo dục, vừa đảm bảo tính tiết kiệm.
Từ những thực tiễn nêu trên cũng nhƣ xuất phát từ việc mong muốn
học sinh có đƣợc nền tảng cơ bản, lịng u thích với việc làm quen với ngơn
ngữ quốc tế. Tôi xin lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp kích thích hứng thú
cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh”
2. Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện
pháp
kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh. Từ đó giúp giáo
viên thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mầm non trong xu thế hội nhập.

2


3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học.
- Xây dựng cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khi làm quen với
tiếng Anh
- Điều tra các yếu tố ảnh hƣởng đến hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khi làm
quen với tiếng Anh
- Đề xuất một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm
quen với tiếng Anh
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
- Đánh giá việc tổ chức các hoạt động cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với
tiếng Anh.
- Đề xuất một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm
quen với tiếng Anh.
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành giáo dục mầm non.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luận về thực trạng hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khi
làm quen với tiếng Anh.
- Khảo sát, đánh giá về việc tổ chức các hoạt động cho trẻ 5-6 tuổi làm
quen với tiếng Anh.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khi làm
quen với tiếng Anh.
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ

5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5-6
tuổi
làm quen với tiếng Anh
3


- Khách thể nghiên cứu: Trẻ lớp 5-6 tuổi trƣờng mầm non Hịa Phong,
trƣờng mầm non Nơng Trang, trƣờng mầm non Hoa Sen trên địa bàn thành
phố Việt Trì – Tỉnh Phú Thọ.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề lý luận
liên quan đến đề tài nghiên cứu.
6.2. Nhóm phương pháp thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát
- Đối với trẻ: Theo dõi biểu hiện hứng thú, khả năng tƣơng tác tập trung
chú ý của trẻ trong quá trình làm quen với tiếng Anh.
- Đối với giáo viên: Dự giờ, quan sát, ghi chép nội dung, cách thức tổ
chức, cách thức lồng ghép các nội dung cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng
Anh
6.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích: Tìm hiểu nhận thức của giáo viên và thực trạng cho trẻ 5-6 tuổi
làm quen với tiếng Anh
Tiến hành: Xây dựng các câu hỏi, phiếu điều tra, tiến hành hỏi và đánh
giá trên giáo viên, sau đó tổng hợp và ghi lại kết quả.

6.2.3. Phương pháp đàm thoại
Mục đích: Tìm hiểu nhu cầu, hứng thú và khả năng tiếp nhận ngoại ngữ
của trẻ thơng qua các hoạt động.
Tiến hành: Trị chuyện, đàm thoại với giáo viên.
- Trao đổi với giáo viên để thấy đƣợc những nguyên nhân trong nhận
thức của giáo viên về việc tổ chức cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng anh, trò
chuyện về một số vấn đề của trẻ.
- Trò chuyện với trẻ để đo đƣợc mức độ hứng thú của trẻ từ đó có
phƣơng
pháp tổ chức phù hợp với nhu cầu, hứng thú của trẻ.

4


6.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Tìm hiểu bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết những
tình huống giáo dục đã xảy ra trong một lớp học, một trƣờng hay một địa
phƣơng.
- Nghiên cứu con đƣờng thực hiện có hiệu quả q trình giáo dục và
dạy học ở các cơ sở.
- Tổng kết các sáng kiến của các nhà sƣ phạm tiên tiến.
- Tổng kết những nguyên nhân, để loại trừ những sai lầm, thất bại trong
hoạt động giáo dục, loại trừ những khuyết điểm có thể lặp lại.
- Tổng kết kinh nghiệm giáo dục mang tính quần chúng rộng rãi.
6.3. Các phương pháp xử lý số liệu tốn học
Sử dụng cơng thức tốn học để xử lý các số liệu đã thu đƣợc từ thực
trạng và quá trình nghiên cứu thực nghiệm

5



PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Có thể tóm lƣợc các nghiên cứu trên Thế giới về sự tiếp nhận ngôn ngữ
của trẻ theo các xu hƣớng sau:
1.1.1.1. Xu hướng 1. Tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ là quá trình trẻ thực hiện
các hành vi bắt chước của người lớn : "All language is learned through positive
reinforcement, mimicry and the formation of habit" (B.F Skinner,1953).
Đại diện là O.F. Skiner trong tác phẩm “Hành vi bằng lời” cho rằng
ngơn ngữ của trẻ đƣợc hình thành là do thao tác quyết định, mà quan trọng là
sự bắt chƣớc, ngoại ngữ cũng là một loại ngôn ngữ, những thao tác ngôn ngữ
cùng với sự giúp đỡ của ngƣời lớn sẽ giúp trẻ tiếp thu ngoại ngữ dễ dàng.
Theo xu hƣớng này, cách học ngôn ngữ ở giai đoạn mầm non là học mà
chơi, chơi mà học. Học theo kiểu bắt chƣớc những hình ảnh thấy trên màn
hình, bắt chƣớc lời cơ giáo, bắt chƣớc những tình huống giao tiếp mà trẻ gặp
hàng ngày. Chính vì vậy, giáo viên phải là những ngƣời mẫu mực, đƣợc đào
tạo bài bản về chuyên môn cũng nhƣ khả năng sử dụng thông thạo tiếng Anh
mới có thể tổ chức hoạt động cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với tiếng Anh ở
trƣờng mầm non một cách hiệu quả [7].
1.1.1.2. Xu hướng 2. Tiếp nhận ngôn ngữ là năng lực bẩm sinh của con người
"Language acquisition device (LAD) enable the child to pick up and
understand words within a sentence. LAD is only operated during period of
time of critical or sensitive period (0-8,9 years old)" [7].
Theo N. Chomsky, ngôn ngữ con ngƣời là một hệ thống phổ qt. Ơng
đã giải thích sự phát triển ngơn ngữ bằng thiết bị thụ đắc ngôn ngữ bẩm sinh
trên cơ sở của Ngữ pháp Phổ quát (Universal Grammar). Có mấy ngàn ngôn
ngữ tự nhiên và chúng chỉ khác nhau trên bề mặt, cịn cấu trúc chìm rất giống
nhau. Con ngƣời thừa hƣởng một năng lực bẩm sinh về ngôn ngữ đƣợc di

truyền từ đời này qua đời khác. Trẻ em dùng năng lực bẩm sinh về ngôn ngữ
6


này để học ngơn ngữ, cụ thể: Nghe - nói - viết - các quy tắc từ vựng, ngữ
pháp. Đứa trẻ hình thành một ngơn ngữ qua q trình tiếp nhận, học tập, sáng
tạo, nhờ năng lực bẩm sinh ngôn ngữ. Trẻ bắt chƣớc và lặp lại theo lời ngƣời
lớn, tự ghép nối những từ đơn theo những quy tắc chúng cảm nhận đƣợc khi
nghe ngƣời xung quanh nói và tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm theo chỉ bảo của
ngƣời lớn cho đúng với tình huống giao tiếp. Sau năm năm đầu đời trẻ vô
thức tiếp nhận đƣợc cơ cấu tiếng mẹ đẻ bằng năng lực bẩm sinh ngôn ngữ và
năng lực này vẫn đƣợc trẻ dùng để tiếp nhận một ngoại ngữ khác. Chính nhờ
khả năng này mà trẻ có thể học đƣợc bất kỳ ngoại ngữ nào tùy theo điều kiện,
hồn cảnh, mơi trƣờng [7].
Trong lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ, Stephen D.Krashen (1941) kết luận
rằng con ngƣời có khả năng học ngơn ngữ bẩm sinh và khơng có khác biệt
đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngoại
ngữ. Cách học ngoại ngữ hiệu quả theo Krashen có thể đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Chúng ta phát triển ngơn ngữ thơng qua q trình thụ đắc trực tiếp, khơng
phải từ việc học thuộc danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm hay làm bài tập.
Hiệu quả thụ đắc trực tiếp diễn ra khi ta có thể hiểu đƣợc nội dung mà ta tiếp
nhận trong trạng thái tinh thần thoải mái. Để kết quả thụ đắc trực tiếp biến
thành năng lực ngôn ngữ thì q trình tích lũy phải dài và nội dung tiếp nhận
phải đa dạng và đủ nhiều [7].
1.1.1.3. Xu hướng 3. Tiếp nhận ngôn ngữ là sự trả lời các phản xạ
Paplop đã nghiên cứu rất nhiều về vấn đề kích thích (Stimulate- S)
và phản xạ (Reflection- R) trong cuộc sống. Sự trả lời các kích thích khi tác
động vào con ngƣời tạo nên những phản xạ với công thức S-> R. Mọi hoạt
động của con ngƣời là sự trả lời các phản ứng nhằm giúp ngƣời thích nghi
với môi trƣờng [9].

Khi trẻ sống trong môi trƣờng ngôn ngữ, trẻ chịu sự kích thích đó và trẻ
tiếp nhận – phát triển (nghe – nói đƣợc) là do phải thích nghi. Điều này là một
minh chứng cho giả thuyết bẩm sinh: biết nói do học hỏi từ bé, học hỏi trong
cộng đồng, chứ không nhất thiết phải biết chữ, biết quy tắc ngữ pháp. Do đó,
7


đối với một số trẻ nhỏ trẻ có thể nói thành thạo hai thứ tiếng, thứ tiếng cha mẹ
dùng để giao tiếp với trẻ hàng ngày và thứ tiếng trẻ sử dụng để giao tiếp trong
trƣờng lớp [7].
1.1.1.4. Xu hướng 4. Sự phát triển ngôn ngữ trong mối quan hệ với nhận thức
Thought influences language: A child are able to think in a certain way then
they develop learn language to describe those thoughts (Piajet) [7].
Đại diện của xu hƣớng này đó là những nghiên cứu của J.Piaget(1970).
Theo Piaget, trẻ nhỏ là những ngƣời học và suy nghĩ tích cực. Những nhận
thức phát triển là do trẻ hành động với các vật thể, có nghĩa là khi hoạt động
trực quan với đồ vật trẻ sẽ phát hiện những thiếu sót trong tƣ duy hiện có, và
qua đó trẻ sẽ luyện tập để tạo ra phƣơng thức tƣ duy phù hợp với hiện thực
mà không cần dùng đến ngôn ngữ. Piaget cho rằng: Năng lực ngôn ngữ bẩm
sinh và theo thời gian năng lực đó giảm dần và sự khác biệt loại hình ngơn
ngữ sẽ ảnh hƣởng đến sự tiếp nhận ngơn ngữ của ngƣời học [9].
Tƣơng đồng với ý kiến của Piaget, Bà Agnieska Cegielkowska, nhà
ngôn ngữ và thần kinh học thuộc Bệnh viện lâm sàng số 4 (Lublin – Ba Lan)
cho rằng: “Tiềm năng học ngoại ngữ không liên quan gì đến chỉ số thơng
minh cũng nhƣ năng lực học trong các môn khoa học tự nhiên hay mỹ thuật.
Nhiều ngƣời gặp khó khăn khi học ngoại ngữ chủ yếu là do họ sợ phát âm sai
khi nói chuyện với ngƣời nƣớc ngồi, trẻ em khơng sợ điều đó nên chúng học
ngoại ngữ nhanh hơn” [9].
Các nhà nghiên cứu Slobin (1977, 1984), L. Bloom (1970, 1973), C.A.
Ferguson (1975), R. Kobson (1971) đã chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và

tƣ duy hay nhận thức của một đứa trẻ nhƣ sau: Ngơn ngữ và nhận thức cùng
phát triển nhƣng có khi một khả năng nào đó của nhận thức phát triển trƣớc
một khả năng ngơn ngữ. R.Ellis (1994) có nhận định đáng chú ý là nếu trẻ
đƣợc tiếp xúc với phát âm chuẩn, độ tuổi mà trẻ có thể đạt đƣợc phát âm
giống nhƣ ngƣời bản ngữ là 6 tuổi. Ngồi độ tuổi dậy thì (khoảng 9 tuổi trở
lên) thì trẻ khó có thể có đƣợc chất giọng giống ngƣời bản ngữ thực sự. Cùng
thống nhất với R.Ellis có Litllewood và Beverly A.Clark (2000) cho rằng trẻ
8


em không thể thụ đắc ngôn ngữ nếu chúng không đƣợc tiếp cận ngơn ngữ đó
trƣớc 6-7 tuổi [7].
1.1.1.5. Xu hướng 5. Khả năng tiếp nhận ngoại ngữ của trẻ nhỏ là rất lớn
Các nhà khoa học trên thế giới đã nhận định rằng khả năng tiếp nhận
ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là rất lớn, tức là khi trẻ nhỏ tiếp
nhận tiếng Anh có rất nhiều thuận lợi so với ngƣời lớn. Thời thơ ấu chính là
thời gian lý tƣởng để dạy trẻ học tiếng Anh. Trƣớc khi biết nói, trẻ nhỏ học
tập, hình thành khái niệm, hiểu biết của mình bằng việc quan sát các hành vi,
lắng nghe những âm thanh xung quanh mình. Việc cho trẻ tiếp xúc với ngoại
ngữ thƣờng xuyên sẽ giúp nuôi dƣỡng và phát triển não bộ, nền tảng từ vựng
từ đó cũng dần đƣợc hình thành [11].
Theo tiến sỹ April Benasich – Cố vấn và giám đốc phịng thí nghiệm,
nghiên cứu trẻ sơ sinh tại trung tâm Hành vi và Khoa học Thần kinh, Đại học
Rutgers thì: “Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có kỹ năng học tập sớm đáng ngạc nhiên.
Bộ não của trẻ nhỏ đƣợc trang bị đặc biệt để xây dựng, tiếp cận một hoặc
nhiều ngôn ngữ ngay từ khi chào đời” [12].
Kết quả nghiên cứu về tiềm năng con ngƣời trên Thế giới và đặc biệt là
của nhà nghiên cứu não bộ nổi tiếng nƣớc Mỹ Benjamin Bloom: “Nếu đến
năm 17 tuổi, trí tuệ của con ngƣời có thể phát triển 100% thì vào năm 4 tuổi,
trí tuệ của trẻ đã đạt đến 50%, đến năm 8 tuổi phát triển tới 80%, năm 8 tuổi

đến năm 17 tuổi chỉ phát triển thêm tối đa 20%. Do đó, từ 0 – 8 tuổi là thời
điểm vàng để giáo dục trẻ thành tài, phát huy tối đa những tố chất thông minh
làm nền tảng cho sự thành công trong cuộc đời sau này của trẻ. Dựa trên cơ sở
đó, Phùng Đức Tồn – cha đẻ của “Phƣơng án 0 tuổi” đã khẳng định: hồn
tồn có thể thực hiện giáo dục cho trẻ về các phƣơng diện nhƣ ngơn ngữ, tƣ
duy logic – tốn học, hội họa, .v.v. [12].
Một nghiên cứu đƣợc trƣờng Đại học London (Anh) thực hiện trên tổng
số 105 ngƣời, trong đó có 80 ngƣời biết một ngoại ngữ trở lên. Nhiều chuyên
gia cho rằng, khi qua độ tuổi từ 7 – 15 con ngƣời đã phần nào giảm đi khả
năng nghe hiểu và sao chép các âm mới, mà đây là nền tảng tạo nên cách phát
9


âm chuẩn cho một ngơn ngữ. Khi cịn nhỏ, nếu trẻ em bộc lộ rõ sở thích học
ngoại ngữ sẽ có năng khiếu xâu chuỗi các từ với nhau cho thành cụm từ có
nghĩa và phát âm chuẩn xác chỉ đơn giản bằng cách tiếp nhận ngơn ngữ nói.
Vì vậy, khi học ngoại ngữ, trẻ em càng đƣợc nói nhiều càng tốt.
Các nhà khoa học Đại học Washington (Mỹ) thì cho rằng độ tuổi học
ngoại ngữ tốt nhất là từ 1 – 7 tuổi. Bộ não của trẻ ở độ tuổi này có thể dễ dàng
tiếp thu hai ngơn ngữ cùng một lúc. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, trẻ đến
18 tháng tuổi có thể nói đƣợc trung bình khoảng 50 từ và việc cho trẻ học hai
ngôn ngữ cũng sẽ làm tăng tƣ duy cho não bộ của trẻ đồng thời sẽ giúp trẻ nói
đƣợc nhiều từ hơn [11].
Tiến sĩ giáo dục Gordon Dryden và Jeannette Vos, tác giả cuốn Cách
mạng học tập nổi tiếng Thế giới khi nghiên cứu về các giai đoạn phát triển
của não bộ đã chứng tỏ rằng học ngoại ngữ ở lứa tuổi nhỏ dễ hơn, vì đến 12
tuổi các cửa sổ học tập của não đóng lại một phần, các kiến trúc nền tảng của
não tƣơng đối hoàn chỉnh [12].
Trong các nghiên cứu liên quan đến vấn đề song ngữ các nhóm khoa học
gia đa quốc gia (Tiến sĩ Sujin Yang – Nhà tâm lý học kiêm ngôn ngữ học, TS

Suzanne Flynn thuộc Viện Công nghệ Massachsetts (Mỹ), các nhà khoa học Đại
học Washington (Mỹ), nhóm tâm lý tại Đại học Bristol đã công bố: "Cấu trúc
não bộ và sự phát triển tự nhiên của trẻ em có thể giúp các trẻ nhỏ từ độ tuổi sơ
sinh đến 7 tuổi có một khả năng học song ngữ dễ dàng. Theo các nghiên cứu
này, khi cho các trẻ nhỏ này tiếp xúc với một ngôn ngữ khác, khả năng tiếp nhận
và phát triển ngơn ngữ đó nhanh chóng một cách bất ngờ và việc đơn giản nhất
là tạo cho các trẻ có cơ hội nghe nói cả hai ngơn ngữ đồng thời" [3].
Singapore, Malaysia, Philippines cũng coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ
hai bên cạnh tiếng mẹ đẻ đƣợc sử dụng bắt buộc trong trƣờng học và trẻ học
tiếng Anh cùng tiếng mẹ đẻ ngay từ bậc mầm non. Đặc biệt ở Singapore, các
nhóm trẻ và vƣờn trẻ cung cấp chƣơng trình học tập bằng hai thứ tiếng: Tiếng
Trung (hoặc Mã Lai, Tamil) và tiếng Anh. Trẻ 4-5 tuổi không những học
tiếng Anh ở các kỹ năng nghe - nói mà cịn học đọc - viết theo mơ hình. Trẻ
10


học nửa thời gian ở trƣờng với tiếng Anh và nửa thời gian còn lại với tiếng
mẹ đẻ. Phƣơng pháp tiếp cận ngôn ngữ thứ hai ở trƣờng mầm non là đƣợc
giảng dạy nhƣ môn học hoặc đƣợc lồng ghép vào các hoạt động đa dạng của
trẻ ở trƣờng. Trẻ chơi mà học, đƣợc phát triển ngôn ngữ thông qua các hoạt
động hát, nhạc, đọc thơ, nghe kể chuyện, chơi trị chơi, đóng kịch với thời
lƣợng học tiếng Anh khá cao (3-5 giờ/ngày) [11].
TS Christine Chen, Chủ tịch Hiệp hội mầm non thế giới cho rằng: "Ngôn
ngữ đƣợc tiếp nhận chứ khơng đƣợc dạy, vì vậy học tiếng Anh là một việc vui
vẻ, thú vị. Trẻ cần có mơi trƣờng tƣơng tác với ngôn ngữ. Mong ƣớc của tôi
là tiếng Anh đƣợc mọi ngƣời sử dụng mỗi ngày khi chúng ta học cùng trẻ,
biến việc sử dụng tiếng Anh thành cơng cụ quen thuộc mỗi ngày", bà
Christine Chen nói.
1.1.2. Ở Việt Nam
Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục mầm non nói

riêng, Chƣơng trình giáo dục mầm non Việt Nam quy định các trƣờng mầm
non không đƣợc phép tổ chức dạy tiếng Anh trong giờ học chính khóa ở
trƣờng mầm non, khơng tổ chức kiểm tra chấm điểm nhƣ đối với trẻ 6, 7 tuổi
trở lên, chỉ đƣợc phép tổ chức ngoài giờ cho trẻ ở lứa tuổi này, phải viết các
chƣơng trình làm quen với tiếng Anh thật nhẹ nhàng, với các bài hát tiếng
Anh sinh động, vui tƣơi nhằm giúp trẻ phát triển năng khiếu bởi trong chƣơng
trình của bậc học này khơng có môn ngoại ngữ [11].
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu tâm lý – giáo dục học quan tâm
đến giáo dục mầm non nhƣ Nguyễn Huy Cẩn, Trƣơng Minh Huệ, .v.v. cũng
phản đối việc cho học ngôn ngữ là một hoạt động chính thức nhƣ các hoạt
động khác đối với trẻ mầm non nhƣng đều cho rằng có thể và nên cho trẻ chơi
với ngôn ngữ ở mức độ tiếp xúc với các hiện tƣợng ngơn ngữ của tiếng nƣớc
ngồi có sự tƣơng đối đồng nhất với tiếng mẹ đẻ, sau đó cho trẻ tiếp xúc với
những hiện tƣợng ngơn ngữ của tiếng nƣớc ngoài khác biệt với tiếng mẹ đẻ
(về ngữ âm, ngữ pháp, vốn từ, .v.v.).
Tuy nhiên, hiện nay đƣợc sự cho phép của Bộ giáo dục và Đào tạo, các
11


trƣờng mầm non có đầy đủ điều kiện đƣợc phép tổ chức cho trẻ mầm non làm
quen với tiếng Anh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu việc tổ chức thí
điểm cho trẻ mầm non làm quen với ngoại ngữ đƣợc thực hiện thơng qua các
trị chơi, bài hát, tranh ảnh, .v.v. tạo niềm vui, hứng thú cho trẻ khi đƣợc làm
quen với một ngôn ngữ mới đồng thời khơng ảnh hƣởng đến việc thực hiện
chƣơng trình giáo dục mầm non, việc huy động trẻ ra lớp và phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ [15].
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ cần đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục Việt Nam. Đề án: “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” (theo quyết định 1400/QĐ-TT ban
hành 30-09-2008) đƣợc Thủ tƣớng chính phủ phê duyệt năm 2008 đã xác định

mục tiêu: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo
dục quốc dân. Triển khai chƣơng trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp
học, trình độ đào tạo .v.v.”. Quyết định số 239/QĐ –TT phê duyệt đề án Phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, trong đó phần IV Nhiệm vụ và
giải pháp đã đƣa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 có ít nhất 30% số trƣờng
mầm non đƣợc tiếp cận với tin học, ngoại ngữ.
Bà Đỗ Ngọc Thiên Hƣơng – Giám đốc trung tâm đào tâm đào tạo ngữ
âm và văn hóa giao tiếp PSC – số 23 Trần Duy Hƣng – Trung Hòa – Cầu
Giấy – Hà Nội nghiên cứu về việc học ngôn ngữ là một phần của sự phát triển
của trẻ. PSC đã mở lớp học đầu tiên về ngữ âm cho trẻ ở Việt Nam, đây là
chƣơng trình ngữ âm đầu tiên tại Việt Nam đƣợc thiết kế trên cơ sở giáo trình
quốc tế và nguồn học liệu mở hỗ trợ từ các trƣờng Đại học danh tiếng của
nƣớc ngoài và sự cố vấn của các chuyên gia bản ngữ, đƣợc áp dụng trong
phòng học đa phƣơng tiện (video, project, labroom, .v.v.)
Tuy có nhiều nghiên cứu khác nhau nhƣng đa số đều dựa trên những
nghiên cứu của các nhà khoa học nƣớc ngoài và đƣa ra những nhận định về
việc có thể cho trẻ học ngơn ngữ thứ hai từ những năm đầu tiên của cuộc đời
bởi khả năng học ngơn ngữ của trẻ phát triển nhanh chóng khi lên 7 tuổi. Giai
đoạn này nếu trẻ đƣợc tiếp xúc với ngôn ngữ thứ hai một cách thƣờng xuyên
12


trẻ có thể nói trơi chảy ngơn ngữ đó. Sau 7 tuổi, việc học ngôn ngữ thứ hai
thƣờng theo kiểu dịch ra từ tiếng mẹ đẻ và có thể gặp rất nhiều khó khăn.
1.2. Một số vấn đề lí luận về hứng thú
1.2.1. Khái niệm hứng thú
Trên thế giới có rất nhiều khuynh hƣớng nghiên cứu khác nhau về hứng
thú. Điều đó tƣơng ứng với việc đa dạng các cách định nghĩa hứng thú theo
các khuynh hƣớng đó. Theo quan điểm của các nhà sinh lý học, đại diện là
I.P.Pavlop, coi hứng thú là cách làm tăng trƣơng lực, kích thích trạng thái

hoạt động của võ não. Nguyễn Khắc Viện lại định nghĩa hứng thú nhƣ một
biểu hiện của nhu cầu, tạo ra khoái cảm, là một mục tiêu, huy động sinh lực
(thể chất và tâm lý) để cố gắng thực hiện một cơng việc nào đó.
Các nhà tâm lý học Phƣơng Tây đã coi hứng thú là một thuộc tính tâm
lý có sẵn, bẩm sinh của con ngƣời. Do vậy, một số quan điểm về hứng thú của
các nhà tâm lý học đã không tránh khỏi những quan điểm duy tâm, phiến
diện, hạ thấp vai trò của giáo dục, những hoạt động có ý thức khác trong việc
hình thành và phát triển hứng thú của con ngƣời trƣớc sự tác động của hiện
thực khách quan.
Khắc phục những sai lầm của các nhà Tâm lý học Phƣơng Tây, Tâm lý
học Mác xit đã chỉ ra rằng: Hứng thú không phải là cái gì đó trừu tƣợng, cũng
khơng phải là một thuộc tính tâm lý có sẵn mang tính bẩm sinh mà là kết quả
của quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời, nó phản ánh
một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con ngƣời.[3]
Các nhà tâm lý học Xơ Viết cũng có rất nhiều cách giải thích khác
nhau về hứng thú. Nó phản ánh nhiều quá trình quan trọng, từ những quá trình
riêng lẻ (nhƣ chú ý) đến tổ hợp nhiều quá trình. Hứng thú đƣợc thể hiện trƣớc
hết ở xu hƣớng lựa chọn của các quá trình tâm lý nhằm vào các đối tƣợng của
thế giới xung quanh. Sau đó là nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân muốn hiểu
đƣợc một lĩnh vực cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thõa mãn của
cá nhân. Ngồi ra, hứng thú cịn đƣợc thể hiện thông qua thái độ của cá nhân
đối với đối tƣợng.
13


Theo từ điển tiếng Việt hứng thú biểu hiện một nhu cầu, làm cho chủ
thể tìm cách thỏa mãn tạo ra khối cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố
gắng thực hiện.
Theo khái niệm hứng thú của Từ Điển Tâm lý học: “Hứng thú là một
biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khối

cảm thích thú” .[2]
Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân
đối với đối tƣợng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng
mang lại khối cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”.[3]
Nhƣ vậy trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau về hứng thú,
nhóm nghiên cứu sử dụng khái niệm hứng thú trong giáo trình tâm lý học đại
cƣơng làm khái niệm công cụ của đề tài.
Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó
vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho
cá nhân trong quá trình hoạt động.[4]
1.2.2. Cấu trúc của hứng thú
Tiến sĩ tâm lý học N.GMavơzơva: Ơng đã dựa vào 3 biểu hiện để đƣa
ra quan niệm của mình về cấu trúc của hứng thú:
- Cá nhân hiểu rõ đƣợc đối tƣợng đã gây ra hứng thú.
- Có cảm xúc sâu sắc với đối tƣợng gây ra hứng thú.
- Cá nhân tiến hành những hành động để vƣơn tới chiếm lĩnh đối tƣợng đó.
Hứng thú liên quan đến việc ngƣời đó có xúc cảm tình cảm thực sự với
đối tƣợng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối
tƣợng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lơi cuốn,
kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản
thân hoạt động chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ
khơng xác định bản chất hứng thú.
Cách phân tích này nhấn mạnh yếu tố xúc cảm với đối tƣợng và thái
độ

14


xúc cảm của nhận thức chứ chƣa chú trọng đến nội dung nhận thức đối tƣợng
trong hứng thú.

Dựa vào khái niệm công cụ về hứng thú nêu trên, chúng tôi cho rằng,
hứng thú là sự kết hợp của ba thành tố: xúc cảm, nhận thức và hoạt động.
Trƣớc hết, hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tƣợng. Do đó,
giống với cách phân tích nêu trên, xúc cảm với đối tƣợng đƣợc xem là yếu tố
đầu tiên và quan trọng nhất trong cấu trúc của hứng thú. Đó là sự thích thú với
đối tƣợng và làm nảy sinh ham muốn đƣợc hoạt động chiếm lĩnh đối tƣợng.
Tuy nhiên, những cảm xúc đó phải là “cảm xúc tích cực, bền vững của cá
nhân với đối tƣợng mới có thể trở thành một dấu hiệu khơng thể thiếu đƣợc,
một mặt của hứng thú” .
Bất kỳ hứng thú nào cũng đều bao hàm khía cạnh nhận thức. Khơng có
nhận thức thì khơng có hứng thú. Khi bản thân trẻ thích thú với một đối
tƣợng, chúng sẽ mong muốn đƣợc tìm hiểu, đƣợc hoạt động với đối tƣợng đó.
Càng nhận thức sâu sắc, tỉ mỉ về đối tƣợng và đƣợc trực tiếp trải nghiệm bao
nhiêu thì hứng thú càng bền vững bấy nhiêu.[13]
1.2.3. Đặc điểm hứng thú
Để thấy đƣợc những đặc trƣng nổi bật của hứng thú trƣớc hết ta phân
biệt hứng thú với nhu cầu:
Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó (đối tƣợng của hứng
thú) bao giờ cũng đƣợc ta ý thức rõ ràng về ý nghĩa của nó đối với cuộc sống
của chúng ta. Nhƣng đối tƣợng gây ra nhu cầu thì ngay từ đầu lại chƣa đƣợc
ta ý thức đầy đủ, chỉ sau một thời gian dần dần đối tƣợng gây ra nhu cầu mới
đƣợc ta ý thức ngày một rõ ràng hơn.
Hơn nữa đối tƣợng gây ra hứng thú bao giờ cũng làm xuất hiện ở ta
một tâm trạng dễ chịu, một cảm xúc tích cực, một thiện cảm đặc biệt với nó.
Từ đó hứng thú lơi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tƣợng của nó, tạo ra
tâm lý khát khao tiếp cận và đi sâu vào nó.
Cịn đối tƣợng gây ra nhu cầu thì đơi khi có những trƣờng hợp mặc dù
ta ý thức đầy đủ, sâu sắc, nhƣng đối tƣợng đó lại khơng thể gây cho ta một
15



thiện cảm nào. Chẳng hạn, ta ý thức đƣợc rất rõ thuốc làm cho ta khỏi bệnh,
nhƣng
không phải lúc nào thuốc cũng tạo cho ta một khoái cảm đặc biệt với nó.
Nhƣ vậy, để hứng thú tồn tại cần có hai điều kiện:
- Điều kiện 1: Cái gây ra hứng thú phải đƣợc cá nhân ý thức, hiểu rõ ý nghĩa
của nó đối với đời sống riêng của mình.
- Điều kiện 2: Cái gây ra hứng thú phải tạo ra ở cá nhân một khoái cảm đặc
biệt.
Mỗi hứng thú đều bao gồm cả hai điều kiện trên. Thiếu một trong hai
điều kiện ấy thì hứng thú khơng tồn tại. Chính vì hai điều kiện trên mà hứng
thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận sâu vào đối tƣợng và những đặc
điểm trên đã khẳng định hứng thú là thái độ đặc biệt.[3]
Biểu hiện hứng thú của trẻ nhƣ sau:
* Đầu tiên, nó biểu hiện dƣới hình thức một trạng thái phấn chấn, vui
thích khiến cho trẻ bị thu hút vào đối tƣợng có màu sắc sặc sỡ, âm thanh và sự
chuyển động.
Những phản xạ định hƣớng nhƣ: Không rời mắt khỏi những vật này và
thích đƣợc tiếp xúc với chúng đƣợc hình thành xuất phát từ hứng thú trƣớc
đối tƣợng, nó gây ra một kích thích mạnh tạo ra sự ngạc nhiên hấp dẫn đối
tƣợng với trẻ. Sự tập trung vào đối tƣợng do sự hấp dẫn về tình cảm chỉ là sự
gắn bó với tri giác nên cịn mang tính nhất thời – A.V. Cơvaliốp gọi là tiền
hứng thú.

Trẻ sơ sinh (từ 0-2 tháng tuổi), lúc đầu biểu hiện chỉ có những

phản ứng nhìn khi một vật sáng để gần hoặc chỉ có phản ứng khi nghe tiếng
động to. Nên khi có những kích thích này trẻ bắt đầu nhìn theo vật di động
hoặc phản ứng với những âm thanh, đặc biệt là giọng nói của ngƣời lớn và rất
thích nhìn vào mặt ngƣời. Dần dần trẻ phân biệt đƣợc các âm thanh và mùi vị

khác nhau. Trong tháng đầu tiên trẻ khám phá môi trƣờng xung quanh bằng
thị giác, thính giác, vị giác và cả xúc giác.
Sau tháng thứ 3, trẻ bắt đầu dùng 2 tay để sờ mó đồ vật, những ấn
tƣợng xúc giác về đồ vật giúp cho trẻ biết đƣợc một vài đặc tính đơn giản của
16


chúng. Khi trẻ bắt đầu biết bò (7-8 tháng tuổi), lúc này trẻ cố gắng vƣơn tới
đồ vật đang thu hút chúng. Thoạt tiên là trƣờn, sau đó bị cả hai tay hai chân.
* Tiếp theo, những biểu hiện hứng thú nông cạn (hứng thú xuất phát từ
sự hấp dẫn bên ngoài của đối tƣợng nhƣ màu sắc, âm thanh) nhanh chóng mất
và đƣợc thay thế bằng những biểu hiện hứng thú sâu sắc hơn, bền vững hơn,
liên quan đến những đặc điểm chủ yếu quan trọng của đối tƣợng đó.
Bƣớc vào tuổi ấu nhi, khi gặp một đồ vật lạ, trẻ muốn biết về đồ vật đó
là cái gì, dung để làm gì? Nhờ biết đi và khả năng cầm nắm trẻ tiếp xúc tự do,
độc lập hơn với đồ vật hình thành một kiểu hành vi mới ở trẻ – hành vi khám
phá. Từ 15 tháng đến 3 tuổi, biểu hiện hứng thú của trẻ chủ yếu hƣớng vào
thế giới bên ngoài. Hứng thú này đƣợc biểu hiện bởi các hành vi khám phá,
thăm dò, theo cơ chế “thử- sai”.
Trẻ mẫu giáo đã có khả năng nhận ra đƣợc tính hấp dẫn của đối tƣợng
để duy trì hứng thú của mình. Chúng đã biết lựa chọn và duy trì hứng thú với
những đối tƣợng có tính hấp dẫn bằng kinh nghiệm của chính mình, tức là khi
trẻ có hiểu biết về đối tƣợng đó. Tuy nhiên, biểu hiện hứng thú mới đƣợc hình
thành cũng dễ mất đi bằng một hứng thú khác hoặc chịu tác động của yếu tố
bên ngồi.
Ngồi ra, biểu hiện hứng thú cịn thể hiện ở sự tích cực tham gia hoạt
động của trẻ: đó là sự say sƣa tìm hiểu, tham gia hết hoạt động này đến hoạt
động khác, vận dụng kinh nghiệm của bản thân vào việc khám phá đối tƣợng
nhằm mục đích tìm hiểu một cách chính xác, chi tiết, cụ thể đối tƣợng để đáp
ứng sự tò mò, những vấn đề mình quan tâm, cịn thắc mắc [12].

1.2.4. Vai trị của hứng thú trong hoạt động cá nhân
Theo Nguyễn Hữu Nghĩa, hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình
nhận thức, vì có quan hệ với chú ý và tình cảm nên khi đã có hứng thú thì cá
nhân huớng tồn bộ quá trình nhận thức vào đối tƣợng, khiến quá trình nhận
thức đó nhạy bén và sâu sắc hơn.
Đối với hoạt động nói chung: Trong q trình hoạt động của con
ngƣời, cùng với nhu cầu hứng thú kích thích hoạt động làm cho con ngƣời say
17


×